Định hướng của Bộ GD&ĐT trong việc triển khai tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 nêu rõ : “Xây dựng cơ sở dữ liệu và t
Trang 1BẢNG CHỈ MỤC
Lời cảm ơn i
Giấy cam đoan ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
MỞ ĐẦU 2
MÔ TẢ GIẢI PHÁP DỰ THI 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Cơ sở lí luận của việc xây dựng và thiết kế nguồn học liệu điện tử 9
1.1.1 Khái niệm nguồn học liệu điện tử 9
1.1.2 Những ưu điểm nổi trội của nguồn học liệu điện tử 10
1.1.3 Quy trình xây dựng nguồn học liệu điện tử 10
1.1.4 Yêu cầu và tiêu chuẩn của nguồn học liệu điện tử 11
1.1.4.1 Yêu cầu về nội dung 11
1.1.4.2 Yêu cầu về tình trạng bản quyền 11
1.1.4.3 Tiêu chuẩn kĩ thuật của nguồn học liệu điện tử 12
1.1.4.4 Yêu cầu về cấu trúc và tính linh hoạt 12
1.2 Cơ sở lí luận của việc xây dựng và thiết kế nguồn học liệu điện tử môn VL 13
1.3 Cơ sở lí luận của việc ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong giáo dục 14 1.3.1 Khái niệm điện toán đám mây 14
1.3.2 Bối cảnh ra đời của công nghệ điện toán đám mây 14
1.3.3 Ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong giáo dục 15
1.4 Cơ sở lí luận của việc thiết kế bài giảng điện tử 17
1.4.1 Các quan điểm thiết kế BGĐT 17
1.4.1.1 Tính hiệu quả sư phạm 17
1.4.1.2 Tính hiện đại 18
1.4.1.3 Tính thực tiễn 19
1.4.1.4 Tính thẩm mĩ 19
1.4.1.5 Tính mềm dẻo 20
1.4.2 Quy trình thiết kế BGĐT 20
1.4.2.1 Xác định mục tiêu bài học 20
1.4.2.2 Dự kiến nội dung chi tiết 21
1.4.2.3 Xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể 21
1.4.2.4 Sưu tầm học liệu liên quan đến nội dung 21
1.4.2.5 Xử lí các học liệu để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh 22
1.4.3 Những lưu ý khi thiết kế BGĐT 22
1.4.3.1 Thực hiện mười không 22
1.4.3.2 Thực hiện mười nên 23
1.4.3.3 Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng BGĐT 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
Chương 2 NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG VÀ THIẾT KẾ NGUỒN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ MÔN VẬT LÍ 26
2.1 Xây dựng và thiết kế nguồn học liệu các đoạn phim DH VL nhờ vào máy ảnh kĩ thuật số và khai thác mạng internet 26
Trang 22.2 Xây dựng và thiết kế nguồn học liệu các thí nghiệm ảo VL nhờ vào Macromedia
Flash và các phần mềm khác 28
2.3 Xây dựng thư viện các bài tập trắc nghiệm, ô chữ, đố vui VL 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 32
Chương 3 ỨNG DỤNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY ĐỂ QUẢN LÍ NGUỒN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ MÔN VẬT LÍ 33
3.1 Sử dụng phần mềm SkyDrive để cập nhật dữ liệu lên đám mây điện tử 33
3.1.1 Cài đặt, đăng nhập vào https://skydrive.com 33
3.1.2 Các tính năng nổi trội của SkyDrive 34
3.1.3 Cách tạo thư mục, cập nhật dữ liệu lên đám mây điện tử 34
3.2 Quản lí, khai thác, chia sẻ, cập nhật học liệu điện tử VL nhờ vào công nghệ điện toán đám mây 35
3.2.1 Tạo thư mục học liệu điện tử VL trên https://skydrive.com 35
3.2.2 Cập nhật học liệu điện tử VL theo thư mục 36
3.2.3 Đồng bộ các học liệu điện tử ở máy tính cá nhân với trên đám mây điện tử 36 3.2.4 Khai thác, chia sẻ học liệu điện tử VL nhờ vào CN điện toán đám mây 36
Chương 4 KHAI KHÁC NGUỒN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ ĐỂ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VẬT LÍ 39
4.1 Thiết kế bài giảng dành cho tiết 7 - Bài 7 – Vật lí 7 39
4.2 Tiến trình DH bài 60 - Vật lí 10 (nâng cao) 47
4.3 Thiết kế tiến trình bài giảng dành cho tiết 3 - Bài 3 - Vật lí 7 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 61
Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
5.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 62
5.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 62
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 62
5.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 62
5.3.2 Quan sát giờ học 62
5.3.3 Các bài kiểm tra 63
5.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 63
5.4.1 Nhận xét về tiến trình DH 63
5.4.2 Đánh giá kết quả học tập của HS 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 65
KẾT LUẬN, HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70
Phụ lục 1 Câu lệnh trong Visual Basic để thiết kế trò chơi đoán ô chữ 70
Phụ lục 2 Cấu trúc học liệu điện tử Vật lí 78
Phụ lục 3 Một số học liệu điện tử dạng ảnh, phim 80
Phụ lục 4 Biên bản nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học 83
Phụ lục 5 Bìa sách tham khảo do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành 85
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự thay đổi của xã hội loài người, sự phát triển có tính chất bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) đã tạo nên những thuận lợi to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Với tư cách là phương tiện dạy học (PTDH) hiện đại, CNTT nói chung và máy vi tính (MVT) nói riêng đang có những tác động mạnh mẽ vào quá trình dạy học (QTDH), góp phần đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)
Điều 28, Luật Giáo dục năm 2005 quy định : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ”
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS) khi học môn Vật lí (VL) thì ngoài việc đổi mới một cách mạnh mẽ chương trình, nội dung dạy học (DH), cần nghiên cứu sử dụng có hiệu quả các PTDH trực quan Khai thác, sử dụng các phần mềm trong DH VL nhằm kích thích tính tò mò, gây được hứng thú học tập đối với HS, dễ sử dụng là một trong những hướng nghiên cứu đang được nhiều người quan tâm [3], [4], [5], [6], [11], [12]
Bài giảng điện tử (BGĐT) là PTDH hiện đại, được sử dụng khá phổ biến hiện nay Để thiết kế BGĐT, GV phải tìm kiếm học liệu (khai thác internet, dùng máy ảnh kĩ thuật số - digital disk camera, máy quét ảnh - scanner, ), thiết kế hình ảnh minh họa, thiết kế các đoạn phim hoạt hình mô phỏng, Công việc này tốn khá nhiều thời gian của GV Trong khi đó, quỹ thời gian của GV khá ít, kĩ năng sử dụng MVT của một số GV chưa thật sự thành thạo,
họ gặp nhiều khó khăn trong việc thiết kế các hình động, các đoạn phim mô phỏng, trò chơi ô chữ và ít có các phương tiện kĩ thuật hiện đại để hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng [2], [3], [6], [8], [10] Theo nghiên cứu của Tiến sĩ
Trang 4Quách Tuấn Ngọc – Cục trưởng Cục Công nghệ Thông tin Bộ GD&ĐT – để thiết kế một BGĐT có hiệu quả, đòi hỏi thời gian khoảng 8 tiếng đồng hồ [8] Định hướng của Bộ GD&ĐT trong việc triển khai tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn
2008-2012 nêu rõ : “Xây dựng cơ sở dữ liệu và thư viện học liệu điện tử gồm giáo trình và sách giáo khoa điện tử, đề thi trắc nghiệm, phần mềm thí nghiệm ảo, học liệu đa phương tiện, bài giảng, bài trình chiếu, giáo án của giáo viên, giảng viên” [1], [6]
Để góp phần xây dựng bộ sưu tập các học liệu điện tử, Công ti Cổ phần Công nghệ Dự báo (trụ sở tại Hà Nội) đã thiết kế thư viện hình ảnh, phim một
