LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NINH THỊ NGÀ
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂU MẢNG TRONG TIN HỌC LỚP 11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Tin học
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lưu Thị Bích Hương
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài Xây dựng hệ thống bài tập kiểu
mảng trong Tin học lớp 11, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa Công nghệ
Thông tin trường ĐHSPHN2, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn - TS Lưu Thị
Bích Hương cùng với gia đình và bạn bè
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô
giáo Lưu Thị Bích Hương, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo
em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa CNTT trường ĐHSP Hà
Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu
Ngoài ra, em muốn gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và các thầy cô
giáo trong tổ Toán – Tin của trường THPT Quế Võ 2, đặc biệt là cô hướng
dẫn thực tập Phùng Thị Thắng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và đóng góp ý
kiến để em thực hiện đề tài này
Cuối cùng, em xin cảm ơn tập thể lớp Sư phạm Tin, khóa 38, các bạn
đã đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm bản thân giúp khóa luận của em ngày
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
1 Em xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của riêng em và được sự hướng
dẫn trực tiếp của TS Lưu Thị Bích Hương Các nội dung nghiên cứu, kết quả
đều là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những
số liệu kết quả được chính em thu thập trong thời gian thực tập tại trường
THPT Quế Võ 2
2 Mọi tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả,
tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, em xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà nội, tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
NINH THỊ NGÀ
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số vấn đề về dạy và học 8
1.2.1 Quá trình dạy học 8
1.2.2 Cơ sở lý luận về tự học 10
1.3 Bồi dưỡng giúp học sinh học tốt tin học lớp 11 16
1.3.1 Hình thành và phát triển tư duy cho học sinh 16
1.3.2 Những phẩm chất và năng lực của học sinh 17
1.4 Thực trạng của việc dạy và học bộ môn tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2 18
1.4.1 Những khó khăn và nhu cầu của giáo viên khi bồi dưỡng học sinh lớp 11 19
1.4.2 Thực trạng dạy học môn Tin ở trường THPT 19
1.4.3 Thực trạng, tình hình tự học của học sinh 19
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂU MẢNG TRONG TIN HỌC LỚP 11 TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ 2 23
2.1 Những định hướng khi xây dựng hệ thống bài tập tin học lớp 11 23
2.1.1 Những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập tin học 23
2.1.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 25
2.2 Phân tích chương trình Tin học phần kiểu mảng 26
2.2.1 Giới thiệu chung 26
Trang 52.3 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong tin học lớp 11 trường
THPT Quế Võ 2 28
2.3.1 Mục tiêu biên soạn hệ thống lý thuyết và bài tập phần kiểu mảng trong chương trình tin học phổ thông 28
2.3.2 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong tin học lớp 11 28
2.4 Các dạng bài tập kiểu mảng 31
2.4.1 Nhập và hiển thị mảng 31
2.4.2 Sắp xếp mảng 32
2.4.3 Tìm kiếm trong mảng 33
2.4.4 Chèn - xóa phần tử trong mảng 34
2.5 Xây dựng hệ thống bài tập 34
2.5.1 Bài toán nhập và hiển thị mảng 34
2.5.2 Bài toán sắp xếp mảng và các phương pháp sắp xếp trong mảng 36
2.5.3 Bài toán tìm kiếm trong mảng 36
2.5.4 Bài toán chèn - xóa phần tử trong mảng 47
2.5.5 Bài toán kiểm tra tính chất các phần tử trong mảng 49
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích thực nghiệm 51
3.1.1 Tính khả thi 51
3.1.2 Tính hiệu quả 51
3.2 Đối tượng thực nghiệm 52
3.3 Nội dung thực nghiệm 52
3.4 Tiến hành thực nghiệm 53
3.4.1 Chuẩn bị 53
3.4.2 Tiến hành giảng dạy trên lớp 53
3.4.3 Tổ chức thực nghiệm 62
Trang 63.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 62
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên 69
Phụ lục 2: Phiếu tham khảo ý kiến học sinh 70
Phụ lục 3: Phiếu tham khảo ý kiến giáo viên 71
Phụ lục 4: Đề kiểm tra số 1 73
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Các nhóm TN và ĐC 52
Bảng 3.2 Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập 63
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp điểm bài kiểm tra 64
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp kết quả học tập của 2 lớp qua bài kiểm tra 65
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy học 9
Hình 1.2 Tam giác thể hiện mối quan hệ của giáo viên, học sinh và đối tượng 9
Hình 1.3 Tam giác sư phạm 10
Hình 1.4 Sơ đồ biểu thị quá trình tự học của trò 13
Hình 1.5 Sơ đồ biểu thị quá trình dạy của thầy 14
Hình 2.1 Nhập và hiển thị mảng 31
Hình 2.2 Hàm gọi thủ tục 32
Hình 2.3 Mô phỏng thuật toán với N=10 41
Hình 2.4 Mô phỏng thuật toán với N=10, k=13 43
Hình 2.5 Mô phỏng thuật toán với N=10, k=19 43
Hình 2.6 Mô phỏng thuật toán với N=8, k=10 45
Hình 2.7 Mô phỏng thuật toán với N=8, k=19 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, khoa học và kỹ thuật phát triển với tốc độ rất nhanh Người
ta ước tính rằng cứ sau 8 năm thì tri thức của nhân loại được tăng lên gấp đôi
Từ khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời mở ra một kỷ nguyên phát triển
rực rỡ của CNTT
Những thành tựu to lớn của CNTT đang thâm nhập sâu rộng vào hầu
hết các ngành kinh tế quốc dân, vào mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, văn hóa
và nghệ thuật, khoa học và giáo dục, vào mọi cơ quan quản lý các cấp và mọi
gia đình Điện tử và Tin học làm biến đổi sâu sắc đến lối sống và phong cách
tư duy của con người Xã hội thông tin đang đặt ra các yêu cầu rất cao đối với
các hoạt động trí tuệ của toàn xã hội
Mọi tiến bộ khoa học kỹ thuật cuối cùng cũng đi vào giáo dục và đặt ra
cho giáo dục những nhiệm vụ mới Sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự
bùng nổ của thông tin đòi hỏi nhà trường phải tạo nên những con người thông
