1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài tiểu luận Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu hoàn thành, mục tiêu là xây dựng một xã hội phồn vinh và hạnh phúc “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện mục tiêu đó, nhân tố đầu tiên phải có là con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước tiên phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Người đặc biệt coi trọng vấn đề nhân cách của con người, chúng ta thường thấy Người nhắc đến các cụm từ: tư cách người cách mệnh, tư cách của Đảng chân chính cách mạng, tư cách người cán bộ cách mạng, tư cách người công an cách mạng và Người định nghĩa “nhân cách là tư cách làm người”. Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” 108 109. Ở đây, những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trình giáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có nhân cách đạo đức trong sáng, làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh về thể chất đáp ứng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là việc giáo dục – đào tạo học sinh, sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp nơi hội tụ những nhân tài tương lai của đất nước. Chính vì vậy, mà hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp không ngừng được cải tiến, hoàn thiện cả về nội dung và phương pháp giáo dục. Hàng năm có hàng nghìn sinh viên ra trường và đóng góp sức lực, trí lực của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Trong cuộc sống hiện đại, kéo theo một loạt những thay đổi về kinh tế xã hội và cùng với đó là vấn đề xung quanh về sinh viên như suy nghĩ, lối sống, hành động có nhiều thay đổi ở mỗi thời kỳ khác nhau. Bên cạnh những mặt tích cực đó, sinh viên còn tồn tại nhiều mặt trái, những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn như: chất lượng học tập của một bộ phận sinh viên đang xuống cấp, có lối sống không lành mạnh, sống thiếu niềm tin vào tương lai, vào lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Một trong những đối tượng theo tác giả nhận thấy dễ bị tác động bởi lối sống tiêu cực và cần phải có những giải pháp giúp hoàn thiện nhân cách chính là tầng lớp sinh viên những chủ nhân tương lai của đất nước. Do vậy, công tác giáo dục nhân cách đặc biệt là đối với sinh viên, vấn đề làm lành mạnh đời sống tinh thần xã hội là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc đổi mới của nước ta. Và để góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ này, tác giả đã chọn đề tài: “Một số giải pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền” làm đề tài tiểu luận học phần Một số chuyên đề về Tâm lý học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài tiểu luận
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một trong những nhiệm vụ hàngđầu, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu hoàn thành, mục
tiêu là xây dựng một xã hội phồn vinh và hạnh phúc “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để thực hiện mục tiêu đó, nhân tố đầu tiên phải có là con người Chủ tịch Hồ Chí Minh nói muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước tiên phải có những con người xã hội chủ nghĩa Người đặc biệt coi trọng vấn đề nhân cách của con người, chúng ta thường thấy Người nhắc đến các cụm từ: tư cách người cách mệnh, tư cách của Đảng chân chính cách mạng, tư cách người cán bộ cách mạng, tư cách người công an cách mạng và Người định nghĩa “nhân cách là tư cách làm người”.
Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳngđịnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lựccon người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững” [108 - 109] Ở đây, những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trìnhgiáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có nhân cách đạo đức trong sáng,làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh về thể chất đáp ứng cho công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là việc giáo dục – đàotạo học sinh, sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệpnơi hội tụ những nhân tài tương lai của đất nước Chính vì vậy, mà hệ thống các trườngĐại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp không ngừng được cải tiến, hoàn thiện
cả về nội dung và phương pháp giáo dục Hàng năm có hàng nghìn sinh viên ra trường
và đóng góp sức lực, trí lực của mình vào công cuộc xây dựng đất nước
Trang 2Trong cuộc sống hiện đại, kéo theo một loạt những thay đổi về kinh tế - xãhội và cùng với đó là vấn đề xung quanh về sinh viên như suy nghĩ, lối sống, hànhđộng có nhiều thay đổi ở mỗi thời kỳ khác nhau Bên cạnh những mặt tích cực đó,sinh viên còn tồn tại nhiều mặt trái, những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn như: chấtlượng học tập của một bộ phận sinh viên đang xuống cấp, có lối sống không lànhmạnh, sống thiếu niềm tin vào tương lai, vào lý tưởng của Đảng Cộng sản ViệtNam và chế độ xã hội chủ nghĩa Một trong những đối tượng theo tác giả nhận thấy
dễ bị tác động bởi lối sống tiêu cực và cần phải có những giải pháp giúp hoàn thiệnnhân cách chính là tầng lớp sinh viên - những chủ nhân tương lai của đất nước Dovậy, công tác giáo dục nhân cách đặc biệt là đối với sinh viên, vấn đề làm lànhmạnh đời sống tinh thần xã hội là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc đổimới của nước ta Và để góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ này, tác giả đã
chọn đề tài: “Một số giải pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền” làm đề tài tiểu luận học phần Một số chuyên đề về Tâm lý học.