số môn học trong đó có môn VL Các tác giả đã sưu tập một số đoạn phim, quét (scanner) các ảnh trong sách giáo khoa, ghi hình một số thí nghiệm ảo,… Tuy nhiên, riêng bộ môn VL, các hình ảnh (được scanner từ sách giáo khoa hoặc khai thác trên mạng internet) được kết nối thành một đoạn phim (phần đuôi mở rộng là *.dat) nên GV muốn trích (cắt) một hình ảnh thì phải dùng kĩ thuật tin học (cắt phim) mới có thể lấy ra được hình ảnh mong muốn (công việc này gây mất thời gian đối với GV) Các đoạn phim khác chủ yếu dừng lại
ở việc ghi hình một số thí nghiệm ảo từ các phần mềm, về PPDH, điều này
có hạn chế là các đoạn phim được cố định tình huống, thông số, không có điều kiện để HS, GV tương tác, chỉ có tác dụng mô phỏng [4], [6]
Một số website khác cũng có trương mục tài liệu điện tử như Công ti Cổ phần Bạch Kim www.bachkim.com ; http//www.mix.belkemeyley.edu
www.thuvienvatly.com; http//www.colorado.edu; http://www.falstad.com; http://physics-animations.com/Physics, http//www.phycisclassroom.com;… Các học liệu được đưa trên các website này chủ yếu do GV cung cấp, một số học liệu được thiết kế có chất lượng, tuy nhiên cũng có những học liệu chưa thật
sự hiệu quả, có nhiều yếu tố gây nhiễu, chưa có hướng dẫn sử dụng,
Cho đến nay, việc đầu tư cho các công trình nghiên cứu và triển khai xây dựng nguồn học liệu điện tử, ứng dụng công nghệ “đám mây điện tử”
Trang 5trong giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế Điều này có thể nhận thấy rõ trên các website phần lớn mới sử dụng công nghệ web để đăng tải các tài liệu điện tử sưu tập được chứ chưa có đủ nguồn lực để xây dựng các cơ sở dữ liệu theo đúng nghĩa thư viện số Nguồn tài liệu được đăng tải như một danh mục các đường link đến tài liệu gốc lưu trên máy chủ, việc tra cứu gặp khó khăn (phụ thuộc vào quản trị) và thông tin thiếu chính xác vì thông tin không được tổ chức chặt chẽ và hầu hết chưa được kiểm soát [16]
Các bài giảng trực tuyến, BGĐT chỉ có thể xây dựng nên chỉ khi đã có
đủ nguồn học liệu điện tử cần thiết Nhằm tiết kiệm công sức, thời gian biên tập và tránh sự trùng lặp, việc biên soạn và lưu trữ các học liệu một cách khoa học, tập trung, có thể dễ dàng chia sẻ, tái sử dụng,… là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, thực hiện [13]
Sự ra đời của mạng internet đã gắn kết các hệ thống máy tính với nhau, các thông tin được dùng chung và chia sẻ một cách có hiệu quả hơn Công nghệ điện toán đám mây là một thành tựu khoa học có tính chất đột phá, mang lại hiệu quả kinh tế to lớn Điện toán đám mây cung cấp phương tiện để chia sẻ phần cứng, phần mềm cơ sở hạ tầng lưu trữ, theo một gói phần mềm tiện dụng và phổ biến Chúng ta có thể truy cập và sử dụng đến các dịch vụ công nghệ thông tin tồn tại trong "đám mây” Cấu trúc bên trong các “đám mây” là những cơ sở hạ tầng như phần cứng, phần mềm, mạng, phương thức lưu trữ, bảo trì, backup (cập nhật), v v
Ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong giáo dục và đào tạo đã được một số nước tiên tiến áp dụng, được đánh giá là giải pháp tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao Ở Việt Nam, việc áp dụng điện toán đám mây trong giáo dục vẫn chưa được phổ biến
Qua thời gian học tập, nghiên cứu và trực tiếp dạy học, chúng tôi đã xây dựng được các nguồn học liệu điện tử môn Vật lí Làm thế nào để quản lí, khai thác, chia sẻ nguồn học liệu này một cách khoa học, tiết kiệm, là những
Trang 6Có nhiều giải pháp để chia sẻ học liệu điện tử như sử dụng website của nhà trường hoặc website cá nhân, copy dữ liệu bằng ổ đĩa cứng, thẻ nhớ, USB, những cách chia sẻ này có những ưu điểm và hạn chế nhất định (thuê server, dung lượng hạn chế, phí bảo trì, ) Sử dụng công nghệ điện toán đám mây sẽ khắc phục được một số hạn chế về cơ sở hạ tầng của các phương pháp chia sẻ học liệu thông thường (máy chủ, bảo trì, bản quyền, ).
Từ những thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài : Ứng dụng điện toán
đám mây để xây dựng và khai thác nguồn học liệu điện tử nhằm hỗ trợ việc thiết kế bài giảng điện tử môn Vật lí ở trường trung học trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng điện toán đám mây để xây dựng và khai thác nguồn học liệu điện tử nhằm hỗ trợ việc thiết kế bài giảng điện tử môn VL ở trường trung học, trên cơ sở đó góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng DH môn
VL ở trường trung học
3 Giả thuyết khoa học
Nếu ứng dụng công nghệ điện toán đám mây để xây dựng, khai thác nguồn học liệu điện tử môn VL có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng
DH môn VL ở trường trung học
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể : QTDH; chương trình, khung chương trình và chuẩn kiến
thức - kĩ năng môn VL cấp trung học; lí luận và PPGD môn VL ở trường trung học
Đối tượng : Công nghệ điện toán đám mây; Học liệu điện tử môn VL;
phần mềm Visual Basic trong PowerPoint, phần mềm thiết kế trang web FrontPage, phần mềm SkyDrive, phần mềm quản lí Mind Manager, phần mềm thiết kế BGĐT Lecture Maker, PowerPoint, phần mềm thiết kế hoạt hình Macromedia Flash và các phần mềm DH môn VL
Trang 7Phạm vi : Trong đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công
nghệ điện toán đám mây để xây dựng và khai thác nguồn học liệu điện tử môn
VL nhằm hỗ trợ thiết kế BGĐT VL môn VL ở trường trung học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đề ra 4 nhóm nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:
5.1 Nghiên cứu những cơ sở lí luận của việc ứng dụng MVT trong DH nói chung và trong DH VL nói riêng, quy trình xây dựng và tiêu chuẩn nguồn học liệu điện tử môn VL, các quan điểm thiết kế BGĐT, công nghệ điện toán đám mây
5.2 Nghiên cứu chương trình, khung chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ
năng môn VL cấp trung học và sách giáo khoa VL
5.3 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện toán đám mây để quản lí học liệu điện tử; phần mềm Visual Basic (trong PowerPoint) để thiết kế ô chữ; phần mềm Macromedia Flash để thiết kế thí nghiệm ảo; các phần mềm thiết
kế BGĐT; các phần mềm DH môn VL, SkyDrive
5.4 Thực nghiệm sư phạm
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thực hiện các phương pháp nghiên cứu dưới đây :
6.1 Nghiên cứu lí thuyết : tổng quan các tài liệu có liên quan đến lí luận
DH ; nghiên cứu các văn kiện, chỉ thị của Đảng và các văn bản chỉ đạo về đổi mới, nâng cao chất lượng DH ở trường phổ thông, Chỉ thị 55/2008/CT-BGD&ĐT về ứng dụng CNTT trong DH
6.2 Phương pháp quan sát : tiến hành quan sát lớp học, quan sát các
hiện tượng VL để dàn dựng các đoạn phim mô phỏng các hiện tượng VL
6.3 Phương pháp thiết kế : thiết kế các học liệu điện tử (hình ảnh, hoạt
hình, trò chơi đoán ô chữ,…) ; khai thác các phần mềm để thiết kế các BGĐT
Trang 86.4 Phương pháp thống kê : sử dụng phương pháp thống kê để trình bày,
so sánh kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài này gồm 5 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Nghiên cứu xây dựng và thiết kế nguồn học liệu điện tử môn
VL
Chương 3 Ứng dụng công nghệ điện toán đám mây để quản lí nguồn
học liệu điện tử môn Vật lí
Chương 4 Khai khác nguồn học liệu điện tử để thiết kế BGĐT VL Chương 5 Thực nghiệm sư phạm
8 Đóng góp của đề tài
