1.Tính cấp thiết của đề tài Tôn giáo là một hiện tượng tồn tại từ lâu trong lòng xã hội loài người, đã trở thành một bộ phận cấu thành của đời sống xã hội. Trong lịch sử đã từng có thời kỳ tôn giáo ngự trị đời sống xã hội, chi phối cuộc sống conn người, gây ra những cuộc chiến tranh tôn giáo. Ngày nay vẫn còn có nhiều vụ xung đột tôn giáo diễn ra trên thế giới. Tôn giáo có thể liên kết con người, đồng thời có thể đẩy con người tới chỗ kỳ thị lẫn nhau sâu sắc. Những thực tế nói trên cho thấy, tôn giáo là một hiện tượng cực kỳ phức tạp và tế nhị, luôn là vấn đề bức xúc, nhạy cảm và còn nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, bên cạnh những tôn giáo nội sinh, còn có những tôn giáo được du nhập cách đây mấy trăm năm như đạo Công giáo. Đạo Công giáo với tính cách là hình thái ý thức xã hội ra đời và phát triển từ hai nghìn năm nay. Là một tôn giáo thế giới, nó đã có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến đời sống văn hóa, xã hội, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, kinh tế, chính trị, quốc phòng- an ninh của nhiều dân tộc, quốc gia. Trong một thời gian dài nó là một trong những nền tảng chủ yếu của văn minh và xã hội phương Tây. Đạo Công giáo đã từng được xem là bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ, nhưng hiện nó vẫn có sức sống dai dẳng, bộc lộ vai trò nhiều mặt đối với văn hóa, xã hội. Do hoàn cảnh lịch sử để lại, trong số các tôn giáo lớn của Việt Nam, đạo Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông ( thứ hai sau Phật giáo). Đạo Công giáo mang trong mình dấu ấn của nền văn minh phương Tây. Khi truyền sang Việt Nam, đạo Công giáo đã đóng góp vai trò là cầu nối chuyển tải những thành tố của văn minh phương Tây đến văn hóa Việt Nam. Vì thế, đạo Công giáo có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, văn chương, lối sống, giáo dục…Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đạo Công giáo Việt Nam hiện nay có nhiều ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường của giáo dân. Do đó cần có sự hiểu biết sâu về đạo Công giáo, đặc biệt là hiểu biết về đạo Công giáo tại địa phương. Nắm được ảnh hưởng của đạo Công giáo đến đời sống đạo đức của người dân địa phương. Từ đó, có cái nhìn toàn diện, khách quan về những mặt tích cực, hạn chế của đạo Công giáo với đời sống đạo đức của người dân địa phương. Trên cơ sở đó có những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tác dụng tích cực, hạn chế những mặt ảnh hưởng tiêu cực của nó đến đời sống đạo đức của người dân địa phương. Chính vì lý do trên mà tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của đạo Công giáo đến đời sống đạo đức của người dân Kim Sơn- Ninh Bình”. Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu như: từ trừu tượng đến cụ thể, lý luận gắn với thực tiễn…
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
3.Mục đích của đề tài
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM
1 Quá trình du nhập đạo Công giáo ở Việt Nam
2 Quá trình du nhập đạo Công giáo ở huyện Kim Sơn_ Ninh Bình
3 Một số đặc điểm của đạo Công giáo ở Kim Sơn_Ninh Bình
3.1 Kim Sơn- Phát Diệm là hai yếu tố Đời và Đạo
3.2 Đời sống của đồng bào công giáo Kim Sơn ngày càng được cải thiện
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNGĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI DÂN KIM SƠN- NINH BÌNH
1 Đạo Công giáo trong sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Kim Sơn_Ninh Bình
1.1 Đạo Công giáo với giáo dục gia đình
1.2 Đạo Công giáo với quan niệm về từ thiện xã hội
2 Đạo Công giáo với sự du nhập kiến trúc nhà thờ Phát Diệm
Trang 22.1 Kiến trúc nhà thờ Phát Diệm là một trong những nét tiêu biểu của đạo Công giáo
2.2 Công trình kiến trúc nhà thờ Phát Diệm là một chứng tích Đức Tin của tiền nhân
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI DÂN KIM SƠN-NINH BÌNH
1 Phát triển Ðảng trong đồng bào có đạo
2 Kết hợp công tác Đoàn thanh niên vùng Công giáo Kim Sơn
KẾT LUẬN
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo Công giáo dướigóc độ khác nhau và theo nhiều quan điểm khác nhau ở trong cũng như ngoài nước Các công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích bản chất, nguồn gốc, chức năng của đạo Công giáo, nó đã tồn tại như thế nào trong lịch sử, và diện mạo, sốphận của nó trong tương lai sẽ ra sao?