minh, sáng tạo
Ở Việt Nam, những thành công của sự nghiệp đổi mới trong hơn hai
thập niên qua đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào
trong nhà trường
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm đưa
nước ta theo kịp nhiệt độ phát triển của thế giới trong xu hướng hội nhập với
nền kinh tế toàn cầu đòi hỏi thế hệ trẻ phải sử dụng thành thạo các ứng dụng
của CNTT vào lĩnh vực công tác của mình trong tương lai Nhiều quan niệm
cho rằng “Không biết Tin học coi như bị mù chữ lần thứ hai Việc dạy tin học
cũng quan trọng như việc xóa mù chữ”
Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng Tin học được
áp dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong
hầu hết lĩnh vực của đời sống, và là một phần không thể thiếu trong trình độ
Trang 11học sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hướng cho học sinh
những nhận thức, những hiểu biết ngang tầm thời đại, phải luyện cho học sinh
luôn tự tìm tòi, khám phá những lĩnh vực mới của nhân loại, góp phần phát
triển tư duy nhận thức của học sinh; rèn luyện cho học sinh khả năng vận
dụng kiến thức Tin học vào thực tiễn Từ đó, giáo dục kỹ thuật tổng hợp và
hướng nghiệp cho học sinh
Hiện nay môn Tin học đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường
phổ thông và có tăng thêm thời lượng Đây là một thuận lợi rất lớn cho việc
tiến hành giảng dạy Học sinh sẽ nghiêm túc hứng thú và có trách nhiệm hơn
khi học môn học, nhà trường có cơ sở pháp lý để đầu tư về trang thiết bị,
phòng máy, triển khai các hoạt động ngoại khóa liên quan Tuy nhiên, trên
thực tế vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
+ Các em chưa được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên sâu, gây khó
khăn trong việc tìm hiểu, giải quyết những vấn đề liên quan tới môn học
+ Nền giáo dục ở nước ta đa phần nghiêng về lý thuyết và bài tập, học
sinh chưa có điều kiện thực hành nhiều do vậy việc vận dụng kiến thức vào
đời sống còn nhiều hạn chế
+ Tài liệu tuy phong phú nhưng chưa có sự chọn lọc, không đáp ứng
nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu của học sinh
Và đặc biệt việc xây dựng các hệ thống bài tập nhằm rèn luyện, trang bị
đầy đủ cho học sinh các kỹ năng học tập vẫn chưa được chú trọng Vì vậy đa
số học sinh lớp 11 THPT còn non kém về kỹ năng lập trình
Vấn đề đặt ra ở đây là cần xây dựng hệ thống bài tập như thế nào? Quy trình
xây dựng ra sao? Cần phải dựa vào những tiêu chí gì?
Là một giáo viên Tin học trong tương lai, việc vận dụng các tri thức
phương pháp vào xây dựng hệ thống bài tập tin học, nhất là hệ thống bài tập
kiểu mảng nhằm rèn luyện và nâng cao khả năng học tốt cho học sinh là một
đề tài mà em tâm đắc và có nhiều trăn trở
Trang 12Đi đôi với hệ thống các kiến thức lý thuyết là hệ thống bài tập không
thể tách rời Hệ thống bài tập nhằm giúp học sinh hình thành, củng cố tri thức,
kỹ năng, kỷ xảo ở các khâu khác nhau của quá trình học tập, phát triển năng
lực trí tuệ, rèn luyện những hoạt động tư duy
Tuy nhiên, quá trình tiếp thu kiến thức lý thuyết cũng như giải quyết
các bài tập của học sinh còn nhiều vướng mắc Các em chưa biết cách phân
loại dạng bài tập khi giải quyết, chưa nắm vững các hệ thống thuật toán để
giải quyết các bài toán này
Từ những lý do đó và được sự gợi ý của cô giáo hướng dẫn, em đã lựa
chọn đề tài Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
làm đề tài nghiên cứu của mình, nhằm giúp các em có thể phân loại được các
dạng bài tập, áp dụng các thuật toán để giải quyết các bài tập trong chương
trình Tin học phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức dạy học có hệ thống bài tập kiểu mảng nhằm rèn
luyện khả năng giải các bài toán lập trình cho học sinh lớp 11 trường THPT
Quế Võ 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng hợp một số nội dung làm cơ sở lý luận cho đề tài:
+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc dạy và hướng dẫn cho học sinh học
tốt tin học;
+ Cơ sở lý luận về việc học và tự học;
+ Cơ sở lý thuyết phần bài tập kiểu mảng
- Nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu phần kiểu mảng nhằm xây dựng hệ
thống bài tập theo hướng đơn giản, dễ nghiên cứu phát huy tính tích cực, tự
lực, tự giác của học sinh
- Biên soạn hệ thống bài tập kiểu mảng điển hình cho học sinh lớp 11
- Thiết kế mẫu một số giáo án giảng dạy về bài tập kiểu mảng trong tin
Trang 13- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả và khả thi của tài
liệu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 11
Phạm vi nghiên cứu: Trường THPT Quế Võ 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nếu việc xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng cho học sinh lớp 11
trường THPT Quế Võ 2 có tính khả thi cao, hợp lý, khoa học, phát huy tốt
tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh thì sẽ nâng cao chất lượng dạy
và học tại trường
- Nếu tổ chức dạy học các bài tập kiểu mảng theo phương pháp dạy học
tích cực bảo đảm các yêu cầu về sư phạm thì sẽ hình thành, rèn luyện và phát
triển được kỹ năng lập trình cho học sinh cũng từ đó nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng như của Bộ
giáo dục và đào tạo về việc nâng cao chất lượng giáo dục và vấn đề đưa tin
học vào nhà trường THPT
- Nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp,
phân loại, hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết có liên quan, các bài giảng về
phương pháp dạy học Tin học
- Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, tâm lí học, các tài liệu về
phương pháp dạy học môn Toán, Vật lý,… để từ đó áp dụng vào giảng dạy
Trang 14Phương pháp điều tra xã hội học
- Tìm hiểu thực trạng, tiếp xúc với giáo viên và học sinh trường THPT
Quế Võ 2 đề trao đổi các vấn đề liên quan đến việc dạy học, truyền thụ tri
thức tin học và rèn luyện kỹ năng xây dựng hệ thống bài tập
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các giải pháp đề xuất
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và hướng phát triển, tài liệu tham khảo thì
nội dung của khóa luận gồm có ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11 trường
