1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học thuyết tiến hóa và những đóng góp đối với sự phát triển của triết học

20 2,8K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 117,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Trong lịch sử phát triển của mình, triết học luôn được gắn liền với khoa học tự nhiên. Thời kỳ cổ đại, triết học thường được đồng nhất với các khoa học nhà thông thái. Các khoa học tự nhiên, trong quá trình phát triển dần dần tách khỏi và trở nên độc lập với triết học. Tuy nhiên giữa chúng vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thứ nhất, mỗi một thành tựu của khoa học tự nhiên lại là một minh chứng hùng hồn đối với sự đúng đắn của các học thuyết triết học duy vật tiến bộ (như thuyết tương đối, cơ học lượng tử, cấu tạo của vật chất và sự sống, nguồn gốc và triết học của sự sống…đặc biệt là thuyết tiến hóa của Đacuyn). Nhưng bên cạnh đó những thành tựu của khoa học tự nhiên đôi khi cũng dẫn đến một sự khủng hoảng của triết học, khi mà khoa học khám phá ra những kiến thức mới trái ngược với những nhận thức đó, trường phái triết học duy tâm đã lợi dụng điều này để chống lại triết học duy vật và củng cố cho hệ thống lý thuyết sai lầm của mình. Thứ hai, những lý thuyết của các hệ thống triết học lại là những gợi ý cho khoa học trên con đường khám phá thế giới và củng cố cho khoa học phương pháp nghiên cứu để khám phá bản chất của đối tượng. Như vậy sinh vật học mà nổi bật là thuyết tiến hóa với tư cách là một bộ phận của khoa học tự nhiên cũng đã có những đóng góp vào sự phát triển của triết học. Học thuyết tiến hóa của Đacuyn và thuyết tế bào đã được C. Mác đánh giá là hai trong ba phát hiện cơ bản nhất của khoa học tự nhiên ở thế kỷ mười chín, đã có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành triết học duy vật biện chứng . Đó là chưa kể đến sự ra đời của thuyết phân tử AND về cơ chế di truyền. Đây là một cuộc cách mạng lớn trong sinh học nó cho ta hiểu biết sâu sắc về sự sống, nó giải thích được cơ chế biến dị trong thuyết tiến hóa trên đây và từ đó đem lại rất nhiều phỏt hiện, ứng dụng quan trọng trong y học, nông nghiệp ... Và để hiểu hơn về những đóng góp của thuyết tiến hóa của Đacuyn đối với sự phát triển của triết học tôi đã chọn đề tài tiểu luận của mình: Thuyết tiến hóa và những đóng góp đối với sự phát triển của triết học.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trong lịch sử phát triển của mình, triết học luôn được gắn liền với khoa học tự nhiên Thời kỳ cổ đại, triết học thường được đồng nhất với các khoa học nhà thông thái

Các khoa học tự nhiên, trong quá trình phát triển dần dần tách khỏi và trở nên độc lập với triết học Tuy nhiên giữa chúng vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thứ nhất, mỗi một thành tựu của khoa học tự nhiên lại

là một minh chứng hùng hồn đối với sự đúng đắn của các học thuyết triết học duy vật tiến bộ (như thuyết tương đối, cơ học lượng tử, cấu tạo của vật chất và sự sống, nguồn gốc và triết học của sự sống…đặc biệt là thuyết tiến hóa của Đacuyn) Nhưng bên cạnh đó những thành tựu của khoa học tự nhiên đôi khi cũng dẫn đến một sự khủng hoảng của triết học, khi mà khoa học khám phá ra những kiến thức mới trái ngược với những nhận thức đó, trường phái triết học duy tâm đã lợi dụng điều này để chống lại triết học duy vật và củng cố cho hệ thống lý thuyết sai lầm của mình

Thứ hai, những lý thuyết của các hệ thống triết học lại là những gợi ý cho khoa học trên con đường khám phá thế giới và củng cố cho khoa học phương pháp nghiên cứu để khám phá bản chất của đối tượng