Trang 3Tuy nhiên, việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của đạo Công giáo đến đời sống
đạo đức của người dân Kim Sơn- Ninh Bình” là vấn đề còn mới mẻ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là: Đạo Công giáo ở huyện Kim Ninh Bình
Sơn-4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với thời gian nghiên cứu và trình độ nghiên cứu của người nghiên cứu còn hạn chế, trong tiểu luận chỉ đặc biệt chú trọng và đi sâu vào những ảnh hưởng của Đạo Công giáo cụ thể là: những ảnh hưởng của Đạo Công giáo đối với sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Kim Sơn_Ninh Bình về giáo dục gia đình, quan niệm về từ thiện xã hội, ảnh hưởng của kiến trúc nhà thờ Phát Diệm
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Tiểu luận dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những tư tưởng cơ bản về tôn giáo nói chung và Đạo Công giáo nói riêng, các công trình nghiên cứu về tôn giáo của các nhà khoa học ở trung ương và địa phương, các số liệu liên quan đến Đạo Công giáo tại địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng tồn tại từ lâu trong lòng xã hội loài người, đã trở thành một bộ phận cấu thành của đời sống xã hội Trong lịch sử đã từng có thời kỳ tôn giáo ngự trị đời sống xã hội, chi phối cuộc sống conn người, gây ra những cuộc chiến tranh tôn giáo Ngày nay vẫn còn có nhiều vụ xung đột tôn giáo diễn ra trên thế giới Tôn giáo có thể liên kết con người, đồng thời có thể đẩy con người tới chỗ
kỳ thị lẫn nhau sâu sắc Những thực tế nói trên cho thấy, tôn giáo là một hiện tượng cực kỳ phức tạp và tế nhị, luôn là vấn đề bức xúc, nhạy cảm và còn nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, bên cạnh những tôn giáo nội sinh, còn có những tôn giáo được du nhập cách đây mấy trăm năm như đạo Công giáo Đạo Công giáo với tính cách là hình thái ý thức xã hội ra đời và phát triển từ hai nghìn năm nay Là một tôn giáo thế giới,
nó đã có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến đời sống văn hóa, xã hội,
Trang 5tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, kinh tế, chính trị, quốc phòng- an ninh của nhiều dân tộc, quốc gia Trong một thời gian dài
nó là một trong những nền tảng chủ yếu của văn minh và xã hội
phương Tây Đạo Công giáo đã từng được xem là bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ, nhưng hiện nó vẫn có sức sống dai dẳng, bộc lộ vai trò nhiều mặt đối với văn hóa, xã hội Do hoàn cảnh lịch sử
để lại, trong số các tôn giáo lớn của Việt Nam, đạo Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông ( thứ hai sau Phật giáo).
Đạo Công giáo mang trong mình dấu ấn của nền văn minh
phương Tây Khi truyền sang Việt Nam, đạo Công giáo đã đóng góp vai trò là cầu nối chuyển tải những thành tố của văn minh phương Tây đến văn hóa Việt Nam Vì thế, đạo Công giáo có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, văn chương, lối sống, giáo dục…Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước
Đạo Công giáo Việt Nam hiện nay có nhiều ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường của giáo dân Do đó cần có sự hiểu biết sâu về đạo Công giáo, đặc biệt làhiểu biết về đạo Công giáo tại địa phương Nắm được ảnh hưởng của đạo Công giáo đến đời sống đạo đức của người dân địa phương Từ đó, có cái nhìn toàn diện, khách quan về những mặt tích cực, hạn chế của đạo Công giáo với đời sống đạo đức của người dân địa phương Trên cơ sở đó có những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tác dụng tích cực, hạn chế những mặt ảnh hưởng tiêu cực của nó đến đời sống đạo đức của người dân địa phương
Chính vì lý do trên mà tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của
đạo Công giáo đến đời sống đạo đức của người dân Kim Sơn- Ninh Bình”
Trang 6Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu như: từ trừu tượng đến cụ thể, lý luận gắn với thực tiễn…
6 Kết cấu của đề tài
Tiểu luận gồm các phần: Mục lục, mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó, phần nội dung bao gồm 3 chương là:
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI DÂN KIM SƠN- NINH BÌNH
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCHCỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI DÂN KIM SƠN-NINH BÌNH
Trang 7Chương 1
KHÁI LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM
1 Quá trình du nhập đạo Công giáo ở Việt Nam
Đạo công giáo Việt Nam được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như : Đạo Kitô giáo Việt Nam, đạo Cơ Đốc Việt Nam, cơ đốc giáo Việt Nam, thiên chúa giáo Việt Nam
Thế kỷ XVI, phương thức tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ ở phương Tây, tạo điều kiện cho đạo Công giáo truyền sang các nước phương Đông Việt Nam là nước có bờ biển dài nằm trên trục buôn bán đường biển giữa các nước Châu Âu_ Ấn Độ_ Trung Quốc, vào thời điểm này lại đang có sự mất ổn định chính trị do triều đại Trịnh, Nguyễn phân tranh nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho đạo công giáo xâm nhập
Quá trình đạo công giáo truyền vào Việt Nam bắt đầu từ người Bồ Đào Nha, rồi người Tây Ban Nha, cuối cùng là người Pháp Hội thừa sai Pháp đã hoàn thành sứ mệnh truyền đạo Công giáo ở Việt Nam và đó cũng là quá trình tạo điều kiện cho thực dân Pháp vào Việt Nam
Thế kỷ XV-XVI, giáo triều Va-Ti-Căng và các thế lực tư bản mới phát triển như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha rất thèm khát thuộc địa Năm 1456, giáo hoàng Celixte II ra sắc chỉ thừa nhận đặc quyền thương mại của thực dân Bồ Đào Nha ở phương Đông Năm 1510, họ chiếm Ma Cao Trung Quốc và từ đây
Trang 8người Bồ Đào Nha nhòm ngó Đông Dương Ngay từ thập niên đầu của thế kỷ XVI, các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo ở Việt Nam.
