SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ1.3.1 Tiền tệ dưới dạng hàng hóa tiền tệ hóa tệ Tiền tệ đã ra đời dưới các hình thái khác nhau: Thời kỳ đầu lịch sử tiền tệ, quan hệ trao đổi được
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ- P1
Giảng viên: ThS Nguyễn Lê Hồng Vỹ
Điện thoại: 0922 371 871 Email: nlhongvy@yahoo.com
https://sites.google.com/site/nguyenlehongvy
GIỚI THIỆU MÔN HỌC
1 Tên học phần: Tài chính Tiền tệ P1(30 tiết)
2 Nội dung của học phần: Miêu tả các khái niệm cơ bản
về tiền tệ: Bản chất, chức năng của tiền tệ, cung cầu tiền
tệ, lạm phát và ngân hàng trung ương
3 Mục tiêu của học phần: Trang bị kiến thức về Tài
chính- Tiền tệ làm nền tảng cho việc nghiên cứu các học
phần chuyên ngành và bổ trợ chuyên ngành
4 Nhiệm vụ của sinh viên:
Tham dự lớp học ≥ 80% thời lượng của môn học Hoàn
thành tiểu luận và các bài tập kiểm tra (30%)
Thi giữa kỳ (20%)và kết thúc môn (50%)
Trang 25 Giáo trình chính: PGS.TS Phan Thị Cúc- ThS Đoàn
Văn Huy, Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ.
Tài liệu tham khảo: GS.TS Lê Văn Tư, Tiền tệ, ngân
hàng và thị trường tài chính, NXB Tài chính
6 Nội dung chi tiết học phần
3
09:38
GIỚI THIỆU MÔN HỌC
1 Bản chất và chức năng của tiền tệ 10
Hai bài giống nhau tùy mức độ: trừ 20–50% điểm
Tất cả các file bỏ vào 1 thư mục và đặt tên thư mục
theo tên nhóm (VD: Nhóm 3A- ĐHKT9C)
Đánh giá các thành viên trong nhóm:
4
09:38
TT MÃ SV HỌ VÀ TÊN
Mức độ hoàn thành công việc của mỗi thành viên
(tối đa 100%)
Đánh giá % công việc của mỗi thành viên so với cả nhóm
Trang 3 Các nhóm bốc thăm để chọn đề tài
Bài tập nhóm kiểm tra trên lớp
thông báo cụ thể trong lớp học.
Căn cứ chấm điểm: Bản giấy + File
Hạn nộp: Buổi học thứ 2 của chương 4 Nộp
bản giấy và gửi file (Word + PowerPoint)
vào địa chỉ email: nlhongvy@yahoo.com )
Trang 41.1 SỰ RA ĐỜI VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ
1.1.1 Sự ra đời của tiền tệ:
Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời
và phát triển của nền kinh tế hàng hóa Trong quan hệ
trao đổi, giá trị được biểu hiện qua 4 hình thái:
Hình thái giá trị giản đơn (hay ngẫu nhiên): giá trị của
một vật được biểu hiện bằng một vật khác duy nhất
Hình thái giá trị toàn bộ (hay mở rộng):
- Giá trị của một vật được biểu hiện ở giá trị sử dụng của
nhiều hàng hóa khác, có tác dụng làm vật ngang giá
- Có nhiều vật ngang giá đặc thù tồn tại song song với
nhau và đều có tầm quan trọng như nhau
7
09:38
1.1.1 Sự ra đời của tiền tệ (tt)
Hình thái giá trị chung:
Trong hình thái này, mọi hàng hóa đều biểu hiện giá trị
của mình ở một HH đóng vai trò làm vật ngang giá chung
Trao đổi hàng hóa gián tiếp thông qua vật ngang giá chung
Quá trình trao đổi dễ dàng hơn→ Phổ biến trong xã hội
Hình thái giá trị tiền tệ:
Kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường càng mở rộng nên
cần sự thuận tiện cho lưu thông hàng hóa
Vàng xuất hiện với tư cách là vật ngang giá chung đã trở
thành hình thái tiền tệ đầu tiên, giúp trao đổi hàng hóa dễ
dàng hơn
8
09:38
Trang 51.1.2 Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa
Ở mỗi quốc gia, mỗi thời đại xã hội mà tiền được biểu
hiện ở nhiều thứ khác nhau, có thể là tiền kim loại, tiền
giấy hoặc là những vật mà họ cho là có giá trị, được xã
hội thừa nhận làm phương tiện trao đổi hàng hóa
Bản chất của tiền tệ: Tiền tệ là vật ngang giá chung,
làm phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và
thanh toán các khoản nợ.