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài tiểu luận
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân
nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, bản sắc cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi
xã hội của họ Hay nói cách khác, nhân cách là tư cách làm người
Giáo dục nhân cách cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ hết sức quantrọng không chỉ đối với gia đình, nhà trường mà còn với toàn thể xã hội, vì sinhviên là người chủ tương lai của đất nước Giáo dục nhân cách cho sinh viên là giáodục lối sống, đạo đức, lập trường chính trị cho sinh viên
Nhân cách là vấn đề rộng cho nên tác giả chỉ dùng lại nghiên cứu một số giải
pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị trường
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 3Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu dựa trên thực tế của Khoa Tâm lý Giáo dục trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền và sự giảng dạy, truyền đạt kiến
thức của quý thầy, quý cô và dựa vào những hiểu biết, những kiến thức thu nhậnđược từ một số loại tài liệu:
- Đề cương bài giảng Tâm lý học đại cương
3 Tình hình nghiên cứu
Giáo dục nhân cách là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà xã hội nàocũng quan tâm Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loàingười mà nhiệm vụ giáo dục nhân cách được đặt ở những vị trí khác nhau Chính
vì vậy, giáo dục nhân cách đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Có nhiều ấn phẩm nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về nhân cách như:
- Lê Diệp Đĩnh: “Thực trạng tâm lý xã hội của sinh viên và vấn đề giáo dụcnhân cách cho sinh viên ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, năm 1995
- PGS TS Nguyễn Thạc (chủ biên): “Tâm lý học sư phạm”, Nhà xuất bảnĐại học Sư phạm, Hà Nội – 2009
Trang 4- Nguyễn Ngọc Bích: “Tâm lý học nhân cách”, Nhà xuất bản Chính TrịQuốc Gia, HN, 1998.
- Trần Sỹ Phán: “Giáo dục đạo đức với việc hình thành và phát triển nhâncách sinh viên trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chínhtrị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1999
- Trần Thị Tuyết Sương: “Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức con ngườiViệt Nam trong điều kiện hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Viện Triết học,năm 1998
Nói chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các khía cạnh khácnhau về nhân cách, nhưng các công trình này chưa đề cập đến giải pháp giáo dụcnhân cách cho sinh viên, đặc biệt là đối với sinh viên chuyên ngành Giáo DụcChính Trị Do đó, tác giả sẽ cố gắng tìm hiểu nghiên cứu vấn đề trên
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tiểu luận
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận nhằm làm rõ khái niệm về nhân cách, sinhviên, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách bên cạnh đó đềxuất một số giải pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên chuyên nghành Giáo dụcchính trị trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền Để thực hiện được những mụctiêu nói trên, tác giả xác định cần phải thực hiện những mục tiêu sau:
Một là, tìm hiểu một số khái niệm như: nhân cách, sinh viên.
Hai là, xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân
cách của sinh viên
Ba là, từ đó đưa ra một số giải pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên
chuyên ngành Giáo dục chính trị trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài tiểu luận
Để làm sáng tỏ những quan điểm đó, tác giả cố gắng bám sát nội dung về
nhân cách và chuyên đề nhân cách trong học phần Một số chuyên đề về tâm lý học Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng nhiều phương
Trang 5pháp nghiên cứu như: diễn dịch - quy nạp, lôgích - lịch sử, phân tích - tổng hợp,thu thập, phân loại tài liệu,…
6 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo đề tài gồm có 2chương 6 tiết
Chương 1 Cơ sở lý luận của giáo dục nhân cách cho sinh viên
1.1 Khái quát chung về nhân cách
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách cho sinh viên
Chương 2 Những giải pháp cơ bản nhằm giáo dục nhân cách cho sinh viên chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền
2.1 Hình thành môi trường xã hội tích cực trong việc giáo dục nhân cáchcho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
2.2 Môi trường gia đình
2.3 Môi trường nhà trường
2.4 Hoạt động của cá nhân – yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thànhnhân cách cho sinh viên
NỘI DUNGChương 1 Cơ sở lý luận của giáo dục nhân cách cho sinh viên
Trang 61.1 Khái quát chung về nhân cách
1.1.1 Một số quan điểm về nhân cách
Cho đến nay, có gần 200 định nghĩa khác nhau về nhân cách Ở mỗi ngànhkhoa học xã hội có quan điểm nhân cách riêng của mình như: Nhân cách dưới góc
độ kinh tế học, xã hội học, nhân chủng học, sử học, triết học, Dân tộc học, Vănhọc, Tâm lý học, Giáo dục học, Sau đây là một số quan điểm khác nhau củanhững trường phái về nhân cách như:
Thứ nhất, tư tưởng phương Đông cổ đại về nhân cách: Các nhà tư tưởng triết học
phương Đông cổ đại cho rằng con người là tiểu vũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ.Những đặc tính này chi phối sự phát triển con người Mạnh Tử nhận xét: Khi phát triểnhết mình, con người có thể biết trời mà còn hợp nhất với trời làm một
Tính cách của con người chịu ảnh hưởng của ngũ hành và chia ra làm 5loại người: Kim, Hoả, Thổ, Mộc, Thuỷ Người mệnh Kim ăn ở có nghĩa khí,nếu Kim vượng thì tính cách cương trực Người mệnh Hoả thì lễ nghĩa, đối vớimọi người nhã nhặn, lễ độ, thích nói lý luận; nhưng nếu Hoả vượng thì nóngnảy, vội vã, dễ hỏng việc Người mệnh Thổ trọng chữ tín, nói là làm; nếu Thổvượng thì hay trầm tĩnh, không năng động, dễ bỏ thời cơ Người mệnh Mộchiền từ, lương thiện, độ lượng; Mộc vượng thì tính cách bất khuất Ngườimệnh Thuỷ thì khúc khuỷu, quanh co, nhưng thông suốt; nếu Thuỷ vượng thìtính tình hung bạo, dễ gây tai hoạ
Người phương Đông lấy “tâm thiện” là lý tưởng Phương Tây tôn sùng tiến
bộ, tôn sùng văn minh vật chất, không quan tâm nhiều đến phẩm chất Do đó,nhiều người đã than phiền rằng đạo lý ngày nay suy đồi, nhân cách con người thoáihoá không bằng ngày xưa
Người phương Đông đề cao tính thiện, tính nhân, thích sự im lặng, nhẹnhàng, đề cao sự cân bằng không thái quá Mọi tu nhân, xử thế, chính trị đềuhướng tới Thiện Biết đủ là giàu, giản dị ở vật chất, giản dị trong nội tâm,
Trang 7trong ngôn từ, trong quan hệ với mọi người Khổng Tử quan niệm về nhâncách con người thể hiện ở Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và chỉ có người “đạinhân” mới có nhân.
Trên đây là những nét sơ lược về tư tưởng phương Đông cổ đại có liênquan đến nhân cách con người Nó nói lên hoàn cảnh và phương thức sống củacon người phương Đông Tuy vậy, đây chưa phải là những quan điểm, họcthuyết về nhân cách
Thứ hai, quan niệm về nhân cách trong tâm lý học phương Tây: Như ở
trên có nói, ở phương Tây có nhiều học thuyết khác nhau về nhân cách Tácgiả xin trình bày một số quan niệm nhân cách tiêu biểu trong tâm lý họcphương Tây hiện đại như:
Quan niệm nhân cách của Herrmanm (nhà tâm lý học Đức ) coi nhân cách làmột cấu trúc rất chung mà việc xác định khái niệm về nó phải đến khi kết thúc việcnghiên cứu, mới có thể đưa ra được Người ta không thể xác định được khái niệmnhân cách khi bắt đầu việc nghiên cứu về nó
Herrmanm (1972 – 1973) cho rằng, nhân cách cũng như cấu trúc của nókhông phải là cái tồn tại hiện thực khách quan, mà là sản phẩm trừu tượng của tâm
lý học, là khía niệm giải thích lý thuyết, một cấu trúc lý thuyết chung mà tâm lýhọc tạo ra nhằm giải thích tính khác biệt của những biểu hiện của các hiện tượng ởnhững người khác nhau [7, 7 - 8]
Quan niệm nhân cách của Guilford (1964): Guilford (nhà tâm lý học Mỹ) cốgắng đưa ra một khái niệm nhân cách trìu tượng, khái quát, coi nhân cách của một
cá nhân như là cấu trúc có một không hai của nét bản chất Theo Guilford mỗinhân cách riêng lẻ là duy nhất và không lặp lại Đó là một tổng thể toàn vẹn có tínhtích hợp của những thuộc tính biểu hiện như là những khía cạnh (hay những mặt)của nhân cách có thể được nhận thức trong sự tồn tại chung và thường xuyên củacác nét nhân cách Nét nhân cách theo quan niệm Guilford là nét bản chất tương
Trang 8đối không đổi và có tính trìu tượng, là cái phân biệt người này với người khác.Nhân cách theo quan niệm của Giulford được cấu tạo bởi bảy mặt: thái độ, khíchất, năng lực, hình thái, giải phẫu, nhu cầu, hứng thú [7, 8 - 9].