Từ năm 1533 đến năm 1614, các giáo sĩ của dòng Phan-xi-cô( Bồ Đào Nha) và các giáo sĩ dòng Đa-minh( Tây Ban Nha) đến truyền giáo ở Việt Nam Các giáo sĩ này đi theo đường biển vào truyền giáo ở Việt Nam, tuy nhiên do không thông thạo địa hình và ngôn ngữ nên ít có kết quả
Từ năm 1615 đến năm 1665, giai đoạn này có giáo sĩ dòng Tên( Bồ Đào Nha) từ Ma Cao ( Trung Quốc) vào Việt Nam Các giáo sĩ này thạo tiếng việt, cách truyền giảng khôn khéo nên công việc truyền giáo có kết quả, thu hút nhiềungười theo đạo Cụ thể, trong khoảng 20 năm truyền giáo ở Nam Trung Bộ, họ
đã thu hút được khoảng 50.000 người theo đạo, đào tạo 40.000 tu sỹ để giúp choviệc truyền đạo
Chủ nghĩa tư bản không phát triển đồng đều đối với các nước Từ đầu thế
kỷ XVII, chủ nghĩa tư bản Pháp phát triển mạnh mẽ và trở thành “ đứa con gái yêu của giáo hội” Giáo hoàng Clê măng II đã bật đèn xanh cho phép các giáo sĩ Pháp vào Việt Nam truyền đạo thay thế cho người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.Năm 1645, công việc truyền giáo đang rất phát triển, bề trên của dòng Tên đã cửgiáo sỹ về Rôma chọn người xin Giáo hoàng phong giám mục đưa sang Việt Nam để hỗ trợ cho công việc truyền giáo Khi đó Alếch-xăng-đơ Đờ-rốt, giáo sỹcủa dòng Tên được giao nhiêm vụ này Đờ-rốt là một người Pháp, luôn hướng
về quyền lợi của nước Pháp Vì thế, ông đã đề cử hai người Pháp làm giám mục
ở Việt Nam là: Phơ- răng- xoa Pa- luy và Lăm- bét- đơ La-mốt Hai người này
đã được Giáo hoàng phong làm giám mục, phục vụ việc truyền giáo ở Đông Dương
Năm 1659, hai địa phận là đàng trong và đàng ngoài được thành lập, dưới quyền cai quản của hai giám mục, Phơ-răng-xoa Pa-luy phụ trách giáo hội đàng ngoài, Lăm-bét-đơ La-mốt phụ trách đàng trong cùng kiêm luôn việc truyền đạo
Trang 9ở Đông Dương Cùng với việc đề cử hai giám mục người Pháp, Alếch-xăng-đơ Đờ-rốt còn lập kế hoạch vận động vua Pháp và giới quý tộc Pháp đề nghị Giáo hoàng cho thành lập “ Hội thừa sai truyền giáo Pari”, gọi tắt là “ Hội thừa sai Pari”, ký hiệu MEP.