8.1 Góp phần làm sáng tỏ và trình bày một cách hệ thống các cơ sở lí luận của việc xây dựng và thiết kế nguồn học liệu điện tử; ứng dụng điện toán đám mây trong giáo dục; các quan điểm, nguyên tắc thiết kế BGĐT Đề xuất quy trình thiết kế nguồn học liệu điện tử và quy trình thiết kế BGĐT
8.2 Sử dụng SkyDrive, ứng dụng công nghệ điện toán đám mây để quản
lí nguồn học liệu điện tử gồm: 832 hình ảnh; hơn 180 đoạn phim DH; 3230 bài tập; hơn 250 đề kiểm tra; hơn 450 thí nghiệm ảo; 52 trò chơi đoán ô chữ;
264 BGĐT; hơn 250 học liệu khác liên quan môn VL
8.3 Có 02 bài báo khoa học liên quan tại Hội thảo khoa học do Sở GD&ĐT tổ chức (năm 2008) và Trường ĐHSP Huế (năm 2010) Là đồng tác
giả của cuốn sách tham khảo “Trọng tâm kiến thức và bài tập Vật lí 9”
(PGS.TS Trần Công Phong chủ biên), do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam
ấn hành năm 2009
Trang 9MÔ TẢ GIẢI PHÁP DỰ THI Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Cơ sở lí luận của việc xây dựng và thiết kế nguồn học liệu điện tử
1.1.1 Khái niệm nguồn học liệu điện tử
Học liệu điện tử (electronic courseware - viết tắt là e-courseware) là tài
liệu sử dụng để học tập và nghiên cứu được số hóa, bao gồm những thông tin
về văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, phim, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo, âm thanh, [6], [14], [15]
Nguồn học liệu điện tử là nơi cung cấp những tài liệu DH đã được số hóa dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản – text, hình ảnh - images, âm thanh - audio, phim - video, ảnh động – image gif, phần mềm - sofware,…), được tập hợp và sắp xếp có tổ chức theo từng chủ đề, dễ tra cứu, dễ tìm kiếm [6], [13]
Ví dụ, nguồn học liệu điện tử về Hoàng Sa, Trường Sa: Các bản đồ của các học giả trong và ngoài nước khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; các bài viết, hội thảo khoa học về Hoàng Sa, Trường Sa; Địa lí tự nhiên;
Hệ động thực vật; Lịch sử; Chủ quyền và tranh chấp; Tổ chức hành chính tại Trường Sa, Hoàng Sa; Dân cư; Phát triển kinh tế; Cơ sở hạ tầng; Lễ hội Khao
Xét về mặt bản chất, học liệu điện tử là ảo (được lưu trữ trên máy tính chủ, vô hình), nhưng nó có tác dụng thực, tác động tích cực đến QTDH
Trang 101.1.2 Những ưu điểm nổi trội của nguồn học liệu điện tử
Nguồn học liệu điện tử là giải pháp tối ưu để tạo ra môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mở cho tất cả các đối tượng chia sẻ, khai thác thông tin (không phân biệt địa vị, dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo, giới tính, độ tuổi,…) Nguồn học liệu điện tử không bị giới hạn về thời gian và không gian Cùng một lúc, nó có thể phục vụ nhiều đối tượng khác nhau, không phụ thuộc vào số lượng người dùng, không phụ thuộc vào vị trí địa lí và thời gian [6] Học liệu điện tử giúp người sử dụng tiết kiệm thời gian và kinh phí Nó được lưu trữ trên những thiết bị siêu nhỏ nên không cần phải xây dựng kho chứa, chi phí thấp đối với người phục vụ, bảo quản Nó cũng góp phần bảo vệ môi trường [6]
1.1.3 Quy trình xây dựng nguồn học liệu điện tử
Bước 1 Xác định mục tiêu và thiết lập cấu trúc
Ở bước này, cần xác định mục tiêu của học liệu điện tử là gì (phù hợp với chương trình, nội dung dạy học, chuẩn kiến thức – kĩ năng môn học) ? Đối tượng sử dụng là ai ? Cấu trúc nguồn học liệu như thế nào ? Phương thức quản lí và cập nhật nguồn học liệu điện tử ra sao ? [6]
Bước 2 Lựa chọn học liệu đầu vào (chọn nội dung học liệu)
Các tài liệu đã có, hiện có và sẽ có rất đa dạng và phong phú vì thế cần lựa chọn những tài liệu thực sự đáp ứng mục tiêu và các yêu cầu về tình trạng bản quyền, nội dung kiến thức, thẩm mĩ, hiệu quả dạy học, kĩ thuật tin học,…
Bước 3 Chọn công nghệ để thực hiện số hóa các học liệu
Việc lựa chọn công nghệ để tiến hành xây dựng nguồn học liệu là rất quan trọng, bởi vì nó là công cụ đắc lực giúp ta thực hiện các công việc trong quy trình tạo lập và vận hành nguồn học liệu điện tử Công nghệ vừa là công
cụ, vừa là môi trường để thực hiện số hóa và lưu giữ các học liệu Nó phải đáp ứng yêu cầu chính xác, nhanh, chặt chẽ [6], [16]
Bước 4 Biên mục, nhập và tạo siêu liên kết các học liệu
Trang 11Các học liệu được sắp xếp có tổ chức theo mục lục, chương, phần, bài (tiết),… và chúng được tạo siêu liên kết (hyperlink) để người sử dụng dễ dàng tìm kiếm, tải về máy tính cá nhân [6]
Bước 5 Xuất bản học liệu
Các học liệu được sắp xếp theo cấu trúc chặt chẽ, được xuất bản hoặc dưới dạng web, hoặc dưới dạng đóng gói lưu trữ ở đĩa DVD, CD, máy tính cá nhân, thẻ nhớ,
Việc đóng gói học liệu điện tử được thực hiện theo chuẩn SCOM
Bước 6 Vận hành, bảo quản và cập nhật học liệu điện tử
Định kì hoặc thường xuyên có sự bổ sung, chỉnh sửa, cập nhật những học liệu mới, học liệu hay vào bộ sưu tập các học liệu
1.1.4 Yêu cầu và tiêu chuẩn của nguồn học liệu điện tử
1.1.4.1 Yêu cầu về nội dung
Cũng giống như thư viện truyền thống, các học liệu được lựa chọn phải
đảm bảo chính xác về mặt khoa học sư phạm, theo chuẩn kiến thức – kĩ năng,
có phần nâng cao, ít nhiễu, phù hợp với tâm lí lứa tuổi, phù hợp với đặc trưng môn học, Các học liệu là hình ảnh hoặc phim phải mang tính giáo dục, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc [6]
1.1.4.2 Yêu cầu về tình trạng bản quyền
Theo Điểm a và Điểm đ, Điều 25, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật bản quyền) Việt Nam (2005) thì những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, cụ thể :
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy
cá nhân ;
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu Cần phải hiểu rằng nguồn học liệu điện tử cũng giống như không gian của một thư viện truyền thống, là nơi lưu trữ, cung cấp những tài liệu phục vụ
Trang 12Khi sao chép, biên tập dữ liệu cần chú ý đảm bảo không xuyên tạc nội dung, giữ nguyên bản gốc, ghi chú nguồn tài liệu của tác giả nào,…
Đối với các tài liệu chưa được công bố hoặc không được sự cho phép của tác giả thì tuyệt đối không được đưa vào nguồn học liệu
1.1.4.3 Tiêu chuẩn kĩ thuật của nguồn học liệu điện tử
Có thể khái quát về tiêu chuẩn kĩ thuật của nguồn học liệu điện tử như
sau: Tìm kiếm rất dễ - Download rất nhanh – Liên kết cực mạnh – Dung
Các văn bản được chuyển đổi sang định dạng *PDF phải đảm bảo nội dung chính xác so với tài liệu gốc, không bị nhòe
Các hình ảnh có độ phân giải tối thiểu 300dpi, rõ nét, dung lượng dưới 2Mb/hình ảnh
Các tệp phim, hoạt hình phải rõ nét, có độ phân giải phù hợp và dung lượng không quá lớn
Các phần mềm dạy học phải đảm bảo cài đặt được, có bản hướng dẫn đính kèm (nếu phần mềm đó không sử dụng tiếng Việt) [6]
1.1.4.4 Yêu cầu về cấu trúc và tính linh hoạt
Cấu trúc của bộ học liệu điện tử phải chặt chẽ, đầy đủ, đảm bảo tính hệ thống; được sắp xếp theo chủ đề, thể loại, phần, chương, mục, bài (tiết học),…
Nguồn học liệu điện tử phải đảm bảo phong phú, sinh động và linh hoạt, nghĩa là có thể chỉnh sửa, bổ sung và cập nhật các học liệu mới một cách dễ dàng, khoa học [6]
Trang 131.2 Cơ sở lí luận của việc xây dựng và thiết kế nguồn học liệu điện
tử môn VL