Như vậy sinh vật học mà nổi bật là thuyết tiến hóa với tư cách là một

bộ phận của khoa học tự nhiên cũng đã có những đóng góp vào sự phát triển của triết học Học thuyết tiến hóa của Đacuyn và thuyết tế bào đã được C Mác đánh giá là hai trong ba phát hiện cơ bản nhất của khoa học tự nhiên ở thế kỷ mười chín, đã có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành triết học duy vật biện chứng Đó là chưa kể đến sự ra đời của thuyết phân tử AND

về cơ chế di truyền Đây là một cuộc cách mạng lớn trong sinh học nó cho

ta hiểu biết sâu sắc về sự sống, nó giải thích được cơ chế biến dị trong thuyết tiến hóa trên đây và từ đó đem lại rất nhiều phỏt hiện, ứng dụng quan trọng trong y học, nông nghiệp Và để hiểu hơn về những đóng góp của thuyết tiến hóa của Đacuyn đối với sự phát triển của triết học tôi đã

Trang 2

chọn đề tài tiểu luận của mình: "Thuyết tiến hóa và những đóng góp đối với sự phát triển của triết học".

Trang 3

B NỘI DUNG CHƯƠNG I TRIẾT HỌC LÀ GÌ? CÁC VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VỚI

KHOA HỌC.

1 Triết học là gì?

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ chín TCN Với những thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ đại ở Trung Quốc, Ấn

Độ, Hy Lạp… Đối với sự phát triển tư tưởng ở Tây Âu, kể cả đối với triết học

Mac, triết học cổ Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn P.Angghen đã nhận xét "Từ các hình thức muôn hình, muôn vẻ của triết học Hy Lạp, có nghĩa là “yêu thích sự thông thái" Triết học được xem là hình thức cao nhất của tri thức;

nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật Với quan niệm như vậy, triết học thời cổ đại không có đối tượng riêng của mình mà được coi là "khoa học của các khoa học", bao gồm toàn bộ tri thức của nhân loại

Trong suốt "đêm dài trung cổ" của châu Âu, triết học phát triển một cách khó khăn trong môi trường hết sức chật hẹp, nó không còn là một khoa học độc lập mà chỉ là một bộ phận của thần học, nền triết học tự nhiên thời cổ đại đã bị thay thế bởi triết học kinh viện

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV thế kỷ XVI đã tạo một cơ sở tri thức cho sự phục hưng triết học Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời và tính cách là những khoa học độc lập Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng các thành tựu khác của khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm vào tôn giáo đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVI - XVII ở Anh, Pháp, Hy lạp và những đại biểu tiêu biểu như Ph

Trang 4

Becơn, T Hopxơ (Anh) Điđrô, Henvetiuyt (Pháp), Xpinoda (Hy Lạp), ĐacUyn (Anh)…

Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò "khoa học của khoa học" Triết học Heghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó Heghen xem triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học

Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mac Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm "khoa học của khoa học", triết học Macxit xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất

và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy

Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch

sử của bản thân tư tưởng triết học Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn

đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh cãi kéo dài cho đến hiện nay Nhiều học thuyết triết học hiện đại phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản

Mặc dù vậy, cái chung trong học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn

đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh Tóm lại, cho đến trước khi triết học Mác ra đời thì triết học vẫn được coi là "khoa học của khoa học" đủ để cho thấy được mối quan hên giữa khoa học cụ thể với triết học Nói như vậy không có nghĩa sau khi triết học

Trang 5

Mac ra đời, thì khoa học và triết học không còn mối quan hệ, mà giữa chúng lại càng có mối quan hệ gắn bó hơn

2 Triết học Tây Âu Phục hưng và cận đại

Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ

xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV - XVI) Tính chất quá độ

đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này

Về kinh tế: Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thúc đẩy sự phát

triển của khoa học, kĩ thuật Nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn thiện Với việc sáng chế ra máy kéo sợi và máy in đã làm cho công nghiệp dệt, công nghệ ấn loát đặc biệt phát triển, nhất là ở Anh Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp cho con người có thể sản xuất có

kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động

Về xã hội: Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp,

trong xã hội Tây Âu thời kì này, sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt Tầng lớp tư sản xuất hiện gồm các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn Vai trò và vị trí của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Hàng loạt nông dân từ nông thôn di cư ra thành thị, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ Họ tham gia vào lực lượng lao động xã hội mới, làm hình thành giai cấp công nhân Các tầng lớp xã hội trên đại diện cho một nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến đang suy tàn