Quan niệm nhân cách của Cattell (1793): Ông là nhà tâm lý học người Mỹ,một đại diện có hạng của thuyết hành vi mới Ông cho rằng, nhân cách chính làhành vi của một người trong một tình huống nhất định và nó được biểu diễn trongcông thức: R = ( S, P), trong đó, R là hành vi, S là kích thích, P là nhân cách Theoquan niệm của ông thì nhân cách được hình thành từ lúc 6,7 tuổi [7, 10 - 11]
Quan niệm nhân cách của Eycenek (1970): Ông là nhà tâm lý học người Mỹ,ông coi nhân cách là một cấu trúc tương đối bền vững của các thuộc tính như tínhcách, khí chất, trí tuệ và giải phẫu của con người Nó xác định kiểu riêng của sựthích ứng của con người với môi trường [7, 12]
Thứ ba, quan niệm về nhân cách của tâm lý học Macxit Đứng trên lập
trường, quan điểm của triết học duy vật biện chứng, nền tâm lý học Xôviết đã cốnghiến cho nhân loại những thành tựu to lớn, phong phú, đa dạng không ai có thể phủnhận được Xuất phát điểm cơ bản của lý luận nhân cách Mác – xít (Rubinstein,Schorochowa, Kossakowski) là nhân cách được hiểu khái quát như toàn bộ nhữngđiều kiện bên trong mà nhờ nó các tác động bên ngoài được khúc xạ [7, 34]
C Mác và Ph.Ăngghen đã viết: Con người sống như thế nào thì nó là như thế Con người là gì, điều đó phụ thuộc vào sự sản xuất của anh ta, cả việc anh ta sản xuất ra cái gì, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của anh ta
Từ đó, một định nghĩa tâm lý học Mác – xít về khái niệm nhân cách có thểnêu như sau: Nhân cách được hiểu là con người cụ thể, hoạt động xã hội và đượcphát triển mang tính lịch sử, mà về mặt tâm lý có thể xác định như một hệ thốngđộng của những tiền đề chung, chuyên biệt và cá thể của hành vi xã hội và hành vicông việc trong cấu trúc độc nhất vô nhị không thể lặp lại, hệ thống này được hình
Trang 9thành trên những cơ sở sinh học được hình thành trong quá trình phát sinh loài nhờnhững tương tác tích cực, được điều khiển xã hội với các điều kiện tự nhiên, đặcbiệt là với những điều kiện sống xã hội và luôn phụ thuộc vào tình trạng sống cáthể và được bộc lộ rõ trong: phương thức sống tập thể, tính xã hội tối đa (tínhĐảng), tương tác biến cải môi trường một cách tích cực, sáng tạo và điều kiện sống[7, 36].
Thứ tư, quan niệm về nhân cách ở Việt Nam Theo Từ điển Bách khoa
Việt Nam: “nhân cách là bộ mặt tâm lý, tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêngbiểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạtđộng, giao tiếp về thực chất, đó là quá trình xã hội hóa cá nhân, tiếp thu cácgiá trị văn hóa của gia đình cộng đồng và xã hội Nhân cách có tính chất xãhội, đồng thời cũng mang tính cá biệt, với những kinh nghiệm, nếp suy nghĩ,tình cảm, hoài bão, niềm tin, định hướng giá trị, tính cách riêng, tạo ra tính đadạng của các cá nhân Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và hoạt động giao tiếp giữvai trò quyết định đối với diện mạo của nhân cách
1.2.1 Khái niệm nhân cách và vai trò của nhân cách
1.2.1.1 Khái niệm nhân cách
Để nắm được khái niệm nhân cách chúng ta cần phải tìm hiểu một số kháiniệm mà trong quá trình nghiên cứu con người, tâm lý học thường dùng để chỉ con
người Trước tiên, tác giả trình bày về khái niệm con người: Từ xa xưa đến nay có
rất nhiều quan điểm về bản chất con người, khái niệm con người được xuất phát từ
những mục đích, những bình diện nghiên cứu khác nhau Con người là một tồn tại
sinh vật ở bậc thang cao nhất của sự tiến hóa vật chất Tất cả những đặc điểm cơthể của nó là tiền đề vật chất quan trọng của các chức năng tâm lý Đồng thời, conngười là một tồn tại xã hội Tất cả những thuộc tính tự nhiên với những chức năngcủa nó, chỉ được phát triển và hoàn thiện trong quá trình con người sống Khái
Trang 10niệm con người là một khái niệm rất rộng để chỉ mọi cá thể, từ người lớn đến trẻ sơsinh, từ người có trí tuệ bình thường đến người không bình thường
Khái niệm cá thể: Cá thể là một đơn vị hoàn chỉnh đại diện cho giống loài