Năm 1664, MEP chính thức ra đời và được giáo hoàng giao nhiệm vụ truyền đạo từ Việt Nam, Trung Quốc xuống Đông Nam Á Những việc làm trên của Đờ-rốt dẫn đến mâu thuẫn giữa các giáo sỹ Thừa sai với các giáo sĩ dòng Tên Các giáo sĩ dòng Tên không thừa nhận sự cai quản của hai giám mục ngườiPháp ở Việt Nam, không tiếp nhận thư Giáo hoàng giới thiệu hai người này và
họ làm đơn kiện lên Giáo hoàng Nhưng lúc đó Pháp mạnh hơn Bồ Đào Nha nênphần thắng thuộc về các giáo sỹ Thừa sai
Năm 1868, Giáo hoàng ra sắc chỉ cho MEP độc quyền truyền giáo dưới tổ chức và hỗ trợ của chính phủ Pháp Tuy nhiên các giáo sĩ dòng Tên có trụ sở ở
Ma Cao vẫn thường xuyên ra vào Việt Nam hoạt động chống phá, cản trở sự phát triển của tổ chức MEP Vì thế cuối thế kỷ XVII, Giáo hoàng buộc phải ra lệnh rút các giáo sĩ dòng Tên khỏi Đông Dương Từ đây các giáo sĩ Hội thừa sai thực sự độc quyền truyền giáo ở Đông Dương
Xã hội Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII có rất nhiều xáo trộn Các tập đoàn
Lê Trịnh ở đàng ngoài và Nguyễn ở đàng trong mải thôn tính lẫn nhau, cuộc nội chiến Tây Sơn và sự phục hồi nhà Nguyễn làm cho kinh tế đất nước trì trệ, chínhtrị hỗn độn, lòng người ly tán Thực trạng đất nước như vậy đã tạo điều kiện choMEP phát triển
Lúc đầu, việc truyền giáo không bị cấm đoán, thậm chí vua chúa người Việt còn tạo điều kiện cho các giáo sỹ Công giáo truyền đạo để lợi dụng họ mua
vũ khí, giải quyết cuộc nội chiến Trịnh, Nguyễn Vì thế MEP có điều kiện can thiệp vào nội bộ triều đình nhà Nguyễn sâu hơn Trong khi đó thực dân Pháp âmmưu dùng tổ chức MEP, thông qua hoạt động truyền giáo để thực hiện xâm lược
Trang 10Việt Nam Chính vì thế, bên cạnh những hoạt động truyền giáo, rất nhiều giáo sĩhội Thừa sai có những hoạt động chính trị, phục vụ âm mưu xâm lược của Pháp
ở Việt Nam
Chẳng hạn, năm 1669, giám mục đàng ngoài là Pa-luy đã viết thư cho bộ trưởng hải quân Pháp, yêu cầu đem quân đánh chiếm vùng châu thổ sông Hồng Năm 1784 giám mục Pi-nhô-đờ-bê-hen(Pigneau de Behaine)- Bá Đa Lộc hay còn gọi là Cha cả, là người can thiệp khá sâu vào nội bộ Việt Nam, với kế hoạchgiúp Nguyễn Ánh gây dựng lại cơ đồ, đưa Việt Nam vào vòng phụ thuộc Pháp Năm 1874 Bá Đa Lộc đã chi viện cho Nguyễn Ánh tàu chiến, súng và 1500 lính Pháp Bá Đa Lộc đã thay mặt Nguyễn Ánh ký với vua Lui XVI hiệp ước 1878 Theo hiệp ước này, Nguyễn Ánh giao cửa Hàn và đảo Côn Lôn của Việt Nam cho Pháp để đổi lấy 4 tàu chiến, 1650 lính thủy, lính bộ và súng ống
Giám mục Nam kỳ Pellerin đã mở cuộc vận động trong chính giới Pháp can thiệp vũ trang vào Việt Nam Pellerin gợi ý cho quân đội Pháp chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên Ngày 1-9-1858, chính Pellerin đã có mặt cùngvới tướng Rigaull trên chiếc tàu của Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở màn cho chiến tranh xâm lược của Pháp vào Việt Nam
Hoạt động truyền giáo gắn liền với mục đích xâm lược của người Pháp đã
bị nhân dân Việt Nam chống lại, bị các sỹ phu phản ứng quyết liệt Vua quan nhà Nguyễn cho dù nhu nhược, ích kỷ, đã chịu ơn các giáo sỹ Thừa sai, song trước nguy cơ tồn vong của dân tộc cũng không thể ngồi yên Trong ba đời vua nhà Nguyễn như: triều Minh Mạng, triều Thiệu Trị và triều Thiệu Đức đã có 14 sắc chỉ cấm đạo Bên cạnh các hoạt động cấm đạo của triều đình, còn có phong trào “Bình tây, sát tả” do các văn than, sĩ phu lãnh đạo, bắt đầu từ năm 1862 khi nhà Nguyễn cắt 3 tỉnh miền Tây cho Pháp, kéo dài đến năm 1888
Tóm lại, dù gặp khó khăn, nhiều khi phải đẫm máu, nhưng cộng đồng công giáo Việt Nam cứ tăng dần Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII là thời kỳ
Trang 11truyền giáo của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Từ giữa thế kỷ XVII trở đi là vai trò truyền giáo ngày càng tăng của các giáo sĩ người Pháp, đặc biệt
là từ khi Hội Thừa sai Pari ra đời
