1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu khủng hoảng của hệ thống tài chính.pdf

23 904 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Biện Pháp Ngăn Ngừa, Giảm Thiểu Khủng Hoảng Của Hệ Thống Tài Chính
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 730,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu khủng hoảng của hệ thống tài chính

Trang 1

Lời mở đầu

Tài chính là một lĩnh vực vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

của một quốc gia Trình độ phát triển của một quốc gia được biểu hiện rất

nhiều thông qua nền tài chính của quốc gia đó

Tài chính là thuốc bôi trơn giúp nền kinh tế đạt được sự hiệu quả, giảm

được rất nhiều chi phí Chính vì tầm quan trọng này mà luôn có sự quan tâm,

điều hành đặc biệt từ các cơ quan chính phủ, nhằm đảm bảo ổn định, lành

mạnh nền tài chính.Với chính sách tài chính của mình chính phủ có thể điều

tiết các chính sách kinh tế vĩ mô của mình Thế nhưng, việc điều hành đó

của chính phủ cũng không làm cho nền tài chính của quốc gia mình thoát

khỏi quy luật chung của sự phát triển Mà một trong những giai đoạn khó

khăn nhất của một nền tài chính đó là thời kì khủng hoảng.Do vậy, bài tiểu

luận này sẽ giúp người đọc hiểu được một số vấn đề có liên quan đến khủng

hoảng tài chính

Bài tiểu luận này được bố cục theo 3 phần:

Phần I:Những hiểu biết chung về khủng hoảng tài chính

1 Khủng hoảng tài chính là gì?

2 Nguyên nhân khủng hoảng tài chính

Phần II: Tìm hiểu về cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 1997 Bài

học được rút ra sau cuộc khủng hoảng

Phần III: Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu khủng hoảng của hệ thống

tài chính

Bài tiểu luận này không mong mang lại cho người đọc những hiểu biết sâu

sắc, cặn kẽ về vấn đề khủng hoảng tài chính, mà chỉ mong mang lại cho

người đọc một cái nhìn khái quát chung nhất về vấn đề này Mong độc giả

thông cảm

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

I.Khái niệm về khủnh hoảng tài chính

1.Khủng hoảng tài chính là gì? Để hiểu được vấn đề này trước tiên ta cần

biết tài chính là gì?

Xung quanh vấn đề tài chính có rất nhiều quan niệm khác nhau Nhưng tổng

kết lạ tìa chính mang những đặc điểm sau: tài chính chỉ ra đời và tồn tại

trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng

kinh tế xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những

hiện tượng kinh tế xã hội khách quan đó như tiền đè khách quan quyết định

sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính với tư cách là phạm trù lịch sử