Thiết kế BGĐT là một công việc tương đối phức tạp Đó là một quá trình sáng tạo, tích lũy ý tưởng, cần có thời gian để tư duy, ứng dụng CNTT như thế nào Khi đã có ý tưởng, người thiết kế phải sưu tầm các hình ảnh minh họa hoặc là các đoạn phim, thí nghiệm mô phỏng Công việc tìm kiếm các học liệu này có thể theo nhiều hướng : nhờ đồng nghiệp ; truy cập mạng internet ; tự mình xây dựng,… Hướng nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định Các hướng tìm kiếm trên các diễn đàn website sẽ cho các học liệu được thiết kế sẵn, khó chỉnh sửa, chưa được kiểm định, có thể thiếu tính chuyên nghiệp, một số học liệu chưa rõ sẽ sử dụng vào bài DH cụ thể nào Xây dựng một ngân hàng dữ liệu nguồn học liệu điện tử sắp xếp có khoa học
sẽ giúp GV có cơ hội lựa chọn học liệu để đưa vào từng bài DH cụ thể một cách dễ dàng sẽ góp phần tiết kiệm thời gian cho GV và làm tăng tính hiệu quả của BGĐT [6], [11]
Tại sao không thiết kế sẵn BGĐT mà lại xây dựng nguồn học liệu điện
tử ? Về mặt lí luận dạy học, mỗi nhóm đối tượng HS (có thể là một lớp học) phải có một phương án riêng để thi công bài DH cho phù hợp, nghĩa là phải
có giáo án (kịch bản DH riêng) vì thế phải có BGĐT riêng cho từng lớp học BGĐT của GV A dẫu được thiết kế rất công phu nhưng có thể chỉ hợp với
GV A, phù hợp với đối tượng HS của GV A chứ chưa chắc đã thích hợp với
GV B, đối tượng HS của GV B,… Tuy nhiên, nếu có nguồn học liệu (được xây dựng dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng), GV có thể lựa chọn để đưa vào BGĐT cho phù hợp với đối tượng HS Ví dụ, cũng là trò chơi ô chữ nhưng có
GV sử dụng vào hoạt động mở bài nhưng cũng có GV lại sử dụng trò chơi ô chữ ở phần củng cố Cũng là thí nghiệm mô phỏng nhưng có GV sử dụng trước khi làm thí nghiệm thật, nhưng cũng có GV sử dụng sau khi làm thí nghiệm thật để củng cố kiến thức [6], [11]
Trang 141.3 Cơ sở lí luận của việc ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong giáo dục
1.3.1 Khái niệm điện toán đám mây
Điện toán đám mây (Cloud Computing) còn gọi là điện toán máy chủ ảo,
là mô hình điện toán sử dụng các công nghệ máy tính và phát triển dựa vào mạng internet Thuật ngữ "đám mây" ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng internet (dựa vào cách được bố trí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) và như một liên tưởng về độ phức tạp của các cơ sở hạ tầng chứa trong nó Hiểu một cách
tổng quát, điện toán đám mây là hình mẫu trong đó thông tin được lưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ được được lưu trữ tạm thời ở các máy khách, bao gồm máy tính cá nhân, trung tâm giải trí, máy tính trong doanh nghiệp, các phương tiện máy tính cầm tay, [17]
Điện toán đám mây cung cấp phương tiện để chia sẻ phần cứng, phần mềm cơ sở hạ tầng lưu trữ, theo một gói phần mềm tiện dụng và phổ biến Chúng ta có thể truy cập và sử dụng đến các dịch vụ CNTT tồn tại trong "đám mây” Cấu trúc bên trong các “đám mây” là những cơ sở hạ tầng như phần cứng, phần mềm, mạng, phương thức lưu trữ, bảo trì, backup, v v , được duy trì để cung cấp các dịch vụ đảm bảo khả năng sẵn sàng cao Đó là các
“trang trại server” (server farm) lớn do Amazon, Google và các công ti khác quản lí, nơi một lượng dữ liệu cực lớn được tồn trữ để người dùng có thể lấy
về tại bất cứ nơi nào trên thế giới [17]
1.3.2 Bối cảnh ra đời của công nghệ điện toán đám mây
Thuật ngữ điện toán đám mây xuất hiện bắt nguồn từ ứng dụng điện toán lưới (grid computing) trong thập niên 1980, tiếp theo là điện toán theo nhu cầu (utility computing) và phần mềm dịch vụ (SaaS)
Điện toán lưới đặt trọng tâm vào việc di chuyển một tải công việc (workload) đến địa điểm của các tài nguyên điện toán cần thiết để sử dụng Một lưới là một nhóm máy chủ mà trên đó nhiệm vụ lớn được chia thành những tác vụ nhỏ để chạy song song, được xem là một máy chủ ảo
Trang 15Với điện toán đám mây, các tài nguyên điện toán như máy chủ có thể được định hình động hoặc cắt nhỏ từ cơ sở hạ tầng phần cứng nền và trở nên sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, hỗ trợ những môi trường không phải là điện toán lưới như Web ba lớp chạy các ứng dụng truyền thống hay ứng dụng Web 2.0 [17]
1.3.3 Ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong giáo dục
Trong ngành giáo dục thường xuyên phải sử dụng nhiều đến các cơ sở
dữ liệu cùng với các phép tính toán với chi phí không nhỏ Điện toán đám mây có thể cung cấp cho các cơ sở giáo dục một phương pháp nhằm giúp người học một công cụ tính toán đầy tiềm năng Thông qua điện toán đám mây, các cơ sở giáo dục giải quyết được bài toán về xây dựng cơ sở hạ tầng, phần mềm, và lưu trữ dữ liệu Nhờ điện toán đám mây có thể xây dựng dịch
vụ sử dụng một lần và sau đó sử dụng nhiều lần bởi đông đảo người dùng theo nhu cầu của họ Điện toán đám mây là một lựa chọn tốt cho các cơ sở giáo dục sử dụng hiệu quả Nó sẽ không chỉ làm lợi cho người học còn giúp các trường xây dựng cơ sở hạ tầng đa năng tính toán thường xuyên [17]
Mô hình kiến trúc điện toán đám mây trong giáo dục [17]
Chú thích trên hình vẽ: Researcher : nghiên cứu viên; processer : xử lí; Software : phần mềm; Infrastructure : hạ tầng ; private cloud : đám mây riêng; educational cloud : đám mây giáo dục
Dịch vụ điện toán đám mây thực hiện theo các mô hình dịch vụ khác nhau như nền tảng như một dịch vụ (PaaS), lưu trữ như một dịch vụ hoặc
Trang 16SaaS được sử dụng trong các đám mây riêng để cung cấp các phần mềm hỗ trợ cho người học khai thác các phần mềm đắt giá khó tìm trên mạng Điều này không chỉ cung cấp cho họ những phần mềm chất lượng mà còn giải phóng người học khỏi gánh nặng chi phí các phần mềm bản quyền IaaS và PaaS được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu cơ sở hạ tầng của sinh viên, giảng viên, học giả nghiên cứu với một số cấu hình phần cứng cụ thể cho các nhiệm
Sử dụng hệ thống đăng nhập đơn giản, sinh viên, các học giả nghiên cứu, giáo viên dễ dàng đưa ra yêu cầu và có thể sử dụng cơ sở hạ tầng hầu như không giới hạn Vì thế mạnh nhất của điện toán đám mây là mô hình dịch vụ lưu trữ quy mô lớn thông tin Dữ liệu có liên quan với công việc nghiên cứu khác nhau, dự án hoặc thông tin có thể tái sử dụng, có thể được giao cho các đám mây lưu trữ quản lí và có thể được truy cập theo yêu cầu Các cơ sở giáo dục hợp tác với nhau để xây dựng một kho lưu trữ thông tin theo mô hình lưu trữ tập trung ảo Đây là cơ chế hoạt động có hiệu quả nhằm giảm chi phí lưu trữ để duy trì kho dữ liệu giáo dục theo điện toám đám mây [17]
Hiện nay, khối lượng thông tin trong “biển” internet là vô cùng tận, tuy nhiên các thông tin này phân bố hỗn độn do nhiều nhà cung cấp Do vậy để biến thông tin đó thành tri thức là bài toán hoàn toàn không đơn giản Quá trình biến thông tin thành tri thức là một quá trình xử lí thông tin phức tạp có
Trang 17điều khiển Cốt lõi của điện toán đám mây là làm cho toàn bộ môi trường tính toán và tri thức ngày càng rẻ hơn Tri thức có thể được tập trung xử lí và trong quá trình tập trung xử lí đem các dữ liệu biến đổi thành thông tin Quá trình này đã làm cho việc phổ cập tri thức và năng suất lao động được nâng cao rõ rệt [17]
