Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đính kèm, phần nội dung khóa luận gồm 3 chương và 4 tiết.Chương 1: Khái quát chung về Thành Tây ĐôChương 2: Thực trạng khai thác các giá trị Di sản Văn hóa Thành Tây Đô trong du lịch văn hóa xứ ThanhChương 3: Một số giải pháp khai thác các giá trị Di sản Văn hóa Thành TâyĐô phục vụ du lịch
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận này là công trình nghiên cứu độc lậpcủa cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Tiến Sỹ Triệu ThếViệt Bài khóa luận được trình bày theo yêu cầu, quy định của khoa Du lịchhọc, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đề ra Mọi số liệu và thôngtin trong bài nghiên cứu đều được trích dẫn nguồn rõ ràng Mọi sai xót trongquá trình nghiên cứu tôi xin chịu hoàn toàn tráchnhiệm
Tôi xin cam đoan
Hà nội, ngày 15 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trịnh Thị Hạnh
Trang 2luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Giám đốc Trung tâm bảo tồn Di sảnThành nhà Hồ cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên của Trung tâm bảo tồn Disản Thành nhà Hồ và cán bộ quản lý bảo vệ di tích Đàn tế Nam Giao, đã tạođiều kiện giúp đỡ tận tình trong quá trình tìm hiểu và khảo sát ở di tích
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song điều kiệnthời gian và khả năng có hạn nên Khóa luận chắc không tránh khởi những hạnchế và thiếu sót Vì vậy rất mong sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn đểbài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày15 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trịnh Thị Hạnh
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Thành Tây Đô là kinh đô nước Đại Ngu thời nhà Hồ (quốc hiệu ViệtNam thời nhà Hồ) Dưới triều Trần, Hồ Quý Ly đã xây dựng thành từ mùaxuân năm Đinh Sửu (1397) đến nay thành đã tồn tại hơn 600 năm Thànhđược gọi với nhiều tên khác nhau: Tây Kinh, Thành Tây Giai, Thành An Tôn,Thạch Thành hay nhân dân vẫn quen gọi là Thành nhà Hồ Thành thuộc địaphận hai thôn Xuân Giai, Tây Giai, xã Vĩnh Tiến và thôn Đông Môn, xã VĩnhLong huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Từ sau Cách Mạng tháng Tám thànhđược gọi là Thành nhà Hồ, cái tên gọi gần gũi và quen thuộc gắn với triều đạinhà Hồ Xung quanh vấn đề về Thành nhà Hồ đang còn nhiều ý kiến, nhiềuquan điểm khác nhau và nhiều điều cần được làm sáng tỏ Với giới hạn củabài khóa luận tác giả xin trình bày chút hiểu biết của mình về di tích ThànhTây Đô
Trang 4MỤC LỤC
A MỞĐẦU 1
B NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT CHUNG VỀ THÀNHTÂYĐÔ 5
1.1 Lịch sử hình thành ThànhTâyĐô 5
1.1.1 Điều kiệntựnhiên 5
1.1.2 Điều kiện xã hội cho sự ra đời của ThànhTâyĐô 6
1.2.Những giá trị văn hóa tiêu biểu của ThànhTâyĐô 9
1.2.1 Giá trị bố phòng quân sự của ThànhTâyĐô 11
1.2.2.Giá trị nghệ thuật tạo hình của kinh ThànhTâyĐô 18
1.2.3 Các điểm tham quan phụ cận ThànhTâyĐô 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH Ở THÀNHTÂYĐÔ 40
2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Thanh Hóa và Thành TâyĐô 40
2.2 Một số vấn đề của công tác quản lý Di sản ThànhTâyĐô 41
2.3 Hoạt động kinh doanhdulịch 45
2.3.1 Hệ thống cơ sở vật chất phục vụdulịch 45
2.3.2 Nguồn nhân lực phục vụdulịch 49
2.3.3 Hoạt động khai thác các giá trị di sản văn hóa Thành Tây Đô phục vụ du lịch 51 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA THÀNH TÂY ĐÔ PHỤC VỤDULỊCH 59
3.1 Giải pháp tại điểm du lịch ThànhTâyĐô 59
3.1.1 Tăng cường hoạt động điều tra nghiên cứu khảo cổ, bảo tồn, bảo tàng59 3.1.2 Xúc tiến quảng bá du lịch Thành nhà Hồ và các điểmphụcận 61
3.1.3 Đầu tư xây dựng tăng cường cơ sở vật chất phục vụdu lịch 62
3.1.4 Nâng cao chất lượng nguồnlaođộng 63
3.1.5 Quản lý và xây dựng chiến lựơc phát triển du lịch tại Thành Tây Đô 64
3.2 Giải pháp với tour tuyếndulịch 67
3.2.1 Tổ chức xây dựng liên kết các tour tuyến du lịchliênvùng 67
KẾTLUẬN 77
PHỤLỤC 80
TÀI LIỆUTHAMKHẢO 98
Trang 61 Lý do chọn đềtài:
A MỞĐẦU
Xuất phát từ thực tiễn du lịch là mộtngành kinh tế mới ở Việt Nam, có thời gianphát triển chưa nhiều Những thành tựu màngành đã đạt được đáng được ghi nhận.Nhưng bên cạnh đấy cũng còn tồn tại nhiềuhạn chế, bất cập và phải đối mặt với nhiềuthách thức của sự phát triển bền vững, vừakhai thác nguồn tài nguyên tự nhiên và nhânvăn phục vụ du lịch, vừa bảo vệ môi trườngvăn hóa, bảo vệ văn hóa dân tộc, vừa nâng caolợi nhuận của ngành Hiện nay, ngành du lịchcủa nước ta đang có xu thế phát triển khôngbền vững, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyênthiên nhiên phục vụ phát triển du lịch làm tácđộng không tốt tới môi trường cảnh quan.Trong khi đó nguồn tài nguyên du lịch vănhóa rất có giá trị, là nhân tố quan trọng thu hút
du lịch lại không được chú trọng đưa vào khaithác dulịch
Nghiên cứu về lịch sử hình thành vàphát triển của xứ Thanh, có nhiều đánh giáđây là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” Bởi suốtmấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, vùngđất này đã sản sinh ra cho dân tộc ta nhiều anhhùng dân tộc, danh nhân văn hóa Được bantặng nhiều tài nguyên đã tạo nên một XứThanh có sông đủ sâu, núi đủ cao, đất đủ rộng,
con người đủ tài Với sự tồn tại của “1535 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 134 di tích
Trang 7nổi tiếng như Núi
Đọ, Đông Sơn, khu
là nơi sinh sống đầu
tiên của người Việt
cổ nên xứ Thanh
còn được biết đến
như là cái nôi văn
hóa của dân tộc ta
“thủa trước” với
nhiều nền văn hóa
lâu đời và văn minh
tỉnh lại được thiên
nhiên ưu đãi với sự
đa dạng về địa hình, thuận lợi về khí hậu…tất
cả những điều đó đã tạo điều kiện thuận lợicho phát triển nông – công – lâm - ngưnghiệp Không những
Trang 8thế với sự tồn tại của nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú như: Biển Sầm Sơn,biển Hải Hậu, vườn Quốc gia Bến En (Như Thanh), động Từ Thức (NgaSơn), suối cá thần Cẩm Lương (Cẩm Thủy), động Tiên Sơn (Vĩnh Lộc), động
Hồ Công (Vĩnh Lộc)…đã tạo điều kiện thuận lợi phục vụ việc phát triển dulịch của địa phương Đặc biệt với sự có mặt của di sản Văn hóa thế giớiThành Tây Đô càng khẳng định sức hấp dẫn và tiềm năng du lịch hiếm có củavùng đấtnày
Với việc chứa đựng nhiều giá trị quý báu về văn hoá lịch sử, truyềnthống của một nhà nước quân chủ quý tộc nên trong năm vừa qua Thành Tây
Đô đã được tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc(UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa thế giới Bởi thế, Thành Tây Đôkhông chỉ là niềm tự hào của riêng người dân xứ Thanh mà còn là của toànthể dân tộc ViệtNam
Cát cứ trên huyện Vĩnh Lộc, mặc dù là nơi có nhiều tài nguyên du lịch,hơn nữa lại là một vị trí thuận lợi giao cách giữa quốc lộ 45- 217 và các tourtuyến du lịch trong vùng nhưng hiện nay việc quan tâm và khai thác nhữnggiá trị du lịch ở di tích này vẫn chưa thực sự xứng tầm Xuất phát từ yêu cầuphát triển du lịch một cách bền vững và định hướng du lịch quốc gia năm
2012 là năm “Du lịch Di sản” thì việc khai thác, phát huy có hiệu quả các giá
trị di sản văn hóa Thành Tây Đô phục vụ du lịch là điều cấp thiết Hơn nữa, làngười con Xứ Thanh lớn lên trong khu di tích Thành nhà Hồ tác giả luônmang trong mình niềm tự hào của quê hương và mong có thể góp phần nhỏcông sức vào việc xây dựng quê hương đất nước
Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn vấn đề “Khai thác các giá trị Di sản Văn hóa Thành Tây Đô trong du lịch văn hóa xứ Thanh” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp củamình
2 Mục đích đềtài:
Khóa luận tốt nghiệp nhằm làm sáng tỏ những giá trị lịch sử, văn hoá,khoa học, quân sự, đặc biệt là hoạt động khai thác các giá trị Di sản Văn hóa
Trang 9Thành Tây Đô trong du lịch văn hóa xứ Thanh, để từ đó có thể đưa ra nhữnggiải pháp khả thi nhằm khai thác và sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả các giátrị di sản của di tích phục vụ du lịch ở khu di tích, đưa di tích Thành Tây Đôtrở thành một điểm du lịch hấp dẫn trong tương lai.