Sau gần 400 năm truyền đạo, năm 1933, Vaticăng đã trao quyền tự quản giáo hội cho người Việt Nam Người đầu tiên được phong chức giám mục là Nguyễn Bá Tòng Từ 1933 đến 1954, giáo hội Công giáo Việt Nam bị chi phối bởi chính sách chống cộng, thân đế quốc của Vaticăng Họ cấm người Công giáo tham gia kháng chiến chống Pháp Tuy vậy, số đông đồng bào vẫn theo đạo, vẫn ủng hộ kháng chiến, thực hiện tốt khẩu hiệu “ vừa kháng chiến vừa kiến quốc”
Về tổ chức, ngày 24-11-1960, Giáo hoàng Gioan XXIII đã ra sắc chỉ về việc lập phẩm trật giáo hội tại Việt Nam Với sắc chỉ này, các giáo hội công giáoViệt Nam được thiết lập thành 3 giáo tỉnh: giáo tỉnh Hà Nội gồm tổng giáo mục
Hà Nội với nhà thờ chính tòa, hiệu thánh Giuse, cùng với các địa phận trực thuộc; giáo tỉnh Huế gồm tổng giám mục Huế, với nhà thờ chính tòa, hiệu trái tim cực sạch Đức mẹ cùng với các địa phận trực thuộc; giáo tỉnh Sài Gòn gồm tổng giám mục Sài Gòn với nhà thờ chính tòa, hiệu Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội và các địa phận trực thuộc
Ngày 24-2-1967, tòa thánh La Mã đã phê chuẩn thành lập hội đồng giám mục Việt Nam, nhưng vì điều kiện chiến tranh và chia cắt đất nước nên hội đồnggiám mục chỉ thực thi ở miền Nam Thành phần hội đồng giám mục gồm 14 giám mục chính tòa của 14 địa phận, 1 giám mục phụ tá dòng tu, 1 giám mục phụ tá địa phận Sài Gòn
Về cơ cấu, gồm 3 ủy ban phối hợp điều hành là: ban thường vụ, văn phòng,các ủy ban Nhiệm kỳ của hội đồng giám mục là 3 năm một nhiệm kỳ
Từ 1875, sau khi thống nhất đất nước, giáo hội Công giáo Việt Nam hợp thành một tổ chức thống nhất
Trang 12Năm 1980, hội đồng giám mục Việt nam được thành lập do Hồng y Trịnh Văn Căn làm chủ tịch Ba giáo tỉnh là Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh được thành lập và hoạt động trong sự thống nhất cả nước Tín đồ công giáo Việt Nam đoàn kết cùng với tín đồ các tôn giáo khác, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và nêu cao khẩu hiệu “ sống tốt đời đẹp đạo”, “sống phúc
âm trong lòng dân tộc”
2 Quá trình du nhập đạo Công giáo ở huyện Kim Sơn_ Ninh Bình.
Đầu thế kỷ XIX, Phát Diệm( thị trấn của Kim Sơn) chỉ là vùng đất bồi với bùn lầy đồng thời cũng là một thi sĩ nổi tiếng, được triều đình Huế phái ra Bắc với chức “ Dinh Điền Sứ” để khai phá những vùng đất mới Ông lập ra huyện Tiền Hải ( Thái Bình) và huyện Kim Sơn( Ninh Bình) nay là hai huyện trù phú, xứng đáng với tên gọi là “ biển bạc”, “ núi vàng”
Về mặt truyền giáo, theo như cha Alexandre de Rhodes ( quen gọi là Cha Đắc Lộ) kể trong cuốn “ Lich sử vương quốc đàng ngoài”, Ngài tới Cửa Bạng ( Ba Làng, Thanh Hóa) ngày lễ thánh Giuse, 19-03-1627 Trên đường từ đó đi rakinh đô Thăng Long ( Hà Nội), Ngài đã giảng đạo ở Văn Nho gần cửa Thần Phù( nay là xứ Hảo Nho thuộc giáo phận Phát Diệm) Như vậy có thể nói Phát Diệm
là một trong những mảnh đất đầu tiên ở miền Bắc mà hạt giống Tin Mừng đã được gieo xuống và bám rễ
250 năm sau, tức là vào cuối thế kỷ XIX, tại vùng Kim Sơn đã có khoảng 50.000 giáo dân Năm 1865, Cha Phêrô Trần Lục, còn gọi là Cụ Sáu, được đặt làm chính xứ Phát Diệm Ngài chính tên là Trần Chiêm, sinh năm 1825 ở làng
Mỹ Quan huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Về mặt đạo, là họ Đạo Đức thuộc xứ
Kẻ Dừa ( nay thuộc giáo phận Thanh Hóa) Năm 1841 Ngài đi tu, theo học tại Chủng viện Vĩnh Trị và Kẻ Non ( nay thuộc giáo phận Hà Nội) Ngài có trí thông minh khác thường, thạo cả chữ Hán lẫn tiếng La-tinh, nên đã có thời làm giáo sư Chủng viện Vĩnh Trị Năm 1858, Ngài chịu chức Sáu ( chức phó tế)
Trang 13Năm 1860, Ngài chịu chức linh mục Năm 1863 được Bề Trên đặt trông coi mấy
xứ trong Thanh Hóa Năm 1865 Ngài được đặt làm chính xứ Phát Diệm cho đếnkhi qua đời ngày 6-7-1899
Trong 34 năm làm chính xứ Phát Diệm, cụ Sáu đã lo giáo dục nhân bản ( qua những “ Ca vè Cụ Sáu” mà ngày nay một số cụ già còn thuộc) cũng như đời sống đạo đức cho giáo dân Đặc biệt với một cái nhìn rất rộng, cụ Sáu đã có
kế hoạch xây dựng khu nhà thờ Phát Diệm và tuần tự thực hiện từ năm 1875 đếnkhi Cụ qua đời