9
09:38
1.2 CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ
1.2.1 Phương tiện trao đổi
Tiền là một phương tiện trao đổi, được dùng để mua bán
hàng hóa và dịch vụ hoặc thanh toán các khoản nợ
Chức năng này giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu
quả hoạt động của nền KT, khuyến khích chuyên môn hóa
và phân công lao động XH Điều này đòi hỏi tiền phải:
Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng và có tính đồng
nhất cao để thuận tiện cho việc xác định giá trị của nó
Được chấp nhận một cách rộng rãi
Có thể chia nhỏ để tạo thuận lợi trong trao đổi
Dễ chuyên chở, bảo quản, không bị hư hỏng nhanh chóng
Trang 61.2.2 Đơn vị đo lường giá trị
Tiền được dùng để đo lường giá trị của các hàng hóa và
dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi
Giá trị của hàng hóa được biểu hiện thông qua giá cả của
hàng hóa đó Do đó, người ta có thể định giá cho tất cả các
hàng hóa được trao đổi trên thị trường bằng tiền
Có bao nhiêu hàng hóa thì có bấy nhiêu giá cả Điều này sẽ
dễ dàng hơn khi thực hiện giao dịch Nếu không có chức
năng này của tiền thì phải mất nhiều công sức để định giá
trực tiếp từng mặt hàng và giữa các mặt hàng với nhau
Nền SX XH càng phát triển, hàng hóa tạo ra ngày càng đa
dạng thì lợi ích của chức năng đo lường giá trị càng tăng
11
09:38
1.2.3 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị
Chỉ có các loại HH có giá trị và không bị hư hỏng nhanh
chóng mới được làm phương tiện dự trữ về mặt giá trị
Dự trữ tiền là dự trữ về mặt giá trịvì thường thì người ta
không muốn chi tiêu hết thu nhập của mình ngay khi nhận
nó mà muốn dự trữ nó để tiêu dùng về sau
Các hàng hóa khác cũng có khả năng chứa giá trị nhưng
phải tốn nhiều chi phí giao dịch mới chuyển thành tiền
Tiền là phương tiện dự trữ giá trị tốt nhất vì tiền là tài sản
có tính thanh khoảncao nhất, dễ dàng trao đổi lấy hàng
hóa khác mà không cần phải qua trung gian
Giá trị của tiền được ấn định và tỷ lệ nghịch theo mức giá
12
09:38
Trang 71.3 SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
1.3.1 Tiền tệ dưới dạng hàng hóa tiền tệ (hóa tệ)
Tiền tệ đã ra đời dưới các hình thái khác nhau:
Thời kỳ đầu lịch sử tiền tệ, quan hệ trao đổi được thể hiện:
H – vật trung gian – H: đánh dấu sự xuất hiện của tiền là
những hàng hóa đóng vai trò vật trung gian trong trao đổi
Vật trung gian thông thường là những vật có giá trị, quan
trọng bậc nhất hay những của cải quý hiếm sẵn có của địa
phương như gia súc (dân tộc cổ đại); vỏ ốc quý (Châu Phi
TBD); lúa mì, bông (Ai Cập); kê, lụa (TQ); chè (Mông Cổ)
Hạn chế của dạng tiền tệ hàng hóa này là khó di chuyển,
bảo quản và chỉ có giá trị trong từng địa phương
13
09:38
1.3.2 Tiền tệ kim loại
SX hàng hóa phát triển đòi hỏi phải có một vật ngang giá
chung thuận lợi, dễ dàng hơn Từ đó, tiền tệ kim loại ra
đời để khắc phục những hạn chế của hóa tệ
Tiền kim loại ban đầu được làm dưới dạng thỏi (tiền đúc)
và được làm bằng những kim loại kém giá trị Sau đó bạc,
vàng được sử dụng phổ biến và cuối cùng được cố định ở
vàng vì vàng có nhiều đặc tính ưu việt sau:
Tính đồng nhất cao, thuận lợi trong việc đo lường giá cả
Dễ phân chia mà không ảnh hưởng đến giá trị vốn có
Dễ di chuyển, bảo quản, với một khối lượng nhỏ có thể
đại diện cho giá trị một khối lượng hàng hóa lớn
Thuận tiện trong việc thực hiện chức năng dự trữ giá trị
Trang 81.3.3 Tiền giấy (giấy bạc ngân hàng)
XH ngày càng phát triển, trong khi tài nguyên thiên nhiên
giới hạn, vàng không đủ đáp ứng nhu cầu lưu thông trao
đổi → Tiền giấy xuất hiện thay thế tiền kim loại để đáp
ứng nhu cầu trao đổi HH ngày càng phát triển mạnh mẽ
Tiền giấy được sử dụng phổ biến do những thuận tiện sau:
Gọn nhẹ, dễ mang theo làm phương tiện trao đổi, thanh toán
Dễ dự trữ của cải vì dễ bảo quản và có độ bền nhất định
Dễ phân chia bằng cách in tiền với các mệnh giá khác nhau
Nhà nước thống nhất quản lý và độc quyền phát hành giấy
bạc với những qui định nghiêm ngặt Điều này đã giúp
tiền giấy có thể giữ được giá trị của nó
15
09:38
1.3.4 Các hình thức tiền tệ khác
1.3.4.1 Tiền ghi sổ (tiền qua ngân hàng)
Là tiền gửi không kỳ hạn ở NH, là công cụ linh hoạt được
sử dụng để thực hiện giao dịch thanh toán thông qua NH
và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng tiền
2 công cụ huy động chính của tiền ghi sổ là Séc (chi
phiếu) và chuyển khoản Ưu điểm của tiền ghi sổ:
Giảm chi phí lưu thông tiền mặt
Thuận tiện, nhanh chóng cho các bên giao dịch
Bảo đảm an toàn, hạn chế tham nhũng, tiêu cực
Tạo điều kiện thuận lợi cho NH trung ương trong việc
quản lý và điều tiết tổng lượng tiền cung ứng
16
09:38
Trang 9 Tiền mặt điện tử (E-cash): Dãy số của tiền mặt điện tử
là bí mật và duy nhất, được phát hành bởi một NH và đại
diện cho một lượng tiền thật theo mệnh giá ghi trên đó
Séc điện tử (E-check): Cho phép người sử dụng có thể
thanh toán qua Internet mà không cần gửi Séc giấy bằng
cách: Viết tờ Séc điện tử trên máy tính của mình rồi gửi
cho người thụ hưởng, người này sẽ chuyển Séc đến NH
của mình, NH kiểm tra rồi chuyển tiền từ TK của người
viết Séc sang TK của người thụ hưởng
Trang 10Một số hình thức giao dịch tiền điện tử hiện nay
Các thẻ thanh toán: Là các thẻ do Ngân hàng hoặc các
tổ chức tài chính phát hành mà nhờ đó có thể lưu thông
các khoản tiền điện tử Bao gồm các loại thẻ sau:
Thẻ rút tiền ATM(Automated Teller Machine): Là loại
thẻ phổ biến hiện nay Người sử dụng đưa thẻ vào, thực
hiện đúng các yêu cầu và rút tiền tại các máy ATM
19
09:38
Một số hình thức giao dịch tiền điện tử hiện nay
Thẻ tín dụng (Credit card): Tổ chức phát hành thẻ
đảm bảo trả tiền cho người bán thay cho người sử dụng
thẻ trong hạn mức tín dụng của thẻ (ở loại thẻ này người
sử dụng thẻ vay tiền của ngân hàng)
Các loại thẻ tín dụng
được sử dụng phổ
biến hiện nay như
Visa Card, Master Card…
20
09:38
Trang 11 Thẻ ghi nợ(Debit card):
Là thẻ để tiêu tiền trong TK,
chủ thẻ dùng tiền trong TK
của mình để thanh toán
(ở loại thẻ này người sử dụng
thẻgửi tiền vào ngân hàng)
Thẻ thông minh (Smart card): Thực chất là một loại thẻ
ghi nợ nhưng có thêm bộ phận xử lý cho phép lưu trữ
một lượng tiền kỹ thuật số
Thẻ siêu thông minh (Super smart card): Là loại thẻ
thông minh nhưng có thêm nhiều chức năng như cho
phép ghi lại các giao dịch của người sử dụng thẻ
21
09:38
1.3.4 Các hình thức tiền tệ khác (tt)
1.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
Internet phổ biến và bùng nổ đã tạo ra phương thức
mua bán hàng qua mạng, từ đó các NH ở Việt Nam đã
tiếp cận với thanh toán bằng tiền điện tử.
