GIÁO ÁN PHÊ CHUẨN Ngày … tháng … năm 2007 TRƯỞNG BỘ MÔN Bài: Khái quát lịch sử tiếng Việt Đối tượng: Dự bị đại học Giảng viên: ……… Thời gian: 2 tiết 1.Mục đích: - Giúp học viên hiểu đư
Trang 1TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2
PHÊ CHUẨN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
Ngày … tháng… năm 2007
TRƯỞNG KHOA
Thiếu tá, Ths Phan Thị Yến
BÀI GIẢNG BÀI 3.1: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT
Giảng viên :………
Tháng 11 năm 2007
Trang 2GIÁO ÁN
PHÊ CHUẨN
Ngày … tháng … năm 2007
TRƯỞNG BỘ MÔN
Bài: Khái quát lịch sử tiếng Việt
Đối tượng: Dự bị đại học
Giảng viên: ………
Thời gian: 2 tiết
1.Mục đích:
- Giúp học viên hiểu được quá trình phát triển của tiếng Việt gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, yêu cầu về tính chất nghệ thuật trong việc sử dụng tiếng Việt
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt để đạt hiệu quả cao trong nói và viết
2 Yêu cầu:
- HV nắm vững lịch sử phát triển tiếng Việt song song với sự phát triển của Việt Nam, cách thức sử dụng tiếng Việt có nghệ thuật trong văn bản
- Vận dụng đọc hiểu, sử dụng, nghiên cứu văn bản trong học tập và công tác
3 Nội dung:
- Nguồn gốc, quan hệ họ hàng tiếng Việt
- Vài nét về quá trình phát triển của tiếng Việt
4 Tổ chức:
Biên chế theo lớp học
Trang 35 Nội dung, thời gian, phương pháp
01 Phần mở đầu
Nhận lớp, kiểm tra
bài cũ quán triệt
YĐHL
5 phút Nắm quân số, chấn chỉnh
tác phong, phát vấn, nhận xét
Bảng,
phấn
02 Phần nội dung
1 Nguồn gốc, quan
hệ họ hàng tiếng Việt
2 Vài nét về quá
trình phát triển của
tiếng Việt
75 phút 25phút 45phút
Kết hợp phân tích, nêu vấn đề, phát vấn, gợi mở và tổng hợp khái quát từng nội dung
03 Kết luận
- Kết luận
- Hướng dẫn nghiên
cứu
5 phút
Khái quát lại nội dung bài học
-Nêu câu hỏi nghiên cứu
6 Địa diểm: Giảng đường
7 Tài liệu:
SGK văn học 10, NXB GD
8 Vật chất bảo đảm: Giáo án, Sgk, Phấn, bút chỉ bảng,…
9 Những mốc thời gian chuẩn bị của giáo viên
9.1 Chuẩn bị tài liệu: Trước một tháng
9.2 Giảng thử: Trước một tuần
GIẢNG VIÊN
Trang 4MỞ ĐẦU
Tiếng Việt là ngôn ngữ có nguồn gốc cổ xưa, đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài đầy sức sống, là “ thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh); nó là tài sản tinh thần mà hàng thế hệ con người Việt Nam đã đấu tranh gìn giữ, bảo vệ nó cùng với gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày nay
PHẦN NỘI DUNG
1.1 Nguồn gốc và quan hệ họ hàng của tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm “tiếng Việt”
Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam và dần dần trở thành công cụ giao tiếp chung giữa nhiều dân tộc anh em mà lịch sử đã gắn bó lại với nhau trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam.
-Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh) chiếm đa số Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng dùng để giao tiếp giữa các thành viên trong nội bộ dân tộc mình
Giữa các dân tộc lại có sự giao tiếp với nhau -> Họ thường dùng tiếng Việt -> Tiếng Việt dần dần được nhiều dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam dùng làm công cụ giao tiếp chung => Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ chính thức của dân tộc Việt Nam
1.1.2 Nguồn gốc của tiếng Việt
-Trước đây có quan điểm cho rằng: dân tộc Việt là một tộc người từ Trung Quốc vượt sông Dương Tử di cư đến, rồi định cư trên đất nước Việt Nam; tiếng nói của tộc người đó là một chi nhánh của tiếng Hán -> tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán => hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ
-Thành tựu khoa học đã chứng minh: tiếng Việt cùng với dân tộc Việt có nguồn gốc bản địa rất đậm nét :
+Xuất hiện và trưởng thành từ rất sớm trên lưu vực sông Hồng và sông Mã trong một xã hội có nền văn minh nông nghiệp pháp triển
+Khảo cổ học đã phát hiện ra “Văn hóa Sơn Vi”, “Văn hóa Hòa Bình” ở nước ta có cách đây hàng vạn năm
+Tiếng Việt có quan hệ họ hàng thân thuộc với các ngôn ngữ khác ở Việt Nam, ở bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Châu Á
=>Tiếng Việt cũng như dân tộc Việt có nguồn gốc rất cổ xưa
1.1.3 Quan hệ họ hàng của tiếng Việt
-Tiếng Việt thuộc họ Nam Á Đó là một họ có ngôn ngữ từ rất xưa, trên một vùng rộng lớn nằm ở Đông Nam châu Á – một trung tâm văn hoá trên thế giới, thời
Trang 5cổ Các nhà nghiên cứu tìm thấy trong họ Nam Á có nhiều dấu tích về mối quan hệ họ hàng gần gũi giữa tiếng Việt và tiếng Mường, có quan hệ họ hàng xa giữa tiếng Việt và nhóm tiếng Nôm – Khơme ở vùng núi phía Bắc, ở dọc Trường Sơn, miền Tây Nguyên, trên đất Campuchia, Miến Điện… -> thể hiện rõ nhất lớp từ cơ bản – những từ thông thường đã có từ lâu đời
Ví dụ:
Tiếng Việt có từ “tay” thì:
+Tiếng Mường là “thay”
+Tiếng Khơnú, Bana, Mơnông, Stiêng là “ti”
+Tiếng Khơme là “đay”
+Tiếng Môn là “tai”
-Ngoài họ Nam Á , tiếng việt còn có quan hệ với các ngôn ngữ khác, nhất là nhóm Thái và nhóm Mã Lai – Đa Đào
Ví dụ:
Theo kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy rằng:
Những từ như: đồng, rẫy, mỏ, gà, vịt, lưng, bụng…cùng gốc với những từ
tương đương trong nhóm Thái
=> Khẳng định rằng : Phần lớn những ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam đều sinh ra từ một cội nguồn chung xa xưa, trong những điều kiện địa lí, lịch sử, văn hoá, xã hội gần gũi nhau Bởi vậy, tiếng Việt đã có một quá trình phát triển đầy sức sống, trong sự gắn bó với xã hội người Việt, với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường, tự chủ
1.2 Sơ lược về quá trình phát triển của tiếng Việt
1.2.1 Tiếng Việt trong thời kì phong kiến
-Đây là thời kì đất nước ta bị 1000 năm Bắc thuộc và dưới các triều đại phong kiến Việt Nam cho đến trước khi Pháp xâm lược -> tiếng Hán giữ vai trò chính thống, tiếng Việt chỉ được dùng làm phương tiện giao tiếp trong sinh hoạt đời thường
-Đây cũng là thời kì tiếng Việt đã không ngừng đấu tranh để bảo tồn và từng bước phát triển -> giành lại vị trí xã hội bị tiếng Hán chiếm giữ :
+Trước hết tiếng Việt đã tự làm phong phú bằng những yếu tố mới qua từng bước:
+)Vay mượn nhiều từ ngữ Hán cổ qua khẩu ngữ như : “đầu”, “gan”, “ghế”,
“ông”, “bà”,…