Qua đây tác giả hy vọng nâng cao ý thức giữ gìn, bảo tồn di tích lịch sửvăn hoá Thành Tây Đô nói riêng và các di tích lịch sử khác ở Thanh Hóa nóichung
3 Nhiệmvụđềtài:
Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ sau: Xuất phát từ việc khái quát quá trình hình thành của Thành Tây Đô, cũng nhưnhững giá trị to lớn về mặt quân sự và du lịch của di tích này Sau đó, mô tả thực trạng của việc nhận thức, khai thác và sử dụng của chính quyền địa phương đối với những giá trị văn hóa, đặc biệt là giá trị du lịch của di tích Thành Tây Đô Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất và khuyến nghị nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả các giá trị văn hóa của di tích cho việc phát triển du lịch ởđây
4 Phạmviđềtài:
Về không gian: Đề tài nghiên cứu tổng quan khu di tích Thành Tây Đô
trong mối tương quan với các di tích và danh lam, thắng cảnh khác trên địabàn tỉnh Thanh Hóa
Về thời gian: Hoạt động khai thác các giá trị di sản văn hóa Thành Tây
Đô trong những năm gần đây từ 2009 - 2012
5 Phương pháp nghiêncứu
* Về phương pháp côngcụ:
Khoá luận được hoàn thiện dựa trên nhiều phương pháp khác nhau Tácgiả đã tổng hợp từ các tài liệu sơ cấp và thứ cấp, các tài liệu từ các tạp chí, vànhiều phương tiện thông tin đại chúng Bên cạnh đó tác giả đã tham gia khảosát điều tra tại khu di tích thăm Đàn Nam Giao, di tích Thành Tây Đô và các
di tích phụ cận, thăm TTBTDSTNH, khảo sát các cơ sở kinh doanh lưu trúăn
Trang 10uống cũng như các cơ sở vui chơi giải trí ở huyện Vĩnh Lộc Trong quá trìnhkhảo sát thực tiễn tác giả đã ghi chép cập nhập được nhiều nguồn thông tinmới, chụp được nhiều hình ảnh ở di tích cũng như các di tích phụ cận Ngoài
ra, tác giả đã có điều kiện trò truyện, thăm dò ý kiến của các chuyên gia cóchuyên môn
* Về phương pháp tiếpcận:
- Phương pháp liên ngành: Trong bài khoá luận tác giả đã vận dụng,tìm hiểu nhiều ngành khoa học khác nhau nhằm làm rõ các vấn đề nghiêncứu Các ngành khoa học tác giả sử dụng chủ yếu gồm: địa lý, lịch sử, vănhoá, địa chất, du lịch, khảo cổ, xã hội học, kinhtế
- Phương pháp miêu thuật: Tác giả chủ yếu vận dụng phương phápmiêu thuật nhằm miêu tả và thuật lại về hình dáng, cấu trúc, kiến trúc của ditích
- Phương pháp giải mã văn hóa: Bằng việc nghiên cứu tìm hiểu các ditích các hiện vật còn tìm thấy với sự kết hợp của các ngành khoa học tác giả
đã phần nào làm rõ các giá trị văn hóa lịch sử của một thời đại tồn tại cáchđây hơn 700năm
6 Kết cấu bài khóaluận
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đính kèm,phần nội dung khóa luận gồm 3 chương và 4 tiết
Chương 1: Khái quát chung về Thành Tây Đô
Chương 2: Thực trạng khai thác các giá trị Di sản Văn hóa Thành Tây Đô trong du lịch văn hóa xứ Thanh
Chương 3: Một số giải pháp khai thác các giá trị Di sản Văn hóa Thành Tây
Đô phục vụ du lịch
Trang 11B NỘIDUNGCHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT CHUNG VỀ THÀNH TÂY ĐÔ
1.1 Lịch sử hình thành Thành Tây Đô
1.1.1 Điều kiện tựnhiên
- Địa văn hóa Xứ Thanh
Xứ Thanh tên gọi dân gian của tỉnh Thanh Hoá Nơi đây được xem như
là một thực thể địa lý tự nhiên và văn hoá, có lịch sử hình thành và phát triển
lâu đời Thanh Hoá nằm giữa (trung gian) Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, cùng vớiNghệ An và Hà Tĩnh
Dù trải qua bao nhiêu thời đại, với bao biến cố thăng trầm lịch sử, quabao cuộc sát nhập và phân chia, song không phải vì thế mà làm mất đi những
nét đặc trưng của “đất và người” nơi đây - mảnh đất chứa đựng nhiều nguồn
tài nguyên rất phong phú và đa dạng, cùng những con người đã anh dũng hisinh trong chiến đấu và lao động sản xuất
Thanh Hoá có đầy đủ và đa dạng các dạng địa hình: Vùng trung dumiền núi, vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển Trong đó đồi núichiếm diện tích lớn nhất của tỉnh với 3/4 diện tích của cả tỉnh Địa hình ThanhHóa nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Dọc sườn phía Tây được chechắn bởi dãy núi Trường Sơn Ở phía Tây Bắc, là những đồi núi cao trên1000m đến 1.500m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam tạothành bức tường thành tự nhiên cản trở sự ảnh hưởng của bênngoài
Vùng châu thổ sông Mã được đánh giá là lớn thứ 3 sau đồng bằng châuthổ sông Cửu Long và đồng bằng châu thổ Sông Hồng Sông Mã không chỉbồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn và tươi tốt, nó còn là giao thông huyếtmạch với các vùng tạo điều kiện thông thương phát triển kinh tế trong vùng.Đồng thời dòng sông Mã cũng là nơi bầy binh bố trận, xây dựng tuyến phòngthủ kiên cố trong nhiều trận đánh chống quân xâm lược
Vì vậy, so với Thăng Long thì Xứ Thanh không có nhiều điều điều kiện
để phát triển kinh tế nhưng về mặt hình thế thì Thăng Long không thể hiểm
Trang 12bằng Thanh Hoá Hơn nữa, Thăng Long còn là nơi đóng đô của nhà Trần gần
2 thế kỷ, các tiềm lực và ảnh hưởng của nhà Trần tạo nên ở Thăng Long rấtlớn Để giành giật ngôi vị nhà Trần ở vùng đất này là rất khó Nên ngoàiThăng Long ra không vùng nào hợp hơn Thanh Hoá Bởi việc ổn định chínhtrị trấn an đất nước và xây dựng hệ thống phòng ngự chống quân xâm lượccần nhanh chóng thựchiện