THPT Quế Võ 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Từ xưa đến nay nhân tố con người luôn giữ vai trò quan trọng nhất
trong sự phát triển của xã hội Con người có sự tiến bộ, được giáo dục hoàn
thiện về nhân cách và chuyên môn thì xã hội sẽ được xây dựng một cách có
hệ thống, văn minh và bền vững Hiểu được vai trò trọng yếu của nhân tố con
người, Đảng và nhà nước đã có nhiều chiến lược, đẩy mạnh đầu tư hệ thống
giáo dục, các trường THPT và các trường đại học ngày càng chú trọng hơn về
chất lượng, chuyên môn, hàng loạt các cuộc thi được hưởng ứng Chính vì thế
việc nghiên cứu các chuyên đề cho học sinh ngày càng được chú trọng, số
lượng các công trình nghiên cứu đã tăng lên đáng kể, không những đa dạng về
nội dung, hình thức mà phạm vi nghiên cứu ngày một mở rộng
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển
giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người…” Chính vì thế, trong những năm gần đây, chất lượng dạy và học
ngày càng được nâng cao, GV được bồi dưỡng trình độ chuyên môn, HS có
nhiều điều kiện, cơ hội để phát triển tiềm năng của bản thân Bên cạnh những
kiến thức cơ bản thì hệ thống những kiến thức nâng cao đang được nhiều cán
bộ, GV quan tâm Ngành giáo dục đang từng bước đầu tư, ươm mầm cho
những tài năng trẻ của đất nước, chương trình giảng dạy của các trường THPT
đã và đang được chú trọng Tuy nhiên, trên thực tế chất lượng giáo dục vẫn
còn tồn tại một số vấn đề sau:
- Nền giáo dục nước ở nước ta đa phần nghiêng về lý thuyết và bài tập, HS
chưa có điều kiện thực hành nhiều do vậy việc vận dụng kiến thức vào đời
sống còn nhiều hạn chế
- Các em chưa được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên sâu, gây khó khăn
Trang 16- Tài liệu tuy phong phú nhưng chưa có sự chọn lọc, không đáp ứng nhu cầu
nghiên cứu tìm hiểu của học sinh
Hiểu được điều đó nên sau khi được nhà trường phân công về trường THPT
Quế Võ 2 thực tập, em đã tìm hiểu và đưa ra được kết luận như sau:
Trước tiên là thực trạng về tình hình học tập của HS:
- Số lượng HS yêu thích giờ bài tập không cao, HS chưa chuẩn bị cho tiết bài
tập vì các em chưa biết nhận dạng, chưa nắm phương pháp giải từng dạng,
không giải được bài tập khiến các em cảm thấy chán nản
- Số lượng bài tập và số HS làm được bài tập ít, HS chưa có thói quen tìm các
bài tập tương tự làm ở nhà
- Thời gian dành cho việc theo dõi, ghi chép các bài tập ở lớp và tự rèn luyện
chưa nhiều, các em phải chịu sự chi phối của nhiều môn học
- Chưa được sự hướng dẫn của GV về khả năng tự học, rèn luyện và nâng cao
tri thức
Và sau đó là những khó khăn cả về phía nhà trường cả về phía GV:
- Các phòng bộ môn Tin chưa đủ rộng để có thể sử dụng chung cùng máy
chiếu
- Khối lượng thao tác trên thiết bị cần nhiều thời gian, thời lượng thực hành ít
nên kết quả thực hành thường chưa trọn vẹn
- Trình độ HS ở các khối lớp là chưa đồng đều nên việc tiếp thu, lĩnh hội tri
thức của HS còn gặp rất nhiều hạn chế
Nhìn chung, với tâm lý thường các em coi bộ môn Tin học là môn phụ
nên không chú trọng, nhiều em học sinh không dành đủ thời gian học nên
không hiểu bài và dần bị mất căn bản Dẫn đến lý do nhiều em bị điểm kém,
thi lại hay thậm chí là học lại
Trang 171.2 Một số vấn đề về dạy và học
1.2.1 Quá trình dạy học
a) Định nghĩa
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp giữa GV và HS,
trong đó GV thực hiện hoạt động dạy, HS thực hiện hoạt động học, hai hoạt
động này được tiến hành phối hợp, tương tác với nhau, mục đích cuối cùng là
nhằm bồi dưỡng cho HS hệ thống tri thức hiểu biết về mọi vấn đề diễn ra
trong đời sống, hệ thống kỹ năng sống để thông qua đó hình thành cho HS
thái độ đúng đắn trong đời sống
Quá trình dạy học được xác định bởi các dấu hiệu sau [10]:
- Thứ nhất: dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm
truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành và
phát triển nhân cách của người học
- Thứ hai: Hoạt động dạy và hoạt động học đều phải được tiến hành trên
bản thể của quá trình dạy học đó là nội dung dạy học Nội dung dạy học
là yếu tố khách quan, quyết định tiến trình và phương pháp hoạt động
dạy và hoạt động học
- Thứ ba: Kết quả của quá trình dạy học là làm biến đổi ở người học
những đặc tính nào đó đã được xác định từ trước, tương ứng với nội
dung dạy học Nói cách khác, phải thực hiện được mục đích của chính
quá trình dạy học đó
- Thứ tư: Một quá trình dạy học bất kỳ bao giờ cũng phải được tiến hành
trong khoảng không gian, thời gian nhất định (một tiết dạy, một bài,
một khóa đào tạo, bồi dưỡng…) Nhìn chung, quá trình dạy học phải là
quá trình học tập có kiểm soát và điều khiển được
b) Cấu trúc của quá trình dạy học [7]
Cấu trúc của quá trình dạy học là cấu trúc - hệ thống Cấu trúc của quá
trình dạy học bao gồm một hệ thống các thành tố vận động và phát triển trong
Trang 18Một quá trình dạy học bao gồm các yếu tố: mục đích, nội dung dạy học, các hoạt động dạy học và kết quả học tập Trong quá trình dạy và học phải có phương pháp phù hợp Các yếu tố trên có quan hệ hữu cơ với nhau
Cấu trúc của quá trình dạy học có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Hình 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy học
Xem xét về mối quan hệ giữa dạy và học trong quá trình dạy học, Jean Vial (1986) đã cho rằng tế bào của quá trình dạy học là sự tác động của GV
và HS và đối tượng mà GV cần phải nắm vững để học Do đó xuất hiện một tam giác thể hiện mối quan hệ của GV, HS và đối tượng
Tam giác này thể hiện 3 mối quan hệ cụ thể (Hình 1.2):
(GV nắm vững tri thức và cách dạy)
2 Quan hệ giữa HS và ĐT (1) (2) (HS nắm được cách học, chiếm lĩnh tri thức)
3 Quan hệ giữa GV và HS (Quan hệ sư phạm và cá nhân) ( (3)
Hình 1.2 Tam giác thể hiện mối
quan hệ của GV, HS và đối tượng
GV Vv Vv vvv bb BB BV vV
MĐDH
NDDH
PPDH
KQDH
Trang 19Đối tượng có thể là mục tiêu (MT), nội dung (ND), phương pháp và
phươ ng tiện dạy học (PP)
Đối tượng còn được gọi là khách thể hay là tri thức (MT: HS nắm được
đối tượng hay tri thức để làm gì? ND: HS cần nắm đối tượng hay tri thức cụ
thể nào? Và PP: Phương pháp nắm ra sao?)