Tài chính thuộc lĩnh vực phân phối dưới hình thái giá trị Nó là tổng thể các

quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong

nền kinh tế quốc dân, nó gắn liền với sự ra đời và tồn tại và hoạt động của

nhà nước, phát triển trong các mối quan hệ hữu cơ với nền sản xuất hàng hoá

và quan hệ hàng hoá tiền tệ Hay nói cách khác tài chính là quá trình phân

phối các nguồn lực tài chính có hạn nhằm đáp ứng nhu cầu các chủ thể trong

nền kinh tế

Bản chất của tài chính thể hiện ở những khía cạnh sau: tài chính là những

quan hệ kinh tế nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều

thuộc phạm trù tài chính Tài chính chỉ bao gồm những quan hệ phân phối

dưới hình thái giá trị Tài chính là những quan hệ phân phối phát sinh trong

quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Đây là một đặc trưng quan

trọng của tài chính Tài chính là những quan hệ kinh tế chịu sự tác động trực

tiếp của nhà nước, của pháp luật, nhưng tài chính không phải là luật lệ tài

chính Luật tài chính là công cụ của nhà nước để điều tiết các quan hệ tài

chính nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà nước

Trong nền kinh tế các quan hệ tài chính xuất hiện đan xen nhau liên hệ, tác

động ràng buộc lẫn nhau trong một thể thống nhất tạo nên hệ thống tài

chính Có thể chia hệ thống tài chính làm 2 kênh dẫn vốn: kênh dẫn vốn qua

thị trường tài chính (trực tiếp), kênh dẫn vốn qua các trung gian tài chính

như ngân hàng thương mại, quỹ bảo hiểm, quỹ tín dụng… (gián tiếp) Nhờ

2 kênh này mà vốn được lưu chuyển thuận lợi, giảm được rất nhiều chi phí

giao dịch giữa hai bên cung và cầu vốn

Vấn đề khủng hoảng tài chính chúng ta nói ở đây là khủng hoảng trong hệ

thống tài chính và khủng hoảng taì chính Có nghĩa là khủng hoảng ở đây

xảy ra trong các mối quan hệ tài chính và các kênh dẫn vốn trong nền kinh

tế Chúng có liên hệ mật thiết với nhau, khủng hoảng tài chính dẫn đến các

kênh dẫn vốn trở nên kém hiệu quả Khủng hoảng tài chính là sự rối loạn

trong dòng luân chuyển vốn làm cho cả hệ thống tài chính không phát huy

được chức năng dẫn vốn của nó Khủng hoảng tài chính nảy sinh từ mối

quan hệ tài chính, các mối quan hệ này đạt tới mức thấp có nghĩa là bên

Trang 3

cung vốn không muốn tài sản tài chính mà mình có cho bên cầu vốn nữa Và

điều này tác động lên các kênh dẫn vốn, làm cho nó bị tê liệt không phát huy

được tác dụng và do đó sẽ làm sụp đổ hoặc suy yếu các tổ chức, định chế tài

chính Các tổ chức định chế tài chính này không bao giờ biệt lập với nhau

mà chúng có quan hệ mật thiết và do đó khủng hoảng tài chính thường làm

sụp đổ hàng loạt tổ chức, định chế này, gây thiệt hại to lớn Khủng hoảng tài

chính là vấn đề có liên quan đến một phạm trù, đó là chu kì kinh doanh Quy

luật chung của con đường phát triển được miêu tả như đồ thị hình sin Đó là

bất kì một lĩnh vực nào cũng có thời kì phát triển rực rỡ, huy hoàng, có lúc

ổn định và có thời gian thoái trào Nghiên cứu kinh tế Mỹ đã chỉ ra rằng tiền

tệ -tài chính đóng góp một vai trò quan trọng trong việc tạo ra chu kì kinh

doanh Mỗi cơn suy thoái trong thế kỉ XX đã đứng liền sau một sự suy giảm

tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ Ngược lại nếu nền kinh tế lâm vào suy thoái cũng là

nguyên nhân không nhỏ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính.(vấn đề này

sẽ được bàn đến ở phần nguyên nhân của khủng hoảng tài chính) Điều này

được giải thích bởi quan hệ tài chính có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết với

nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ

Nguyên nhân khủng hoảng tài chính

Có hai nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính Đó là nguyên nhân từ

ngoài nền tài chính và nguyên nhân bên trong nền tài chính

Nguyên nhân bên ngoài:

Như đã đề cập ở trên, các quan hệ tài chính là một phần của quan hệ kinh tế,

các quan hệ tài chính có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nền sản xuất

hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ Hệ thống tài chính được coi như huyết

mạch trong nền kinh tế Đây là nơi cung cấp vốn cho bên cầu vốn(công ty,

chính phủ…) để kinh doanh sản xuất Phần lớn nguồn vốn của các công ty,

tập đoàn được đáp ứng từ các hệ thống tài chính: có thể vay của các ngân

hàng thương mại hoặc thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị

trường chứng khoán… Mặt khác lợi nhuận hoặc vốn tạm thời nhàn rỗi của

chúng cũng có thể được đem gửi vào các ngân hàng hay có thể cho vay nóng

thông qua các hợp đồng mua lại (repo)… Nhờ có hệ thống tài chính mà nền

kinh tế đã giảm được rất nhiều chi phí giao dịch, tức là nâng cao hiệu quả

của nền kinh tế Bên cạnh đó, các trung gian tài chính còn có nghiệp vụ

trung gian thanh toán Các tổ chức định chế tài chính kiếm được lợi nhuận

thông qua các nghiệp vụ đó Bây giờ nếu nền kinh tế suy thoái, tức là nền

sản xuất hàng hoá giảm sút, không thu được lợi nhuận Để đảm bảo an toàn

cho tiền của mình bên cung vốn(chủ yếu là các hộ gia đình…) muốn rút vốn

lại và cất vào két hoặc không muốn cho vay vì sợ không thu hồi được nợ Và

do đó các ngân hàng, tổ chức tài chính sẽ phải đối mặt với một lượng tiền

mặt lớn để trả cho người gửi, dẫn đến nguy cơ phá sản Trên thị trường

Trang 4

chứng khoán lúc này giá trị thực của các công ty niêm yết sẽ tụt dốc thảm

hại do tình trạng làm ăn thua lỗ làm xuất hiện tình trạng bán tháo cổ phiếu

trái phiếu… Ngoài ra các tài sản do các tổ chức định chế tài chính nắm giữ

cũng bị mất giá nghiêm trọng làm giá trị thực của chúng bị giảm, gây nên

tình trạng khủng hoảng Tính thanh khoản của thị trường theo đó cũng đi

xuống một cách thảm hại

Chẳng những thế tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản của các công ty, tập