Miền núi Thanh Hoá là sự nối dài của Tây Bắc thuộc dãy Hoàng LiênSơn có nhiều dãy núi đá vôi cao Do kiến tạo của địa hình núi ở đây khôngcao có lớp đá chia thành từng tầng tầng lớp lớp khá thuận tiện cho việc bóctách và khai thác Cùng dòng sông Mã với lưu lượng dòng chảy lớn, lòngsông rộng tạo điều kiện thuận lợi cho công việc vận chuyển nguyên vật liệuxây thành Hơn nữa, Xứ Thanh là nơi đất rộng, người đông, đa tộc người, nơiđây là cái nôi sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt Trong điều kiện gấp rút buộc
Hồ Quý Ly phải cân nhắc lựa chọn vùng đất mà có đủ tiềm năng về nhân lực
và vật lực để dựng kinh thành Với các điều kiện trên thì Xứ Thanh vẫn làvùng đất thuận lợi nhất được lựa chọn cho việc xây dựng kinh đô mới – kinhThành TâyĐô
- Điều kiện địa thế ở Thành TâyĐô
Sau nhiều lần xem xét và chọn lựa khá kỹ Hồ Quý Ly đã lựa chọn vùngTây Đô là nơi xây dựng kinh thành mới Tây Đô vùng đất bằng phẳng, chậthẹp nhưng vô cùng xung yếu và hiểm trở bởi nơi đây được thiên nhiên banphú có thế núi hình sông vô cùng hiểm trở Hơn nữa, quanh khu vực Tây Đô
có nhiều núi đá vôi lớn rất thuận tiện cho việc khai thác, vận chuyển nguyênvật liệu xây dựng
1.1.2 Điều kiện xã hội cho sự ra đời của Thành TâyĐô
Triều đại nhà Trần sau một thời gian dài tồn tại trong sự thịnh vượng vàphát triển mạnh mẽ thì đến cuối thế kỷ XIV đã bước vào thời kỳ suy thoái và
có nguy cơ sụp đổ Thêm vào đó, ở phía Bắc nước ta, đế chế quân Minh đangdòm ngó và luôn nuôi dưỡng ý đồ xâm lược Còn tình hình ở phía Nam Đại
Trang 13Việt diễn biến khá phức tạp và nghiêm trọng với sự quấy nhiễu thường xuyên
của quốc gia Chiêm Thành, “Lợi dụng sự suy yếu của vương triều Trần, Chiêm Thành đã nhiều lần đem quân ra cướp phá ở Hóa Châu, Nghệ An, Thanh Hóa và không ít lần uy hiếp Thăng Long, gây chấn động kinh sư, khiến vua quan nhà Trần nhiều phen phải trốn lánh Tính riêng từ 1353 đến 1389, chỉ trong hơn 3 thập kỷ, Chiêm Thành đã 13 lần đem quân ra cướp phá, quấy nhiễu đánh chiếm các xứ từ Hóa Châu trở ra đến Thanh Hóa”[17, tr65] Tình
hình đất nước rối ren và bất ổn định, với vai trò là người có ảnh hưởng lớntrong triều đình lại được vua Trần Nghệ Tông tín nhiệm Hồ Quý Ly đã banhành nhiều cải cách hành chính nhằm giữ yên đất nước Đồng thời ông đã choxây dựng Thành Tây Đô nhằm phục vụ cho mưu đồ cướp ngôi nhà Trần vàchống lại giặc ngoại xâm
Thành Tây Đô ra đời gắn với vai trò chủ chốt Hồ Quý Ly:
Hồ Quý Ly (1336 - ???) tự là Lý Nguyên, dòng dõi trạng nguyên HồTùng Bật, nguời Chiết Giang - một tỉnh ở ven biển Trung Quốc, phía Namcửa sông Dương Tử Hồ Quý Ly quê cũ ở hương Đại Lại bây giờ thuộc xã HàĐông huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa Hồ Quý Ly một đại quý tộc và đạithần nhà Trần Theo các tài liệu lịch sử cho thấy thì Hồ Quý Ly có quan hệmật thiết với triều đại nhà Trần Mối quan hệ đó được bắt đầu từ việc TrầnMinh Tông lấy hai cô của Hồ Quý Ly trong đó một bà là Minh Từ sinh raNghệ Tông và một bà là Đôn Từ sinh ra Duệ Tông, hai vị này đều từng làmvua nhà Trần Hồ Quý Ly bước vào chính trường Đại Việt và dưới đời vuaTrần Nghệ Tông ông đảm nhiệm trọng trách của một vị quan võ Ngay trongthời gian đầu tham gia chính trường ông đã dần thể hiện và khẳng định vai trò
to lớn của mình đối với sự suy thịnh của vương triều nhà Trần Chính vì thế ở
độ tuổi 34 ông đã trở thành cánh tay phải đắc lực của Trần NghệTông
Sau khi Nghệ Tông qua đời (1395) đã mở ra một chặng mới trong quátrình tham chính của Hồ Quý Ly Với sự tiếm quyền của mình, Hồ Quý ly đãtập trung mọi quyền lực vào trong tay mình Nắm trong tay quyền lực đó, Hồ
Trang 14Quý Ly đã âm mưu thực hiện và thành công mưu đồ cướp ngôi của mình vàonăm 1400 Từ đây nhà Hồ ra đời, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu HồQuý Ly niên hiệu là Thánh Nguyên trị vì trong 1 năm 1400 rồi nhường ngôicho con là Hồ Hán Thương lấy niên hiệu là Thiệu Thành (trị vì năm 1400-1407) Trong những năm cầm quyền ngắn ông đã có một số chính sách cảicách hành chính thay đổi tình hình đất nước như: phát hành tiền giấy, cải cáchhành chính và ban hành chính sách hạn điền Hồ Quý Ly áp đặt một loại tiền
tệ mới dù không phù hợp với nền kinh tế của nước ta lúc bấy giờ nhưng nó làphù hợp với hoàn cảnh lịch sử rất cần đồng để chế tạo chiến cụ chống giặcngoại xâm và nhu cầu chi tiêu của nhà nước triều Hồ đang còn non trẻ Ngoàinhững cải cách của ông còn có những đóng góp to lớn trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, giáo dục, luật pháp… Các cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đượcthực hiện trong thời gian ngắn ngủi vì thế nó chưa đủ thời gian để phát huytác dụng mặt khác các cuộc cải cách của ông chủ yếu phục vụ cho lợi íchquân sự hơn thế nữa cuộc cải cách được thực hiện trong thời gian dồn dập,tình hình lịch sử không thuận lợi, không được sự hưởng ứng ủng hộ của nhândân Mặc dù vậy, chúng ta vẫn không thể phủ nhận những đóng góp của HồQuý Ly cho sự phát triển của lịch sử dân tộc Bên cạnh là một võ tướng tàigiỏi ông còn có một sự nghiệp văn nghiệp to lớn và giá trị Theo nguồn sửliệu cho biết ông sáng tác rất nhiều thơ văn nhưng hiện nay những bài thơ củaông không còn lại nhiều điều đó thật là đángtiếc
Sự tồn tại của nhà Hồ đã bị chấm dứt khi Hồ Hán Thương bị quânMinh bắt đầu năm1407
Trong Đại việt sử ký toàn thư có đoạn ghi “Tháng giêng năm Đinh Sửu (1397) Hồ Quý Ly sai Thượng Thư Lại bộ kiêm thái sử lệnh Đỗ Tỉnh về Yên Tôn khảo sát thực địa, đo đạc đắp thành, đào hào lập tôn miếu, xây đàn thờ thần, mở phố xá đường ngõ, công việc làm 3tháng thì xong Cuối năm đó ép vua Trần Thuận Tông rời đô, năm sau bức nhường ngôi cho hoàng thái tử An”[8, tr645].