1.4 Cơ sở lí luận của việc thiết kế bài giảng điện tử
1.4.1 Các quan điểm thiết kế BGĐT
Bài giảng điện tử là bài DH của GV, được soạn thảo, thiết kế một cách
khoa học, công phu nhờ vào việc ứng dụng những thành tựu của CNTT
BGĐT được xem là PTDH hiện đại, nó vừa là nguồn cung cấp thông tin vừa
là phương tiện để hướng dẫn HS xử lí thông tin một cách trực quan, khoa học
và hiệu quả BGĐT vừa là bản kế hoạch vừa là PTDH hỗ trợ đồng thời cho cả hoạt động dạy của thầy giáo và hoạt động học tập của HS [3], [6], [7]
Trên cơ sở các nghiên cứu và qua nhiều lần tổ chức hội giảng, hội thi, hướng dẫn GV thiết kế bài giảng, tác giả đề xuất các quan điểm về yêu cầu của một BGĐT như sau :
1.4.1.1 Tính hiệu quả sư phạm
BGĐT phải góp phần đổi mới cách dạy, đổi mới cách học, khắc phục lối truyền thụ một chiều BGĐT phải góp phần phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng quan sát, so sánh, tổng hợp và khái quát hóa của đa số HS [6], [10] Khi thiết kế BGĐT, phải để ý đến việc tiết kiệm thời gian của các hoạt động trên
lớp nhằm tạo điều kiện cho HS làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, nhìn nhiều hơn Nội dung kiến thức đưa vào bài giảng phải
đảm bảo tính hệ thống, đầy đủ, trọng tâm và chính xác Cần khai thác các học liệu điện tử một cách hợp lí nhằm cung cấp cho HS nguồn thông tin phong phú Các thông tin đưa vào bài giảng phải phù hợp với nội dung DH và chuẩn kiến thức - kĩ năng, đảm bảo tính vừa sức [6], [9], [10] BGĐT cần có các đoạn phim, đoạn văn bản hướng dẫn HS làm thí nghiệm, hướng dẫn HS đánh
Trang 18giá lẫn nhau và có phần tự luyện tập nhằm phát huy tính tích cực, độc lập của
HS trong QTDH
Không phải bài học nào cũng đều bắt buộc sử dụng BGĐT Nếu xét thấy trong bài học đó, BGĐT không hơn gì chiếc bảng đen, trang SGK, thì ta cũng không nên cố tìm mọi cách để thiết kế bằng được Bởi vì để có được một BGĐT đạt yêu cầu thì thời gian thiết kế trung bình phải mất từ 8 đến 10 tiếng đồng hồ [8] Đó là chưa tính đến việc chuẩn bị các thiết bị ngoại vi (projector, màn hình cỡ lớn, ) rất mất thời gian và tốn kém [6], [7], [11]
1.4.1.2 Tính hiện đại
Khi tiến hành thiết kế BGĐT, chúng ta cần sử dụng các thành tựu tiên tiến của CNTT nhằm mục đích lập trình các hiện tượng, các quá trình một cách chính xác, đồng thời tăng khả năng tương tác nhiều chiều của MVT với người sử dụng Có nhiều chương trình, phần mềm để thiết kế BGĐT, tuy nhiên cần chọn các chương trình, phần mềm hiện đại thích hợp, sao cho việc thiết kế và sử dụng thật đơn giản, thuận tiện Các chương trình đó phải hỗ trợ tốt chức năng chèn hình ảnh, đặc biệt là chèn các đoạn phim Các đoạn phim chèn vào BGĐT phải để ở chế độ tương tác được Nghĩa là người sử dụng có thể làm phim chạy nhanh lên, chậm lại, dừng lại, lặp lại những lúc cần thiết
Trong bài giảng phải sử dụng hình thức siêu liên kết (hyperlink) đến các phần mềm, file, trang web, thí nghiệm ảo, hình ảnh, phim, để người sử dụng cho
dù đang định vị ở bất kì trang nào của bài giảng cũng có thể quay trở lại trang đầu, đến một trang khác hay là dừng, thoát ra khỏi bài giảng Đồng thời, cần khai thác tối đa chức năng tra cứu của bài giảng Chẳng hạn, trong một bài học có nhiều thuật ngữ khó hiểu, chúng ta sử dụng hình thức liên kết để người
sử dụng khi đưa con trỏ chuột đến ngay thuật ngữ đó hoặc nhấp chuột thì trên màn hình lập tức xuất hiện định nghĩa hay lời giải thích chi tiết [2], [3], [6] BGĐT cần đưa vào nhiều thông tin, hình ảnh, đoạn phim, âm thanh phong phú, thiết thực Đối với những vật thật không thể mang vào lớp học, chúng ta có thể dựng phim, chụp ảnh đưa vào bài giảng để tăng thêm tính trực
Trang 19quan Không nên đưa vào bài giảng những file hình ảnh có kích thước lớn
Nếu cần thiết thì cắt ảnh đó thành nhiều tấm nhỏ rồi dùng chức năng bảng để ghép chúng lại Ngoài việc xây dựng thư viện hình ảnh động, thí nghiệm ảo, chúng ta cần xây dựng thư viện các bài tập (cơ bản và nâng cao), chương trình vật lí vui, có thể em chưa biết Đặc biệt là lập trình cách đánh giá sinh động
để người học có thể tự kiểm tra, tự đánh giá [6]
Cần phải sử dụng các tệp tin trong đó chứa kiến thức trọng tâm, cô đọng, chắt lọc (nội dung cần ghi vở) để in và phát cho HS Có nghĩa là trong khi tiếp thu bài giảng, HS có thể ghi gì tuỳ thích hoặc có thể không cần ghi chép mà chỉ cần lấy nội dung bài giảng in sẵn của thầy giáo, sau đó về nhà ghi lại theo
ý của mình [4], [5], [6]
1.4.1.3 Tính thực tiễn
Việc thiết kế được một bài giảng là tương đối tốn kém, do đó, đòi hỏi các nhà thiết kế cần phải tính toán sao cho có thể ứng dụng rộng rãi trong các trường học của các vùng miền khác nhau Các chương trình chạy trong bài giảng đó phải phù hợp với cấu hình máy tính của nhiều trường Nên chọn lựa phần mềm hay ngôn ngữ lập trình nào chiếm ít bộ nhớ [4], [5], [6] BGĐT và các thiết bị đi kèm phải góp phần gây hứng thú cho người dạy và người học, tránh sự đơn điệu, nhàm chán [6]
Các bài giảng được thiết kế sao cho phù hợp với trình độ tin học của GV
và HS Các kí hiệu về liên kết, chuyển trang, trở về trang trước, và cách sử dụng chúng trong bài giảng phải thật đơn giản, dễ hiểu và có sự tương tự với các trình duyệt quen thuộc (Microsoft Word, Excel, ) Nghĩa là người sử dụng chỉ việc nhấp, rê chuột, hoặc sử dụng bàn phím với những thao tác đơn giản nhất [5], [6]
1.4.1.4 Tính thẩm mĩ
Nhằm đưa lại hứng thú, ham thích cho người học, BGĐT cần được thiết
kế sao cho sinh động, hài hoà về màu sắc, đẹp về kiểu dáng, Kiểu chữ và cỡ
Trang 20càng, vừa đẹp vừa rõ ràng, thống nhất cách đánh số và màu sắc của các tiểu
đề mục Để tránh nhiễu trong quá trình giảng dạy, các kiểu xuất hiện và cách biến mất chữ, hình ảnh phải hài hoà, không nhàm chán, nhưng cũng đừng quá rườm rà Không nên sử dụng những gam màu quá chói, sặc sỡ để làm màu nền, màu chữ Nên kết hợp màu chữ và màu nền có độ tương phản cao Các hình ảnh đưa vào bài giảng phải được chọn lọc, rõ nét, đẹp, mang tính nghệ thuật, chính xác về mặt sư phạm Các đoạn phim DH cần được dàn dựng khoa học, rõ nét, chính xác về mặt sư phạm, màu sắc hài hoà, âm thanh phù hợp Không nên lạm dụng các tính năng của MVT để pha màu quá sặc sỡ hoặc đưa vào những âm thanh quá sống động để tránh gây nhiễu trong QTDH [4], [6]
1.4.2 Quy trình thiết kế BGĐT
1.4.2.1 Xác định mục tiêu bài học
BGĐT trước hết là một bài giảng nên khi thiết kế cần phải xác định được mục tiêu của bài học (bao gồm mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ), từ đó vạch ra kế hoạch thực hiện và dự kiến được nội dung chi tiết của bài học [7]
Trang 211.4.2.2 Dự kiến nội dung chi tiết
Dự kiến nội dung : Đây là một khâu quan trọng trong quá trình chuẩn bị một tiết dạy
Phân tích nội dung : Phân tích nội dung bài dạy giúp cho GV dự kiến được những đồ dùng DH cần thiết trong tiết dạy đồng thời dự kiến được PPDH thích hợp
Sắp xếp trình tự các nội dung một cách hợp lí : Sau khi phân tích được nội dung DH, GV dự kiến trình tự giảng dạy các nội dung kiến thức trong tiết dạy