3 Một số đặc điểm của đạo Công giáo ở Kim Sơn_Ninh Bình.
3.1 Kim Sơn- Phát Diệm là hai yếu tố Đời và Đạo
Một đặc điểm của vùng kinh tế mới Kim Sơn là: Người ta thường quen gọi
là vùng “Kim Sơn - Phát Diệm” chứ ít khi tách bạch thành hai tên riêng rẽ, có
lẽ bởi không chỉ nói huyện Kim Sơn mà không nói tới giáo phận Phát Diệm, vì
là hai yếu tố Đời và Đạo Hai yếu tố về một vùng đất Tân lập đã tác thành một
“Kim Sơn – Phát Diệm” Vì cụ Nguyễn Công Trứ đã có công mở mang đất đai, chia dân lập ấp, phát triển kinh tế, thì cụ Sáu Trần Lục còn lưu lại những tuyệt tác nghệ thuật kiến trúc độc đáo Việt Nam Cụ Sáu Trần Lục được gọi về chịu chức Sáu chui vào đúng năm cụ Nguyễn Công Trứ từ trần (7/12/1858) Sau đó vào năm 1865, cụ mới được chính thức bổ nhiệm về cai quản Phát Diệm Như
đã ý thức được sứ mạng phải tiếp tục phát và triển công trình mà cụ Nguyễn để lại, cụ Sáu Trần Lục đã đẩy mạnh sự phát triển này trên bình diện truyền giáo nhiều hơn là kinh tế, vì cụ là một linh mục Đức tin công giáo đã vạch cho cụ những phương thức để hội nhập truyền thống văn hoá dân tộc và nho giáo vào đời sống tín ngưỡng và mục vụ Cụ Sáu đã có công lớn thực hiện không phải chỉmột nhà thờ lẻ loi, mà là cả một quần thể gồm nhiều thánh đường mĩ thuật, nguynga, đồ sộ; nhiều hang núi tuyệt đẹp, là những công trình kiến trúc độc đáo mà không nơi nào sánh được Kim Sơn- Phát Diệm được như ngày nay, một phần
Trang 14lớn là do công ơn của cụ Nguyễn Công Trứ, vị Doanh điền sứ, không những đã
tạo dựng cho cụ Sáu Trần Lục một vùng đất “dũng trí” sau này khi xây cất, mà
còn khởi động một truyền thống tốt đẹp làm nền tảng cho đức tin nảy nở và làm mọc lên rất nhiều những ngôi thánh đường tráng lệ trong giáo phận Phát Diệm ngày nay
Chính nhờ vào truyền thống tôn giáo và tinh thần keo sơn ấy mà ông cha ta
đã kiến tạo một quê hương trù phú, sống cảnh thái bình bên luỹ tre xanh, không khítrong lành của miền đồng nội, ngày ngày vang dội tiếng chuông giáo đường, nhắc nhở mọi người trở về dưới bóng giáo đường sáng lễ, chiều kinh
3.2 Đời sống của đồng bào công giáo Kim Sơn ngày càng được cải thiện
Huyện Kim Sơn (Ninh Bình) là vùng công giáo, số người theo đạo thiên chúa chiếm khoảng hơn 80% số dân của huyện Trong mấy năm gần đây, các cấp
ủy Ðảng và chính quyền ở tỉnh Ninh Bình đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm khai thác thế mạnh địa phương trong việc phát triển ngành nghề, chăm lo
việc làm cho người lao động, đời sống của đồng bào công giáo Kim Sơn ngày càng đượccải thiện
Làng nghề Chiếu cói Kim Sơn thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Qua hàng trăm năm quai đê lấn biển, Kim Sơn có những bãi sa bồi mênh mông, là xứ
Trang 15sở của cây cói, cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào để nghề chế tác sản phẩm cói không ngừng phát triển.
Những năm gần đây, kinh tế thị trường phát triển, đời sống không ngừng được nâng cao thì nhu cầu về các sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân cũng gia tăng, trong đó có nhu cầu về các sản phẩm bằng cói Chính vì thế, nghề chế tác sản phẩm cói đã đem lại nguồn thu nhập chiếm tỷ trọng đáng kể cho nhân dân địa phương
Công giáo đến Kim Sơn (Ninh Bình) từ rất sớm (1865) và địa phận Phát Diệm nổi tiếng thành lập từ năm 1901 Ông Nguyễn Thanh Bình - Phó chủ tịch UBND huyện cho biết: "Về du lịch, Kim Sơn chẳng có gì, ngoài nhà thờ đá Phát Diệm" Mỗi năm Kim Sơn đón hàng nghìn khách đến tham quan Tính bài toán kinh tế, nếu bán vé tham quan, chắc chắn cũng thu được khá nhiều tiền Nhưng Kim Sơn không làm thế, những người lãnh đạo ở đây cho rằng: "Tuy thu hút đông khách đến nhưng nhà thờ đá Phát Diệm có ý nghĩa tinh thần quan trọng đối với người Công giáo, vì thế không thể đặt vấn đề lợi ích kinh tế ở đây được" Để tạo rađược 1.000 tỉ đồng mỗi năm (năm 2004, tổng giá trị sản xuất của Kim Sơn đạt 1.070 tỉ đồng), Kim Sơn đã phải tìm mọi cách để phát triển các ngành nghề thủ công, sản xuất nông nghiệp
Kinh tế phát triển đồng nghĩa với đời sống của người dân được nâng lên Linh mục Nguyễn Hồng Phúc - Chánh xứ Phát Diệm chia sẻ : "Những năm gần đây, con em Công giáo được học hành ngày một cao Chúng tôi đã được lập quỹ khuyến học 6 triệu đồng/tháng cho khoảng 70 học sinh, chúng tôi sẽ tiếp tục cấp học bổng cho 150 em, ngoài ra chúng tôi cùng chính quyền giúp đỡ lương thực quanh năm cho người già cả, những người không nơi nương tựa Làm được điều đó
Trang 16là nhờ có sự hỗ trợ của chính quyền" Năm 2004, huyện Kim Sơn đã hỗ trợ, xây dựng được 97 ngôi nhà đại đoàn kết cho các gia đình Công giáo.