Tiện ích: Gồm 5 tiện ích cơ bản sau:
Là phương thức thanh toán đơn giản nhất
Giao dịch đơn giản, ít khâu, ít chứng từ
Chi phí giao dịch thấp;
An toàn, tiện lợi
Tăng tính công khai minh bạch, hạn chế tiêu cực…
Trang 121.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
Hoạt động thanh toán qua NH có sự chuyển biến
mạnh mẽ giai đoạn 2001 – 2005 với nhiều phương
thức thanh toán mới, hiện đại hơn, tiện ích hơn ra đời
đáp ứng nhu cầu của người dân.
Tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán có
xu hướng giảm (năm 1997 là 32,2%, đến 2001 còn
23,7% và 2005 là 19%)
Giao dịch thanh toán dựa trên cơ sở chứng từ giấy
chuyển dần sang phương thức bán tự động sử dụng
chứng từ điện tử làm cho thời gian giao dịch được rút
ngắn.
23
09:38
1.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
Dịch vụ tài khoản cá nhân phát triển mạnh (năm 2004 gấp
gần 10 lần so với năm 2000)
Ứng dụng công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị phát triển
Hợp tác giữa các NH tạo nên các liên minh phát hành thẻ
Không thuận tiện bằng tiền mặt: Tính thanh khoản của
tiền mặt cao hơn, trong khi tiền điện tử có thể bị trục trặc
kỹ thuật
Tập quán tiêu dùng tiền mặt của người dân: Thu nhập
của người dân còn thấp, tâm lý muốn sử dụng tiền mặt hơn.
24
09:38
Trang 131.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
Chi phí đầu tư máy móc thiết bị ban đầu lớn mới có
thể đảm bảo cho thanh toán điện tử được phổ biến và
tiện ích.
Người sử dụng chưa được đào tạo, hướng dẫn kỹ càng,
nhất là người dân ở khu vực nông thôn…
Chứa đựng rủi ro trộm cắp tiền qua mạng máy tính:
Các loại tội phạm công nghệ cao, các hacker có thể đột
nhập, tấn công, hủy hoại hoặc trộm cắp tiền từ tài
Thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn rất phổ biến
trong nền kinh tế, đặc biệt là trong khu vực dân cư.
Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng thường xuyên
chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, người có thu
nhập cao và ổn định Còn những người có thu nhập
thấp thì nếu có sử dụng cũng là do quy định nên
miễn cưỡng, chưa phát huy tác dụng cao
Phí dịch vụ thanh toán còn cao đối với những giao
dịch thanh toán mức thấp và trung bình…
Trang 141.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
Hạ tầng cơ sở, trang thiết bị phục vụ hoạt động thanh
toán điện tử còn nghèo nàn và kém hiệu quả Lượng
máy ATM không đủ đáp ứng nhu cầu.
Từng bước thanh toán không dùng tiền mặt đối với
những khoản chi tiêu của Chính phủ, chi thường
xuyên, chi XDCB
Khuyến khích, tạo điều kiện phát triển hạ tầng thanh
toán điện tử phục vụ khu vực dân cư.
27
09:38
1.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
XD trung tâm chuyển mạch thẻ, kết nối các hệ thống mạng
máy tính ATM của các liên minh thẻ hiện hành thành một
hệ thống thống nhất, đảm bảo thẻ do một NH phát hành
có thể sử dụng ở các máy ATM của các NH khác
oCông ty CP chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknetvn)
do BIDV, Agribank, Vietinbank, ACB, Sacombank, EAB,
Trang 151.3.4.3 Tình hình thanh toán tiền điện tử tại VN
1) Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu
vực công bằng cách tăng lượng phát hành thẻ cho CBNV
2) Đẩy mạnh phát triển thanh toán tiền điện tử trong khu vực DN
3) Có kế hoạch đẩy mạnh việc phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt trong khu vực cộng đồng dân cư
4) Nghiên cứu và đề xuất lộ trình phát triển các hệ thống thanh
toán và giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
5) NHNN nên kết hợp với các cơ quan liên quan để tuyên truyền,
phổ biến kiến thức thanh toán không dùng tiền mặt
6) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt ở Việt Nam
29
09:38
1.4 VAI TRÕ CỦA TIỀN TỆ
1.4.1 Sự phát triển của vai trò tiền tệ
Vai trò của tiền tệ được thay đổi cùng với sự phát triển
kinh tế xã hội Sự phát triển các loại hình tiền tệ thể hiện
qua ba giai đoạn phát triển kinh tế xã hội sau:
Giai đoạn SX trực tiếp: (H – H) Tiền chưa xuất hiện
Giai đoạn SX gián tiếp hàng đổi hàng: H–Vật trung gian–H
Chưa có tiền tham gia, vật trung gian trở thành phương tiện
trao đổi, sau đó trở thành tiền tệ, phát huy vai trò của tiền tệ
Giai đoạn SX gián tiếp sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi
Trao đổi hàng hóa thông qua tiền: (H – T – H)
Hoạt động kinh tế ngày càng phong phú và phức tạp làm cho
Trang 161.4.1 Sự phát triển của vai trò tiền tệ (tt)
Ba giai đoạn phát triển của vai trò tiền tệ:
Giai đoạn đầu: Trường phái “Trọng thương” đồng hóa sự
giàu có của một đất nước với sự phong phú của tiền và
cho rằng cần phải tích lũy tiền bạc và kim loại quý để làm
giàu cho đất nước Người ta dùng quý kim (vàng, bạc) để
thanh toán giao dịch trong thương mại quốc tế
Giai đoạn hai: Các nhà kinh tế Châu Âu xác định tiền
không phải là mục tiêu của thương mại, nó chỉ là phương
tiện để mọi người trao đổi hàng hóa với nhau
Giai đoạn ba: Nhận thức vai trò quan trọng của tiền đối
với đời sống kinh tế của đất nước, đối với sự cân bằng và
mất cân bằng của nền kinh tế (trường phái “Trọng tiền”)
31
09:38
1.4.2 Vai trò của tiền trong nền kinh tế thị
trường hiện đại
Tiền là công cụ thực hiện hạch toán kinh tế
1
2
3
Tiền là công cụ quản lý vĩ mô
Tiền là công cụ thể hiện chủ quyền quốc gia
32
09:38
Trang 171.4.2 Vai trò của tiền trong nền kinh tế thị
trường hiện đại
Tiền là công cụ thực hiện hạch toán kinh tế:
- Mọi vận hành trong nền kinh tế thị trường hiện
đại đều được tiền tệ hóa.