nhưng mang những nét đặc thù riêng Khái niệm cá thể không dùng riêng cho mộtgiống loài nào, nó có ý nghĩa phân biệt một cái riêng có tính độc lập trong một tậphợp chung
Khái niệm cá nhân: là một con người cụ thể, một thành viên của một cộng
đồng xã hội nhất định Cá nhân cũng là một thực thể sinh vật – xã hội và văn hóa,nhưng được xem xét một cách cụ thể riêng từng người với những đặc điểm về sinh
lý, tâm lý và xã hội, để phân biệt nó với các cá nhân khác, với cộng đồng
Khái niệm cá tính: là tính đơn nhất, độc đáo, có một không hai về đặc điểm
tâm lý hoặc sinh lý của cá thể động vật hoặc cá thể người (cá nhân)
Nhân cách: là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân
nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, bản sắc cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi
xã hội của họ
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách, song trong cácđịnh nghĩa, nhân cách thường được xác định như là một hệ thống các quan hệ củacon người đối với thế giới xung quanh và bản thân mình Chúng ta nói đến nhâncách của con người khi chúng ta xem xét con người với tư cách là một thành viên
xã hội nhất định, là chủ thể của các hoạt động có ý thức và các mối quan hệ giaotiếp của họ Nhân cách là tổng hòa không phải mọi đặc điểm cá thể của con người
mà chỉ những đặc điểm quy định con người như một thành viên của xã hội Khôngphải mọi cá nhân với cá tính của mình đều là nhân cách mà nhân cách được tạo nênbởi những đặc điểm mang tính người đích thực, tính xã hội – đạo đức
Theo Bách khoa Toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ
nhất, con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động ý thức,thứ hai, là một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành một
Trang 11nhân cách Nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thểcủa xã hội cụ thể chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từng người, thông quahoạt động và giao tiếp của họ Nhân cách không được sinh ra mà được hình thành,nhà Tâm lý học X.L Rubinstein đã viết “Con người là cá tính do nó có nhữngthuộc tính đặc biệt, không lặp lại; con người là nhân cách do nó xác định được cácquan hệ của mình với những người xung quanh một cách có ý thức” [2, 66 - 67].
Mặc dù có những quan điểm khác nhau về nhân cách nhưng nhìn chung có
sự thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:
Những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với cá nhân và xã hội được hình thành và phát triển bằng hai con đường chủ yếu là hoạt động và giao lưu.
Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng bao gồm hai mặt: Mặt tự nhiên và mặt
xã hội, trong đó mặt xã hội có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, thể hiện đặc thù về nhân cách của mỗi con người.
Nhân cách là tổng hợp những phẩm chất, năng lực không thành bất biến của cá nhân mà nó thường xuyên vận động, biến đổi theo chuẩn mực, giá trị xã hội Vì vậy, mọi cá nhân không chỉ phải thường xuyên giữ gìn, bảo vệ mà còn phải rèn luyện, bồi dưỡng để nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn.
1.1.2.2 Vai trò của nhân cách
Trong xã hội, con người là một trong những yếu tố quan trọng, là chủ thểcủa xã hội Để xã hội tiến bộ và phát triển thì cần phải có một cộng đồng ngườihoàn thiện cả về tài và đức Một yêu cầu đặt ra là phải giáo dục hoàn thiện nhâncách cho các cá nhân sao cho phù hợp với chuẩn mực xã hội của từng thời kỳ.Ngày nay, bên cạnh sự thay đổi như vũ bão của xã hội loài người thì một số chuẩnmực xã hội cũng đang dần dần thay đổi Hoàn thiện nhân cách cho các cá nhân ởmọi lứa tuổi là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội Trong đó, một bộ phận khôngnhỏ của xã hội là sinh viên cần phải đặc biệt chú trọng công tác giáo dục nhâncách Nhân cách là một trong những phẩm chất đạo đức của con người không phải
Trang 12tự nhiên mà có, để hoàn thiện nhân cách đòi hỏi quá trình hoạt động tích lũy kinhnghiệm là rất quan trọng của từng cá nhân.