Về văn hoá, tư tưởng: Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội,

khoa học kĩ thuật và tư tưởng thời kì Phục hưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ Các nhà tư tưởng thời Phục hưng đã phê phán mạnh mẽ các giáo

lý Trung cổ Mở đầu là nhà triết học người phía Nam nước Đức, Nicôlai Kuzan (1401-1464) Tiếp đó là các nhà khoa học - triết học như Nicôlai Côpecnich (1475-1543) người Ba Lan; Lêôna đơ Vanhxi (1452-1519) - nhà danh hoạ, nhà toán học, cơ học, kĩ sư người Italia; Gioocđanô Brunô (1548-1600) người Italia; Galilêô Galilê (1564-1642) người Italia Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức duy

Trang 6

vật về thế giới, nổi trội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich (1475-1543), nhà bác học vĩ đại người Ba Lan Nicôlai Côpecnich đã đứng trên lập trường của triết học duy vật để bác bỏ thuyết địa tâm do Ptôlêmê (người Hy Lạp) đề xuất từ thế kỷ thứ II, một giả thuyết sai lầm coi quả đất

là trung tâm của hệ mặt trời và vũ trụ Thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich đã giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo, thần học Giả thuyết của ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cách mạng trong lĩnh vực các quan hệ xã hội sắp xảy ra

Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện Cuối cùng, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ

đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo

3 Các vấn triết học về khoa học

3.1 Về tiêu chuẩn của chân lý trong khoa học

Chân lý khoa học là phản ứng đúng đắn hiện thực khách quan Đối với các nhà triết học phủ nhận sự tồn tại khách quan của sự vật hoặc cho rằng

dù sự vật tồn tại khách quan đó có đi nữa, người ta cũng không thể biết được, thì đối với họ tất nhiên không có chân lý khoa học Mà đã không có chân lý khoa học thì tất nhiên cũng không có tiêu chuẩn gì có giá trị để xem xét khoa học có tiến bộ hay không, những kiến thức cẩu khoa học chỉ là những huyền thoại, hoặc những chuyện con người tự tạo cho mình, hoặc những điều mà các nhà khoa học quy ước với nhau mà thôi Những ý kiến đại loại như vậy lại được nhiều nhà triết học Âu - Mỹ thế kỷ XX này rất đề cao và coi như những phát hiện mới và sâu sắc về bản chất và giá trị khoa học.Trước sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng duy vật vô thần của thời cận đại, chủ nghĩa duy tâm và thần học buộc phải có những cải cách nhất định

Trang 7

Nhu cầu ấy được phản ánh đặc biệt trong triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học thần học người Anh G.Beccơli của loài người chỉ có thể là chân lý khi con người hành động theo đúng kiến thức đó thì có hiệu quả, nếu hành động trái lại sẽ thất bại Đối với kiến thức khoa học thì thực tiễn bao gồm tất cả các hành động của con người khi ứng dụng kiến thức đó, ứng dụng để cải thiện đời sống, để sản xuất, kể cả việc ứng dụng để nghiên cứu sâu hơn thực tế khách quan lịch sử của khoa học, nhất là từ thế kỷ XIX và đặc biệt là các thế kỷ sau này về các ứng dụng nói trên chứng tỏ rõ ràng có chân lý khoa học Những kiểu hiểu biết theo kiểu tùy ý, tưởng tượng ra hay quy ước với nhau làm sao có thể ứng dụng được như vậy? Cần nói thêm rằng, tiêu chuẩn thực tiễn của chân lý khoa học khác với tiêu chuẩn lợi ích mà chủ nghĩa thực dụng gán cho chân lý Theo chủ nghĩa thực dụng cái gì có lợi là chân lý, tức là anh có chân lý của anh, tôi có chân

lý của tôi, nếu tôi và anh có lợi ích khác nhau Theo tiêu chuẩn thực tiễn, chân lý là một, là giống nhau cho cả anh và tôi, dù chúng ta có lợi ích khác nhau: ai ứng dụng đúng chân lý đó thì đạt kết quả trong hành động, ai ứng dụng sai, làm trái lại thì thất bại Như thế, muốn thành công phải xác định lại lợi ích của mình cho đúng, cho phù hợp quy luật, với chân lý, chứ không phải lấy lợi ích của mình để xác định thế nào là chân lý

Cho tới nay, nhân loại đã biết được và công nhận với nhau khá nhiều chân lý trong khoa học tự nhiên, còn khoa học xã hội còn rất ít, nhưng tình hình này có thể khắc phục trong tương lai