đoàn sản xuất cũng kéo theo những khoản đền bù khổng lồ từ các công ty

bảo hiểm làm cho các công ti này cũng bị sụp đổ theo Thông thường các

công ty, tập đoàn sản xuất là những khách hàng lớn và chủ yếu của các công

ty bảo hiểm nếu bây giờ, chúng bị sụp đổ thì tiền đền bù sẽ rất lớn và các

công ty bảo hiểm sẽ không đủ khả năng chi trả, có nghĩa là phải tuyên bố

phá sản

Suy thoái kinh tế là vấn đề mang tính chu kì do đó khủng hoảng tài chính

bắt nguồn từ suy thoái kinh tế cũng mang tính chu kì Nền kinh tế suy thoái

chứng kiến sự thua lỗ, phá sản của hàng loạt không những của hãng sản xuất

mà còn cả sự sụp đổ trong lĩnh vực tài chính Suy cho cùng tài chính cũng là

một bộ phận của kinh tế

Nguyên nhân bên trong:

Trên thị trường tài chính: khủng hoảng tài chính có thể do nguyên nhân từ

chính hoạt động bên trong của chính nền tài chính ấy Trong nền tài chính

của bất kì một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng phải đối mặt với

những vấn đề như: thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch, rủi ro

đạo đức…

Thông tin không cân xứng là hiện tượng những giao dịch diễn ra trên thị

trường tài chính một bên thường không biết tất cả những gì mà họ cần biết

để có những quyết định đúng đắn Thường thì bên cung vốn ít khi có đầy đủ

thông tin cần thiết về bên cầu vốn khi thực hiện giao dịch

Chọn lựa đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi

diễn ra cuộc giao dịch Chọn lựa đối nghịch xảy ra trên thị trường tài chính

khi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong

muốn(đối nghịch) -tức là rủi ro không trả được nợ-là những người tích cực

tìm vay tiền nhất và do vậy có nhiều khả năng được lựa chọn nhất Do việc

chọn lựa đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho

những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể

quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ

Do những người liều lĩnh, mạo hiểm có nhiều động cơ và sẽ thắng lớn nếu

kế hoạch đầu tư mạo hiểm của họ thành công nên là hăng hái tìm vay và dễ

được chọn lựa nhất chẳng hạn bạn là nhà đầu tư gặp phải hiện tượng thông

tin không cân xứng bạn sẽ không phân biệt được đâu là chứng khoán tốt, đâu

Trang 5

là chứng khoán xấu.Do đó bạn sẽ có xu hướng đặt giá trung bình cho những

chứng khoán mà bạn mua trong khoảng giá trị của những công ty tồi đến

những công ty tốt Do vậy nhũng công ty tốt có trong tay đầy đủ thông tin và

biết được rằng giá trị công ty của họ đã bị đánh giá thấp và không muốn bán

cho bạn với giá đó Ngược lại những công ty tồi luôn sẵn lòng bán cho bạn ở

mức giá mà bạn trả Nếu bạn là người thông minh thì chắc sẽ không muốn

nắm giữ nó.Và như vậy sẽ tạo ra nghi ngại, lưỡng lự, cân nhắc khi thực hiện

mua bán trên thị truờng tài chính

Rủi ro đạo đức là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc

giao dịch diễn ra Rủi ro đạo đức trong các thị truờng tài chính xảy ra khi

nguời cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những

hoạt động không tốt( thiếu đạo đức) xét theo quan điểm của người cho vay,

bởi vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả

Rủi ro đạo đức giảm bớt xác suất hoàn trả được vốn nên người cho vay có

thể quyết định thôi không cho vay nữa Khía niệm rủi ro đạo đức chỉ ra rằng

các bên luôn có sự nghi ngờ, không tín nhiệm lẫn nhau Do đó ngăn cản hoạt

động kinh doanh và cả sự lưu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu

Khủng hoảng tài chính xảy ra khi vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo

đức trong thị trường tài chính trở nên quá tồi tệ đến mức mà thị trường tài

chính không còn khả năng khơi nguồn vốn một cách hữu hiệu từ những

người tiết kiệm tới những người có những cơ hội đầu tư sinh lợi kết quả của

sự bất lực của thị truờng tài chính không hoạt động hữu hiệu là có một sự

thu hẹp quan trọng trong các hoạt động kinh tế

Trong hoạt động của các trung gian tài chính thì nguyên nhân lớn nhất đuợc

cho là dẫn đến khủng hoảng tài chính do sự đổi mới tài chính, với sự xuất

hiện của các quỹ bảo hiểm tiền gửi trở ngại nghiêm trọng nhất của hệ thống

điều hành hoạt động ngân hàng xuất phát từ rủi ro đạo đức Rủi ro đạo đức là

một đặc điểm quan trọng của dàn xếp bảo hiểm nói chung bởi vì sự tồn tại

của bảo hiểm mang lại những ý muốn mạnh hơn đối với việc mang lấy

những rủi ro và điều đó có thể đưa đến một sự thanh toán bảo hiểm Những

người gửi tiền có bảo hiểm biết rằng họ sẽ không gánh chịu tổn thất nếu

ngân hàng vỡ nợ, họ không áp đặt một kỉ luật thị trường cụ thể lên các ngân

hàng bằng cách rút tiền gửi khi họ nghi ngờ rằng ngân hàng của họ đang

mang lấy quá nhiều rủi ro Kết cục các ngân hàng có bảo hiểm tiền gửi có

thể có nhiều rủi ro hơn so với trường hợp không có bảo hiểm Thế nhưng

chính điều này tạo nên sự lỏng lẻo trong hoạt động các ngân hàng làm cho

chúng dễ dàng nhận lấy rủi ro để hi vọng kiếm lợi mà không bị ràng buộc

bởi những người gửi tiền Nếu không có bảo hiểm những người gửi tiền luôn

thận trọng lựa chọn các ngân hàng mà họ gửi cùng với những điều kiện cụ

thể đảm bảo cho khoản cho vay của họ sẽ được an toàn Mặt khác các ngân

Trang 6

hàng cũng không muốn mang lấy những rủi ro lớn nếu nó có nguy cơ đe doạ

một sự phá sản Vấn đề lựa chọn đối nghịch cũng xảy ra đối với bảo hiểm

tiền gửi, vấn đề này dễ xảy ra đối với những ngưòi có nhiều khả năng tạo ra

kết cục đối nghịch được bảo hiểm, là những người mà muốn thu lợi từ việc

bảo hiểm này hơn cả Do những người gửi tiền có bảo hiểm ít có lí do để

giám sát ngân hàng của họ, còn những kẻ đầu cơ thấy công nghiệp ngân

hàng là một công nghiệp hấp dẫn đặc biệt, họ biết có thể thực hiện những

hoạt động rủi ro cao Tệ hơn là những người gửi tiền có bảo hiểm ít giám sát

các hoạt động ngân hàng của họ nên những kẻ lừa đảo trắng trợn thấy hoạt

động ngân hàng là một lĩnh vực hấp dẫn cho những hoạt động của chúng,

bởi vì chúng dễ bỏ chốn với món tiền biển thủ

Những nhân tố gây các cuộc khủng hoảng tài chính

Những nguyên nhân nêu trên là những nhân tố sâu xa, khởi sự của các cuộc

khủng hoảng tài chính Khi xuất hiện nhưng nhân tố này thì kéo theo sự xuất

hiện của 5 nhân tố: sự tăng lãi suất, sự sụt giảm ở thị trường cổ phiếu, sự sụt

giảm bất ngờ về mức giá, sự tăng tính không chắc chắn, sự hoảng loạn ngân

hàng

Sự tăng lãi suất đồng nghĩa với việc chi phí của đồng vốn sử dụng sẽ cao

hơn Nguyên lí quan trọng là các món vay có mức độ rủi ro càng cao thì lãi

suất càng cao Những cá nhân công tuy với những dự án đầu tư rủi ro nhất

chắc chắn là những người sẵn lòng chịu vay với lãi suất cao nhất sự tăng lãi

suất làm cho giảm bớt những vụ vay tín dụng có triển vọng tốt, làm tăng

những món vay khó đòi, làm tỉ lệ nợ khó đòi của ngân hàng đó ở mức báo

động Nếu thông tin này đến tai người gửi sẽ làm cho người gửi ồ ạt rút tiền

khỏi ngân hàng Sự đổ vỡ của một ngân hàng làm liên luỵ đến các ngân hàng

khác, tức là xảy ra hiệu ứng domino

Sự sụt giảm ở thị trường cổ phiếu: điều này có thể làm tăng lựa chọn đối

nghịch và rủi ro đạo đức trong thị truờng tài chính và tạo ra một cuộc khủng

hoảng tài chính Sự sụt giảm đồng nghĩa với giá trị tài sản ròng cũng sụt

giảm theo, nó sẽ ít có khả năng bảo vệ hơn cho người vay, nguy cơ tổn thất

từ các món vay sẽ cao hơn khiến nhà đầu tư giảm bớt ý định cho vay Ngoài

ra sự sụt giảm nói lên làm tăng ý muốn gây rủi ro đạo đức ở những công ty

đi vay thực hiện những phi vụ rủi ro

Những sự sụt giảm bất ngờ về mức giá: cũng làm giảm giá trị tài sản ròng

của các công ty Hiện tượng này còn làm tăng giá trị các món nợ của các

công ty theo hiện vật nhưng không tăng giá trị thực, làm tăng các vấn đề lựa

chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức

Sự tăng tính không chắc chắn: một sự tăng tính không chắc chắn trong thị

trường tài chính, có thể do sự thất bại của một tổ chức tài chính hoặc phi tài

chính nổi tiếng khiến cho người vay khó phân biệt được đâu là tín dụng có

Trang 7

triển vọng tốt, đâu là xấu, làm cho họ giảm bớt ý định cho vay, đầu tư vào

hoạt động kinh tế tổng hợp

Sự hoảng loạn ngân hàng: ngân hàng đóng một vai trò quan trọng, phần lớn

nguồn vốn trong nền kinh tế luân chuyển qua hệ thống ngân hàng Sự hoảng

loạn này làm giảm tổng số các hoạt động trung gian tài chính mà ngân hàng

thực hiện, làm giảm khối lượng vốn cung ứng, dẫn đến việc tăng lãi suất Và

như đã nói trên sự tăng lãi suất là một trong yếu tố trực tiếp tạo nên khủng

hoảng tài chính

Trang 8

II Cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 1997 Bài học

được rút ra sau cuộc khủng hoảng

Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu

từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường

chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác

ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những

con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng

hoảng tiền tệ Đông Á

Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất

bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị

ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan,

Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng Nhật Bản cũng không bị ảnh

hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua

những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình

Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông

Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng

hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các

nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ

Nguyên nhân

Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà

kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị

đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự

do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập

niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo

vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính

sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính

sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô

hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt

ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ

trong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn

Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa

quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá

hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Vì thế, thâm hụt

tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi

vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi

ro

Trang 9

Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó

còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông

Á".Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là

do kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao

động Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức

độ rất nhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên Krugman cho rằng việc chỉ tăng

trưởng năng suất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn, đã có

thể mang lại sự thịnh vượng dài hạn Krugman có thể được nhiều người coi

như một nhà tiên tri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính

ông ta cũng đã từng phát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng

hoặc nhìn trước được chiều sâu của nó

Các dòng vốn nước ngoài kéo vào

Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và

Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở

nền cao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới

tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra

nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do

hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát

triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á

Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của

chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á

bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp

mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ

không tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa

chọn nghịch và rủi ro đạo đức.)

Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới

Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu

Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990 Nhân dân tệ được định giá thấp so với

Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu

của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á

Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lại sau tình trạng suy

thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo

của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát

Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các

nước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông

qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ Và do đồng tiền

của các nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các

nước này trở nên kém cạnh tranh Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng

trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm

suy yếu tài khoản vãng lai của họ

Trang 10

Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt

Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là

những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á

Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản

của Thái Lan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn

tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện

thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một

số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư

nước ngoài đồng loạt rút vốn ra

Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng

hoảng yếu kém Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng

lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên

cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại

càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài

Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống

tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền

kinh tế ASEAN Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại

Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25

tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước

ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của

ASEAN trong giai đoạn này Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân

hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã

gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương

EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới

Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự

Hội nghị Bộ trưởng Tài chínhAPEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày

17 tháng năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể

nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơ

chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể

xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất

bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ

Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được

áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm

trầm trọng

Diễn biến

Thái Lan

Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình

quân hàng năm là 9% Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới

của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong

bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng

Trang 11

khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn

chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi

Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công

đầu cơ quy mô lớn Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan ó đã xuống đến

mức 56 baht mới đổi được 1 còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn

hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance

One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày 11 tháng

dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Chavalit Yongchaiyudh

tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2

tháng 7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, n Lan

đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một

gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF

thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar

Philippines

Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung

ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ

đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ

15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một

dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng

Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên

quan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng

chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán

Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000

điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá

Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên

làm tổng thống

Hong Kong

Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiền này

vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm

phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn

công Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó

tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên

Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền

của mình Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ Từ ngày

20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23% Ngày 15

tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên

thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ

Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang

Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu Cơ quan này và ông Donald Tsang,

Ngày đăng: 05/10/2012, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w