Nhân cách tốt và hoàn thiện sẽ giúp cho sinh viên nhận thức đúng và hànhđộng đúng theo những chuẩn mực của xã hội Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một
tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị, là những người chủ tươnglai của đất nước sau này vì vậy cần rèn luyện cả đức và tài cho sinh viên
1.1.3 Các kiểu nhân cách của sinh viên
Dựa trên cơ sở đo các định hướng giá trị, hứng thú, mục đích học tập của
sinh viên, các nhà nghiên cứu đưa ra cách phân kiểu khác nhau Đáng chú ý là cáchphân loại của các nhà xã hội học Mĩ (G Đavít Gottolit và B Khotkinxto) Các tácgiả đã nghiên cứu thái độ của nam, nữ sinh viên đối với học tập và chia thành bốnkiểu nhân cách (W,X,Y,Z)
- Kiểu “W”: Họ học tập để chuẩn bị nghề tương lai, không quan tâm đếnlĩnh vực tri thức xã hội của trường đại học, mặc dù có đôi khi tham gia vào đờisống xã hội trường Họ chỉ thực hiện các bài tập theo yêu cầu, chỉ cần đạt điểmtrung bình sao cho khỏi bị đúp Ngoài sách bắt buộc, họ chỉ đọc những tài liệu theo
ý thích mà không có liên quan đến việc học Họ học vì nghề nghiệp
- Kiểu “X”: Những sinh viên này tìm tòi những môn học mà họ coi là nhữngtri thức về cuộc sống nói chung trên cơ sở lựa chọn riêng của cá nhân Họ rất quantâm đến thế giới tư tưởng và sách, Họ đã nêu ra: việc học đại học để thỏa mãnlòng khát khao tri thức và kinh nghiệm sống
- Kiểu “Y”: Họ gần với loại X, họ cố gắng đạt điểm cao nhất trong các kỳthi Họ tự nguyện tham gia vào các hội khác và việc tự quản của sinh viên Họ coitập thể dù không phải lĩnh vực cơ bản nhưng cũng ảnh hưởng đến sự phát triểnchung của cá nhân họ
Trang 13- Kiểu “Z”: Họ chú ý đến các hình thức xã hội của trường đại học hơn bảnthân các khoa học Học gắn bó với trường, tham gia và cố gắng trong các hoạtđộng xã hội và thích hội họp, gặp gỡ [9, 89 - 90].
Vậy, việc nghiên cứu phân kiểu nhân cách của sinh viên có ý nghĩa lớn laotrong việc giáo dục sinh viên đại học
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách cho sinh viên
1.2.1 Sinh viên và đặc điểm của sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
1.2.1.1 Sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng Latinh Student có nghĩa là người
làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó dùng nghĩa
tương đương với student trong tiếng Anh, etudiant trong tiếng Pháp.
Thuật ngữ sinh viên đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng chính thức vào thời
kỳ xuất hiện và phát triển các trung tâm giáo dục đại học tổng hợp trên thế giới nhưtrường Đại học Ooxxpho (Anh) năm 1168; Đại học Pari (Pháp) năm 1200, Đại họcPraha (Secxlovakia) năm 1348 [9, 57 - 58]
Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạtđộng sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Nhóm xã hội đặc biệt gồm hàngtriệu sinh viên trên thế giới, nhóm này rất cơ động mà mục đích hoạt động của nóđược tổ chức theo một chương trình nhất định của việc chuẩn bị thực hiện vai trò
xã hội và nghề nghiệp cao trong lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần Nhóm xãhội đặc biệt này có nguồn gốc bổ sung cho đội ngũ trí thức hoạt động học tập đượcđào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động
đa dạng có ích cho xã hội
Sinh viên là con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên
có thể được xác định về ba phương diện sinh lý, tâm lý và xã hội Theo quy địnhcủa trường Đại học thì lứa tuổi sinh viên hiện đại là từ 18 đến 23 tuổi nghĩa là nótrùng hợp với giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (từ 18 đến 25 tuổi) mà giai
Trang 14đoạn thứ nhất của tuổi thanh niên từ 15 đến 17, 18 tuổi còn là học sinh trường phổthông Đa số sinh viên khối một có độ tuổi dưới 20 tuổi Điều này khác với sinhviên nước ta sau năm 1975 có tuổi trung bình cao hơn do nhiều sinh viên từ quanđội trở về học [9, 58].
Khi xem xét sinh viên ở bình diện nhân cách thì đó là giai đoạn quá độ củaviệc hình thành nhân cách mà cận dưới của nó là sự chín muồi về sinh lý và cậntrên của nó là có nghề nghiệp ổn định và bắt đầu bước vào một phạm vi hoạt độnglao động Nghiên cứu sinh viên ở góc độ ý thức thì đó là quá trình hình thành thếgiới quan nắm vững các giá trị và các tiêu chuẩn về ý thức nghề nghiệp
Khi xác định cấu trúc xã hội có giai cấp và các thành phần của nó thì phảixuất phát từ những dấu hiệu cơ bản của giai cấp và nhóm xã hội mà dấu hiệu quantrọng nhất là vị trí trong hệ thống nhất định của nền sản xuất Giới sinh viên không
có vị trí độc lập trong các tổ chức lao động sản xuất của xã hội nên không phải làmột giai cấp Vị trí thực của sinh viên trong xã hội chưa có mà còn phụ thuộc vàonhiều giai cấp, một tầng lớp nào đó, ở thành thị hay nông thôn có sự khác biệt vềđiều kiện sống, về hoàn cảnh xã hội Theo kết quả nghiên cứu của B G Ananhev
thì: lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Đặc biệt là họ có vai trò xã hội của người lớn.