Đề cập đến mối quan hệ giữa chính quyền với nhà thờ, linh mục Phúc thẳng thắn nhận xét: "Năm 2004, Kim Sơn có 5 người được phong linh mục Không biết chỗ khác như thế nào, chứ ở đây quan hệ giữa chúng tôi với chính quyền rất tốt Tất nhiên có chỗ này, chỗ kia nhưng theo tôi nếu từ đó mà khẳng định trên diện rộng thì không đúng Chúng ta phải nhìn nhận ở góc độ lớn hơn, ở cấp độ quốc gia,quốc tế"
Chương 2
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC
CỦA NGƯỜI DÂN KIM
SƠN-NINH BÌNH
1 Đạo Công giáo trong sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Kim
Sơn_Ninh Bình
1.1 Đạo Công giáo với giáo dục gia đình
Gia đình là nền tảng của xã hội, quốc gia Để xây dựng một xã hội văn minh, phát triển hùng mạnh cần xây dựng yếu tố cấu thành nên nó là gia đình Đạo công giáo có những đóng góp nhất định trên nhiều phương diện trong việc giáo dục nếp sống gia đình của người dân Kim Sơn- Ninh Bình
Công giáo giáo dục về mối quan hệ vợ chồng trong gia đình Trong đạo Công giáo, vợ chồng mỗi người theo bổn phận của mình phải sống chứng nhân cho tình yêu, qua việc làm phép trong nhà thờ, bằng bí tích của hôn phối, người chồng hợp nhất với người vợ trong một giao ước tình yêu Trong quan hệ vợ chồng, người chồng phải là chứng nhân của một tình yêu không vị kỷ, phải quênmình hy sinh cho vợ như chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá cho giáo hội.Người chồng tốt không ghen ghét, chửi rủa những điều xấu xa hoặc để cho cha
Trang 17mẹ mình làm khổ vợ Người chồng phải chịu khó làm lụng, không chơi bời, du đãng, phải lo liệu cho vợ giữ đạo, đó là các phép tắc đọc kinh, xem tội, chịu lễ chính đáng Bên cạnh đó, người vợ phải dịu hiền, sống hợp nhất với chồng, phải
là người mẹ gương mẫu, cùng chồng nuôi nấng, giáo dục con cái Vợ phải biết kính nể chồng, chăm sóc nhà cửa và làm việc cho xứng bậc mình
Công giáo giáo dục về mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ trong gia đình Đạo Công giáo quy định: “ Con cái phải thảo kính với cha mẹ” Thảo kính cha
mẹ từ trong ý nghĩ tới việc làm cụ thể Đối với cha me, con cái phải nhân đức yêu thương, nhân đức thảo kính, yêu mến, vâng lời, phụng dưỡng để đền đáp công lao sinh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ Thảo kính cha mẹ trong cả trường hợp đặc biệt khi cha mẹ lâm nạn, ốm đau Khi cha mẹ qua đời, con cái phải chu toàn hai việc phần xác và phần hồn Về phía cha mẹ, phải có nghĩa vụ thương yêu con cái, nuôi nấng con cái, dạy dỗ các con biết các lẽ cần trong đạo, dạy cách làm ăn, lo liệu cho con ở bậc nào cho vừa thánh ý Đức chúa trời
Những quy định nêu trên của đạo Công giáo đối với giáo dân thực sự có ý nghĩa, nhất là trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường như hiện nay Gia đình đạo Công giáo ở Kim Sơn- Ninh Bình hiện nay là một biểu hiện nhỏ cho bộmặt gia đình Công giáo ở Việt Nam nói chung Nhìn chung các gia đình có lối sống đạo đức tốt đẹp, phù hợp với tôn chỉ mà đạo đề ra Song, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế trong các gia đình Chẳng hạn như, cha mẹ mải miết với công việc làm giàu, không quan tâm tới con cái,nhiều gia đình vì thế
mà con cái hư hỏng, và ngược lại con cái khi trưởng thành, mải miết với sự nghiệp mà quên đi nghĩa vụ của mình với cha mẹ Hay có nhiều cặp vợ chồng còn cãi vã nhau, dẫn đến gia đình không hạnh phúc
1.2 Đạo Công giáo với quan niệm về từ thiện xã hội
Trên cơ sở của đức bác ái và là biểu hiện sinh động của đức ái trong thực tiễn đời sống, hoạt động từ thiện nhân đạo của Công giáo không chỉ là tôn chỉ
Trang 18đời sống đạo của nhiều dòng tu, hội đoàn, mà nó còn là một nét đẹp đạo đức, một hạt nhân tích cực trong giáo lý của tôn giáo.