Dự kiến cấu trúc nội dung : Dựa vào nội dung đã phân tích và trình tự nội dung kiến thức, GV dự kiến cấu trúc của nội dung để việc nhập nội dung bài giảng vào các slide được dễ dàng [6], [7]
1.4.2.3 Xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Trong quá trình dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của HS, vấn đề đặt ra là GV cần phải tổ chức được các hoạt động nhận thức cho HS, thông qua các hoạt động đó, HS có thể tự rút ra kiến thức cho bản thân Đối với bài giảng bình thường, để tổ chức các hoạt động, GV tiến hành hướng dẫn bằng cách giải thích bằng lời và diễn giải quá trình tiến hành thí nghiệm (nếu có), quá trình hướng dẫn của GV chiếm tương đối nhiều thời gian, nhưng hiệu quả lại không cao Nhưng với BGĐT, thông qua màn hình MVT, chỉ cần ít thời gian nhưng GV dễ dàng hướng dẫn các bước tiến hành hoạt động, công việc cần phải làm của HS, dễ dàng phân công nhiệm vụ cho các nhóm [6], [7]
Vì vậy, khi xây dựng BGĐT, GV cần dự kiến trước các hoạt động nhận thức cần tổ chức cho HS, các thí nghiệm và phim hướng dẫn thí nghiệm, xây dựng hệ thống câu hỏi hoặc phiếu học tập, qua đó giúp HS tự hình thành kiến thức Các hoạt động này được xây dựng với sự giúp đỡ của MVT [6], [7]
1.4.2.4 Sưu tầm học liệu liên quan đến nội dung
Trang 22Đây là bước quan trọng trong quá trình chuẩn bị một BGĐT, các học liệu càng nhiều, càng đa dạng, đúng trọng tâm thì tiết dạy càng sinh động, tạo điều kiện tốt để HS tiếp cận các hiện tượng VL Những học liệu liên quan đến nội dung bài học bao gồm : các thí nghiệm, bài tập, phim, ảnh và phần mềm [6]
1.4.2.5 Xử lí các học liệu để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh
Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mĩ Do đó, sau khi thu thập được các đoạn phim, ảnh, GV chú ý xử lí các học liệu đó để đảm bảo chất lượng về các mặt [5], [6], [7]
1.4.3 Những lưu ý khi thiết kế BGĐT
Thông thường, kể cả người thành thạo cũng như người mới bắt đầu về Microsof PowerPoint, họ hay lạm dụng một số tính năng của MVT mà ít để ý đến sự nhiễu và hiệu quả sư phạm của BGĐT Với kinh nghiệm và bằng sự nghiên cứu về BGĐT, chúng tôi đề xuất những vấn đề lưu ý để BGĐT trở nên hiệu quả hơn
1.4.3.1 Thực hiện mười không
Không nên lạm dụng các tính năng của MVT (đưa thêm các hiệu ứng hoạt hình, âm thanh, không liên quan đến bài học)
Không nên sử dụng quá nhiều hình ảnh minh họa (dù là hình ảnh hấp dẫn), có thể sẽ làm loãng nội dung bài học
Không nên tạo quá nhiều mẫu màu nền, màu chữ sặc sỡ gây mất tập trung cho HS
Không nên tạo quá nhiều kĩ xảo làm cho buổi học trở thành một buổi biểu diễn nghệ thuật
Không nên dùng quá 3 font chữ trong một bài giảng (ánh mắt sẽ phải điều tiết thường xuyên khi phải quan sát các font chữ cầu kì) Không để các lỗi chính tả tồn tại trong bài giảng
Không nên xem BGĐT (chiếu lên màn hình) như là chiếc bảng đen
mà phải thiết kế sao cho hiệu quả gấp bội chiếc bảng đen
Trang 23 Không nên sử dụng quá nhiều liên kết không cần thiết trong một bài giảng (có thể làm cho người khác sử dụng gặp khó khăn)
Không đưa vào BGĐT những chi tiết thừa (không liên quan đến việc hướng dẫn HS học tập)
Không được xem BGĐT là phương tiện DH thay thế các phương tiện
DH khác
Không nên cố tìm cách để thiết kế một đoạn hoạt hình khó (có thể làm cho bạn mất nhiều thời gian mà hiệu quả không cao)
1.4.3.2 Thực hiện mười nên
Nên sử dụng hình ảnh minh họa vừa đủ và liên quan đến nội dung bài học
Nên dùng một hoặc hai màu nền (đậm) và màu chữ tương phản với màu nền để dễ quan sát Cỡ chữ phải tính toán sao cho người học quan sát rõ (nếu sử dụng máy chiếu projector, size tối thiểu là 26pt, tối đa 40pt đối với phòng học 30 người; size tối thiểu là 30pt đối với hội trường 100 người)
Nên thiết lập các hiệu ứng xuất hiện các đối tượng theo một trình tự logic, có ý đồ sư phạm
Nên tăng cường khai thác mạng internet để tra cứu, sưu tập tư liệu hình ảnh động, hoạt hình, phim dạy học, hình ảnh minh họa để phục vụ cho các bài giảng khác nhau
Nên chọn một số bài học thích hợp để thiết kế BGĐT
Nên sử dụng liên kết hợp lí, dùng kiểu liên kết ẩn, các nút liên kết bằng khung, cách sử dụng các kí hiệu liên kết phải thật đơn giản, dễ hiểu
Nên xây dựng sẵn nguồn học liệu (phim, ảnh, thí nghiệm ảo, )
Nên kết hợp PowerPoint với các phần mềm DH khác để hỗ trợ cho BGĐT thêm phần sinh động hơn
Trang 24 Nên thiết kế BGĐT dưới dạng mở (kiến thức bỏ ngõ) để HS có thể tương tác được Cuối mỗi bài giảng cần chốt lại những vấn đề ghi nhớ trên một slide (giống như việc ghi bảng)
Nên kèm theo hướng dẫn sử dụng BGĐT để người dạy có thể hiểu được ý đồ sư phạm của BGĐT
về nội dung cũng như hình thức của BGĐT
+ Xem bài BGĐT như là một PTDH bên cạnh các PTDH khác (nghĩa là phải kết hợp BGĐT với các PTDH khác, tránh lạm dụng BGĐT)
+ Bố trí màn hình trong lớp học một cách hợp lí, khoảng cách giữa HS
và màn hình không nên quá xa, những thiết bị không liên quan đến bài học thì nên che khuất để hạn chế việc mất tập trung của HS và thể hiện tính thẩm mĩ + Không nên để ánh sáng chiếu vào màn hình vì như thế có thể làm cho màn hình bị lóa, HS khó nhìn rõ nội dung bài giảng
+ Các file bài giảng cần được lưu giữ cẩn thận (nên ghi ra đĩa CD) Đối với file BGĐT có liên kết với phần mềm, hình ảnh, phim khi sao chép (copy) thì đặc biệt lưu ý copy nguyên cả thư mục, không được copy file riêng rẽ + Không nên di chuyển MVT liên tục, nên sử dụng một số phòng học bộ môn
+ Người sử dụng bài giảng (không tự mình thiết kế) cần phải hiểu ý đồ của tác giả, “thuộc” các bước lên lớp, cách thức trình diễn và điều quan trọng
là phải biết chút ít về sử dụng PowerPoint
+ Khi sử dụng projector hoặc màn hình tivi cỡ lớn cần đặc biệt lưu ý hệ thống nguồn điện, phích cắm, dây Theo kinh nghiệm của chúng tôi, trong
Trang 25mỗi tiết dạy cần lấy băng keo dán chặt dây xuống nền nhà, dán ổ cắm cố định bằng băng keo Tốt hơn hết là cố định máy chiếu ở phòng học bộ môn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Xây dựng cơ sở dữ liệu và thư viện học liệu điện tử gồm bài tập trắc nghiệm, phần mềm thí nghiệm ảo, học liệu đa phương tiện, bài giảng, bài trình chiếu, giáo án, hình ảnh, phim dạy học, nhằm tiết kiệm công sức, thời gian biên tập và tránh sự trùng lặp, việc biên soạn và lưu trữ các học liệu một cách khoa học, tập trung, có thể dễ dàng chia sẻ, tái sử dụng,… là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, thực hiện
Nguồn học liệu điện tử được sắp xếp có hệ thống, đáp ứng tiêu chuẩn kĩ
thuật : Tìm kiếm rất dễ - Download rất nhanh – Liên kết cực mạnh – Dung
lượng không lớn
Thông qua công nghệ điện toán đám mây, các cơ sở giáo dục giải quyết được bài toán về xây dựng cơ sở hạ tầng, phần mềm và lưu trữ dữ liệu (chi phí thấp, dễ vận hành, hiệu quả cao)
BGĐT với tư cách là một PTDH hiện đại, góp phần tích cực vào việc đổi mới PPDH, tuy nhiên, để nó phát huy hiệu quả, khi thiết kế BGĐT và thi công tiết dạy có sử dụng BGĐT cần phải thực hiện các nguyên tắc và yêu cầu, trong chương này, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và làm rõ những yêu cầu
về mặt sư phạm và yêu cầu cơ bản về mặt kĩ thuật khi thiết kế một BGĐT và những lưu ý khi sử dụng BGĐT.