Sinh viên có chức năng chủ yếu là bổ sung cho đội ngũ trí thức - là tầng lớp
có trình độ nghề nghiệp cao trong xã hội Họ thực hiện tích cực vai trò là nguồn dựtrữ để bổ sung cho đội ngũ những chuyên gia theo các nhóm nghề khác nhau trongcấu trúc của tầng lớp trí thức
1.2.1.2 Đặc điểm của sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
Sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị cũng giống với sinh viên các
ngành khác trong các trường đại học khác Họ đều là những học sinh tốtnghiệp trường trung học phổ thông và để được học trong mái trường đại học
Trang 15những học sinh này đều phải trải qua kỳ thi đại học và sau khi đủ tiêu chuẩn họmới được nhập học.
Sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị có một số đặc điểm sau:
Một trong những đặc điểm quan trọng là nhất của sinh viên là sự tự ý thức.
Đó là ý thức và sự tự đánh giá của mỗi sinh viên về hành động, tư tưởng tình cảm,phong cách đạo đức, tư tưởng và động cơ của hành vi, sự đánh giá toàn diện về bảnthân, về vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức là dấu hiệu thiết kế nhân cáchđược hình thức cùng với hình thành sau này Một trong các thành phần có ý nghĩanhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị
là năng lực tự đánh giá Tự đánh giá của nhân cách thể hiện ở thái độ đối với bảnthân và kết quả sự biểu hiện các thuộc tính nhân cách và năng lực trong hoạt động,giao tiếp và tự giáo dục Từ đó hình thành lòng tự tin, tự trọng phản ánh trạng tháitâm lý đạo đức của sinh viên
Đặc điểm thứ hai là định hướng giá trị của sinh viên Đây là một trong
những yếu tố hình thành nên động cơ hoạt động của sinh viên Đó là những giá trịnhân cách, những giá trị nghề nghiệp mà sinh viên hướng tới Mỗi sinh viên hiện
nay có định hướng đến các giá trị phát triển cái tôi, thể hiện nhu cầu tự khẳng định,
thái độ đối với bản thân, khả năng của bản thân phát triển khá cao
Đặc điểm thứ ba là mỗi sinh viên đều có một kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp Kế hoạch đường đời là một hoạt động vì nó được kết nối trước
tiên khi lựa chọn nghề nghiệp Việc lựa chọn nghề nghiệp đối với sinh viên là thểhiện trình độ đạo đức
Đặc điểm thứ tư là sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị đều có chung một nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị Trong quá trình học tập mỗi sinh
viên đều phải cố gắng tích lũy kiến thức những môn chuyên ngành để sau này cònphụ vụ cho nhu cầu làm việc Được học tập trong cùng một môi trường dưới sựhướng dẫn, dạy bảo của các thầy, cô giáo có kinh nghiệm và phẩm chất tốt Cơ hội
Trang 16tích lũy kiến thức là như nhau bởi sự truyền đạt kiến thức kỹ năng, kỹ sảo của thầy,
cô là như nhau, còn việc lĩnh hội đến đâu là phụ thuộc vào khả năng của bản thânchủ thể nhận thức
Đặc điểm cuối cùng là các sinh viên này đều có hạn chế trong giao tiếp, thiếu năng động Đây là một trong những yếu điểm của sinh viên, đòi hỏi phải có
sự nỗ lực của bản thân và sự uốn nắn của những người xung quanh
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách cho sinh viên
1.2.2.1 Nhân tố di truyền, bẩm sinh
Tục ngữ ta có câu: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”
Hẳn đây là quan niệm dân gian đã có từ xa xưa để đánh giá vai trò vô cùngquan trọng của yếu tố di truyền, bẩm sinh có tính chất tiền định về “số phận, tíchcách” (nhân cách) của con người Vậy nhân tố di truyền, bẩm sinh ảnh hưởng đến
sự hình thành nhân cách cho sinh viên như thế nào?
Trong thực tiễn cuộc sống, chúng ta dễ nhận thấy rằng người châu Âu datrắng, mắt xanh, người châu Phi da đen, tóc xoăn thì con cái của họ ngay khi sinh
ra đã giống bố mẹ Đây là sự truyền lại từ thế hệ cha mẹ cho con cái những đặctrưng sinh học nhất định của nòi giống, được ghi lại trong một chương trình độc
đáo bởi hệ thống gen di truyền Gen là vật mang di truyền những đặc điểm sinh
học của giống loài trong quá trình tồn tại, phát triển theo con đường tiến hóa tựnhiên Di truyền những đặc trưng sinh học của cha mẹ truyền lại cho con cái khôngphải chỉ biểu hiện một cách hữu hiệu khi đứa bé mới sinh ra mà có thể có nhữngmầm mống, tư chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu của một năngkhiếu như: Hội họa, thơ ca, toán học v.v hoặc thiểu năng trong những lĩnh vựccần thiết đối với cuộc sống cá nhân Còn bẩm sinh là những thuộc tính, đặc điểmsinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh Chương trình mang tính di truyền về sự pháttriển con người bao gồm cấu trúc, giải phẫu cơ thể, và những đặc điểm sinh họcriêng như màu da, màu tóc, vóc dáng, thể trạng, các tư chất của hệ thần kinh v.v
Trang 17Trước hết, nó đảm bảo cho con người phát triển đồng thời cũng giúp cho cơ thểcon người thích ứng được với những biến đổi của các điều kiện sinh tồn.