Tế bào này được biểu thị bằng một tam giác gọi là tam giác sư phạm với ba
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách Khoa 2001: “… tự
học là quá trình tự mình hoạt động, lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ
năng thực hành…”
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó
cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của
người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh
rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự
nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người
học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung
Trang 20và các phẩm chất của bản thân, khai thác vận dụng những điều kiện vật chất
có thể đế biến một kiến thức nào đó của người khác thành kiến thức sở hữu
của mình, vận dụng một kiến thức nào đó của người khác để làm cho công
việc của bản thân có hiệu quả hơn”
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình dùng các giác
quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử
dụng công cụ cùng với các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả
nhân sinh quan , thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có ý chí tiến
thủ, không ngại khó,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực, hiểu biết nào đó của nhân
loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc SGK, sách báo các loại, nghe radio,
truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem
phim, kịch, giao tiếp với những người có học thức, các chuyên gia và những
người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách
lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu
đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm
tắt, làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển, sách tham khảo, biết cách làm
việc trong thư viện,… Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các
bài tập chuyên môn, tham gia các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các
hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự
giác và kiên trì cao
b) Các hình thức của tự học
Theo tài liệu lý luận dạy học, tự học có 3 hình thức:
Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu
và vận dụng các kiến thức có trong tài liệu Cách học này sẽ đem lại rất nhiều
khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự lập rất
cao
Trang 21Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu
hoặc các phương tiện thông tin khác
Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và có GV trực tiếp hướng
dẫn trong một số tiết học trong ngày, trong tuần sau đó HS về nhà tự học
c) Chu trình của tự học
Theo tác giả Nguyễn Kỳ: “Quá trình dạy - tự học là một hệ thống toàn
vẹn gồm ba thành tố: thầy (dạy), trò (tự học), tri thức Ba thành tố cơ bản này
luôn tương tác với nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm
kết hợp chặt chẽ quá trình dạy của thầy với quá trình tự học của trò làm cho
trò dạy học cộng hưởng với tự học tạo ra chất lượng, hiệu quả giáo dục cao.”
Chu trình dạy học gồm chu trình tự học của trò và chu trình dạy của
thầy
Trang 22Hình 1.4 Sơ đồ biểu thị quá trình tự học của trò
TỰ THỂ HIỆN:
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, tự thể hiện qua hợp tác, trao đổi với bạn bè và thầy cô
TỰ KIỂM TRA, TỰ ĐIỀU CHỈNH:
Sau khi tự thể hiện mình qua hợp tác, trao đổi với bạn bè và thầy cô, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá
Trang 23Hình 1.5 Sơ đồ biểu thị quá trình dạy của thầy
TỔ CHỨC:
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: Tổ chức các cuộc tranh luận, hội thảo, sinh hoạt nhóm…
TRỌNG TÀI, CỐ VẤN, KẾT LUẬN, KIỂM TRA:
Thầy là trọng tài, cố vấn kết luận
về các cuộc tranh luận, hội thảo, đối thoại… thầy là người kiểm tra đánh giá kết quả tự học của trò, trên cơ sở tự kiểm tra, tự đánh giá
Trang 24d) Vai trò của tự học
Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi
người
Tự học là con đường khẳng định của mỗi người Tự học giúp cho con
người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh
khó khăn của cuộc sống cá nhân
Tự học khắc phục nghịch lý, học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì
có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho thầy không có cách nào truyền thụ hết
kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không rơi vào
tình trạng tụt hậu Đối với HS THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc
học này chắc chắn không thể nào tiếp thu hết khối lượng kiến thức khổng lồ
trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết
mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi của nhà
trường
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình
tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự
học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được
do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ
cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập
cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự
học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào
tạo
Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời
Đối với HS THPT, nếu không có phương pháp và khả năng tự học, tự nghiên
cứu thì khi đến các bậc cao hơn như đại học, cao đẳng… HS sẽ khó thích ứng