- Trong quá trình hoạt động kinh tế, các tổ chức,
cá nhân đều sử dụng tiền để hạch toán chi phí bỏ
ra và hiệu quả thu được.
- Tiền là một công cụ được pháp luật quy định
dùng để hạch toán giá trị, nộp thuế, phát triển
thương mại, thanh toán quốc tế thay thế các
công cụ hạch toán khác.
1
33
09:38
1.4.2 Vai trò của tiền trong nền KTTT hiện đại
Tiền là công cụ quản lý vĩ mô:
- Khi hoạch định chính sách kinh tế, Nhà nước
phải tính đến khả năng cung ứng của các nguồn
tiền để đảm bảo thực hiện chính sách đó.
- Khi mất cân đối tiền và hàng trong lưu thông tiền
tệ, thì Nhà nước phải điều chỉnh khi bị lạm phát
hay bù đắp khi bội chi Ngân sách.
- Tiền đóng vai trò hướng dẫn các hoạt động kinh
tế, hạn chế hoặc xóa bỏ các hoạt động không phù
hợp với pháp luật đồng thời góp phần điều chỉnh
các quan hệ kinh tế vĩ mô để phù hợp với những
2
Trang 181.4.2 Vai trò của tiền trong nền KTTT hiện đại
Tiền là công cụ thể hiện chủ quyền quốc gia:
- Mỗi quốc gia chỉ có thể nắm được được chủ
quyền kinh tế chính trị của mình nếu quốc gia đó
có thể phát hành đồng tiền riêng do luật pháp của
nước đó quy định Điều này sẽ giúp chính quyền
đạt được các mục tiêu như tái phân phối và huy
động tài sản.
- Mỗi quốc gia đều có quy định đảm bảo an toàn
cho đồng tiền của mình chống sự xâm nhập của các
quốc gia khác (trừ những đồng tiền chung theo
thỏa hiệp như đồng Euro chẳng hạn).
3
35
09:38
Vai trò của đồng Euro trong hệ thống tiền tệ toàn cầu
Đồng Euro ra đời ngày 01/01/1999 là minh chứng cho sự
bảo vệ an ninh về tài chính và chủ quyền của Liên minh
Châu Âu chống lại sự xâm nhập của đồng Mark Đức vào
thời đó Đồng Euro ra đời hướng đến việc kỳ vọng phát
triển kinh tế, thương mại giữa các thành viên trong khối
Châu Âu ngày một vững mạnh hơn Bên cạnh đó sẽ tạo ra
một thế cạnh tranh so với đồng đôla Mỹ vốn đã được thị
trường thế giới chấp thuận
Anh, Đan Mạch, Thụy Điển không gia nhập khối Liên minh
tiền tệ Châu Âu mà vẫn giữ đồng tiền chính thức của quốc
gia mình (đồng bảng Anh vẫn có thế mạnh vốn có của nó)
Tháng 12/2011, Châu Âu bàn thảo các giải pháp giải cứu
đồng Euro trước sức ép nợ công của một số nước (Hy Lạp)
36
09:38
Trang 19TÓM TẮT CHƯƠNG 1
1.1 Sự ra đời và bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời và phát
triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế
hàng hóa
Giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên Giá trị toàn bộ hay mở rộng Giá trị chung
Giá trị tiền tệ
Tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi
hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ
1.2 Chức năng của tiền tệ:- Phương tiện trao đổi
- Đo lường giá trị (đơn vị đánh giá)
- Dự trữ về mặt giá trị.
Bốn hình thái giá trị
37
09:38
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 (tt)
1.3 Sự phát triển các hình thái tiền tệ:
Tiền tệ dưới dạng hàng hóa tiền tệ (hóa tệ phi kim loại)
Tiền kim loại
Tiền giấy (giấy bạc nhà nước)
Các hình thức tiền tệ khác (tiền điện tử, trái phiếu, cổ phiếu…)
1.4 Vai trò của tiền tệ
Là công cụ hạch toán kinh tế (tính toán chi phí, hiệu quả…)
Quản lý vĩ mô nền kinh tế (khi hoạch định chính sách kinh
tế hoặc khi mất cân đối tiền hàng…)
Thể hiện chủ quyền quốc gia (bảo vệ an ninh tài chính, đảm
bảo đồng tiền quốc gia chống sự xâm nhập của quốc gia khác)
Trang 20CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Hình thái nào sau đây là hình thái tiền tệ?
a) Hình thái giá trị giản đơn b) Hình thái giá trị toàn bộ
c) Hình thái giá trị chung d) Không câu nào đúng
2 Khi giá trị hàng hóa được đo bằng giá cả thì tiền tệ
thực hiện chức năng gì?
a) Đơn vị đo lường giá trị b) Phương tiện trao đổi
c) Phương tiện dự trữ giá trị d) Không câu nào đúng
3 Khi hàng hóa được dùng để mua bán hoặc thanh toán
các khoản nợ thì tiền tệ thực hiện chức năng gì?
a) Đơn vị đo lường giá trị b) Phương tiện trao đổi
c) Phương tiện dự trữ giá trị d) Tất cả đều đúng
39
09:38
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 (tt)
4 Thẻ thanh toán thuộc hình thức tiền tệ nào dưới đây?
a) Tiền tệ dưới dạng hóa tệ b) Tiền kim loại
c) Các hình thức tiền tệ khác d) Tiền giấy
5 Thẻ tín dụng là loại thẻ:
a) Người sử dụng vay tiền của tổ chức phát hành
b) Người sử dụng gửi tiền vào tài khoản thẻ để chi tiêu
c) Người sử dụng không phải trả tiền của mình lúc mua hàng
Trang 21CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 (tt)
7 Tiền ghi sổ bao gồm những công cụ chủ yếu nào sau đây?
c) Chuyển khoản d) Câu a, c đúng
8 Thẻ ghi nợ là loại thẻ:
a) Người sử dụng vay tiền của tổ chức phát hành
b) Người sử dụng gửi tiền vào tài khoản thẻ để chi tiêu
c) Người sử dụng không phải trả tiền của mình lúc mua hàng
d) Tất cả đều đúng
9 Các hình thức tiền tệ khác là:
a) Tín phiếu b) Trái phiếu
c) Cổ phiếu d) Tất cả đều đúng
41
09:38
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 (tt)
10 Tính thanh khoản (hay tính lỏng) của tài sản là gì?
a) Khả năng chuyển hóa thành tiền mặt
b) Khả năng chuyển hóa thành tài sản có giá trị cao hơn
c) Khả năng chuyển hóa thành vàng
d) Tất cả đều đúng
11 Tài sản nào có tính thanh khoản cao nhất?
a) Cổ phiếu b) Trái phiếu Chính phủ
c) Tiền để trong két d) Kim cương, hột xoàn
12 Tài sản nào có tính thanh khoản cao nhất?
a) Máy móc, thiết bị b) Nhà xưởng, vật kiến trúc
Trang 22CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 (tt)
13 Mức giá cả chung càng cao thì giá trị (hay sức mua)
của một đơn vị tiền càng như thế nào?