+)Hình thành nên hệ thống Hán – Việt: Là hệ thống cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt -> hàng loạt những yếu tố Hán gia nhập vào tiếng Việt, làm cho tiếng Việt phong phú thêm, đặc biệt là về từ vựng bằng nhiều cách :
Giữ nguyên về nghĩa, về cấu tạo, chỉ khác về cách đọc như :“đức”, “tài”,
“độc lập”, “tự do”…
Trang 6Rút gọn như : “thừa trần” -> “trần” (trần nhà), “lạc hoa sinh” -> “lạc” (củ lạc)…
Đảo vị trí âm tiết như : “nhiệt náo” -> “náo nhiệt”, “thích phóng” -> “phóng thích”…
Đổi khác nghĩa như : “phương phi” trong tiếng Hán có nghĩa là “hoa cỏ thơm tho” -> tiếng Việt có nghĩa là “bèo tốt”, “đinh ninh” tiếng Hán nghĩa là “dặn dò” -> tiếng Việt là “yên chí là”, “tin chắc rằng”, “ghi nhớ kĩ”…
Nhiều yếu tố Hán được tiếng Việt sử dụng để cấu tạo nên các từ chỉ có trong tiếng Việt, không có trong tiếng Hán như các từ “sĩ diện”, “phi công” (cả 2 yếu tố đều là Hán – Việt); “bao gồm”, “sống động” (1 yếu tố Việt kết hợp với một yếu tố Hán)
+Từ đầu thế kỉ XI, cùng với việc xây dựng và củng cố thêm một bước nhà nước phong kiến độc lập ở nước ta, Nho học được đề cao và giữ vị trí độc tôn
+)Việc học ngôn ngữ văn tự Hán được các triều đại phong kiến Việt Nam chủ động đẩy mạnh Nền văn chương Việt Nam bằng chữ Hán hình thành và phát triển
+)Bên cạnh đó, dựa vào việc vay mượn một số yếu tố văn tự Hán -> một hệ thống chữ viết xây dựng nhằm ghi lại tiếng Việt -> chữ nôm ra đời (chữ Nôm được xây dựng trên cơ sở chữ Hán, đọc theo cách đọc của người Việt mà thường gọi là cách đọc Hán – Việt)
Ví dụ:
Ghép chữ Hán (âm Hán – Việt đọc là “thiên” – trời) với chữ Hán (đọc “thượng” – trên) -> tạo ra chữ Nôm - đọc là “trời”.
+)Một nền văn học viết bằng tiếng Việt (chữ Nôm) ra đời và đạt tới đỉnh
cao với nhiều tác phẩm văn học như “Quốc âm thi tập” (Nguyễn Trãi), “Chinh phụ ngâm” (Đoàn Thị Điểm), “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) …
=> Ở giai đoạn này yếu tố Hán trong tiếng Việt khá lớn, nhưng cơ bản đã được Việt hoá Đây chính là phương thức tự bảo tồn và phát triển của tiếng Việt, tiếng Việt vừa giữ nguyên được bản sắc dân tộc, vừa ngày càng được hoàn thiện hơn
1.2.2 Tiếng Việt trong thời kì thuộc Pháp
-Đây là thời kì chữ Hán mất địa vị chính thống, tiếng Việt vẫn bị chèn ép bởi sự xâm nhập của tiếng Pháp (ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoại giao chủ yếu bằng tiếng Pháp)
-Cùng với sự thông dụng của chữ Quốc ngữ + ảnh hưởng tích cực của ngôn ngữ – văn hoá phương Tây (chủ yếu là tiếng Pháp) -> văn xuôi hiện đại, báo chí, sách vở tiếng Việt thực sự được hình thành và phát triển :
+Văn biền ngẫu gò bó -> mở rộng ra, rành mạch, trong sáng hơn
+Nhiều thể loại mới đã xuất hiện, dần dần chiếm lĩnh vị trí của văn xuôi chữ Hán và thơ phú cổ điển như: văn nghị luận chính trị – xã hội, tiểu thuyết, kịch
Trang 7+Những từ ngữ, thuật ngữ mới đã được sử dụng, tuy chủ yếu vẫn là từ Hán – Việt như: giai cấp, chính trị, kinh tế, hiện thực, lãng mạn…; hoặc gốc Pháp như: xà phòng, cao su, bê tông, xiếc, ôtô, săm, lốp, axit, ôxy…
+ “Phong trào Thơ mới”, tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực nở rộ vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XX
=> Với những hoạt động sôi nổi của văn chương, báo chí làm cho tiếng Việt ngày càng phát triển phong phú, tinh tế, đa dạng; ngày càng tỏ rõ tính năng động và tiềm năng phát triển dồi dào, đủ sức vươn lên làm tròn vai trò, trách nhiệm nặng nề của nó trong giai đoạn mới
1.2.3 Tiếng Việt từ cách mạng tháng Tám đến nay
-Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02 tháng 9 với bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, tiếng
Việt đã hoàn toàn giành lại vị trí xứng đáng của mình trong một đất nước độc lập, tự do
-Tiếng Việt thay thế hoàn toàn tiếng Pháp trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và toàn dân (kể cả đối ngoại) -> tiếng Việt được dùng ở mọi cấp học, ở mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học – kĩ thuật, sự ngiệp văn hoá…
=> Là ngôn ngữ quốc gia, tiếng việt đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
KẾT LUẬN
Lịch sử phát triển của tiếng Việt gắn liền với lịch sử đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc; là thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước và tự chủ của nhân dân Việt Nam Bởi vậy, việc sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao, có tác động lớn về mọi mặt của đời sống xã hội, cũng là một yêu cầu cần thiết đối với mọi người trong quá trình giao tiếp
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU
1 Nắm vững nguồn gốc và các giai đoạn phát triển của tiếng Việt
2 Vẽ sơ đồ phát triển của tiếng Việt với những thành phần sau: các thời kì và văn tự được sử dụng Đặc trưng cơ bản của mỗi thời kì
Trang 8TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2
PHÊ CHUẨN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
Ngày … tháng… năm 2007
TRƯỞNG KHOA
Thiếu tá, Ths Phan Thị Yến
BÀI GIẢNG BÀI 3.2: YÊU CẦU CỦA VIỆC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT
CÓ TÍNH CHẤT NGHỆ THUẬT
Giảng viên :………
Trang 9
Tháng 11 năm 2007
GIÁO ÁN
PHÊ CHUẨN
Ngày… tháng… năm 2007
Bài: Yêu cầu của việc sử dụng tiếng Việt có tính chất nghệ thuật
Đối tượng: Dự bị đại học
Giảng viên: ………
Thời gian: 2 tiết
1.Mục đích:
- Củng cố cho học viên những vấn đề cơ bản nhất về yêu cầu của việc sử dụng tiếng Việt có tính chất nghệ tthuật
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt có tính chất nghệ tthuật
2 Yêu cầu:
- HV năm được những kiến thức sử dụng tiếng Việt có tính chất nghệ tthuật
- Vận dụngkiến thức trong tạo lập văn bản và thực tế giao yêu cầu về tính chất nghệ thuật trong việc sử dụng tiếng Việt
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt để đạt hiệu quả cao trong nói và viết
3 Thời gian: 04 tiết (Lí thuyết)
4.Nội dung
- Hiệu quả và tác động của văn bản
Trang 10- Yêu cầu về tính chính xác
- Yêu cầu về tính nghệ thuật
5.Tổ chức Biên chế theo lớp học
5.Nội dung, thời gian, phương pháp
gian
1 Phần mở đầu:
-Nhận lớp Giới thiệu nội
dung, số tiết của phân môn
TV
-Quán triệt YĐHL
05 ph -Thuyết trình, diễm
giảng
-Diễn đạt ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu
Bảng, phấn
2 Phần nội dung:
1 Hiệu quả và tác động của
văn bản
2 Yêu cầu về tính chính xác
3 Yêu cầu về tính nghệ thuật
130 phút 30phút
50phút 50phút
Nêu vấn đề kết hợp lấy dẫn chứng, phân tích và khái quát vấn đề
3 Phần kết luận:
-Kết luận bài
-Hướng dẫn nghiên cứu
05 ph -Khái quát những nội
dung chính của bài
-Hướng dẫn thực hành, ôn luyện
6.Địa điểm : Giảng đường
7.Tài liệu
-Sách Tiếng Việt – Lớp 10 – Nxb GD – 2001
8.Vật chất bảo đảm
Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất cho dạy và học
9 Những mốc thời gian chuẩn bị của giáo viên
9.1 Chuẩn bị : Đọc sách, nghiên cứu và soạn bài
9.2 Thông qua cấp tổ 1 tuần trước khi lên lớp giảng
GIẢNG VIÊN
Trang 11MỞ ĐẦU