với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó
có thể thu được một kết quả học tập tốt
Trang 25Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng với yêu cầu đổi mới
giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường THPT Với lối
dạy theo hướng nhồi nhét trong một số trường THPT, HS khó có thể có thời
gian để tự học hiệu quả Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người
học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học là con đường phát
triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm
đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
Tóm lại: Tự học là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng
của chính mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của
mỗi người Tuy tự học có vai trò hết sức quan trọng nhưng việc tự học của HS
cũng không thể đạt được kết quả cao nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của
người thầy Chính vì vậy, trong nhà trường điều chủ yếu không phải là cung
cấp cho HS vốn kiến thức hỗn độn, nhồi nhét mà là giáo dục cho học trò
phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập và
phương pháp giải quyết vấn đề GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự
học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả
1.3 Bồi dưỡng giúp học sinh học tốt Tin học lớp 11
1.3.1 Hình thành và phát triển tư duy cho học sinh
Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp HS nắm vững kiến thức
tin học, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành Qua đó,
kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn HS chỉ thực
sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự hướng
dẫn của GV mà HS biết cách phân tích, khái quát tài liệu có nội dung, sự kiện
cụ thể từ đó rút ra những kết luận cần thiết
Tư duy càng phát triển thì càng có khả năng lĩnh hội được tri thức
nhanh và sâu sắc, khả năng vận dụng tri thức nhanh và hiệu quả hơn Như
vậy, sự phát triển tư duy HS diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri
Trang 26nghĩ, có phương pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho HS trong hoạt động sáng
tạo sau này
Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển [1]:
- Có khả năng vận dụng các tri thức và kỹ năng để giải quyết tình huống
mới
- Trong quá trình học tập, HS phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi liên
tưởng đến những kiến thức đã liên hệ trước đó Nếu HS độc lập chuyển
tải tri thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát
- Sử dụng thành thạo các kỹ năng, phương pháp tư duy và biết phối hợp
các kỹ năng, phương pháp đó một cách hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ
một cách nhanh chóng và thuyết phục
1.3.2 Những phẩm chất và năng lực của học sinh
Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu là phát triển và sử dụng
máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất của thông tin, phương pháp
thu thập, lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng vào các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Vì vậy, một học sinh muốn học tốt
môn Tin học cần có những phẩm chất và năng lực sau đây:
- Hiểu được sâu sắc những kiến thức cơ bản và có khả năng tiếp thu
những kiến thức mới Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến
thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường
mòn
- Có kiến thức cơ bản vững vàng, sâu sắc Biết vận dụng linh hoạt, sáng
tạo những kiến thức mình có trong những tình huống cụ thể
Trang 27- Có kĩ năng thực hành tốt, đây là một yếu tố không thể thiếu được đối
với mỗi HS giỏi tin Để từ đó kết hợp tốt các kỹ năng thực hành trong thực tế
cuộc sống
Ngoài ra, một HS muốn học tốt môn Tin học cần có khả năng tự học
tốt, có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng, luôn hứng thú trong các tiết
học, đặc biệt là khi học bài mới, luôn chủ động trong học tập và có ý thức
vươn lên trong học tập
1.4 Thực trạng của việc dạy và học bộ môn Tin học lớp 11 trường THPT
Quế Võ 2
1.4.1 Những khó khăn và nhu cầu của giáo viên khi dạy cho học sinh lớp 11
a) Khó khăn
Nội dung chương trình Tin học THPT chỉ đề cập những kiến thức cơ
bản, còn thiếu nhiều so với lý thuyết chủ đạo, nhiều câu hỏi và bài tập mang
tính chất giả định, thiếu thực tế
Việc đầu tư cho các tiết bài tập còn hạn chế, phần lớn là thiết kế một số
bài tập theo một số dạng cơ bản rồi yêu cầu học sinh làm bài, giáo viên chuẩn
hóa lại bài làm và học sinh ghi chép lại Hoặc giáo viên có thể liệt kê các nội
dung kiến thức liên quan (dạng kênh chữ theo dòng) rồi nêu lại, đồng thời đưa
ra các bài tập cơ bản và yêu cầu học sinh làm bài Cách làm này chưa thống
kê logic lại các nội dung mà học sinh cần nhớ và sử dụng Dẫn đến các tiết bài
tập thường không đạt được như mục tiêu của tiết học, chưa tạo được hứng thú
cho đa số học sinh
Trình độ HS ở các lớp là chưa đồng đều nên việc tiếp thu, lĩnh hội tri
Trang 28Mở CLB Tin học giúp HS có điều kiện sử dụng và rèn luyện kỹ năng
khai thác tốt hơn các thiết bị, phương tiện truyền thông ứng dụng vào học tập
Bên cạnh SGK cần có SBT Tin, các trang web, tài liệu tham khảo mở
rộng, chuyên sâu
1.4.2 Thực trạng dạy học môn Tin ở trường THPT