3.2 Về tính gần đúng của chân lý trong khoa học và sự tiến bộ của khoa học.

Theo Kuhn, trong khoa học không có tiến bộ, vì lịch sử khoa học được chia ra thành các thời kỳ có những kiểu suy nghĩ, cách nghiên cứu khác nhau được Kuhn gọi bằng thuật ngữ không thật rõ ràng rằng Paradigme (tạm dịch là kiểu mẫu tư duy và hoạt động) và rất được giới triết học về khoa học Âu - Mỹ ưa chuộng Từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, Paradigme thay đổi, không có mẫu số chung mẫu số chung để so sánh được, Kuhn gọi

là vô ước Mỗi lần thay đổi như vậy, Kuhn gọi là một cuộc cách mạng

Trang 8

trong khoa học Vì không thể so sánh được với nhau nên tất nhiên không thể nói từ thời kỳ này sang thời kỳ khác có một sự tiến bộ

Sự phân tích kỳ quặc đó được đề cao một cách khá ồn ào là hoàn toàn trái với thực tế lịch sử khoa học hãy xem xét một số ví dụ: từ hình học Euclide sang hình học phi Euclide từ vật lý cổ điển sang vật lý tương đối và cả sang cơ học lượng tử, tứ sinh học thời kỳ Linné, Cuvier, Lâmc sang sinh học rất lớn, mở rộng và biến đổi nhãn quang khoa học Nhưng làm sao có thể nói

đó là những thay đổi cách đứt hẳn cái mới với cái cũ, làm cho cái mới khác hẳn cái cũ, làm cho cái mới khác hẳn cái cũ đến mức chẳng còn cái gì chung giữa cái mới và cái cũ để có thể nói cái mới tiến bộ hơn cái cũ?

Thật ra tất cả cái gì đúng trong cái cũ vẫn được giữ lại trong cái mới được coi như một trường hợp riêng của cái mới (ví dụ như vật lý của Niutơn so với vật lý của Anhxtanh hoặc tạm thời tồn tại song song bên cạnh cái mới khi chờ đợi một tiến bộ nữa sẽ thống nhất chúng

Xem xét lịch sử khoa học theo cái nhìn đó thì thấy rằng các cuộc cách mạng khoa học đều được đánh dấu bằng những tiến bộ lớn, những hiểu biết mới bao giờ cũng rộng hơn, sâu hơn, bao quát hơn cái cũ tức là giữ lại cái đúng trong cái cũ và loại bỏ cái bất cập trong cái cũ Qua đó thấy rõ thêm một đặc điểm rất quan trọng của các chân lý khoa học là ở mỗi thời điểm,

nó chỉ phản ánh gần đúng sự vật quá trình khách quan, nhưng với sự phát triển của khoa học, nó ngày càng đúng hơn Đó là sự tiến bộ khoa học Và

để có những tiến bộ này, chúng ta phải dựa trên nền tảng cái cũ và đi tìm phương hướng mới Nhiều khi triết học là những gợi ý giúp ta tìm ra phương hướng nghiên cứu trong tương lai

Như vậy qua xem xét các vấn đề trên đã giúp ta hiểu được một mặt trong mối quan hệ giữa triết học và khoa học Triết học đã giúp khoa học xác định phương hướng trong nghiên cứu, và đặc biệt là phương pháp luận khi nghiên cứu Còn mặt kia ta thấy khoa học cũng đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của triết học thông qua những thành tựu khoa học như thuyết tiến hóa của Đacuyn, thuyết tương đối, cơ học lượng tử Sau đây ta

sẽ xem xét một trong những đóng góp đó

Trang 9

CHƯƠNG II THUYẾT TIẾN HÓA VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI

VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC.

