1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học tổng quan triết học phật giáo

19 670 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 110,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. LỜI NÓI ĐẤU 1. Lí do chọn đề tài Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường đã mang lại cho chúng ta những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội, bên cạnh đó cũng để lại cho chúng ta những thách thức không nhỏ trong đó có vấn đề đạo đức con người bị tha hóa biến chất diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Chính vì lí do đó em đã chọn “tổng quan Triết học Phật giáo” để trình bày, nghiên cứu vì Đạo Phật giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất, để con người đạt được trạng thái từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Đạo phật ra đời khoảng năm 563 trước Công nguyên. Đạo phật có 3 môn phái khác nhau về giáo lý, tổ chức, giáo đoàn. Để hiểu bản chất thật của đạo phật chúng ta đi nghiên cứu cụ thể như sau: 2. Mục đích: Cung cấp kiến thức cơ bản giúp chúng ta có sự hiểu biết về thế giới quan và nhận thức luận, thế giới quan của phật giáo.

Trang 1

A LỜI NÓI ĐẤU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường đã mang lại cho chúng ta những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội, bên cạnh đó cũng để lại cho chúng ta những thách thức không nhỏ trong đó có vấn đề đạo đức con người bị tha hóa biến chất

diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Chính vì lí do đó em đã chọn “tổng quan Triết học Phật giáo” để trình bày, nghiên cứu vì Đạo Phật - giáo lý Phật

là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống

vị tha là lý tưởng cao quý nhất, để con người đạt được trạng thái từ, bi, hỷ,

xả, con người Phật Đạo phật ra đời khoảng năm 563 trước Công nguyên Đạo phật có 3 môn phái khác nhau về giáo lý, tổ chức, giáo đoàn Để hiểu

bản chất thật của đạo phật chúng ta đi nghiên cứu cụ thể như sau:

2 Mục đích:

Cung cấp kiến thức cơ bản giúp chúng ta có sự hiểu biết về thế giới quan và nhận thức luận, thế giới quan của phật giáo

Trang 2

B NỘI DUNG:

I.Về thế giới quan Phật giáo

Thế giới quan Phật giáo được thể hiện qua 4 luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên khởi

1 Thuyết vô thường

Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thường trụ, bất biến, nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức

a) Một là Sátna( Kshana ) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh,

trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt Phật dùng danh từ Satna để chỉ một khoảng thời gian hết sức ngắn

b) Hai là: Nhất kỳ vô thường Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn.

Nếu sự chuyển biến thứ nhất của Sự vô thường là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi, thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự

vô thường thứ hai Nhất kỳ vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một trạng thái mới Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành - Trụ - Hoại - Không Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại, không vì các sinh vật đều tuân theo qui luật của nó đó là quá trình Sinh -> trụ -> di -> diệt

Theo luật vô thường, không phải khi sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà từng phút, từng dây, vạn vật sống để mà chết và chết

để mà sống Sống, chết tiếp diễn liên tục với nhau bất tận như một vòng tròn Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là

Trang 3

cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người

tu dưỡng theo giáo lý phật

Trong cuộc sống có những người không biết lý vô thường của Phật,

có những nhận thức sai lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến Nhận thức sai lầm như thế phật giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác.

Vì nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo giác muốn kéo dài sự sống để hưởng thụ, để thoả mãn mọi dục vọng Khi luật vô thường tác động đến bản thân thì sinh ra phiền não đau khổ

Ngược lại, nếu không hiểu rõ hoặc hiểu một cách nông cạn thuyết vô thường thì cho rằng chết là hết, đời người ngắn ngủi, phải mau tận hưởng những thú vui vật chất, phải sống gấp, sống vội Cuộc sống như thế là sống phiền não đau khổ trước sự chuyển biến của sự vật, trước sự sinh- trụ, dị diệt, trước sự thành, trụ hoại không nó diễn ra hàng ngày

2 Thuyết vô ngã

Quan điểm của Phật giáo Vô ngã là không có cái ta Cái ta mà Phật nói trong

thuyết vô ngã gồm có hai phần: (Cái ta sinh tức thân, và cái ta tâm lý tức tâm)

Theo kinh Trung Quốc Ahàm, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tố của bốn đại là: địa , thuỷ, hoả , phong

 Địa đại là cái đặc cứng như tóc, răng, móng chân, móng tay, da , thịt, các cơ, xương, tủy, tim gan, thận,

 Thủy đại là những chất lỏng như mật ở trong gan, máu, mồ hôi, bạch huyết, nước mắt,

 Hoả đại là những rung động của cơ thể như hơi thở, chất hơi ở trong dạ dầy, ở ruột

Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là nhưng thứ đó, những thứ đó không thuộc về ta

Trang 4

Cái mà ta gọi là cái ta sinh lý chỉ là một khoảng không gian giới hạn bởi sự kết hợp của da thịt, cũng như cái mà ta gọi là túp lều chỉ khoảng không gian giới hạn bởi gỗ, tranh, bùn để trát vách mà thôi

Tứ đại ( địa, thuỷ, hoả, phong) nêu trên thoáng là của ngoại cảnh, thoáng là của ta Vậy thực sự nó là của ai ? Vả lại khi bốn yếu tố này rời nhau trở

về thể của nó thì không có gì ở lại để có thể gọi là cái ta được nữa Cho nên cái

mà ra gọi là cái ta sinh lý chỉ là một giả tưởng, một nhất hợp sinh lý mà thôi Còn cái ta tâm lý gồm : thụ, tưởng, hành, thức Bốn ấm này cùng với sắc ấm che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phật tính, cái chân ngã của chúng ta Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: Hỷ, nộ, ai, lạc, ái , nỗ, dục

Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh cửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác Sự tin có một linh hồn dẫn dắt đến sự cúng tế linh hồn là hành động của sự mê tín

Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình cảm, những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà

họ coi là thường còn, bất biến Còn đối với những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì

sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng tiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau

Như vậy thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật Chính hai thuyết này của đạo phật làm căn cứ để xây dựng cho đệ tử một phương thức sống, một triết lý sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình

3 Thuyết Lý nhân duyên sinh

Nội dung của lý nhân duyên sinh là Phật muốn nói tới một định lý vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã

Trang 5

Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh

VD như cây lúa thì hạt lúa là nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên Nhân duyên đó hội họp sinh ra cây lúa

Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động ( sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành) -đó là nhân duyên Nói về thứ nhân duyên trong kinh Phật có câu tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối

Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoà hợp, sự vật là hư giả, là giả hợp không có tính tồn tại Như vậy con người làm chủ đời mình, làm chủ vận mệnh của mình Cuộc sống của con người có tươi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều do nhân duyên mà con người tạo ra Với nhận thức như vậy, con người tìm được một phương thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi người, sống an lạc, tự tại, giải thoát

4 Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả

Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong những thuyết cơ bản của giáo lý Phật Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có,

mà sinh ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào tạo ra sự vật Sự vật sinh ra là có nhân nguyên nhân Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được

Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân sinh ra nó Quả có thể hơn nhân nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu Nhân gặp đủ duyên thì sẽ biến thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biến thành nhân rồi để sinh ra quả khác

Sự vật là một chuỗi nhân quả, liên tục nối tiếp nhau, ảnh hưởng lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng

Trang 6

Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhưng quả không nhất định phải đúng như nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết “Bất định pháp” trong luật nhân quả

Sự vật là bất định, người tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dưỡng và tiến tới trên con đường giải thoát về nhân Suy rộng ra theo giáo lý Phật thì mỗi ý nghĩ của tâm ta, mỗi hành động của thân ta, mỗi lời nói của chúng ta cũng là những hạt nhân của chúng ta gieo hàng ngày Những hạt nhân khi gặp đủ duyên

sẽ nảy nở thành quả

Người nào gieo nhân, người ấy hái quả, không một hành động nào, thiện hay ác, dù nhỏ đến đâu, dù ta khôn khéo bưng bít, giấu giếm đến mức nào cũng không thể thoát khỏi cán cân nhân quả Người học Phật, tu Phật chân chính thấm nhuần thuyết nhân quả phải là người có đạo lý, không thể nào khác được

Với những luận thuyết cơ bản như trên đã hình thành nên thề giới quan phật giáo Phật quan niệm các hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn biến chuyển không ngừng theo quy luật nhân duyên Một hiện tượng phát sinh không phải là do một nhân mà do nhiều nhân và duyên Nhân không phải tự mà có mà do nhiều nhân duyên đã có từ trước Như vậy một hiện tượng có liên quan đến tất cả các hiện tượng trong vũ trụ

Tóm lại thế giới quan Phật giáo là thế giới quan nhân duyên Tất cả sự vật

có danh có tướng, có thể nhận thức được, ý niệm được Cảm giác được hay dùng ngôn ngữ luận bàn, được đều được Phật gọi là pháp

II Nhận thức luận Phật giáo

1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận

Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ Còn đối tượng của nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tượng, là cả vũ trụ

Trang 7

Vạn vật là vô thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật cuối cùng Mọi vật đều liên quan mật thiết đến nhau Toàn thể dù lớn đến đâu nếu không có quan hệ với hạt bụi thì cũng không thành lập được