Tiến hành phát phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của 5 GV hiện đang
giảng dạy bộ môn Tin học tại trường THPT Quế Võ 2
Sau khi tiến hành phát phiếu điều tra (phụ lục 1), thu phiếu điều tra, em
thu được kết quả như sau:
Thứ nhất: Lãnh đạo nhà trường đã thật sự quan tâm đến công tác quản
lý việc giảng dạy môn Tin học Tuy nhiên do thiết bị phục vụ, cơ sở vật chất
còn chưa đầy đủ nên thầy cô vẫn còn gặp khó khăn trong việc giảng dạy
Thứ hai: HS đã có hứng thú tìm tòi, khám phá nhưng do thói quen chỉ
nghe giảng, chép bài mà không phát biểu cộng với trình độ học tập của các
em chưa đồng đều nên các em vẫn còn bị động trong quá trình học tập
Thứ ba: Qua khảo sát, các GV đều cho rằng hệ thống bài tập trong SGK
chỉ phù hợp với trình độ của HS trung bình Còn đối với HS khá giỏi, cần có
thêm hệ thống bài tập, SBT cũng như các tài liệu tham khảo khác để nâng cao
hiệu quả học tập và phù hợp với trình độ của các em
Như vậy, thông qua phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của các GV, em
nhận thấy nhà trường đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học môn
Tin Tuy nhiên, do thiết bị phục vụ, cơ sở vật chất còn chưa đầy đủ cộng với
trình độ học tập của các em chưa đồng đều nên thầy cô vẫn còn gặp rất nhiều
khó khăn trong việc giảng dạy
1.4.3 Thực trạng, tình hình học tập của học sinh
Qua thực tiễn dự giờ, điều tra (phụ lục 2), trao đổi với các giáo viên có
kinh nghiệm và tiến hành lấy ý kiến của 35 HS lớp 11 trường THPT Quế Võ
2, em thu được một số ý kiến như sau:
Trang 29A Thầy cô dạy vui, hấp dẫn 9 25,71
B Có nhiều điều thú vị, muốn tìm tòi, khám phá 12 34,29
Khi được hỏi vì sao em thích học môn Tin, đa số các em đều trả lời vì
môn Tin có nhiều điều thú vị, muốn tìm tòi, khám phá và gần gũi với cuộc
sống Các em thích môn Tin nhờ đặc điểm và lòng yêu thích, đam mê cá nhân
của mình Chính vì thế các em sẽ chủ động tìm hiểu những vấn đề khó, liên
quan đến môn học này
2 Trong giờ học môn Tin, em thường:
A Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến 2 5,71
B Nghe giảng, chép bài nhưng không phát biểu 33 94,29
C Không nghe, không tập trung 0 0
Để học tốt môn Tin, ngoài lòng đam mê, yêu thích môn học các em còn
phải trang bị cho mình một phương pháp học tập phù hợp Khi được hỏi trong
giờ học em thường làm gì, gần như tất cả các em đều học theo cách thụ động,
nghe giảng, chép bài nhưng không phát biểu, đây là một vấn đề cần giải
quyết Học là cần có sự trao đổi, phát biểu ý kiến của từng cá nhân Vậy phải
có một phương pháp học phù hợp với cách học của các em
Trang 303 Khi học môn Tin, ngoài sách giáo khoa, em thường nghiên cứu bài
tập trong:
A Đề cương nhà trường cung cấp 9 25,71
B Bài tập giáo viên giảng dạy biên soạn 16 45,71
C Sách nâng cao, sách tham khảo 9 25,71
D Bài tập, giáo trình, các clip hướng dẫn học trên
mạng
Khi học môn Tin, các em thường nghiên cứu bài tập do các giáo viên
giảng dạy biên soạn Điều này chứng tỏ, các em vẫn còn thụ động trong việc
tìm kiếm tài liệu học tập cho mình
4 Khi gặp bài tập khó hay những vấn đề thắc mắc, em thường:
Khi khảo sát ý kiến với câu hỏi trên, em nhận thấy các em vẫn chưa
thật sự quan tâm đến những bài tập khó, tuy các em thường dùng nhiều cách
nhưng hỏi GV vẫn là ý kiến được nhiều HS đồng tình
Trang 315 Theo các em, nếu có hệ thống lý thuyết và bài tập trong quá trình
Theo các em, hệ thống lý thuyết và bài tập giữ vai trò quan trọng và cần
thiết trong quá trình học Nó giúp các em nhớ bài, nắm và hiểu bài một cách
khoa học hơn
Như vậy, qua kết quả khảo sát ý kiến, em nhận thấy khả năng giải bài
tập, khả năng phát hiện vấn đề, tìm kiếm tài liệu học tập của HS hầu hết còn
yếu nên việc tìm tòi, tư duy rất chậm Hơn nữa, do HS bị hổng kiến thức nên
trong quá trình giảng dạy vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn
Từ những khó khăn đó đã dẫn đến thực trạng dạy Tin hiện nay ở
trường THPT Quế Võ 2
Trang 32CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂU MẢNG TRONG
TIN HỌC LỚP 11 TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ 2
2.1 Những định hướng khi xây dựng bài tập tin học lớp 11 trường THPT
Quế Võ 2
2.1.1 Những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập tin học
a) Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu dạy học
Mục tiêu của môn tin học ở trường THPT là cung cấp cho HS những
kiến thức cơ sở khoa học của tin học ở mức độ cao, cung cấp một hệ thống
kiến thức tin học phổ thông cơ bản, thiết thực, mở rộng và nâng cao nhiều vấn
đề thuộc bộ môn tin học; phát triển kĩ năng bộ môn; kĩ năng giải quyết vấn đề
đã có ở cấp học dưới để phát triển năng lực nhận thức và nâng cao năng lực tư
duy cho HS
b) Hệ thống bài tập phải đảm bảo chính xác, khoa học
Khi tiến hành xây dựng bài tập nội dung của từng bài tập phải có sự
chính xác về kiến thức tin học, đủ dữ kiện để HS có thể vận dụng khi giải
quyết bài tập, không dư hay thiếu dữ kiện, diễn đạt bài tập một cách logic,
đảm bảo tính chính xác, khoa học về mặt ngôn ngữ tin học
c) Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình trong thế giới khách quan
không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong một hệ thống, có quan hệ mật thiết và
tác động lẫn nhau
Vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc vào việc xây dựng bài tập cho
HS, mỗi bài tập tương ứng với mỗi kỹ năng cơ bản nhất định Hệ thống gồm
nhiều bài tập sẽ hình thành hệ thống kĩ năng toàn diện cho HS
Hệ thống bài tập phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú về
hình thức, dạng bài tập Sự đa dạng của hệ thống bài tập cùng với việc vận
dụng các phương pháp tích cực sẽ rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng kiến
Trang 33Khi xây dựng hệ thống bài tập thường có sự không đồng đều giữa các
dạng bài tập Có những bài tập được đầu tư nhiều về số lượng vì chúng góp
phần quan trọng vào việc hình thành và rèn luyện những kỹ năng liên quan
đến nhiều hoạt động giáo dục,… Các bài tập trong hệ thống luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, bài tập bố trí trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện bài
tập sau và bài tập sau là sự cụ thể hóa, phát triển và vững chắc hơn bài tập
trước
d) Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân hóa, tính vừa sức
Bài tập phải được xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
Thoạt đầu là những bài tập chỉ đòi hỏi mức độ hiểu, biết hoặc vận dụng theo
mẫu đơn giản; tiếp đó là những bài tập vận dụng phức tạp hơn và sau cùng là
những BT đòi hỏi sáng tạo
Các BT phải có đủ loại, đủ mức độ để có thể thu hút tất cả các HS,
mỗi HS có năng lực và khả năng giải quyết vấn đề khác nhau nhưng tất cả đều
có thể tham gia vào hoạt động giải BT Khi phát biểu một ý hay hay phát hiện
ra cách giải quyết BT sẽ tạo cho HS một niềm vui, một sự hưng phấn cao độ,
kích thích tư duy
e) Hệ thống bài tập phải góp phần củng cố kiến thức ở các mức độ biết,
hiểu và vận dụng
Sự nắm vững kiến thức có thể phân biệt ở cả 3 mức độ: biết, hiểu và
vận dụng Với sự đa dạng của hệ thống BT ở các cấp độ này, kiến thức của
HS được củng cố dần dần thông qua hoạt động giải BT
f) Hệ thống bài tập phải góp phần rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS
- Xây dựng và sắp xếp BT theo các mức độ nhận thức và tư duy tăng dần
- Xây dựng nhiều BT vừa sức và nằm ở cận trên trình độ, khả năng của
HS
- Xây dựng các bài tập đòi hỏi cao ở các em sự động não, khả năng phân
tích, liên tưởng, tổng hợp
Trang 34- Xây dựng các BT có cách giải mới hoặc có sự kết hợp của nhiều
phương pháp giải khác nhau
- Xây dựng thêm một số BT thực tiễn để tạo ra sự tò mò, kích thích sự tìm
tòi, nghiên cứu của HS
2.1.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập tin học
Quy trình tuyển chọn và xây dựng hệ thống BT nhằm rèn luyện năng
lực tư duy cho HS được thực hiện qua sáu bước:
a) Xác định mục đích của hệ thống BT
Mục đích phải đạt được của hệ thống BT là rèn luyện và phát triển năng
lực sáng tạo của HS
b) Xác định nội dung hệ thống BT
Nội dung của hệ thống BT thuộc chương trình tin học lớp 11 phần kiểu
mảng, hệ thống bài tập từng dạng phải bao quát được kiến thức của dạng đó
Để ra một bài tập tin học thỏa mãn mục tiêu của từng dạng, giáo viên phải trả
lời các câu hỏi sau:
- BT giải quyết vấn đề gì?
- Vị trí của BT trong bài học?
- Loại BT dự định xây dựng?
- Có liên hệ với những kiến thức cũ và mới hay không?
- Có phù hợp với năng lực nhận thức của HS hay không?
- Có thỏa mãn phương pháp của GV không?
- BT được biên soạn có phù hợp với yêu cầu sư phạm định trước?
Trang 35Sau khi đã xác định loại BT, cần đi sâu hơn, xác định nội dung của mỗi
loại
d) Thu thập tư liệu để thiết kế hệ thống BT
- Thu thập các SBT, các tài liệu liên quan đến hệ thống BT cần xây dựng
- Tham khảo sách, báo, tạp chí khoa học,… có liên quan
- Số tài liệu thu thập được càng nhiều và càng đa dạng thì việc biên soạn
càng nhanh chóng và có chất lượng, hiệu quả
e) Tiến hành soạn thảo BT
Biên soạn, bổ sung thêm các dạng BT hoặc những nội dung còn thiếu
chưa có trong SGK
Tiến hành giải và đánh giá các BT, lựa chọn các BT hay, phù hợp với
chuẩn kiến thức, kỹ năng và trình độ của HS
Sắp xếp các BT thành các loại và dạng BT như đã xác định theo trình
tự:
+ Từ dễ đến khó theo các mức độ nhận biết của HS
+ Từ lý thuyết đến thực hành
f) Tham khảo ý kiến thầy cô giáo, trao đổi với bạn bè, thử nghiệm
Sau khi xây dựng xong các BT, em đã tham khảo ý kiến của thầy cô,
trao đổi với bạn bè về tính chính xác, tính khoa học, tính phù hợp với trình độ
của HS và đem thử nghiệm trong thực tế
g) Chỉnh sửa và hoàn thiện hệ thống BT
Sau khi tham khảo ý kiến của thầy cô, trao đổi với bạn bè và thử
nghiệm để phát hiện những hạn chế, thiếu sót em đã chỉnh sửa lại để hệ thống
BT được hoàn thiện hơn
2.2 Phân tích chương trình tin học phần kiểu mảng
2.2.1 Giới thiệu chung
Muốn nắm vững tin học phần kiểu mảng, muốn giải thích các tính chất
nói chung và khả năng xây dựng hệ thống bài tập nói riêng Ta không thể
Trang 36cơ bản mở đầu nhưng có hệ thống rồi mới tìm hiểu về các dạng bài tập cơ bản
trên mảng
Bài tập kiểu mảng được chi phối bởi các tính chất và kỹ thuật quan
trọng trên mảng Chúng diễn ra như thế nào, được tiến hành như thế nào là
vấn đề mà ta cần tìm hiểu bước đầu khi đi vào các dạng bài tập
Và sau khi tìm hiểu xong thì bước đầu tiên ta sẽ đề cập đến các khái
niệm mở đầu, sau đó là các tính chất kỹ thuật trên mảng và kết thúc là các bài