Trang 15Vai trò của Hồ Quý Ly đối với sự ra đời của Thành Tây Đô được thể hiện rõ nét ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất: trước họa xâm lăng, nhà Hồ rất coi trọng công cuộc phòng
thủ đất nước Vì vậy, Thành Tây Đô được dựng lên nhằm chống lại giặc ngoạixâm, thay đổi triều đại cải cách đưa đất nước thoát khỏi tình trạng suy thoái
và chống lại sự chống đối của quý tộc nhà Trần Nhưng với yêu cầu cấp thiếtđầu tiên nhằm chống thù trong giặc ngoài nên Hồ Quý Ly đã biến thành Tây
Đô trở thành một tòa thành quân sự kiên cố chỉ trong vòng 3tháng
Thứ hai: Vị trí xây dựng thành cũng đã được Hồ Quý Ly xem xét và
chọn lựa khá kỹ lưỡng vùng đất đặt thành, phù hợp với yêu cầu cấp thiết củalịch sử cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình xây dựng
Trong tình hình lịch sử và xã hội đầy biến động, những hành động cảicách của Hồ Quý Ly dù mang những lợi ích phục vụ cho tầng lớp quý tộcnhưng nhiều chính sách cải cách của ông đã phần nào cải thiện tình hình xãhội lúc bấy giờ Cũng nhờ những cải cách đó đã để lại cho chúng ta ThànhTây Đô với bao giá trị mà chúng ta có thể khai thác hoạt động du lịch nhằmcải thiện tình hình kinh tế của địa phương cũng như kinh tế của đấtnước
1.2.Những giá trị văn hóa tiêu biểu của Thành TâyĐô
Đất nước Việt Nam đã trải qua bao thời kỳ từ thịnh vượng tới suy tàn,nhưng chúng ta vẫn giữ được gốc tích Trải qua bao thời kỳ đấu tranh dựngnước và giữ nước nhiều công trình xây dựng được dựng lên chứa đựng biếtbao giá trị văn hóa tiêu biểu cho một thời đại Nhưng tới nay với sự tàn phácủa thời gian, của chiến tranh, thiên tai bão lụt, của con người nhiều côngtrình xây dựng, nhiều hiện vật bị vùi sâu trong lòng đất hoặc bị mất Trong số
đó có nhiều công trình vẫn thi gan cùng “tuế nguyệt”mặc cho sự tàn phá củathời gian, của các tác nhân khác nhưng những giá trị của nó tồn tại cho tớingày nay đáng được ghi nhận và bảo vệ Đại diện tiêu biểu mà tác giả muốnnói tới là thành cổ TâyĐô
Trang 16Thành Tây Đô là kinh đô nước Đại Ngu thời nhà Hồ (quốc hiệu ViệtNam thời nhà Hồ) Hồ Quý Ly đã xây dựng thành năm 1397 Trải qua nhiềubiến cố thăng trầm của lịch sử thành được gắn với nhiều tên gọi khác nhaunhư: Thành An Tôn vì khu vực này vào cuối thời Trần có tên là động An Tôn,Thành Tây Đô vì thành là kinh đô của nước Đại Việt (1397-1400) và Đại Ngu(1400 - 1407); thành Phủ Thanh Hoá do nhà Minh đặt sau khi chiếm nước,Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh (Thăng Long) và Lam Kinh, Quốc đônước Đại Ngu sau khi Trần Thiếu đế làm lễ nhường ngôi cho Quốc tổChương Hoàng đế Lê Quý Ly tại điện Hoàng Nguyên, Thạch Thành vì thànhđược xây toàn bằng đá, Thành Tây Giai vì thành thuộc thôn Tây Giai, Thànhnhà Hồ là cái tên quen thuộc mà nhân dân hay gọi từ sau Cách mạng ThángTám[3]
Thành thuộc địa phận các thôn Tây Giai, Xuân Giai (xã Vĩnh Tiến),Đông Môn (xã Vĩnh Long), huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc vùngđồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi ở miền Bắc Việt Nam Tây Đô lànơi đất chật hẹp, hẻo lánh nhưng địa thế rất hiểm chở và xung yếu; án ngữbốn mặt thành bằng 4 quả núi lớn, 2 con sông Mã và sông Bưởi chảy từhướng Bắc và hướng Tây xuống gần như ôm chọn lấy thành Địa thế hiểmchở thuận tiện cho việc phòng thủ, song không phải vì thế mà thành sẽ trở nên
cô lập mỗi khi có biến cố Vì vậy, có thể thấy việc chọn vị trí xây dựng thành
đã thể hiện sâu sắc tầm nhìn chiến lược cũng như nghệ thuật quân sự tài tìnhcủa cha ông ta từ thời xaxưa
Thành Tây Đô là đại diện tiêu biểu về nghệ thuật kiến trúc xây dựngkinh thành của Việt Nam nói chung và thế giới nói chung trong lịch sử Làngôi thành đá duy nhất duy nhất được biết đến ở Việt Nam được xây dựngbằng cách mài, đục đẽo, ghép, giằng chèn các lớp đất đá bên trong và xếp đásao cho chồng khít các phiến đá xanh to lớn lên nhau tạo thành một bức tườngvững chắc mà không cần chất kết dính Bằng các phương tiện thủ công, cùngcác phép tính toán tài tình của người xưa đã bố trí, quy hoạch xây dựng nên
Trang 17một tòa thành vừa kiên cố vững chắc đạt đến trình độ nghệ thuật kiến trúc,công nghệ, điêu khắc, thẩm mỹ, quy hoạch đô thị hay thiết kế phong cảnh bậccao Thành Tây Đô còn ẩn chứa nhiều giá trị cần được nghiên cứu làm rõ, vớitính chất là một khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả xin dừng lại ở việc khảosát và làm sáng tỏ một số giá trị văn hóa đặc sắc và tiêu biểu sau:
1.2.1 Giá trị bố phòng quân sự của Thành TâyĐô
Trước họa xâm lăng nhà Hồ rất coi trọng công cuộc phòng thủ đấtnước Thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều công trình kỹ thuật quân sự khá lớn
Thành Tây Đô là đô thành nhưng mang nặng ý nghĩa phòng vệ, “là thành Đa Bang và cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400km kéo dài từ núi Tản Viên, men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình Đó là hệ thống các chướng ngại vật gồm những bãi cọc, những mắt xích cùng với các đồn quân ở khắp các cửa sông, cửa nguồn ải quan… Đối với lịch sử quân đội cổ trung đại, đây là thời kỳ xây dựng được một công trình phòng ngự có quy mô to lớn nhất trên một chính diện rộng và
có chiều sâu lớn, đồ sộ gấp nhiều lần phòng tuyến sông Như Nguyệt thời Lý chống Tống hồi thế kỷ XI”[15, tr28] Thành khẳng định sự cố gắng tổng huy
toàn bộ nhân lực và vật lực trong việc xây thành, đồng thời chứng tỏ tài năng
tổ chức phòng thủ quân sự của cha ôngta
- Mục đích xây thành:
Sự ra đời của Thành Tây Đô gắn liền với vai trò chủ quan của Hồ Quý
Ly Trước họa xâm lăng, nhà Hồ rất coi trọng công cuộc phòng thủ đất nước
Vì vậy, Thành Tây Đô được dựng lên nhằm chống lại giặc ngoại xâm, thayđổi triều đại cải cách đưa đất nước thoát khỏi tình trạng suy thoái và chống lại
sự chống đối của quý tộc nhà Trần Nhưng với yêu cầu cấp thiết đầu tiênnhằm chống thù trong giặc ngoài nên Hồ Quý Ly đã biến Thành Tây Đô trở
thành một tòa thành quân sự kiên cố chỉ trong thời gianngắn.