Do đó đạo Phật không phân biệt vật chất và tinh thần vì đó chỉ là hai trạng thái của tâm, của năng lượng khi ở thể tiềm tàng Hiểu như vậy thì thấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm Những hiện tượng sinh lý vật lý và những hiện tượng tâm lý ấy chỉ tương sinh tương thành

2 Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức

Sự nhận thức phát triển theo hai con đường tư trào: Hường nội và hướng ngoại Phật giáo thường quan tâm đến tư trào hướng nội tức là mỗi người tự chiêm nghiệm suy nghĩ của bản thân Có hai phương pháp để nhận thức là:

Tiệm ngộ : là sự giác ngộ, nhận thức một các dần dần, có tính chất là “ trí

hữu sư”

Đốn ngộ: là sự giác ngộ bột phát, bùng nổ có tính chất là “trí vô sư”.

Theo phật giáo quan niệm sự nhận thức được trải qua hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu là nhận thức bắt đầu từ cảm giác và phụ thuộc vào cảm

giác đưa lại Kết quả là con người biết được cái tiếp xúc giữa thế giới khách quan và giác quan của con người và từ sự tiếp xúc này tạo nên yếu tố” thọ “ trong ngũ uẩn Theo nhà Phật nói chữ thọ ở đây là sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần tạo nên yếu tố thọ Căn cứ ở đây là những khả năng nhận thức của các giác quan Trần là loại kích thích từ thế giới bên ngoài Nếu kích thích tương ứng với các căn thì con người có cảm giác Sáu căn là : nhăn, nhỉ, tù, thiệt, thân, ý Sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, “ Thọ”, cho chúng ta nhận biết được những hiện tượng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫu

Trang 8

nhiên Trong một số trường hợp khác gọi đó là kinh nghiệm Từ những tri thức cảm tính kinh nghiệm nêu trên, con người sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sự vật để biết được cái bên trong, bản chất đó là tri thức định lý

Giai đoạn sau là sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến cái tâm siêu thể Từ kết

quả của giai đoạn trước, con người bắt được cái tâm tính của những sự vật hữu hình tái thế và đặc biệt là cái tâm ở trong mỗi con người và nâng lên để nắm được cái tâm siêu thoát, cái tâm trung

Đạo phật cho rằng có hai phương pháp chủ yếu để nhận thức là: Tam học

và Tam huệ

- Tam học là giới, định, tuệ

Giới: Gồm có nhứng phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt

hàng ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện.

Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung tư tưởng

suy nghĩ để làm mọi việc yên lành

Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ

đến làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh

Tam huệ: là văn, tu, tư

Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanh

tịnh, sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp.

Tư: là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ

bản lai tư tính của mình

Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụ tập gột

rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp giới tính Nhận thức như thế, người tu hành sẽ được sống trong sự giải thoát, sinh tử luân hồi sẽ không còn nữa.

III Nhân sinh quan Phật giáo

Trang 9

Trong Phật Giáo quan niệm về nhân sinh quan được thể hiện rõ qua thuyết

Tứ diệu đế

1 Tứ diệu đế:

Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu trước kia đi theo Phật.

Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật

Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế

1.1 Khổ đế:

Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy vì sao

mà khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ

Trong Phật giáo chia cái khổ ra làm 8 loại:

+ Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ

+ Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não

+ Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ

+ Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng

+ Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc

+ Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly

Trang 10

+ Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.

+ Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp.

Đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không ru người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng chẳng làm cho người ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ mà con người trong cuộc sống phải chịu đựng Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng

ta đi đến giải thoát

1.2 Tập đế:

Tập đế hay còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta Nguyên nhân thì có nhiều nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân sau:

+ Tham lam - hướng ra ngoài cầu cho được cái mình muốn như danh, lợi, tình ái

+ Giận dữ - là tâm trạng đau khổ, bất an, ghét bỏ những cái trái ý, không

ưu, không thíchthể hiện trong cuộc sống chúng ta có nhiều mối quan hệ

+ Si mê – là trạng thái không sáng suốt, thiếu “ giác ngộ chân lý”

+ Kiêu mạn – kiêu ngạo, tự đề cao vai trò của mình

+ Nghi ngờ - là thái độ hoài nghi tất cả, thiếu tự tin, do dự.

+ Thân kiến - là coi chỉ có ý kiến của ta là đúng

+ Biện kiến là sự cố chấp những ý kiến xung quang, sự hiểu biết một mặt như chấp đoạn, chấp thưởng

+ Tà kiến là tin và làm những điều trái quy luật, trái đạo pháp do sự hiểu biết không đúng

+ Kiến thủ - là thành kiến, định kiến

Ngày đăng: 26/08/2016, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w