Được đánh giá là một trong ba đóng góp vĩ đại của sinh vật học đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng

1 Lí luận về thuyết tiến hóa

* Các quan điểm tiến hóa trước ĐacUyn

Các nhà triết học cổ Hy lạp đã cố gắng giải thích tính đa dạng của sinh vật trên trái đất

Ðáng lưu ý nhất là Aristote (384-322 trước công nguyên) Ông cho rằng tất cả các sinh vật giống như một chuỗi hình dạng, mỗi hình dạng tượng trưng cho một mắt xích đi từ ít hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh nhất Ông gọi chuỗi đó là nấc thang của tạo hóa Theo quan điểm này, các loài là cố định và không có sự tiến hóa

Ðến thế kỷ XVIII, Carolus Linnaeus (1707-1778) là người đã sáng lập

ra cách phân loại hiện đại cùng cách mô tả mỗi loài và là người đề xuất ra cách đặt tên đôi cho mỗi sinh vật Dùng tên loài là đơn vị phân loại Linnaeus đã tìm kiếm mối quan hệ tự nhiên và sắp xếp các dạng sinh vật theo các mức phân loại khác nhau: loài, giống, họ, bô, lớp Sự đóng góp của ông về phân loại cho thấy các loài có quan hệ với nhau nhưng ông vẫn giữ quan niệm như một nhà tự nhiên thần luận cho rằng chúa đã sáng tạo ra tất cả các dạng sinh vật và chúng không thay đổi

Buffon (1707-1788) một nhà Tự nhiên học người Pháp đã lưu ý rằng

các hóa thạch cổ ít giống với các dạng hiện nay hơn các hóa thạch mới Ông đề xuất hai nguyên lý Một là những thay đổi của môi trường đã tạo ra những thay đổi của sinh vật Hai là những nhóm loài giống nhau phải có cùng một tổ tiên Buffon cũng cho rằng mỗi loài không bất biến

mà có thể thay đổi

Vào cuối thế kỷ XVIII, nhiều nhà tự nhiên học cho rằng lịch sử tiến hóa của sinh vật gắn liền với lịch sử tiến hóa của trái đất Tuy nhiên chỉ có

Jean Baptiste Lamarck (1744-1829) là người đã phát triển một học thuyết

tương đối hoàn chỉnh về sự tiến hóa của sinh vật Ông thu thập và phân

Trang 10

loại các động vật không xương sống tại Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên ở Paris Bằng cách so sánh những loài còn sống với các dạng hóa thạch, Lamarck thấy rằng có sự biến đổi theo trình tự thời gian từ các hóa thạch

cổ đến các hóa thạch trẻ hơn dẫn đến các loài hiện tại (các dạng phức tạp hơn xuất phát từ các dạng đơn giản) Lamarck công bố học thuyết tiến hóa của ông vào năm 1809: không còn nghi ngờ gì nữa, tạo hóa tạo ra mọi vật từng tí một và nối tiếp nhau trong thời gian vô hạn định

Giống như Aristote, Lamarck cũng sắp xếp các sinh vật thành các bậc thang, mỗi bậc gồm các dạng giống nhau Ở dưới cùng là những sinh vật hiển vi mà ông tin rằng chúng được tạo ra liên tục bằng cách tự sinh từ các vật liệu vô cơ Ở trên cùng của bậc thang tiến hóa là các động vật và thực vật phức tạp nhất Sự tiến hóa phát sinh do xu hướng nội tại vươn tới sự hoàn thiện Khi một sinh vật hoàn thiện, chúng thích nghi ngày càng tốt hơn với môi trường sống

Những quan niệm của Lamarck về nguyên nhân tiến hóa có thể tóm tắt như sau:

+ Một tính trạng có thể thu nhận được thông qua việc sử dụng thường xuyên, và có thể mất đi khi không được sử dụng

+Một tính trạng tập nhiễm (tính trạng thu được do thường xuyên sử dụng) có thể di truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác Sự mất đi một tính trạng cũng vậy

+Trong quá trình tiến hóa, các dạng sinh vật phát triển theo hướng ngày càng phức tạp

+Một lực siêu hình trong tự nhiên luôn luôn thúc đẩy quá trình tiến hóa hướng tới sự hoàn thiện

* Thuyết tiến hóa của Đác-uyn

Năm 1859, Charles Darwin (1809-1882) một nhà tự nhiên học người

Anh đã đưa ra một học thuyết toàn diện về nguồn gốc của loài do chọn lọc

tự nhiên Theo học thuyết nầy tất cả các sinh vật đa dạng ngày nay là kết quả của một lịch sử tiến hóa lâu dài Tất cả các sinh vật thường xuyên thay đổi và những thay đổi nầy của mỗi loài giúp cho chúng thích nghi với môi

Ngày đăng: 26/08/2016, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w