tập vận dụng
Tin học phần kiểu mảng có mục đích nêu lên những điều cơ bản cần
thiết nhất để giúp cho việc học ở các phần sau sáng tạo và có hiệu quả hơn
2.2.2 Các chuyên đề tin học kiểu mảng
Để xây dựng các BT kiểu mảng em đã tham khảo SBT, SGK Tin học
lớp 10, 11 Khi tham khảo những tài liệu trên em kết hợp với vốn kiến thức đã
tích lũy của mình để xây dựng hệ thống lý thuyết và bài tập Tin học phù hợp
với nội dung và chương trình của HS Với mong muốn đem đến cho HS
nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, chia sẻ những khó khăn cho HS và GV trong
quá trình dạy và học, em đã xây dựng phần kiểu mảng thành các bài, nội dung
của bài được chọn lọc, cô đọng, ngắn gọn và chứa đựng những lý thuyết trọng
tâm, bài tập được trình bày rõ ràng, logic, có sự liên hệ chặt chẽ với hệ thống
lý thuyết đã nêu, ngoài ra còn có BT vận dụng cho HS tự rèn luyện Trong
từng bài biểu thị những nội dung sau:
Trang 37- Bài 3: Hệ thống bài tập
2.3 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong Tin học lớp 11 trường
THPT Quế Võ 2
2.3.1 Mục tiêu biên soạn hệ thống lý thuyết và bài tập phần kiểu mảng trong
chương trình Tin học phổ thông
Có được hiểu biết khoa học đúng đắn, cách nhìn sâu rộng về bản chất
của bài tập kiểu mảng
Giúp các em có niềm tin, lòng say mê, thích khám phá, tìm tòi, sáng
tạo
2.3.2 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong tin học lớp 11
a) Khái niệm về kiểu mảng
Mảng là một tập gồm nhiều phần tử có cùng chung một kiểu dữ liệu
Mỗi phần tử của mảng có một đại lượng xác định vị trí tương đối của phần tử
đó so với các phần tử khác trong mảng gọi là chỉ số
Các yếu tố để xác định một mảng gồm có:
Tên mảng
Kiểu dữ liệu chung của các phần tử trong mảng
Kiểu dữ liệu của chỉ số và phạm vi của chỉ số
Kiểu dữ liệu của các phần tử mảng là mọi kiểu dữ liệu mà một biến có
thể có Tuy nhiên, kiểu dữ liệu của chỉ số thì không được là kiểu thực hay
Trang 38 Mảng 1 chiều là dãy hữu hạn các phần tử cùng kiểu Mảng được đặt tên
và mỗi phần tử của nó chỉ có một chỉ số Để mô tả mảng một chiều cần xác
định kiểu của các phần tử và cách đánh số các phần tử của nó
b) Các đặc trưng của mảng
Để người lập trình có thể xây dựng và sử dụng kiểu mảng một chiều,
các ngôn ngữ lập trình có quy tắc, cách thức cho phép xác định:
- Tên kiểu mảng một chiều;
- Số lượng phần tử;
- Kiểu dữ liệu của phần tử;
- Cách khai báo biến mảng;
- Cách tham chiếu đến phần tử;
c) Lợi ích của việc sử dụng dữ liệu kiểu mảng
- Việc gán giá trị, đọc giá trị và tính toán với các giá trị của một phần tử
trong biến mảng được thực hiện thông qua chỉ số tương ứng của phần tử đó
- Sử dụng các biến kiểu mảng và câu lệnh lặp giúp cho việc viết chương
Mảng 1 chiều, còn gọi là dãy, hay đơn giản là mảng, có thể khai báo
theo một trong hai cách:
- Cách 1: Khai báo gián tiếp biến mảng một chiều:
Type <Kiểu mảng> = Array [<Kiểu chỉ số>] of <Kiểu dữ liệu>;
Var <DS Biến mảng> : <Kiểu mảng>;
VD1: Type Tuoi = Array [0 255] of real;
Trang 39- Cách 2: Khai báo trực tiếp biến mảng một chiều:
Var <DS Biến mảng> : Array [<Kiểu chỉ số>] of <Kiểu dữ liệu>;
VD2:
Var Tuoidau, Tuoituat, Tuoihoi: Array [byte] of real;
Lưu ý:
o Số phần tử của mảng được xác định ngay từ khi định nghĩa ra mảng Như ở
cả 2 ví dụ trên số phần tử của các mảng Tuoidau, Tuoituat, Tuoihoi đều là 256
phần tử và được đánh số từ 0->255
o Số phần tử của mảng khi khai báo phải lớn hơn hoặc bằng số phần tử sử
dụng
Trong đó:
+ Array, of là từ khóa của chương trình
+ Tên biến mảng do người dùng đặt
+ Kiểu chỉ số thường là một đoạn số nguyên liên tục có dạng n1 n2 với
n1,n2 là các hằng hoặc biểu thức nguyên xác định chỉ số đầu và chỉ số cuối
<n1≤ n2>;
+ Kiểu phần tử là kiểu của các phần tử mảng
+ Tham chiếu đến phần tử mảng ta viết:
<tên biến mảng> [chỉ số]
e) Tham chiếu đến phần tử thứ i trên mảng
Tham chiếu tới phần tử của mảng 1 chiều được xác định bởi tên mảng
cùng với chỉ số, được viết trong cặp ngoặc [ ]
<Tên biến mảng>[<chỉ số>]
VD: Cho dãy gồm 7 số nguyên như sau:
Type Mang1C= Array[1 7] of Integer;
Var A: Mang1C;
A 17 20 18 25 19 12 19
i 1 2 3 4 5 6 7
Trang 40Trong đó:
+ Tên biến mảng: A
+ Số phần tử của mảng: 7
+ Kiểu dữ liệu của các phần tử: Kiểu nguyên
Khi tham chiếu đến phần tử thứ i ta viết A[i]
Ví dụ: A[5]= 19, A[7]= 19
2.4 Các dạng bài tập kiểu mảng
2.4.1 Nhập và hiển thị mảng
Nhập mảng là công việc đầu tiên phải làm với mảng, đó là việc nhập số
lượng phần tử cần quản lý và giá trị cho từng phần tử của mảng Để nhập
được giá trị cho từng phần tử ta phải biết cách hiển thị mảng
Ý tưởng: Vì các phần tử của mảng có cùng tên biến mảng và chỉ khác nhau về
chỉ số tham chiếu, các chỉ số này lại thường được đặt theo một quy tắc hay
một dãy đếm được, nên ta có thể dùng vòng lặp xác định (For to/
Downto to) để đặt biến chạy (từ giờ về sau quy ước các biến chạy là i, j) để
duyệt qua tất cả các phần tử của mảng
Đây là cách nhập thủ công (NSD phải tự nhập giá trị của tất cả phần tử trong
mảng)
Hình 2.1 Nhập và hiển thị phần tử mảng
Vì sau khi nhập mảng, màn hình xuất hiện rất nhiều chữ do đó ta nên
thêm câu lệnh xóa màn hình để tăng tính thẩm mĩ (Xem hình 2.1.)
Write(‘Nhap so phan tu:’); Readln(N); {Nhap thu cong}