1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TÌNH HUỐNG CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

24 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 47,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TÌNH HUỐNG CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNCâu hỏi 1. Năng lực pháp luật của cá nhân được hiểu như thế nào?Trả lời:Cá nhân là một trong các chủ thể của quan hệ dân sự. Để tham gia vào các quan hệ dân sự, cá nhân phải có tư cách chủ thể hay năng lực chủ thể, được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2005:“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có được từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”.Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật dân sự quy định cho cá nhân. Các quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân được ghi nhận ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Bộ luật dân sự năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

Trang 1

CHỦ ĐỀ 1.

MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TÌNH HUỐNG CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ

ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Câu hỏi 1 Năng lực pháp luật của cá nhân được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Cá nhân là một trong các chủ thể của quan hệ dân sự Để tham gia vào các quan hệ dân sự, cá nhân phải có tư cách chủ thể hay năng lực chủ thể, được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2005:

“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có được từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”.

Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và

nghĩa vụ mà pháp luật dân sự quy định cho cá nhân Các quyền và nghĩa vụ dân

sự của cá nhân được ghi nhận ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001),

Bộ luật dân sự năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác nhau

Theo quy định của pháp luật dân sự cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân

sự sau đây:

- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;

- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;

- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp

do pháp luật quy định (Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2005)

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng, là tiền đề, là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể

Câu hỏi 2 Năng lực hành vi dân sự là gì? Phân biệt năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên với năng lực hành vi dân sự của người thành niên?

Trả lời

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành

vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005).

Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự của mỗi chủ thể thì năng lực hành vi dân sự là khả năng hành động của chính chủ thể để thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm

cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự là hai thuộc tính tạo thành

tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự

Trang 2

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân không giống nhau mà phụ thuộc vào lứa tuổi, thể chất của mỗi cá nhân vì những cá nhân khác nhau, có nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của người thành niên và năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên như sau:

- Đối với người thành niên:

Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên Theo quy định của

pháp luật dân sự: Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ

trường hợp bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

Mất năng lực hành vi dân sự là trường hợp người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, nếu

có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định

Hạn chế năng lực hành vi dân sự là trường hợp người nghiện ma túy hoặc

= các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì có thể bị Tòa

án ra quyết định tuyên bố là người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan

- Đối với người chưa thành niên:

+ Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổikhi xác

lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác

+ Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực

hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

+ Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự.

Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện

Tình huống 3 Sau giờ học, Huyền và Ngọc - hai em học sinh lớp 6 trao đổi với nhau về các quy định của pháp luật dân sự Huyền cho rằng mình có quyền thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của mình Còn Ngọc chưa hiểu rõ lắm các quy định đó Em muốn hỏi ý kiến của Huyền có chính xác không?

Trả lời

ý kiến của Huyền là chính xác

Theo quy định của pháp luật dân sự (Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2005) người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập, thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi

Giao dịch này thường là các giao dịch có giá trị nhỏ, mục đích là để phục

vụ nhu cầu sinh hoạt, học tập, vui chơi hàng ngày trong cuộc sống, được người

Trang 3

đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người đại diện Ví dụ như: mua đồ dùng học tập, sách vở, đồ chơi

Câu hỏi 4 Quyền nhân thân là gì? Theo quy định của Bộ luật Dân sự,

cá nhân có những quyền nhân thân nào?

Trả lời

“Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền dân sự gắn

với bản thân mỗi con người và đời sống riêng tư của họ mà không thể chuyển giao cho người khác,

Điều 24 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong pháp luật Việt Nam, các quyền nhân thân được ghi nhận trong pháp luật dân sự và chủ yếu tập trung trong Bộ luật dân sự

Quyền nhân thân của cá nhân là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người được pháp luật bảo hộ Việc tôn trọng quyền nhân thân của người khác là nghĩa vụ của mọi người và cũng là nghĩa vụ của chính người đó Khi thực hiện quyền nhân thân của mình về nguyên tắc không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Bộ luật dân sự quy định 26 quyền nhân thân của cá nhân từ Điều 26 đến Điều 51, bao gồm:

- Quyền đối với họ, tên (Điều 26)

- Quyền thay đổi họ, tên (Điều 27)

- Quyền xác định dân tộc (Điều 28)

- Quyền được khai sinh (Điều 29)

- Quyền được khai tử (Điều 30)

- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31)

- Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều

32)

- Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33)

- Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34)

- Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35)

- Quyền xác định lại giới tính (Điều 36)

- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37)

- Quyền bí mật đời tư (Điều 38)

- Quyền kết hôn (Điều 39)

- Quyền bình đẳng vợ chồng (Điều 40)

- Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình

(Điều 41)

- Quyền ly hôn (Điều 42)

- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ (Điều 43)

- Quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44)

- Quyền đối với quốc tịch (Điều 45)

- Quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 46)

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47)

Trang 4

- Quyền tự do đi lại, cư trú (Điều 48)

- Quyền lao động (Điều 49)

- Quyền tự do kinh doanh (Điều 50)

- Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51)

Câu hỏi 5 Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân được Bộ luật dân sự 2005 quy định như thế nào?

Tình huống số 6 Khi sinh Hận, bố em đi làm xa, bỏ mặc mẹ con em,

mẹ em buồn chán, đặt tên con là Hận và cho mang họ của mẹ Khi đi học,

do bị bạn bè trêu chọc nên nhiều lần em về xin mẹ được đặt tên khác Lúc này bố em cũng đã trở về nhận lỗi và đoàn tụ gia đình, nên bố mẹ em cũng muốn đổi họ của em từ họ của mẹ sang họ của bố và đổi tên khác dễ nghe hơn cho con gái Xin hỏi em có được thay đổi họ, tên không? Pháp luật dân sự quy định về vấn đề này như thế nào?

Trả lời

Hận có quyền được thay đổi họ, tên Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật dân

sự năm 2005, cá nhân có quyền thay đổi họ, tên của mình trong các trường hợp sau:

- Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

- Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ

đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

- Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

- Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

- Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

- Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;

- Các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định

Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó

Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ

Trang 5

Câu hỏi 7 Xin cho biết các quy định về quyền được khai sinh của cá nhân?

Trả lời

Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2005 thì cá nhân khi sinh ra

có quyền được khai sinh

Quyền được khai sinh là một trong những quyền quan trọng của mỗi cá nhân để khẳng định sự tồn tại của cá nhân đó trong một Nhà nước và được nhà nước công nhận là một công dân của Nhà nước đó Quyền được khai sinh là cơ

sở pháp lý quan trọng để cá nhân thực hiện các quyền khác như quyền có họ tên, có quốc tịch và các quyền dân sự khác

Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó

Để thực hiện quyền được khai sinh đối với trẻ em pháp luật về quản lý và đăng ký hộ tịch quy định trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em

Thẩm quyền đăng ký khai sinh:

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh

Trường hợp không thực hiện việc đăng ký khai sinh trong thời hạn quy định thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn

Thẩm quyền đăng ký khai sinh quá hạn quy định như sau :

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh thực hiện việc đăng ký khai sinh quá hạn

Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn cho mình, thì có thể đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh theo quy định hoặc tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú

Khi đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán

bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ, giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch, quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện lại

Trang 6

Phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời điểm đăng ký khai sinh quá hạn.

Tình huống 8 Để kỷ niệm năm học cuối cùng ở Trung học cơ sở, Quyên và các bạn rủ nhau đi chụp ảnh trong công viên Trong lúc nhóm bạn đang vui đùa chụp ảnh thì có một cô phóng viên đến xin được chụp ảnh cả nhóm để đưa lên báo Nghe thế cả nhóm bạn của Quyên rất vui Trong lúc nói chuyện, Quyên nghe cô phóng viên nói mỗi người đều có quyền đối với hình ảnh của mình, nên Quyên muốn được biết về nội dung của quyền này?

Trả lời

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình là quyền nhân thân nằm trong nhóm các quyền dân sự của cá nhân

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại Điều 31 Bộ luật dân

sự năm 2005 Nội dung quyền bao gồm :

- Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình

- Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người

đó đồng ý

Để bảo vệ quyền của cá nhận đối với hình ảnh của mình, Pháp luật nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh

Câu hỏi 9 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của cá nhân dược pháp luật quy định như thế nào?

- Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế

- Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:

+ Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;

+ Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;

Trang 7

+ Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết.

Câu hỏi 10 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được Bộ luật Dân sự 2005 quy định như thế nào?

Trả lời

Theo Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2005, danh dự, nhân phẩm, uy tín của

cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa trên những giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp Nhân phẩm của cá nhân là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó Uy tín cá nhân thể hiện sự tín nhiệm và mến phục của cộng đồng hoặc một bộ phận dân cư đối với cá nhân đó

Mỗi cá nhân đều có quyền được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín Đồng thời, mỗi cá nhân phải có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác

Tình huống 11 Giờ ra chơi, Thủy thấy Lan bạn học cùng lớp có thư gửi về từ Trường Sa Hôm nay Lan lại nghỉ học Lan vẫn hay tâm sự với Thủy là bố Lan công tác ở ngoài đó, Lan rất yêu bố và thường xuyên mong thư của bố Thủy háo hức định mở bức thư ra đọc xem có chuyện gì hay không, để còn thông báo cho Lan Song một người bạn khác đã can ngăn Thủy không nên làm như thế vì mọi người có quyền bí mật đời tư Điều đó đúng hay không?

Trả lời

Ý kiến của người bạn là hoàn toàn chính xác vì mỗi người có quyền bí mật đời tư được quy định tại Điều 73 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 73 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”

Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

” Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Tình huống 12 Khi mẹ Minh sinh được em Thịnh là con trai, bố mẹ Minh rất hạnh phúc Song từ đó, Minh, vì là con gái, nên không còn được

bố mẹ yêu thương, chăm sóc như trước đây Đặc biệt, nhiều hôm, mẹ Minh còn bắt Minh nghỉ học phụ mẹ, trông em khi em ốm Minh rất buồn Thấy Minh gày gò và ốm yếu, hay nghỉ học cô giáo Minh đã hỏi chuyện và đến

Trang 8

nhà động viên bố mẹ Minh cho Minh tiếp tục đi học và quan tâm chăm sóc cho em Xin hỏi pháp luật quyđịnh thế nào về quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình ?

Trả lời:

Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình được quy định tại Điều 41 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó

Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp

đỡ nhau phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam

Con, cháu chưa thành niên được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà; con, cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà

Đối với người chưa thành niên, được chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể có, với mức sống ngày càng được nâng cao là quyền của trẻ em và là mục tiêu phấn đấu chung của gia đình, Nhà nước và xã hội

Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cụ thể hóa quyền của trẻ em do Hiến pháp năm 1992 ghi nhận trẻ em có “quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”

Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định rõ về nghĩa vụ và quyền của cha

mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con tại các Điều 34, 37 như sau:

- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội

- Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập

- Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm

ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con

Tình huống 13 Do bác ruột của T không có khả năng sinh nở nên muốn nhận T làm con nuôi để sau này có người phụng dưỡng Nhà T lại đông con cái, kinh tế có phần khó khăn, nên bố mẹ T cũng đã cân nhắc và suy nghĩ Xin hỏi T có quyền được nhận làm con nuôi hay không?

Trả lời:

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhằm bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình phù hợp với đạo đức xã hội

Trang 9

Điều 44 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về quyền được nuôi con nuôi

và quyền được nhận làm con nuôi như sau:

Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ

Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật

Điều 8 Luật nuôi con nuôi quy định về người được nhận làm con nuôi gồm :

- Trẻ em dưới 16 tuổi

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

+ Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi

Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng

Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi

Khoản 1 Điều 21 Luật nuôi con nuôi quy định : Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều

đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó

Như vây, T có quyền được bác nhận làm con nuôi Việc nhận con nuôi cần

có sự đồng ý của T

Tình huống 14 Ngày chủ nhật, bố mẹ có việc đi vắng nên dặn dò em

K 12 tuổi phải ở nhà vừa học bài vừa trông nhà Bỗng nhiên có một người

lạ gõ cửa tự xưng là nhân viên truyền hình cáp, đề nghị em K mở cửa cho vào nhà kiểm tra đường dây truyền hình cáp của gia đình Em K không đồng ý và nói người đó phải chờ bố mẹ về vì mỗi cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Xin hỏi, ý kiến của em K có chính xác hay không?(bỏ)

Trả lời:

Ý kiến của em K hoàn toàn chính xác Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật dân sự: cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Tình huống 15 H rất yêu văn học, thời gian rảnh rỗi em thường mua sách báo đọc rồi còn làm thơ, viết văn và tích cực tham gia các hoạt động sáng tạo nghệ thuật do nhà trường phát động Mẹ em lo sợ em lơ là học tập nên không ủng hộ em sáng tác Trong khi đó bố em cho rằng Nếu em

Trang 10

học tập tốt bố em sẽ ủng hộ em viết văn, làm thơ và giúp em gửi bài đăng báo thiếu niên vì đó là quyền mà pháp luật quy định cho mỗi cá nhân Xin hỏi ý kiến của bố em có đúng hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật dân sự năm 2005, cá nhân có quyền tự

do nghiên cứu khoa học – kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo khác

Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo được tôn trọng và được pháp luật bảo

vệ Không ai được cản trở, hạn chế quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo của cá nhân

Vì thế, H có quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo nghệ thuật Ý kiến của bố H hoàn toàn chính xác

Tình huống 16 Bố mẹ M sống ở quê Sau khi học hết cấp 2, M thi đỗ vào trường chuyên của tỉnh và phải chuyển lên sống ở thành phố cùng gia đình người dì ruột Để thuận lợi cho việc làm hồ sơ giấy tờ nhập học và quá trình học tập sau này, bố mẹ M đã đồng ý cho M khai báo nơi cư trú của mình là nhà của người dì ruột Điều đó có đúng pháp luật hay không không? Nơi cư trú của người chưa thành niên được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 13 Luật Cư trú năm

2006, thì nơi cư trú của người chưa thành niên được quy định như sau:

- Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha,

mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống

- Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha,

mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định

Như vậy, M có thể khai báo nơi cư trú của mình là nhà người dì ruột nếu

Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005:

“Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”.

Như vậy, chế độ giám hộ là bắt buộc đối với người chưa thành niên bao gồm:

Trang 11

- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha,

mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu;

- Những người chưa đủ 15 tuổi thuộc các trường hợp trên theo quy định phải có người giám hộ

Tình huống 18 Em K bị mất cả bố lẫn mẹ khi em vừa học xong cấp 2

Em có một người chị gái lớn hơn 10 tuổi, song do hoàn cảnh chị gái lấy chồng xa, kinh tế khó khăn nên ông, bà nội của em đứng ra nuôi dưỡng và chăm sóc em Xin hỏi ông, bà nội của em có phải là người giám hộ đương nhiên của em không? Pháp luật quy định như thế nào về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên?

- Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;

- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ

Việc cử người giám hộ cho người chưa thành niên được quy định: trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không

có người giám hộ đương nhiên như quy định trên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ

Như vậy, ông, bà nội của em T là người giám hộ đương nhiên của T.

Câu hỏi 19 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho người chưa thành niên được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ là người chưa thành niên được quy định như sau:

* Về quyền của người giám hộ, Điều 68, Điều 69 quy định:

- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần thiết của người được giám hộ;

Trang 12

- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

- Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ

* Về nghĩa vụ của người giám hộ, Điều 65 quy định:

Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi:

- Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;

- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;

- Quản lý tài sản của người được giám hộ;

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

Về, nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, Điều 66 quy định:

- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;

- Quản lý tài sản của người được giám hộ;

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

Câu hỏi 20 Đại diện là gì? Người đại diện của người chưa thành niên gồm những ai?

Trả lời:

Đại diện là việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh một người khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm

vi thẩm quyền đại diện.

Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự thông qua người đại diện Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình, nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó

Quan hệ đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền

Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân

sự do người đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện

Ngày đăng: 26/08/2016, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w