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng những mầm mống, tư chất để pháttriển thành năng lực và phẩm chất về một lĩnh vực hoạt động nào đó: Toán học,văn học, nghệ thuật, kiến trúc mang tính bẩm sinh, di truyền phản ánh sự kế thừatài năng Điều này thể hiện ở một số gia đình, xuất hiện liên tục người tài trong cácthế hệ nối tiếp nhau Tuy nhiên di truyền, bẩm sinh chỉ là tiền đề vật chất (mầmmống) của sự phát triển tâm lý, nhân cách Nó nói lên chiều hướng, tốc độ, nhịp độcủa sự phát triển Những đứa trẻ có gen di truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó
sẽ sớm bộc lộ thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó Song để trở thành một tàinăng cần phải có môi trường thuận lợi và sự hoạt động tích cực của cá nhân
Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi sinh viên, chúng tacần quan tâm đứng mức yếu tố di truyền, bẩm sinh đó là những mầm mống, tư chấtsinh học có vai trò tiền đề phát triển một số phẩm chất, năng lực của nhân cách Tấtnhiên, nếu chúng ta quá coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa, đánh giá cao nhân tố di truyềnsinh học thì sẽ vi phạm sai lầm khi phân tích, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò, tácđộng của môi trường, hoàn cảnh của giáo dục đối với quá trình hình thành và pháttriển nhân cách
1.2.2.2 Nhân tố nhà trường
Nhà trường là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành
và phát triển nhân cách của sinh viên Nhà trường không đơn giản chỉ là nơi truyềnđạt kiến thức cho đối tượng được giáo dục, đây còn là nơi để bản thân mỗi sinhviên học hỏi cả về kiến thức và đạo đức Môi trường nhà trường là một môi trườngthuận lợi để mỗi sinh viên rèn luyện để ngày càng hoàn thiện nhân cách hơn theonhững yêu cầu của xã hội
Trong nhà trường, người giảng viên sử dụng phương pháp, phương tiện, nộidung giảng dạy được lựa chọn, tổ chức một cách khoa học nhất giúp cho mọi cá
Trang 18nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị xã hội của nhân loại bằngcon đường ngắn nhất.
1.2.2.3 Nhân tố gia đình
Những nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học cho thấy, định hướnggiá trị nhân cách của sinh viên, nằm trong cấu trúc của xu hướng nhân cách
Nó chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội và các yếu tố
xã hội khác Song mỗi yếu tố có sự ảnh hưởng ở mức độ mạnh yếu khác nhau
Trong số các yếu tố này thì yếu tố gia đình có mức độ ảnh hưởng và tác động
mạnh nhất đến giáo dục nhân cách của sinh viên
Gia đình ảnh hưởng đến giáo dục nhân cách của sinh viên ở những khíacạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội đầu tiên của con
người Những mối quan hệ trực tiếp giữa các thành viên trong xã hội, những ngườicon với cha mẹ của mình là những tác động qua lại diễn ra thường xuyên trongcuộc sống hàng ngày Đa phần khi trở thành sinh viên thì tác động qua lại trong giađình giảm đi do những sinh viên phải lên thành phố hay ở trọ, phải xa nhà để họctập Trong gia đình của mình những sinh viên nhận được những kinh nghiệm và kỹnăng sống đầu tiên ngay từ khi còn nhỏ Hầu như những sinh viên đều lấy bố mẹ,ông bà hay anh chị mình làm biểu tượng, hình mẫu cho sự phấn đấu và hoàn thiệnnhân cách của mình
Tuy nhiên, do hoàn cảnh mà dường như bố mẹ và những người lớn trong giađình ít dành thời gian dạy những kỹ năng sống cần thiết ngay từ khi còn bé, ngay
cả những kỹ năng tự chăm sóc và phục vụ bản thân mình Với thực trạng hiện nayrất nhiều sinh viên ở các thành phố, con nhà giàu bị thiếu hụt những kỹ năng sống
cơ bản và cần thiết, những sinh viên này không biết làm bất cứ một công việc nàocho dù là những công việc tự phục vụ nhu cầu của bản thân hay những công việcnhà đơn giản mà đáng lẽ ra ở lứa tuổi này họ bắt buộc phải biết làm để chuẩn bị