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có sự kết hợp phong phú giữa truyền thống và hiện đại; tính chất dân tộc và tiếp thu sáng tạo Bản sắc Văn hóa kết tinh trong nội tại nên có sự sống mãnh liệt Vừa uyển chuyển linh hoạt lại vừa bền vững Sử dụng tiếng Việt cho đúng đã khó, nói, viết cho hay lại càng khó hơn Muốn sử dụng tiếng Việt cho đúng, cho hay chúng ta cần đọc , học, hỏi , đúc rút nhiều từ sách vở, trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong thực tế đời sống nhân dân xưa và nay Bài học này sẽ giới thiệu những yêu cầu – cách thức khi sử dụng tiếng Việt để đạt hiệu quả cao nhất
PHẦN NỘI DUNG
1 Hiệu quả và tác động của văn bản
1.1 Khái niệm văn bản
Là sản phẩm mà hoạt động ngôn ngữ tạo ra trong quá trình giao tiếp
Tổ chức các câu (nói, viết) trình bày một vấn đề tương đối hoàn chỏnh, ta sẽ có một văn bản
1.2 Nội dung và hình thức văn bản
- Nội dung:
+ Những tri thức hiện thực bên ngoài và những điều xảy ra trong nội tâm
+ Tình cảm, thái độ đánh giá
+ Những hành động mà người tạp lập văn bản muốn tạo dựng, thực hiện
- Hình thức:
+ Các yếu tố ngôn ngữ được dùng, cách thức sử dụng các yếu tố đó cũng như cách thức bố trí các ý tạo nên nội dung
* Một văn bản tốt là một văn bản có nội dung đúng được trình bày bằng một hình thức thích hợp
1.3 Mục đích và hiệu quả của văn bản
1.3.1 Mục đích của văn bản
- Tác động về nhận thức (thuyết phục)
- Tác động về tình cảm (truyền cảm)
- Tác động về hành động
- Tác động về thẩm mĩ
1.3.2 Hiệu quả của văn bản
- Văn bản tác động vào người tiếp nhận cả 3 phương diện: Nhận thức (trí
tuệ), tình cảm, hành động
- Hiệu quả văn bản tuỳ thuộc vào cả nội dung và hình thức
Trang 122 Yêu cầu chung về hành văn của văn bản
2.1 Yêu cầu hài hòa về ngữ âm, chữ viết
Là sự hài hoà của các yếu tố cấu tạo nên văn bản trong thơ cũng như trong văn: tiết tấu, nhịp điệu…
Ví dụ1:
“Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà.” (Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh)
-> Đoạn văn có 3 câu
- Câu 1,2: Kết thúc bằng âm tiết có thanh nặng “vị”, “lập” -> vị lập tự là
một thanh trắc
- Câu 3: Kết thúc âm tiết bằng một thanh huyền “hoà” -> hoà tức là một
thành bằng
=> Sự phối hợp bằng – trắc của 3 câu đã tạo cho đoạn văn sự hài hoà ngữ âm cần thiết, thuận lợi cho việc tiếp nhận của người nghe, người đọc
Ví dụ 2:
…Con lại lần theo lối sỏi quen
Đến bên thang gác đứng nhìn lên
Chuông ơi, chuông nhỏ còn reo nữa?
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn…
(Bác ơi! – Tố Hữu)
-> Trong câu thơ cuối, tổ hợp từ “tắt ánh đèn” đặt sau cùng là cần thiết cho vần
thơ, nhịp thơ, đã đáp ứng được cách ngắt nhịp trong thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
2.2 Yêu cầu tinh tế về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa là một nội dung của văn bản Ngữ nghĩa càng tinh tế thì hiệu lực thông báo, diễn đạt của văn bản càng lớn, hiệu quả và tác động của văn bản càng cao
-Phải đảm bảo tính hàm súc: Nội dung hiện ra hiển nhiên qua các từ ngữ tạo thành và ý tứ sâu sắc khác chứa đựng bên trong nó
-Phải có tính hình tượng: Hiện thực được miêu tả thông qua những hiện tượng cụ thể, điển hình, được nhận thức trực tiếp bằng cảm tính
-Phải có tính cá thể hoá: Nội dung của văn bản mặc dù vẫn phản ánh hiện thực, nhưng đó là hiện thực với những sự vật, sự kiện có thuộc tính riêng biệt không lẫn lộn với sự vật, sự kiện khác; không bị đồng nhất với những sự vật, sự kiện cùng chủng loại
Ví dụ:
…Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da