Có thể khẳng định, ngay từ sơ khai, Công giáo đã đề cao hoạt động từ thiện
xã hội Hoạt động từ thiện xã hội của Công giáo dựa trên cơ sở Thánh Kinh và Thần học Công giáo về lòng bác ái
Kinh thánh đặc biệt nhấn mạnh và khuyến khích tín đồ làm việc thiện, cứu giúp người nghèo khổ bệnh tật trên cơ sở đề cao tình yêu thương, bác ái Đức áiKitô giáo có nội hàm rất rộng, không chỉ là tình yêu thương giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau, mà nó còn bao gồm cả tình yêu bản thân và tình yêu thiên nhiên Nhưng trên tất cả là tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân “ mến Chúa yêu người” 10 điều răn của Chúa nhằm quy định và điều chỉnh hành vi của tín đồ cũng chỉ quy về mục đích đòi hỏi tín đồ phải coi
sự kính yêu Đức Chúa trời là tình cảm thiêng liêng nhất và tiếp theo phải yêu quý người khác như chính bản thân mình Đức Chúa Giêsu không chỉ yêu
thương con người, mà còn khuyên con người phải noi gương Người, yêu thươngngười khác “ Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” và “ An em hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em” Không chỉ có vậy, Kitô giáocòn đòi hỏi con người yêu thương cả kẻ thù của mình “ Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ thù ngược đãi anh em”
Tình yêu và lòng bác ái trong quan niệm của Kitô giáo là tình yêu vô tư, chân thành, hoàn toàn mang tính chất phục vụ nhân loại “Mến Chúa, yêu
người” đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo lý Kitô giáo, nhưng cao hơn nữa Kitô giáo đòi hỏi tình yêu mến ấy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể: “ Hỡi các con nhỏ, ta đừng yêu nhau bằng đầu môi chót lưỡi mà hãy yêu nhau bằng việc làm và bằng sự thật” Kinh thánh cho rằng, trong mọi hành động của con người thì hành động từ thiện, bác ái xã hội được coi trọng hơn cả lễ tế Nếu chỉ quan tâm đến các nghi lễ tôn giáo mà quên chia sẻ tình yêu bác ái một
Trang 19cách cụ thể với người xung quanh mình, thì những tế lễ ấy không có giá trị gì Làm điều thiện, giúp đỡ mọi người là một cách sống động thể hiện Đức Tin Công giáo, biến đức tin đó trở thành hiện thực Tín đồ Công giáo không chỉ thuộc lòng những điều Thiên Chúa răn dạy về đức ái như: yêu thương Thiên Chúa, yêu thương bản thân, yêu thương thiên nhiên và yêu thương người khác,
mà trước hết họ phải nhiệt tâm thể hiện lòng yêu thương ấy bằng việc “ cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống”, cứu giúp những con người bất hạnh
Những việc làm từ thiện, bố thí của Chúa Giêsu rất đa dạng và phong phú,
từ việc cứu chữa cho người bệnh tật, đến việc thương xót dân chúng lầm than, hay việc cứu vớt linh hồn những kẻ tội lỗi v v
Đức tin ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động bác ái của tín đồ Công giáo Hành động yêu thương, giúp đỡ người khác chỉ có thể đạt hiệu quả cao nếu nó được xây dựng trên nền tảng đức tin sâu sắc Nhờ có đức tin vào Thiên Chúa Ba ngôi, mà tín đồ Công giáo tích cực biến tình yêu của mình thành hành động cứu giúp người nghèo khổ, bất hạnh Các tu sĩ không quản ngại khó khăn, vất vả, sẵnsàng hy sinh cả cuộc đời mình để giúp đỡ các bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS, phong cùi mà đến ngay cả người thân trong gia đình cũng xa lánh, hắt hủi, chỉ vì họ có đức tin sâu sắc rằng họ đang làm những việc thiên đó cho chính Đức Chúa của họ Đức Tin đã thúc đẩy tín đồ Công giáo tích cực dấn thân phục vụ, thần thánh hóa các hoạt động từ thiện, do đó nâng cao hiệu quả và quy mô của hoạt động này hơn rất nhiều
Qua việc thương yêu giúp đỡ người khác, tín đồ Công giáo không chỉ tự củng cố được Đức Tin của mình và tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, mà còn giúp cho những người nghèo khổ tin vào Chúa, đến với Chúa Những người nghèo khổ cảm nhận được tình yêu thương của Chúa qua hành động giúp đỡ củacác tín đồ Đây là một trong những phương cách truyền đạo hữu hiệu của Giáo hội Công giáo, loan báo Tin Mừng đến những người nghèo khổ, qua việc giúp