- Vị trí chọn xâythành
Trang 18Trên cơ sở khảo sát vùng Tây Đô thuộc các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến,huyện Vĩnh Lộc, ngày nay chúng ta thấy hiện ra một vùng đất bằng phẳngrộng rãi thuộc trung du lắm sông, nhiều núi vây bọc, địa thế hiểm trở nhưngtiện đường thủy bộ thông thương ra Bắc và Nam Địa thế đó mà Lê Tạo đã
từng đánh giá: “Thành Tây Đô cát cứ nơi đất chật, hẹp, hẻo lánh Được án ngữ bốn mặt bằng 4 quả núi lớn: Phía bắc có núi Thổ Tượng, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía Nam có núi Đốn Sơn Ngoài những bình phong trên Tây Đô còn được che chở, bao bọc bởi những dòng sông Sông Bưởi từ phía đông chảy tới hội tụ với sông Mã từ phía tây chảy qua”[26, tr31] Trong tình hình đất nước giặc ngoại xâm đang lăm le
vào chiếm nước, cùng với lực lượng quý tộc nhà Trần ở kinh thành ThăngLong rất lớn mạnh Sau nhiều lần xem xét, nghiên cứu vị trí chọn thành HồQuý Ly đã lựa chọn vùng Tây Đô làm nơi phòng thủ chống đối thù trong giặcngoài Thật vậy, Tây Đô là đất hiểm chứ không phải hẻo lánh cùng đường, khi
có biến cố bất thường từ Tây Đô có thể dễ dàng liên lạc bên ngoài thuận tiệncho việc rút quân hay tiếptế
Nghiên cứu về địa thế Tây Đô, Nguyễn Danh Phiệt có ghi: “Về mặt thủy từ Tây Đô có thể theo dòng sông Mã đến Đồng Cổ để theo hệ thống sông Đào thời tiền Lê qua các huyện Thiệu Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương, Nông Cống, Tĩnh Gia vào phía Nam: hoặc xuôi dòng theo Lạch Trường ra biển, sông Lèn ra Bắc Về đường bộ, Tây Đô được bổ sung bằng những con đường
bộ quan trọng Từ Tây Đô có thể theo đường thượng đạo đi Kim Tân (Thạch Thành) – Rịa- Nho Quanđể ra bắc; theo đường Quan Hóa liên lạc với Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu (Sơn La) ở phía Tây Bắc và Lào ở phía tây Về phía nam theo đường núi qua Thường Xuân hoặc Như Xuân đến Quỳ Châu hoặc Nghĩa Đàn miền tây Nghệ An, hoặc theo đường Nông Cống, Như Xuân đến Quỳ Châu hoặc Nghĩa Đàn miền tây Nghệ An, hoặc theo đường Nông Cống, Như Xuân đến Quỳnh Châu (tây Quỳnh Lưu) đến miền đồng bằng ven
Trang 19biển Nghệ An”[19, tr 133-134] Nhìn rộng ra mặt tây và mặt bắc Tây Đô là cả
một vùng rừng núi rộng mở hiểm trở, địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng
Thành Tây Đô được xem như là một ốc đảo biệt lập có núi non hiểmtrở bao bọc các phía cộng với sự bồi tụ phù sa của 2 con sông lớn đã tạo nhiềuđiều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh thành Nhưng đồng thời giaothông qua lại ở thành cũng rất thuận tiện nên kinh thành Tây Đô không bị côlập với bên ngoài Lựa chọn vùng đất mới Tây Đô xây dựng kinh thành là mộtlựa chọn vô cùng táo bạo của Hồ Quý Ly Qua việc lựa chọn và phân tích địathế kỹ lưỡng và đưa ra quyết định dứt khoát táo bạo mặc cho sự can ngăn củatriều thần càng khẳng định tài mưu quân sự củaông
- Nguyên vậtliệu
Việc lựa chọn nguyên liệu là khâu quan trọng nhất trong việc xâythành Nguyên vật liệu nhà Hồ sử dụng xây thành có loại nguyên liệu độc đáomang tính chất bản địa của vùng Yên Tôn Khác với các thành khác như:Thành Cổ Loa kinh đô Âu Lạc, hay thành Hoa Lư kinh đô Đại Cồ Việt,Hoàng thành Thăng Long vật liệu xây dựng chủ yếu là đất và gạch Nếu có sửdụng vật liệu đá khối nhỏ thì chỉ có ở một vài vị trí xung yếu để kè móng chânthành hay mép cửa thành Ngay cả trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á thìcũng chưa có kinh thành nào xây dựng nên những tường thành đá kiên cố và
đồ sộ như vậy Thành Tây Đô được xây dựng bằng những khối đá vôi xanhlớn được đẽo mài cẩn thận xếp khít lên nhau vô cùng kiên cố, vững chắc.Vòng Thành Tây Đô được xây dựng với những khối đá xanh khổng lồ đượcđẽo gọt tinh luyện, đều đặn, cân đối, vuông thành sắc cạnh ít nhất cũng tạođược từ 4-5 mặt phẳng có tấm rất to ở cửa Tây dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao1,3m được xếp chồng lên nhau mà không cần chất kết dính nhưng vẫn đảmbảo được độ vững chắc Loại vật liệu không kém phần quan trọng tạo nênThành nhà Hồ là gạch nung hình rồng, các viên gạch tìm thấy ở khu di tíchhiện còn ghi các địa danh gần thành Cùng với đó là sự gia cố đất đá lợi dụngđịathếhiểmtrởtạothànhhàolũychechắnchothành.Tổngkhốilượngđá
Trang 20được sử dụng để xây thành khoảng hơn 25.000m3 trọng lượng trung bình mỗikhối đá khoảng 10-20 tấn và gần 100.000m3 đất được đào đắp [3] Một khốilượng lớn đất đá để gia cố đắp la thành Khu vực la thành sau khi bóc các lớpđất ở độ sâu 4,5m từ lớp mặt trở xuống, các nhà khảo cổ đã xác định được bảylớp đất cấu tạo nên La thành, chủ yếu là những lớp đất sét màu vàng, ít tạpchất nên có độ dẻo và độ gắn kết rất cao Lợi dụng địa hình Hồ Quý Ly đãcho trồng tre xung quanh thành làm nên vòng La thành Cây tre được sử dụngvớinhiềulýdobởiđặcđiểmcủanódễsốngởnơiđấtcằncỗi,làmvòngcản
sự tấn công, làm vũ khí đánh giặc và chống xói mòn đất đắp la thành Hệthống hào nước và hào đất bao bọc xung quanh vòng thành rộng lớn làmthành tuyến phòng ngự vữngchắc
Cách quy hoạch
Địa thế lựa chọn đặt kinh thành mới như trên đã phân tích là một vị tríchiến lược vô cùng quan trọng Nhưng địa thế này có được lợi dụng và biếtphát huy triệt để không lại là một bài toán khó Hồ Quý Ly một người cónhiều kinh nghiệm và mưu lược trong quân sự đã biết cách lợi dụng địa thế tựnhiên mà sắp xếp quy hoạch xây dựng kinh thành hợp lýnhất
Yêu cầu cấp thiết xây dựng Thành Tây Đô vừa đáp ứng yêu cầu trướcmắt đảm bảo về mặt quân sự nhưng đồng thời về lâu dài cũng là kinh thành cónhiều điều kiện phát triển đô hội nhộn nhịp sau khi đất nước được yên bình
Thành Tây Đô được xây dựng và quy hoạch trên “cơ sở vận dụng các nguyên
lý và dịch lý của phong thủy phuơng Đông, kết hợp với quan niệm, cùng kinh nghiệm về sự gắn bó giữa con người với tự nhiên của Việt Nam”[20, tr41].
Thành được đặt ở vị trí trung tâm của một vùng đồng bằng bằng phẳng đượcbồi đắp nên bởi 2 con sông Yếu tố thủy ở thành được tạo nên bởi 2 dòngsông Mã và sông Bưởi chảy dọc từ phía Đông và phía Tây của thành gần như
2 con sông này ôm chọn lấy thành tạo nên một hào chắn khổng lồ (Bản đồ 3).Đồng thời, bốn quả núi ở bốn hướng tạo thành lá chắn che chở cho thành.PhíaBắcđượcánngữbởinúiThổTượng,phíaTâyánngữbởinúiNgưu
Trang 21Ngọa, phía Bắc có núi Hắc Khuyển làm hậu chẩm, tiền Án phía Nam là núiĐốn Sơn [26, tr31] Không gian và bố cục kiến trúc của thành thể hiện rõ việctiếp thu mạnh mẽ tư tưởng Nho giáo Trung Hoa, coi kinh đô của nước ta làmột biểu tượng của vương quyền và vua là thiên tử theo Thiên mệnh Đối vớicác vương triều khác ở phương Đông đều có tư tưởng này nhưng ở vươngtriều Hồ thì tư tưởng này được thực hiện triệt để hơn.