c) Trung bình d) Không ảnh hưởng
14 Mức giá cả chung càng thấp thì giá trị (hay sức mua)
của một đơn vị tiền càng như thế nào?
c) Trung bình d) Không ảnh hưởng
15 Giả sử mức giá cả chung tăng gấp đôi thì giá trị (hay
sức mua) của một đơn vị tiền như thế nào?
a) Cũng tăng gấp đôi b) Chỉ tăng 50%
c) Giảm đi một nữa d) Không ảnh hưởng
43
09:38
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 (tt)
16 Vai trò của tiền tệ là gì?
a) Công cụ thực hiện yêu cầu hạch toán kinh tế
b) Công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế
c) Công cụ thực hiện chủ quyền quốc gia
d) Cả 3 câu trên đều đúng
17 Đồng Euro là đồng tiền?
a) Đồng tiền của nước Đức b) Đồng tiền chung Châu Á
c) Đồng tiền thế giới d) Đồng tiền chung Châu Âu
18 Đồng Euro được các nước nào sử dụng?
a) Chỉ Đức và Pháp b) Anh và 1 số nước Châu Âu
c) Toàn Châu Âu d) Một số nước Châu Âu
44
09:38
Trang 23ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chế độ tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền
tệ của một quốc gia được pháp luật quy định.
Các nhân tố của chế độ tiền tệ: Gồm 3 nhân tố:
Trang 242.1 Vấn đề chung- Các nhân tố của chế độ tiền tệ
Bản vị tiền tệ: Là cơ sở để định giá đồng tiền quốc gia,
là tiêu chuẩn chung mà mỗi quốc gia chọn làm cơ sở cho
chế độ tiền tệ của mình
Tiêu chuẩn chung mà mỗi quốc gia chọn làm cơ sở cho
đồng tiền của mình là hàng hóa, kế đến là kim loại, rồi
ngoại tệ, và hiện nay là sức mua hàng hóa dịch vụ.
Hiện nay, hầu hết các nước đều sử dụng bản vị tiền tệ là
sức mua hàng hóa dịch vụ.
Bản vị tiền tệ là nhân tố quan trọng, làm cơ sở của
toàn bộ chế độ lưu thông tiền tệ.
2.1 Vấn đề chung- Các nhân tố của chế độ tiền tệ
Đơn vị tiền tệ: Mỗi quốc gia đều có đơn vị tiền tệ của
mình và được pháp luật quy định Đơn vị tiền tệ gồm:
oTên gọi và ký hiệu:
Đồng đôla của Mỹ, ký hiệu USD;
Đồng Euro của Châu Âu, ký hiệu EUR;
Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, ký hiệu RMB…
oTiêu chuẩn đo lường: Là tiêu chuẩn để đo lường và
biểu hiện giá cả của hàng hóa dịch vụ Có nước quy
định tiêu chuẩn là hàm lượng vàng, hoặc thông qua tỷ
giá hối đoái, hoặc lấy sức mua của hàng hóa dịch vụ
Trang 252.1 Vấn đề chung- Các nhân tố của chế độ tiền tệ
Công cụ trao đổi : Tức là những công cụ được sử
dụng để thực hiện mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc
thanh toán các khoản nợ như tiền giấy, tiền kim
loại, tiền ghi sổ, tiền điện tử…
Trong chế độ tiền tệ, yếu tố thường thay đổi là bản
vị tiền tệ (bản vị tiền tệ của các nước thay đổi do
điều kiện kinh tế cụ thể của mỗi thời kỳ).
Cho đến nay đã có nhiều chế độ bản vị tiền tệ được
sử dụng như sau:
2.1.1 Chế độ bản vị bạc:
Là đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng
một trọng lượng bạc nhất định theo pháp luật.
Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền bạc.
Tiền giấy quốc gia được xác định một trọng lượng
bạc nhất định và được tự do chuyển đổi ra bạc
theo tỷ lệ đã quy định.
Tiền bạc được lưu thông không hạn chế.
Phổ biến đầu thế kỷ 19 trở về trước
Trang 262.1.2 Chế độ bản vị tiền vàng:
Là chế độ bản vị mà đồng tiền của một nước được
đảm bảo bằng một trọng lượng vàng nhất định theo
pháp luật.
Những yếu tố cần thiết của chế độ bản vị tiền vàng là:
Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng.
Tiền giấy quốc gia được xác định một trọng lượng
vàng nhất định, và được tự do chuyển đổi ra vàng
theo tỷ lệ đã quy định.
Tiền vàng được lưu thông không hạn chế.
2.1.3 Chế độ song bản vị:
Là chế độ mà đồng tiền của 1 nước được xác định
bằng một trọng lượng cố định của 2 kim loại,
thường là vàng và bạc.
Nếu một tỷ lệ đúc tiền cố định theo quy định, và
khi một tỷ lệ thị trường thay đổi thì sẽ làm cho
người ta giữ lại đồng tiền có giá trị cao hơn và
cho lưu thông đồng tiền có giá trị kém hơn.
Kết quả là, đồng tiền tốt bị loại ra khỏi lưu thông
để cất trữ hay đúc thành thỏi để bán, trong khi đó
chỉ còn lưu thông đồng tiền có giá trị rẻ hơn…
Trang 272.1.4 Chế độ bản vị vàng thỏi
Quy định cho đơn vị tiền tệ quốc gia một trọng
lượng vàng cố định nhưng vàng được đúc thành thỏi
mà không đúc thành tiền.
Vàng không lưu thông trong nền kinh tế mà dự trữ làm
phương tiện thanh toán quốc tế và di chuyển tài sản ra
nước ngoài.