Trang 26Chương 2 NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG VÀ THIẾT KẾ NGUỒN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ MÔN VẬT LÍ
2.1 Xây dựng và thiết kế nguồn học liệu các đoạn phim DH VL nhờ vào máy ảnh kĩ thuật số và khai thác mạng internet
Trên cơ sở các hiện tượng VL quan sát được, tác giả đã dàn dựng thành các đoạn phim dạy học Dùng máy ảnh kĩ thuật số để dựng phim, dùng phần mềm để thiết kế một số đoạn phim ảo, hoạt hình Khai thác một số đoạn phim của một số tác giả nước ngoài và các nhà khoa học trong nước đã công bố trên mạng để xây dựng các thư viện phim, hoạt hình Dưới đây là một vài ví dụ về các đoạn phim [3]
Đính kèm học liệu điện tử là bản hướng dẫn, gợi ý khai thác và sử dụng (nếu cần thiết) Dưới đây là một số học liệu điện tử và gợi ý sử dụng
Hình 2.3 là hình ảnh của đoạn phim về gương cầu lồi được quay ở đoạn đường ngoằn ngoèo, gấp khúc, gương chiếu hậu ở xe ôtô, GV có thể khai thác đưa vào bài giảng điện tử nhằm giúp học sinh quan sát một dụng cụ quang học được ứng dụng trong thực tế để bảo đảm an toàn giao thông Chiếc
H.2.1 Sóng trên mặt nước H.2.2 Hoạt động của động cơ
H.2.3 Các đoạn phim sử dụng dạy phần quang học Vật lí 7
Trang 27gương cầu này có kích thước lớn, không thể đưa vào lớp học được, nhờ MVT,
HS có thể quan sát được ứng dụng của gương cầu trong thực tế… [3], [6] Hình 2.4 là một đoạn phim của tác giả
nước ngoài GV có thể khai thác đoạn phim này
để gây tình huống bất ngờ (tình huống có vấn
đề) cho HS HS ngạc nhiên khi thấy ngọn nến
“đặt trong cốc” nước vẫn “cháy” bình thường
Thực ra đó là ảnh ảo của ngọn nến thật đặt
trước một bán gương phẳng Mục đích của thí
nghiệm này là chứng minh khoảng cách từ ảnh đến gương bằng khoảng cách
từ vật đến gương GV sử dụng đoạn phim này để nêu vấn đề khi dạy phần đặc điểm của ảnh tạo bởi gương phẳng Với cách dựng phim và bố trí thí nghiệm khoa học, đoạn phim này dẫn dắt người xem
ban đầu ngạc nhiên, tò mò, muốn tìm hiểu vấn
đề Đoạn cuối của phim cho thấy ngọn nến
“cháy” trong cốc nước là ảnh ảo Khi đó, GV có
thể kết hợp thí nghiệm thật để HS đo khoảng
cách từ vị trí ảnh ngọn nến đến gương phẳng và
đo khoảng cách từ ngọn nến đến gương phẳng
Như vậy, chỉ nên khai thác đoạn phim này kết hợp với thí nghiệm thật thì tính hiệu quả mới cao Đoạn phim có tác dụng gây tình huống bất ngờ, ngạc nhiên Với thí nghiệm thật, GV khó có thể gây bất ngờ như đoạn phim
Dựa vào bộ phim Trái Đất và bầu trời của tác giả nước ngoài, được phát sóng trên chương trình VTV2, Đài Truyền hình Việt Nam, chúng tôi đã sử dụng phần mềm cắt ghép phim để lựa chọn đoạn phim về hiện tượng nhật
thực, nguyệt thực Trong bài Ứng dụng sự truyền thẳng của ánh sáng, VL lớp
7, nếu đưa được đoạn phim này vào bài giảng thì HS sẽ trực quan hơn Khi
đó, cho dù GV có tài mô tả cỡ nào chăng nữa thì cũng không thể thuyết phục
H.2.5 Phim về nhật thực H.2.4 Đoạn phim về ảnh tạo bởi
gương phẳng
Trang 282.2 Xây dựng và thiết kế nguồn học liệu các thí nghiệm ảo VL nhờ vào Macromedia Flash và các phần mềm khác
Một số thí nghiệm VL khó thực hiện, khó quan sát, không thể mang vào phòng học sẽ được mô phỏng bằng các thí nghiệm ảo nhờ các phầm mềm Đính kèm mỗi thí nghiệm ảo là hướng dẫn, gợi ý sử dụng
Trong phạm vi của đề tài này, ngoài những đoạn phim hoạt hình thiết kế bằng Macromedia Flash, chúng tôi tập trung xây dựng nguồn học liệu điện tử các phần mềm có sẵn của các tác giả nước ngoài và trong nước Đối với những phần mềm này chưa có bản hướng dẫn sử dụng, chúng tôi khai thác và hướng dẫn, gợi ý sử dụng vào các bài giảng cụ thể
Dưới đây là đoạn phim sử dụng dạy trong phần máy phát điện và động
cơ điện, mô phỏng quá trình truyền sóng điện từ [6]
H.2.6 Máy phát điện H.2.7 Động cơ điện
H.2.8 Mô phỏng sự truyền sóng cơ H.2.9 Truyền sóng điện từ
Trang 292.3 Xây dựng thư viện các bài tập trắc nghiệm, ô chữ, đố vui VL
Hiện nay, xu thế đổi mới đánh giá thành quả học tập của học sinh bằng trắc nghiệm khách quan đang trở nên phổ biến Vì thế, cần xây dựng thư viện
trắc nghiệm khách quan phù hợp với từng bài, từng chương để người sử dụng
có thể khai thác vào bài giảng (chủ yếu là phần củng cố và kiểm tra bài cũ) Bên cạnh đó, trò chơi ô chữ, đố vui VL cũng được nhiều GV quan tâm
Hình 2.10 Một số học liệu điện tử về thí nghiệm ảo phần quang học (tự thiết kế và sưu tầm)
H.2.11 Phim về áp suất (Vật lí 8, Vật lí 10)
Hình 2.12 Ô chữ VL 8 Áp suất Hình 2.13 Ô chữ VL 10 Lực hướng tâm
Trang 30GV biết khai thác hợp lí các ô chữ vào phần củng cố và đặt vấn đề vào bài mới Mỗi ô chữ tuy thiết kế có phần phức tạp, đòi hỏi lập trình chặt chẽ (chọn ngẫu nhiên), nội dung ô chữ phải sinh động và phù hợp với nội dung bài học nhưng hiệu quả giáo dục rất cao, HS rất hứng thú, hơn 96% HS trong lớp tham gia vào hoạt động trò chơi ô chữ [6]
Từ hình 2.13 đến 2.15 là các ô chữ được thiết kế nhờ Visual Basic trong Microsoft PowerPoint Chúng được lập trình để người sử dụng có thể chọn ngẫu nhiên ô chữ bất kì GV nhấp chuột hoặc nhấp đúp chuột sẽ hiện ra các câu hỏi hoặc đáp án tương ứng Cách thiết lập này cho phép chấm điểm đối với các đội chơi Đính kèm mỗi ô chữ là 1 bản thể lệ, hướng dẫn cách sử dụng [6]
Ngoài ra, chúng tôi tiến hành thiết kế một số đoạn phim cho phép học sinh tương tác với BGĐT, tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập
VL Chẳng hạn, khi dạy bài đoạn mạch R, L, C ghép nối tiếp, có thể hệ thống kiến thức cũ bằng cách phát phiếu học tập, sau đó cho HS lên kéo các từ thích hợp vào ô tương ứng trong các hình dưới đây:
H.2.14 Ô chữ VL 11 Khúc xạ
ánh sáng
H.2.15 Ô chữ VL 7 Tác dụng nhiệt và phát sáng của dòng điện
H.2.16 Hệ thống kiến thức về mạch chỉ H.2.17 Hệ thống kiến thức giản đồ
Trang 31Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng trên phần mềm Macromedia Flash và phần mềm ứng dụng Violet, có thể dùng trong phần củng cố kiến thức, kiểm tra bài cũ hoặc ở các tiết bài tập [6]
2.4 Khai thác hình ảnh động, ảnh tĩnh môn VL trên mạng internet
Nhiều trang web trong và ngoài nước có vô số hình ảnh liên quan đến các hiện tượng VL, nếu biết khai thác hợp lí sẽ làm cho BGĐT trở nên sinh động, hiệu quả hơn [6]
Hình 2.20 là các ảnh được khai thác từ mạng internet và chụp từ máy ảnh kĩ thuật số (camera digital) Đó là những hình ảnh liên quan đến nội dung bài học, được định dạng có phần đuôi mở rộng *.JPG, có dung lượng bé, được sắp xếp theo từng bài hoặc chủ đề [6]
Hình 2.20 Hình ảnh khai thác trên mạng internet
H.2.18 Hệ thống bài tập vận dụng H.2.19 Bài tập vận dụng về dao động
điều hòa
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Bằng cách sử dụng internet, máy ảnh kĩ thuật số và các phần mềm chuyên dụng để sưu tầm, biên tập, chỉnh sửa các tệp tin Sử dụng SkyDrive để quản lí nguồn học liệu điện tử gồm:
1 Sưu tầm và thiết kế hình ảnh liên quan đến DH 832
3 Sưu tầm và biên tập các đoạn phim DH 150
5 Sưu tầm, biên dịch và thiết kế thí nghiệm ảo flash 350
6 Biên tập các bài tập trắc nghiệm khách quan 3230
8 Thiết kế trò chơi đoán ô chữ Vật lí 52
9 Sưu tầm, thiết kế bài giảng điện tử 264
Trang 33Chương 3 ỨNG DỤNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY ĐỂ QUẢN LÍ NGUỒN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ MÔN VẬT LÍ
3.1 Sử dụng phần mềm SkyDrive để cập nhật dữ liệu lên đám mây điện tử
3.1.1 Cài đặt, đăng nhập vào https://skydrive.com
Mở trình duyệt web, trên thanh địa chỉ gõ: https://skydrive.live.com Tiến hành đăng kí tài khoản trên
https://skydrive.live.com (hoàn toàn miễn phí)