Trong các công trình xây dựng nhỏ ngày nay như: Nhà trường, đoànthể, nhà ở, cơ quan người ta cũng luôn đề cập cũng như chú trọng tới việc lựachọn đặt hướng sao cho hợp với phong thủy là phù hợp với trời đất Bởi quanniệm của người phương Đông đặt đúng hướng sẽ mang lại cho họ nhiều điềumát mẻ, an lành, may mắn Ở Thành Tây Đô, một công trình mang tầm quốcgia quyết định sự sinh tồn và phát triển của đất nước việc lựa chọn hướngcũng được Hồ Quý Ly vô cùng chú trọng Thành Tây Đô quy hoạch gồm 4cửa: Cửa tiền (Cửa Nam), cửa Hậu (cửa Bắc), Đông Môn và Tây Giai, (đây làcách gọi tóm tắt của người bản địa: Cửa Đông nhưng kỳ thực nó là nằm giữahướng Đông và Bắc, cửa Bắc thì Tây - Bắc, cửa Tây thì là Tây - Nam, cửaNam là Đông – Nam theo đo đạc của các chuyên gia người Nhật) [3] Việcđặt lệch có thể một phần là do thuận yếu tố phong thủy phần nữa là phù hợpvới điều kiện tự nhiên của khuvực
Về mặt kiến trúc của thành Nội tác giả sẽ trình bày cụ thể ở phần sau.Dưới đây tác giả sẽ tiếp tục phân tích cách quy hoạch của La thành và Hàothành
Khu thành ngoại là kết hợp giữa tự nhiên và có sự gia cố đào đắp Lợidụng các điều kiện núi, đồi, sông, hồ, đầm vực đã được khai thác theo yêu cầucủa kỹ thuật quốc phòng: Như dùng 2 tuyến sông Mã và sông Bưởi như haidải lụa uốn quanh gần như ôm chọn lấy thành làm hào ngăn địch, dùng núiđồi cao làm nơi quan sát và khống chế địch, cùng với việc lợi dụng các dải đấtcao kết hợp với đào đắp tạo thành lũy, la thành Khối lượng đất đắp thànhkhoảng gần 10 vạn met khối đất, trên trồng tre gai dày đặc cùng với mộtvùng
Trang 22hào sâu gồm hào nước, hào đất hào trông để bảo vệ khu thành nội, có bề mặt rộng gần 50m bao quanh thành [3].
Hào thành: Gần như mỗi vòng thành lại có hào nước bao bọc Bao bọc
vòng ngoài là vòng hào nước được thiên nhiên ban tặng 2 con sông Mã vàsông Bưởi Án ngữ tiếp theo là vòng la thành Và bảo vệ sát khu thành nội, làmột hào nước rộng bao quanh thành, cách chân thành đá (ở mặt ngoài tườngthành) khoảng trên dưới 50m Dấu vết các đoạn hào nước vẫn đang còn ở dọckhu tường ngoài cửa Đông, làng Đông Môn là rõ nhất (Hình 8)
La thành: Tuy không khép kín nhưng thành ngoại cũng là một bộ phận
của Thành Tây Đô có tác dụng phòng thủ từ xa và phòng chống lũ lụt từ sôngBưởi Vòng ngoài La thành vừa biết cải tạo, vừa biết lợi dụng địa hình tựnhiên La thành là khu vực được đắp bằng các lũy đất cao, tiêu biểu là ở khuvực đê Vĩnh Quang chạy xuống phía Nam và Đông Nam từ núi Đún (xã VĩnhThành) chạy dọc lên đến khu vực núi Voi (xã Vĩnh Long) (Hình 10) Khi đắpđất ở La thành nhà Hồ đã biết lợi dụng địa thế của sườn núi (núi Bèo, đồi Mỏ,núi song Tượng, núi Đốn Sơn), để ghép nối các đoạn La thành
Thành Tây Đô là một pháo đài quân sự phòng thủ kiên cố Với sự kếthợp hài hoà ổn định hợp phong thuỷ Pháo đài Tây Đô giúp Hồ Quý Ly cướpngôi nhà Trần không bị phản ứng quân sự nào, nhưng khi đất nước bị quânMinh chiếm đóng thì nó lại thành côn đảo không thể tồn tại được
Thành Tây Đô có kiến trúc độ sộ chắc chắn bằng việc ghép những tảng
đá xanh rêu to đứng thành vại cao lớn, đã tạo nên không khí oai nghiêm, sừngsững và choáng ngợp, đồng thời nó củng cố lòng tin cho các chiến sỹ bảo vệthành, khi vào chống chọi với quân giặc từ ngoài vào Thành là một bằngchứng nổi bật của quyền lực chế độ quân chủ quý tộc Việt Nam cuối thế kỉXIV đầu thế kỉ XV
Thành Tây Đô với quy mô khá lớn vòng thành cơ bản biết lợi dụng vàcải tạo địa hình, kĩ thuật đắp đất trồng tre gai chỉ cần lao động giản đơn, phầnthành đá là một kì công của dân tộc đặt vào hoàn cảnh cuối thế kỉ 14 cónhiều
Trang 23năm mất mùa nguồn thu về thuế của nhà nước rất ít ỏi, lại luôn chiến tranhvới Chiêm Thành vậy mà toà thành từ khi khảo sát đến khi thi công về cơ bản
có 3tháng
Với tài năng và nghệ thuật quân sự tài tình Hồ Quý Ly đã cho dựng nênmột pháo đài quân sự vô cùng đồ sộ, kiên cố và vững chắc Giá trị phòng thủcủa thành là rất lớn nhưng điều đáng tiếc là nó chưa được phát huy nhưngnhững bài học kinh nghiệm, công nghệ xây dựng thành để lại cho đời sau là
vô cùnglớn
Phải khẳng định rằng, nhà Hồ dù chỉ tồn tại trong 7 năm nhưng triềuđại này đã đóng góp rất nhiều cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.Ngoài công trình quân sự kiên cố Thành Tây Đô, nhà Hồ còn để lại cho hậuthế nhiều phát minh quan trọng nhằm bảo vệ đất nước Trong đó phải kể tớiphát minh ra súng thần cơ của Hồ Nguyên Trừng(1) Trong quân sự, súng thần
cơ được xem là loại vũ khí nóng (hỏa khí) dùng sức mạnh của thuốc nổ Súngthần cơ thời Hồ có 3 loại: Súng lớn đặt trên lưng voi, súng nhỡ hai ngườikhiêng, súng nhỏ vác vai [10, tr229] Năm 1407 khi quân của nhà Hồ bị thấtthế, quân lính của Hồ Nguyên Trừng đã lui về cửa Muộn Hải (nay là cửa sôngHồng thuộc huyện Giao Chỉ tỉnh Nam Định) để đắp lũy đúc súng, đóngthuyền chiến để đánh giặc [8, tr682] Thật vậy, tài chế súng thần cơ của HồNguyên Trừng lan truyền cả sang nước Minh Tháng 6/1407 ông bị bắt ở biển
Kỳ La (Hà Tĩnh) bị giải sang Kim Lang (Nam Ninh – Trung Quốc) NhàMinh phong cho ông chức Tả thị lang Bộ công trông coi xưởng đúc súng, saunày nhà Minh còn coi ông là ông tổ của súng thần cơ [10, tr228] Là quannhàMinh nhưng tinh thần ông lúc nào cũng hướng về quê hương đất nước Ông
có làm sách “Nam ông mộng dục”chép các truyện vặt đời Lý, Trần có nhiều
truyện hợp với quốc sử [10, tr229] Chế tạo ra súng thần cơ góp phần quantrọng trong công cuộc bảo vệ đấtnước
Trang 241.2.2.Giá trị nghệ thuật tạo hình của kinh Thành TâyĐô
* Nghệ thuật kiến trúc của Thành Tây Đô
- Giá trị kiến trúc của thành:
Như trên tác giả đã tìm hiểu kiến trúc Thành Tây Đô phù hợp với kiếntrúc của tòa thành quân sự Nhưng công trình này cũng là đại diện tiêu biểu vềphong cách kiến trúc xây dựng mài, ghép, điêu khắc đá của một thời đại Bêntrên phần giá trị quân sự mà tác giả đã phân tích nguyên liệu chính để dựngthành là những khối đá vôi xanh Bởi xuất phát từ nhiều nguyên nhân và lýdo; một mặt xuất phát từ yêu cầu lịch sử phải xây dựng khu thành quân sựkiên cố nhưng phải hoàn thành trong thời gian gấp rút Hơn nữa thành đượcđặt trong vị trí có nhiều núi đá vôi bao bọc và khá thuận tiện cho việc bóc tác,trong thời gian gấp rút và điều kiện nhân lực và vật lực không có thiết nghĩchỉ có thể chế tác từ những khối đá xanh to ghép, giằng chúng lại với nhau tạothành đường thành ngoài kiên cố sẽ rút ngắn được nhiều thời gian, vật lựcnhất
Thành Tây Đô có quy hoạch cân đối, hài hòa biết lợi dụng vào điạ hìnhđiều kiện tự nhiên Thành có quy mô gồm 3 lớp: Thành nội, Tường thành vàHào thành, La thành Khu thành nội (phần trong tường thành), là khu vực phía
trong thành, xưa kia xây dựng cung điện như một kinh đô của nhà Hồ “Các công trình bên trong khu vực thành nội còn gọi là Hoàng thành được xây dựng hoàn chỉnh Theo thư tịch xưa thì trong thành có điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ, cung Phù Cực Năm 1403 Hồ Hán Thương cho xây dựng Đông Thái Miếu và Tây Thái Miếu Ngoài ra trong thành còn có những nhà binh lính, nhà ngục, nhà kho, ao hồ, lò vôi Cùng với việc xây dựng tòa thành
đá, nhà Hồ cũng đã xây dựng nhiều công trình phục vụ quốc sư, dân sinh khác được sử sách ghi chép và còn lại dấu tích đến ngày nay”[7, tr69] Hiện
nay các tên gọi ở khu vực làng, xóm, xã ở khu vực 2 bên thành vẫn còn giữ lạinhiều tên gọi có chữ “Giai”, “Nhai”, mà cụ thể như Tây Giai, Phương Giai,XuânGiai,ĐôngMôn.Vớicácdấutíchcủacáccôngtrìnhkiếntrúccònlại
Trang 25đến ngày nay và các phố xá ngoài thành thể hiện cách quy hoạch đăng đối,đối xứng, song song hai nửa trái phải Đông-Tây, Bắc-Nam, và quy tụ tại điểmgiữa lấy chục đường ở cửa Nam làm chục chính.