Tiền giấy quốc gia được đổi ra vàng theo luật định
nhưng phải đủ lượng tiền giấy, ít nhất tương đương 1
thỏi vàng (năm 1925 ở Anh, đổi tiền giấy ít nhất là
1500 bảng Anh lấy vàng; năm 1928 ở Pháp, phải đổi ít
nhất là 225.000 Francs)
2.1.5 Chế độ bản vị vàng hối đoái
Là chế độ bản vị mà tiền giấy quốc gia không
trực tiếp chuyển đổi ra vàng, muốn đổi ra vàng
phải thông qua một ngoại tệ.
(mà ngoại tệ đó phải là ngoại tệ mạnh được tự
do chuyển đổi ra vàng như USD, bảng Anh…)
Chế độ bản vị vàng hối đoái được áp dụng tại
Ấn Độ năm 1898, Đức năm 1924, Hà Lan năm
1928…
Trang 282.1.6 Chế độ bản vị ngoại tệ
Là chế độ bản vị mà đơn vị tiền tệ quốc gia được
xác định bằng đơn vị tiền tệ của nước ngoài , và
đó phải là ngoại tệ mạnh được tự do chuyển đổi trên
thị trường.
oSử dụng phổ biến từ năm 1944 – 1971 ở các nước
thiếu vàng hoặc bị lệ thuộc chính trị vào nước khác.
oCuối chiến tranh Thế giới thứ II, Mỹ chiếm hữu
phần lớn vàng thế giới nên quy định vàng và USD
có thể chuyển đổi được với nhau ( 35 USD = 1
ounces vàng ).
2.1.6 Chế độ bản vị ngoại tệ (tt)
Chế độ bản vị ngoại tệ đã khuyến khích thương
mại quốc tế phát triển; khôi phục kinh tế sau chiến
tranh Thế giới lần thứ II.
Trang 292.1.7 Chế độ tiền giấy không chuyển đổi ra vàng
(Có bản vị là sức mua hàng hóa dịch vụ)
Là chế độ tiền tệ mà đơn vị tiền tệ của một nước
không thể tự do chuyển đổi ra kim loại quý
Giá trị thực tế của đồng tiền phụ thuộc vào sức
mua hàng hóa và dịch vụ của nó.
Chế độ bản vị này phổ biến trên thế giới từ đầu
những năm 1930 cho đến nay.
2.1.7 Chế độ tiền giấy không chuyển đổi ra vàng (tt)
(Có bản vị là sức mua hàng hóa dịch vụ)
Không được tự do chuyển đổi tiền giấy ra vàng
Vàng không được làm tiền tệ, nó bị rút ra khỏi lưu thông
trong nước và chỉ được dùng để thanh toán các khoản nợ
quốc tế
Giá trị của một đơn vị tiền được xác định bằng sức mua
của nó và tỷ lệ nghịch với mức giá cả chung
oMức giá cả chung càng cao thì sức mua (hay giá trị) của
một đơn vị tiền càng thấp và ngược lại mức giá cả chung
càng thấp thì sức mua (hay giá trị) của một đơn vị tiền
càng cao.
Trang 302.2 CHẾ ĐỘ LƯU THÔNG TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
2.2.1 Thời kỳ phong kiến
Ban hành tiền giấy “Thông bảo hội sao” để đổi tiền đồng
Định giá đổi tiền giấy và cấm tiêu tiền đồng đúc → Tiền
giấy được đưa vào lưu thông một cách triệt để
Quy định phát lương, thu thuế bằng tiền giấy thì giảm thuế
Nhà Trần Tiền đúc đầu tiên ở Việt Nam là tiền đúc bằng đồng
Hồ Quý Ly
Ban hành tiền giấy đầu tiên năm 1396
- Thời điểm rất sớm so với lịch sử tiền giấy
- Tiền giấy lúc này không được đánh giá là tiến bộ
2.2.1 Thời kỳ phong kiến:Thời Nhà Hồ
Thất bại:Người dân không tin dùng Năm 1407, nhà Hồ
sụp đổ, chế độ tiền giấy cũng sụp đổ
Năm 1429, Lê Thái Tổ đã cho đúc tiền đồng, nhân dân
quay trở lại dùng tiền đồng
Ưu
điểm
- Giúp tiết kiệm kim loại để làm vũ khí
- Sử dụng tiền thuận tiện hơn
- Đổi hoàn toàn tiền cũ lấy tiền mới nên về lý thuyết
không ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền
Nhược
điểm
-Mang tính cưỡng chế nên không thành công
-Vi phạm quy luật phù hợp giữa nội dung và hình thức
-Cần có tiền đề kinh tế để có được lòng tin của dân
chúng và có cơ chế điều hành phù hợp
Trang 312.2.2 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược (đến T8/1945)
Từ 1858 đến 1875 khi chưa có Ngân hàng Đông Dương thì
trên đất Việt tiêu đồng thời nhiều loại tiền: tiền Franc (FRF)
của Pháp, tiền Mêxicô, tiền Trung Quốc
Ngân hàng Đông Dương được thành lập năm 1875 phát hành
tiền Đông Dương Đồng Đông Dương được đúc bằng bạc
(bản vị vàng)
Tiền giấy Đông Dương (bản vị bạc)
Tiền giấy Đông Dương (bản vị vàng)
1880
2.2.2 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược (tt)
Ngày 31/05/1930 Tổng thống Pháp ký sắc lệnh chuyển
đồng Đông Dương từ bản vị bạc sang bản vị vàng và quy
định tỷ giá đồng Đông Dương với đồng Franc
1936 – 1954 chế độ bản vị vàng bị sụp đổ, đồng Đông
Dương neo giá trị vào đồng Franc của Pháp (chế độ bản
vị ngoại tệ- Franc Pháp)
CMT8 thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa cấm lưu hành đồng Đông Dương từ tháng 4/1948,
nhưng mãi đến năm 1954 mới thực hiện được
1 đồng Đông Dương = 10 FRF
1 Franc (FRF) = 0,0655 gram vàng
Trang 322.2.3 Thời kỳ CM dân tộc dân chủ (9/1945–4/1975)
Chính phủ VNDCCH lãnh đạo thực hiện đồng thời 2
nhiệm vụ chiến lược: kháng chiến và kiến quốc Vấn đề
tài chính, tiền tệ được đặc biệt quan tâm và là một vũ khí
sắc bén, trực tiếp của cả 2 nhiệm vụ trên
Ngày 01/12/1945: Đồng tiền tài chính với chất liệu nhôm
đầu tiên loại 2 hào của nước ta được phát hành
Ngày 21/01/1946: Phát hành đồng tiền nhôm loại 5 hào
Ngày 31/01/1946: Phát hành tiền giấy gọi là "giấy bạc Việt
Nam" đầu tiên ở miền Trung
Ngày 13/08/1946: Phát hành giấy bạc trên toàn miền Bắc
Tháng 11/1946: Tiếp tục phát hành giấy bạc Việt Nam trên
phạm vi toàn quốc
2.2.3 Thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (tt)
Để phù hợp với tình hình kinh tế chính trị nước ta trong
thời kỳ kháng chiến, Chính phủ đã cho hình thành chế độ
tiền tệ đặc biệt:vừa tập trung vừa phi tập trung
→ Không chỉ đây là thời kỳ đấu tranh cách mạng mà còn
“đấu tranh tiền tệ với địch”.