Vào mục “Lấy ứng dụng SkyDrive” sẽ xuất hiện hộp thoại
Vào mục Bàn làm việc của Windows, chọn tiếp Dowloand, tiến hành cài đặt như các phần mềm khác (có thể cài tự động)
Lưu ý: Yêu cầu hệ thống
Hệ điều hành: Một trong những hệ điều hành sau:
o Phiên bản 32- hoặc 64-bit của hoặc Windows 8, Windows 7, hoặc Windows Vista với Gói Dịch vụ 2 và Cập nhật Nền tảng cho Windows Vista (Không thể cài ứng dụng này trên các PC đang chạy Windows RT)
o Windows Server 2008 R2 hoặc Windows Server 2008 với Service Pack 2 và Cập nhật Nền tảng cho Windows Server 2008
Trang 34 Bộ xử lí: 1,6 GHz hoặc cao hơn, Pentium IV hoặc cao hơn
Bộ nhớ: RAM 1 GB hoặc cao hơn
Kết nối Internet: Truy cập internet tốc độ cao được đề xuất
3.1.2 Các tính năng nổi trội của SkyDrive
Truy cập SkyDrive của bạn ngay từ Windows Explorer - ảnh, tài liệu và tất cả tệp quan trọng khác của bạn
Thêm các tệp mới vào SkyDrive một cách nhanh chóng bằng cách kéo chúng vào thư mục SkyDrive
Dễ dàng sắp xếp các tệp và thư mục của bạn trong SkyDrive, giống như bất kì thư mục nào khác
Kết nối trở lại PC của bạn nếu bạn quên đặt một thứ gì đó vào SkyDrive
Chọn thư mục trong SkyDrive mà bạn muốn đồng bộ trên PC của bạn
Cùng một lúc, người sử dụng có thể kéo hàng loạt tệp tin vào trong SkyDrive
Có thể chia sẻ các học liệu cho các thành viên trong nhóm, khách hàng ngẫu nhiên (toàn thế giới)
Phân quyền sử dụng, cho phép các thành viên trong nhóm cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung học liệu hoặc chỉ được đọc, chỉ được dowload
3.1.3 Cách tạo thư mục, cập nhật dữ liệu lên đám mây điện tử
+ Tạo thư mục bằng cách vào Tạo, xuất hiện hộp thoại như sau:
Trang 35Chọn Thư mục và gõ tên thư mục (cho phép gõ có dấu tiếng Việt)
+ Tải dữ liệu lên thi bấm vào nút Tải lên, chọn đường dẫn, chọn file cần tải, nhấn OK Cũng có thể dùng chức năng SkyDrive để kéo thả hàng loạt file vào trong thư mục trên SkyDrive
3.2 Quản lí, khai thác, chia sẻ, cập nhật học liệu điện tử VL nhờ vào công nghệ điện toán đám mây
3.2.1 Tạo thư mục học liệu điện tử VL trên https://skydrive.com
Ở trong SkyDrive, ở mục Công
khai, tạo thư mục Học liệu điện tử
Vật lí, tạo tiếp các thư mục con như
hình bên
Tạo tiếp các thư mục con ở
trong thư mục A1, A2 (hình ở dưới)
Trang 36Trong các thư mục con này lại tạo ra các thư mục nhỏ theo từng lớp, chương
3.2.2 Cập nhật học liệu điện tử VL theo thư mục
Việc cập nhật học liệu điện tử VL được tiến hành thông qua việc kết nối internet Dữ liệu sẽ được “gửi” trên “đám mây điện tử” Khi có học liệu mới (đề kiểm tra, hình ảnh, phim, ), nếu có kết nối mạng internet, chỉ cần nhấp chuột, việc cập nhật học liệu lên đám mây điện tử diễn ra trong giây lát
3.2.3 Đồng bộ các học liệu điện tử VL ở máy tính cá nhân với trên đám mây điện tử
Học liệu điện tử VL sẽ được cập nhật thường xuyên thông qua chức năng đồng bộ dữ liệu của SkyDrive Có nghĩa là, mỗi lần chỉnh sửa nội dung hoặc thêm các học liệu mới ở máy tính cá nhân, “đám mây điện tử” sẽ tự động cập nhật dữ liệu mới (với điều kiện máy tính phải kết nối mạng internet)
Các thành viên khác (nếu được phân quyền) cũng có thể chỉnh sửa hoặc
bổ sung thêm học liệu
3.2.4 Khai thác, chia sẻ học liệu điện tử VL nhờ vào công nghệ điện toán đám mây
Để khai thác các học liệu điện tử vật lí, có thể sử dụng các cách sau: + Đăng kí tài khoản trên SkyDrive và đăng kí thành viên nhóm với
anhhanguyenthi@gmail.com hoặc cannv1974@yahoo.com.vn
+ Nếu chưa đăng kí tài khoản trên SkyDrive thì vào đường dẫn sau:
https://skydrive.live.com/?cid=323bcabba300199e&id=323BCABBA300199E!105
https://skydrive.live.com/redir?resid=566F95DECF1BE951!103
Hoặc http://sdrv.ms/YIQdye
Lấy đường dẫn này copy và đặt vào thanh địa chỉ của trình duyệt web
Có thể chuyển đường dẫn này qua hộp thư điện tử hoặc bất kì website
Chia sẻ học liệu này bằng cách chọn thư mục cần chia sẻ, ví dụ Vật lí 11
Trang 37Nhấp chuột vào Chia sẻ, chọn phân quyền chia sẻ (chỉ đọc, được tải, được chỉnh sửa, chọn nhóm người được chia sẻ)
Dưới đây là một số hình ảnh về nguồn học liệu điện tử Vật lí do tác giả gửi trên đám mây điện tử:
Trang 39Chương 4 KHAI KHÁC NGUỒN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ ĐỂ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VẬT LÍ
Trong phạm vi của đề tài này, tác giả đã phân tích tiến trình của 03 bài
DH tiêu biểu cho các bài học có sự hỗ trợ đặc trưng khác nhau của BGĐT
4.1 Thiết kế bài giảng dành cho tiết 7 - Bài 7 – Vật lí 7
GƯƠNG CẦU LỒI
4.1.1 Mục tiêu bài học
a) Kiến thức : HS nắm và hiểu được những tính chất ảnh của 1 vật tạo
bởi GCL (ảnh ảo, không hứng được trên màn chắn, nhỏ hơn vật) ; HS biết được vùng nhìn thấy của GCL rộng hơn của gương phẳng có cùng kích thước;
HS giải thích được ứng dụng của GCL
b) Kĩ năng : HS biết bố trí thí nghiệm để quan sát ảnh tạo bởi gương cầu
lồi (GCL), quan sát vùng nhìn thấy của GCL và gương phẳng ; rèn luyện cho
HS kĩ năng quan sát (quan sát ảnh tạo bởi GCL, gương phẳng), kĩ năng so sánh (vùng nhìn thấy của hai gương cùng kích thước)
c) Thái độ : Rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong nhóm làm việc,
thái độ đồng tình với kiến thức mới ; rèn luyện tính trung thực trong khi làm
thí nghiệm, ý thức bảo vệ các gương an toàn
4.1.2 Chuẩn bị cho GV và HS
* Đối với mỗi nhóm HS : 1 GCL ; 1 gương phẳng tròn có cùng kích
thước với GCL ; 1 cây nến ; 1 bao diêm ; 2 viên pin tiểu
* Đối với GV : bộ thí nghiệm như của HS ; MVT có chuột quang cảm
ứng ; 1 máy chiếu đa chức năng (projector) ; 1 màn ảnh rộng ; BGĐT vật lí lớp 7
4.1.3 Tiến trình bài giảng
Sau khi khởi động máy tính, GV mở sẵn file bài giảng
(B7_guongcauloi.htm), các phần mềm có liên quan (nên để ở chế độ nằm ẩn
Trang 40* Hoạt động 1 - Nhớ lại bài cũ
GV : Nhấp chuột vào cụm từ “Nhớ lại bài cũ” (trên màn hình sẽ xuất hiện các câu hỏi nhưng ở chế độ ẩn, muốn câu đó hiện ra, nhấp chuột vào câu tương ứng)
+ Ảnh ảo là gì ? Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng có những đặc điểm gì ?
+ Em đứng trước gương, ảnh của em ở trong gương phẳng có kích thước
so với em là : A Nhỏ hơn em ; B Bằng em ; C Lớn hơn em ;
D Nếu em đứng ở gần gương thì ảnh lớn hơn em còn nếu đứng xa gương thì ảnh nhỏ hơn em
HS : Quan sát từng câu hỏi xuất hiện trên màn hình, đồng thời nghe GV đặt câu hỏi để trả lời
GV : Theo dõi HS trả lời và điều chỉnh những thiếu sót của HS, đồng thời nhấp chuột để xem các câu hỏi khác cũng như có thể xem đáp án Cuối cùng, quay trở về trang đầu bằng cách nhấp vào biểu tượng
Hoạt động nhớ lại bài cũ nhằm củng cố kiến thức cho HS đồng thời thúc đẩy tính tự giác tích cực của HS trong việc học tập ở nhà, một số bài học cần phải có sự kết nối các kiến thức đã học với các kiến thức sẽ học Thông thường, việc kiểm tra bài cũ rất mất thời gian (chừng 7-10 phút) và không khí hết sức nặng nề Điều này dễ dẫn đến tâm lí sợ giờ học của HS, làm mất hứng thú học tập, kể cả GV cũng mất hưng phấn khi giảng dạy Khi sử dụng BGĐT này, GV và HS sẽ bớt căng thẳng trong việc giảng giải các thuật ngữ, nếu thấy cần thiết, GV liên kết đến những kiến thức trọng tâm, kiến thức liên quan của bài trước Một số câu hỏi được soạn theo dạng trắc nghiệm khách quan sẽ gây hứng thú cho HS, mặt khác nội dung kiến thức được hỏi nhiều hơn Thông thường, nếu dùng lời để hỏi, chúng ta khó có thể đưa dạng câu hỏi này vào kiểm tra bài cũ vì HS sẽ quên ngay câu hỏi có nhiều dữ kiện và rất mất thời gian Như vậy, ngay từ lúc vào bài học, cả lớp đã bị lôi cuốn, buộc phải theo dõi, động não để tham gia vào các hoạt động học tập