Trong các thành cổ còn biết đến ngày nay, Thành Tây Đô có diện tíchtương đối lớn Với thành Sơn Tây S = 16ha đường thành xây bằng đá ong bốncổng thành xây bằng gạch cổ Còn kinh thành Huế có hình chữ nhật P =1300m, S = 10,5ha [41] Thành Tây Đô có P = 3513,4m và S = 769,086m2(khoảng 77ha) [3] So với các thành bang của nước ta được biết tới cho tớigiờ Thành Tây Đô là một trong những thành bằng đá có quy mô rộng lớn và
đồ sộnhất
Thành được bố cục mặt phẳng hình chữ nhật, gần vuông, chiều dài 2mặt Nam, Bắc là 880m, chiều Đông – Tây là 877m [3] Toàn thành mặt ngoàiđược ghép đá khối và mặt trong là đất Trên mặt thành khá rộng (4m), ngựatrận có thể đi lại dễ dàng Tiếp nối truyền thống xây dựng của thành cổ ThăngLong (có 5 cửa mở ra các hướng Bắc, Đông, Tây, Đông Nam và Tây Nam)các cổng Thành Tây Đô được mở ra theo bốn hướng nhưng cách xây dựng và
bố trí các cổng thành có phần đặc biệt hơn Thành quay mặt về hướng Nam,bốn cửa được mở chính giữa của bốn mặt thành, mỗi cổng đều một cửa, riêngcổng chính có 3 cửa Các cổng đều được xây cao hơn thành, kích thước của
chúng đều lớn “Hai cổng phía Đông và Tây cửa đều dài 6m, cao 7m, dầy hơn 12m Cổng phía Bắc dài hơn 20m20, cao 7m5, dày 13m7, riêng cửa đã cao 5m4, rộng 8m85 Cổng chính phía Nam to hơn cả”[18, tr49] Cửa Nam là
cửa chính của thành có bề thế và quy mô to hơn nhiều lần so với của Bắc,gồm 3 cuốn, cuốn giữa cao 8m5cm, rộng 5m86cm, cuốn hai bên cao7m65cm, rộng 5m42cm Phía trên là mặt đá bằng phẳng có lầu son gác tía, lànơi nhà vua ngự mỗi khi có những nghi lễ trọng đại, duyệt binh [18, tr49] Hệthống các cửa thành được đóng bằng các cửa gỗ to dầy, cao tận vòm cửa chekín cửa thành, ngày nay vẫn còn lại dấu vết đục đẽo để làm các lề cửa vẫn còn
ở các cửathành
Trang 26Nối với cửa Nam là con đường Hoa Nhai lát đá dài khoảng 2km hướng
về đàn tế Nam Giao được xây dựng vào tháng 8 năm 1402 Công trình này đã
bị sụp đổ hoàn toàn Trong các đợt khảo cổ gần đây của Viện Khảo cổ họcViệt Nam đã phát lộ ra con đường này và cho khai quật trên diện tích1.500m2 Con đường Hoàng Gia được phát lộ ngay chân thành Nam chạy vềhướng núi Đốn Sơn khoảng hơn 30m, đường Hoàng Gia có chiều rộng 4,8m,được lát bằng những tấm đá có kích thước lớn và có cấu trúc đá khá độc đáo.Sauhơn600nămvùisâutrongtầnglớpđấtđádầymớiđâyconđườngnày
mới được phát lộ ra dấu tích để lại còn rất nguyên vẹn, những tấm đá hoa tobằng phẳng dùng để lát đường vẫn còn nguyên với màu đá hoa xanh rất đẹpmắt Đây là con đường chính đạo của kinh thành để nhà vua đi tế giao ở núiĐốn Sơn Hiện nay con đường này được giữ nguyên vẹn hiện trường khaiquật để tiếp tục cho đợt khai quật sau, các hiện vật tìm thấy được cất giữ vàtrưng bày ở phòng trưng bày[3]
Mặt tường thành phía ngoài thẳng đứng được ghép bằng những khối đáxanh vuông thành sắc cạnh mỗi phiến đá có độ dài trung bình 1.5m, rộng 1mdày 80cm (có phiến dài 7m, rộng gần 2m và dày hơn 1m, nặng hàng chục tấn)được xếp chồng lên nhau hình chữ Công (工), tạo sự cân đối vững chắc trongcác phiến đá Với kỹ thuật xây dựng và tính toán kỹ lưỡng cha ông ta từ xaxưa đã dùng một lượng lớn khối đá đã đục đẽo qua xếp giằng chặn, chèn kèmột lượt bên trong cùng với đất đắp tạo thành một con đê lớn trên thành Đághép mặt thành cao tới đâu thì sẽ chèn, chặn các lớp đá giằng bên trong vàđắp đất cao tới đó nhằm tạo độ dốc thoai thoải tiện cho việc vằn đá lên trên[18,tr50] Ngày nay dấu vết còn lại rõ nhất ở các đoạn tường thành phía Bắc,phía Đông bị sụt lỡ mất lớp đá ngoài Cấu trúc của thành thật đặc biêt Nửamặt của trong nó là đất, được đắp dốc thoai thoải, nửa mặt ngoài là đá to được
bó đứng thành vại Độ đứng này có hay chếch xiên chút ít để tạo thế bềnvững, nhưng vẫn đảm bảo gây khó khăn cho kẻ thù muốn vượt qua thành Đá
để xây được đẽo gọt vuông vắn và xếp thành từng lớp dài Những hòn tonặng
Trang 27được đặt ở dưới, càng lên cao càng nhỏ dần Các phiến đá này gắn kết vớinhau bằng một thứ hồ vữa làm bằng vôi và đất dẻo (các cụ ở gần thành lại chorằng chất dính được tạo bởi vôi và mật ong) Tuy nhiên độ bền vững ở đâychủ yếu dựa vào sức nặng nén xuống của nhiều lớpđá.
Trên cổng Bắc và cổng Nam còn có các nhà vọng lâu, có lẽ là nhữngđiểm canh của đội lính túc trực Nền lầu được lát đá bằng phẳng, cột lầukhông xây trên mặt mà có lỗ cắm sâu xuống các tảng đá trên thành Ngày naycác lầu này không còn nhưng có thể nhận ra được ở các dấu vết chân cột “Dấutích còn lại là các chân cột tròn đục sâu xuống 44cm, đường kính 45cm, làdấu tích của Vọng Lâu ba gian dài 14m, rộng 6m”[24,tr112]
Ngày nay mái vòm cuốn còn xuất hiện ở nhiều thành cổ: Thành cổThăng Long, Thành nhà Mạc, Thành Sơn Tây Hầu hết các mái vòm của cácthành khác đều được xây bằng gạch gắn kết bằng hồ vôi và tương đối nhỏ trừHoàng thành Thăng Long cổng vòm được xây dựng bằng gạch tương đối lớn,chắc chắn và đẹp mắt Cửa vòm của Thành Tây Đô có hình dáng như cửavòm Thành Thăng Long nhưng to lớn , độc đáo khác lạ hơn Vòm cửa ThànhTây Đô được tạo nên bởi những phiến đá xanh được đẽo đục ít nhất 3 mặt,một mặt cong tạo hình vòm 2 mặt 2 bên ghép khít với nhau nhờ sự tính toánđến chính xác cộng hưởng giữa lực hút của trái đất và một loại chất dính đặcbiệt được chế từ mật ong và vôi Đến nay, có nhiều tác phẩm bàn về cáchdựng vòm thành nhưng tác giả nghĩ cách xây dựng cổng thành hợp lý nhất là,trước khi xây dựng cửa cuốn ở cửa người ta phải đắp một cái cốt bằng đất tobằng chiếc cửa muốn dựng Đắp đất thoai thoải để tiện cho việc vần đá lêntrên Sau đó vần những phiến đá đã được tính toán, đục đẽo trước khi ghépnhư xây thành Đợi thời gian sau khi mạch vữa đã khô thì moi đất cốt ra làxong [18, tr49] Phương tiện thô sơ, cách giải quyết đơn giản, nhưng thậtthông minh tài chí trong các tính toán chính xác và đòi hỏi sự hiệp đồng cao
trong khi thi công Phương tiện thực hiện chủ yếu là thủ công thô sơ, công
nghệ hỗ trợ chưa hề có để lắp ghép được các tảng đá lớn thành một thành cao
Trang 28có cổng cuốn lớn như vậy là cả một bài toán một nghệ thuật kiến trúc mà cho tới giờ chúng ta phải kinh ngạc và khâm phục.