- Tiền Đông Dương
- Tiền tài chính địa phương
- Tiền Việt Nam hóa
Trang 332.2.3 Thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (tt)
06/5/1951 thành lập Ngân hàng Quốc gia VN, chính thức
phát hành tiền giấy “NHQG VN” thay đồng tiền tài chính
1 đồng NHQG mới = 1,2 USD = 1,36 Rúp Liên Xô
Được xem là ngoạn mục nhất trong lịch sử tiền tệ VN
2.2.3 Thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (tt)
Tháng 10/1961 đồng tiền NHQG VN ở miền bắc đổi thành đồng
tiền NHNN VN với cùng mệnh giá để tránh trùng tên với đồng
tiền NHQG ở miền nam của chính phủ ngụy quyền Sài Gòn
Từ 1965–1973: Cho phép quân đội sử dụng đồng “tiền Trường
sơn” (phiếu bách hóa) → Hiện tượng tiền tệ kỳ diệu giúp quân
đội có một cơ chế phân phối nhu yếu phẩm rất linh hoạt
Chế độ tiền của Ngụy quyền Sài gòn từ 1954 –1975
Thành lập NHQG năm 1954, cho phép sử dụng song song cả
đồng tiền quốc gia và đồng USD, đồng thời nghiêm cấm lưu
hành tiền miền Bắc và tiền Đông Dương
1 USD = 35 đồng quốc gia
Từ 1960, đồng tiền chính
1965: 118đ/ 1USD 1968: 250đ/ 1USD
Trang 342.2.4 Thời kỳ thống nhất tổ quốc (1975 – 1978)
Là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh, là thời kỳ
xây dựng hệ thống NH mới của chính quyền cách mạng
→ NHQG VN của VN cộng hòa (ở miền Nam) quốc hữu
hóa sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước VN, cùng
thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước
Ngày 3/5/1975 chính quyền CM tiếp quản NHQG của ngụy
quyền và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ cho đến 3
năm đầu sau giải phóng để tránh rối loạn tiền tệ ở miền nam
→ Vẫn sử dụng 2 đồng tiền khác nhau ở 2 miền nam, bắc
Ngày 6/6/1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT-75 thành
lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
2.2.4 Thời kỳ thống nhất tổ quốc (1975 – 1978 tt)
Ngày 22/9/1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên qui mô
toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là "Tiền Ngân
hàng Việt Nam” (còn gọi là tiền giải phóng) vào lưu thông:
Ngày 2/5/1978, đổi tiền lần thứ 3, thu hồi tiền cũ ở cả 2
miền nam, bắc, phát hành tiền NH Nhà nước mới của nước
CHXHCN Việt Nam, thống nhất tiền tệ trên cả nước:
1 đồng NHVN = 500 đồng tiền (của chế độ cũ) = 1 USD
1 đồng NHNN cũ (ở miền bắc) = 0,8 đồng tiền
giải phóng (ở miền nam) = 1 đồng NHNN mới
Trang 352.2.5 Thời kỳ 1979 – 1985
Tiền VN được đảm bảo bằng bản vị sức mua HHDV dưới
hình thức tiền giấy và tiền kim loại có mệnh giá nhỏ
Nền kinh tế bao cấp, nghèo nàn, lạc hậu nên lạm phát tăng
cao → Đồng tiền VN mất giá mạnh so với USD: từ chỗ
đồng VN gần ngang bằng sức mua của 1 USD (1,25 VNĐ/1
USD), đến tháng 9/1985 tỷ giá đã là 150 đồng/ 1 USD
Ngày 14/9/1985, đổi tiền lần thứ 4theo tỷ lệ:
Việc cải cách theo quy trình ngược Tiền– Lương– Giá (lẻ ra
phải là Giá– Lương– Tiền) nên cuộc đổi tiền năm 1985 là
không thành công nhất trong lịch sử lưu thông tiền tệ VN
10 đồng NHNN cũ = 1 đồng NHNN mới
2.2.5 Thời kỳ 1979 – 1985 (tt)
Ngay sau khi đổi tiền, lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng:
Chỉ hơn 3 tháng sau, Nhà nước đã cho phát hành thêm vào
lưu thông một khối lượng tiền lớn, tương đượng với 1,38
lần khối lượng tiền phát hành lúc mới đổi tiền
Diễn biến phức tạp về quan hệ Tiền – Hàng làm cho lạm
phát tiếp tục được đẩy lên cao
Đến cuối những năm 80, hệ thống NHNN về cơ bản vẫn
hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các
hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
Chỉ từ những năm 1980 cho đến nay bắt đầu mới có sự thay
đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, chuyển
Trang 362.2.6 Thời kỳ 1986 – 2003
Năm 1986, siêu lạm phát lên tới trên 774%, đồng tiền
mệnh giá mới đã gấp 10 lần đồng tiền mệnh giá cũ
Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài đã trở thành vật
cản và là nguyên nhân làm trì trệ nền kinh tế Nền kinh tế
vẫn trong thế bị bao vây, cấm vận, vẫn là một nền KT tiểu
nông SX nhỏ và mang bóng dáng của thời kỳ đóng cửa.
Lưu thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ không phát triển
Các hiện tượng “chợ đen”, “phá rào”, “hụi họ”, "núp
bóng" mọc lên như nấm từ những năm đầu 1980
Sự tan rã của phong trào HTX nông nghiệp
Cuộc đổ vỡ tín dụng từ 1988 – 1990 gây thất thoát nhiều
ngàn tỷ đồng và làm suy giảm niềm tin trong nhân dân
2.2.6 Thời kỳ 1986 – 2003 (tt)
Đến cuối thập niên 80, nền tiền tệ Việt Nam vẫn cơ bản là
một nền tiền tệ tài chính
Đồng tiền VN không có bản vị kim loại quý, sức mua thực tế
luôn bị giảm sút ngay cả khi giá trị danh nghĩa được nâng lên sau
mỗi lần đổi tiền (bán trâu gửi tiết kiệm, rút ra đủ mua con gà)
Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI công khai đánh giá trung
thực về cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của đất nước:
Đổi mới kinh tế đất nước: chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh và
sau này là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Ngân hàng được xem là một trong những ngành đột phá trong
công cuộc cách mạng cải cách kinh tế vĩ đại này
Trang 372.2.6 Thời kỳ 1986 – 2003 (tt)
Tháng 5/1990 hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời đánh dấu
một sự chuyển biến mới trong hệ thống ngân hàng, chuyển
từ cơ chế hoạt động của ngân hàng một cấp sang hai cấp
NHNN là NHTW, là ngân hàng của các NH và là ngân
hàng của nhà nước, thực hiện phát hành tiền và quản lý
nhà nước về hoạt động ngân hàng
Công việc kinh doanh tiền tệ được các NHTM thực hiện
Cơ cấu ngân hàng và DN đa thành phần được áp dụng
Từ năm 1991 áp dụng cơ chế lãi suất thực dương, điều
chỉnh lãi suất thích ứng với cơ chế thị trường, thu hẹp
khoảng cách giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ
2.2.6 Thời kỳ 1986 – 2003 (tt)
Từ năm 1993 chính sách tỷ giá gắn với quan hệ XNK và
cung cầu trên thị trường ngoại tệ
Tích cực chống lại hiện tượng đô la hóa
NHNN tăng cường quản lý vĩ mô thông qua các công cụ như:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Hạn mức tái cấp vốn,
Lãi suất tái cấp vốn
Tổ chức các thị trường vốn ngắn hạn như:
o Thị trường nội tệ liên NH
o Thị trường ngoại tệ liên NH
o Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc
Trang 382.2.6 Thời kỳ 1986 – 2003 (tt)
Năm 1994 xuất hiện hình thức sơ khai của thị trường sơ cấp
về các công cụ nợ trung hạn như Kỳ phiếu NHTM, tín dụng
xây dựng nhà ở có điều kiện, huy động có bảo đảm bằng
vàng
Cũng từ năm 1994, chính sách cung ứng tiền gắn liền với kỹ
thuật phân tích và quản lý động thái của lưu thông tiền tệ,
chủ yếu thông qua động thái của tổng phương tiện thanh toán
song song với động thái của lượng tiền mặt trong lưu thông
Ngày 12/12/1997 Luật NHNN VN và Luật các tổ chức TD
ra đời, là bước phát triển pháp lý mới của hệ thống NH
Ngày 17/6/2003 thông qua luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật NHNN VN
2.2.7 Thời kỳ 2003 đến nay
Ra đời tiền kim loại có mệnh giá nhỏ kết hợp + in tiền mới
(đổi chất liệu in từ cotton sang polymer)
Một số tờ tiền mới in đã gặp vài lỗi kỹ thuật
Các NH đã được nối mạng thông suốt từ TW đến địa phương
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân những năm gần đây
cao, khoảng 7-8%, đặc biệt, sự kiện ngày 11/01/2007-Việt
Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) nên vị thế của đồng tiền Việt Nam đã
được nâng cao trên trường quốc tế
Luật NHNN VN số 46 và Luật các tổ chức tín dụng số 47
mới ra đời năm 2010 thay thế Luật năm 1997
Trang 392.3 CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ VIỆT NAM
Chế độ tiền tệ của nước ta hiện nay là chế độ tiền
giấy không chuyển đổi ra vàng có bản vị là sức mua
hàng hóa và dịch vụ.
2.3.1 Đơn vị tiền và tên gọi của đồng tiền
Đơn vị tiền của Việt Nam là “đồng”
Tên gọi là đồng ngân hàng Việt Nam (còn gọi là đồng bạc
Việt Nam) ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là “VND”
Tiêu chuẩn đo lường của tiền tệ Việt Nam mang tính kế
thừa lịch sử phát triển của nền kinh tế xã hội Việt Nam
Giá trị của mọi sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trong nền
kinh tế Việt Nam được đo lường bằng “đồng” và giá cả của
nó được biểu hiện bằng “đồng”
2.3.2 Các quy định về phát hành tiền giấy và tiền tệ kim
loại ở Việt Nam (Điều 17 đến Điều 23, Mục 2- Luật NHNN
VN số 46/2010/QH12; Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010)
Điều 17 Phát hành tiền giấy, tiền kim loại
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là cơ quan duy nhất phát
hành tiền giấy, tiền kim loại của nước CHXHCN Việt Nam
Tiền giấy, tiền kim loại do NHNN phát hành là phương tiện
thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước bảo đảm cung ứng đủ số lượng và cơ
cấu tiền giấy, tiền kim loại cho nền kinh tế
Tiền giấy, tiền kim loại phát hành vào lưu thông là tài sản
"Nợ" đối với nền kinh tế và được cân đối bằng tài sản "Có"
Trang 40Điều 18 Thiết kế, in, đúc, bảo quản, vận chuyển, phát
hành tiền vào lưu thông, tiêu hủy tiền
Ngân hàng Nhà nước thiết kế mệnh giá, kích thước, trọng
lượng, hình vẽ, hoa văn và các đặc điểm khác của tiền trình
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
NH Nhà nước tổ chức thực hiện việc in, đúc, bảo quản, vận
chuyển, phát hành tiền vào lưu thông, tiêu hủy tiền
Điều 19 Xử lý tiền rách nát, hư hỏng
NHNN quy định tiêu chuẩn phân loại tiền rách nát, hư
hỏng; đổi, thu hồi các loại tiền rách nát, hư hỏng do quá
trình lưu thông; không đổi những đồng tiền rách nát, hư
hỏng do hành vi hủy hoại
Điều 20 Thu hồi, thay thế tiền
Ngân hàng Nhà nước thu hồi và rút khỏi lưu thông các loại
tiền không còn thích hợp và phát hành các loại tiền khác
thay thế Các loại tiền thu hồi được đổi lấy các loại tiền
khác với giá trị tương đương trong thời hạn do Ngân hàng
Nhà nước quy định Sau thời hạn thu hồi, các loại tiền
thuộc diện thu hồi không còn giá trị lưu hành
Điều 21 Tiền mẫu, tiền lưu niệm
Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc thiết kế, in,
đúc, bán ở trong nước và nước ngoài các loại tiền mẫu, tiền
lưu niệm phục vụ cho mục đích sưu tập hoặc mục đích
khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