Nếu như Thành cổ Sơn Tây được xây dựng bằng đá ong – loại vật liệuđặc trưng của vùng Xứ Đoài thì với Thành cổ Tây Đô lại được xây dựng nênbằng đá vôi xanh đây là loại nguyên vật liệu độc đáo, đặc trưng ở vùng đấtTây Đô Trong tổng thể thành với những khối đá rất lớn, cùng với các công cụthủ công thô sơ nên đá xây thành có thể sẽ được lấy ở khu vực gần nhất Mặtkhác xung quanh Thành nhà Hồ lại có nhiều núi đá vôi Nên việc khai thác đá
để xây thành chỉ có ở quanh khu vực núi đá vôi gần nhất Việc tìm ra chínhxác loại đá vôi xây thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc trùng tu, tôntạo một vài đoạn tường thành.Và cũng có nhiều tranh cãi cho việc sử dụngphương tiện để chở đá tới xây thành Trong nhiều lần khai quật các nhà khảo
cổ đã tìm thấy rất nhiều viên bi đá trong thành phải chăng người xưa đã đẽogọt nó để dùng chúng như những con lăn, bằng thuyền để chuyển đá từ nơikhai thác Hoặc người ta chở đá bằng voi kéo Thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đãnuôi và thu giữ được nhiều voi chiến của quân Chiêm Thành rất nhiều voi đểchuyên chở vật liệu xây dựng thành và dùng vào việc xây dựng Voi đượcnuôi và giữ ở hang Tượng thuộc núi Yên Tôn Hiện nay hang Tượng vẫn cònnhưng việc khai thác đá của cư dân địa phương đã và đang thu hẹp diện tíchcủahang
Hiện nay việc sử dụng nguyên liệu và vật liệu để chở đá tới nơi xâydựng thành vẫn còn nhiều điều cần làm sáng tỏ Có nhiều cơ sở để khẳng địnhrằng dãy núi Kim Ngọ còn gọi là An Tôn (thuộc xã Vĩnh Yên, huyện VĩnhLộc, Thanh Hoá) chính là nơi 600 năm trước đây đã cung cấp một nguồn đácho việc xây dựng Thành Tây Đô Nói rằng nó chỉ là “một nguồn” bởi trênthực tế, Thành Tây Đô sử dụng nhiều loại đá khác nhau, cho nên cũng có thểkhai thác từ nhiều nơi nữa chuyển về (như ở núi Nhồi, núi Xuân Đài, núi Voi,động An Tôn ) Nhiều cuộc khảo sát gần đây mà TTBTDS Thành nhà Hồ đãphát hiện công trường khai thác đá cổ, ở núi Phù Lưu thuộc hệ thống dãy núi
Trang 29An Tôn, thôn Phù Lưu, xã Vĩnh Yên, cách cổng phía Bắc thành khoảng 2 km.Các viên đá phát hiện được phân bố trên một phạm vi rất rộng, chạy dọc chân
và sườn Đông-Nam của dãy núi Phù Lưu, bắt đầu từ kênh Nam (kênh tướitiêu), đến tận đầu làng Phù Lưu, song song với con đường chống bão lụt củalàng Đây là 1 núi đá vôi, được chia thành những vỉa, theo kiểu đoạn tầngtừng lớp, từng lớp rất thuận lợi cho việc bóc tách (hình 35 và36)
Đến nay, nhiều tài liệu và nhiều nghiên cứu cho rằng Thành Tây Đôđược xây dựng trong thời gian chỉ 3 tháng Với một công việc khổng lồ nhưvậy, lại được hoàn thành trong một thời gian ngắn vậy có thể hoàn thành đượckhông là vấn đề cần xem xét lại trong nhiều tài liệu còn lưu lại
Tìm hiểu về thời gian khảo sát địa hình Trong Đại việt sử ký toàn thư
có ghi vào năm Đinh Sửu: “Mùa xuân, tháng Giêng là vào tháng giêng, sai Thượng thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh là Đỗ Tỉnh đi xem xét đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hoá, đắp thành đào hào, lập nhà Miếu nền Xã, mở phố xá, có
ý muốn dời đô đến đây”[8, tr644].
Từ Thăng Long vào Thanh Hóa, nếu sử dụng phương tiện cơ động nhấtlúc ấy là ngựa thì phải mất vài ngày Tiếp theo, là thời gian mà Đỗ Tĩnh phảixem xét, đo đạc, lập đồ án Công việc này nếu thuận tiện cũng phải mất 10ngày Thời gian thi công còn lại như vậy không quá 80 ngày Còn lại 80 ngày
phải hoàn thành một lượng lớn công việc“đắp 100.000 m 3 đất, khai thác vận chuyển và lắp đặt hơn 20.000m 3 đá phiến, có những khối nặng tới 16 tấn lên
độ cao trung bình 6m, thậm trí hàng chục mét như ở các vòm cổng”[3].
Không những thế còn phải tiến hành đào một hệ thống hào dài hàng ngàn métquanh thành, rộng tới 50m và sâu vài mét và hoàn tất các kiến trúc bên trongnội thành như xây điện Hoàng Nguyên, cung Phù Cực, Tây Thái Miếu… đắpnúi Thọ Kỳ, đào hồ v v, cùng những công việc ở ngoài thành phải làm mấytrăm met đường Cái Hoa, xây đàn tế Nam Giao trên núi ĐốnSơn
Hơn nữa, sử sách còn ghi lại “Mùa đông tháng 11, Quý Ly bức vua dời
đô đến phủ Thanh Hóa Trước là vua đi yên bái các lăng, Quý Ly bắt ép vua
Trang 30cùng đến hành tại ở hương Đại Lại gọi là cung Bảo Thanh’’ [8, tr648] Cũng trong tháng này Quý Ly “Sai Hành khiển đồng tri Đại tôn chính tự là Lương Nguyên Bưu dỡ các cung điện Thụy Chương, Đại An, bao nhiêu gạch ngói, gỗ
to, đều giao cho các châu Từ Liêm và Nam Sách chở về kinh đô mới, gặp bão chìm đắm mất quá nửa”[8, tr648] Như vậy, nhanh nhất tháng 11 Âm lịch
năm 1397, những kiến trúc chính trong khu nội thành chưa làm xong Ngày
15 tháng 3 năm Mậu Dần 1398 diễn ra sự thay triều đổi ngôi ở cung BảoThanh (nay là huyện Hà Trung cách Thành Tây Đô 20km), sau đó xa giá nhà
Hồ mới về kinh đômới
Di tích là bản thông điệp của các thế hệ Thành Tây Đô là một di tích
mà ở đó còn ẩn chứ biết bao điều mà ngày hôm nay và mai sau đọc được họcđược Nhiều câu hỏi được đặt ra và nhiều người đã đi tìm hiểu về thời gianxây thành, sử dụng phương tiện gì để đưa chúng lên cao như vậy Đây là sứclực trí tuệ, kinh nghiệm của người dân đã được vật chất hoá trong di tích Vớicác cơ sở trên có thể khẳng định rằng công trình kiến trúc độ sộ có một khônghai ở nước ta đòi hỏi phải xây dựng trong khoảng thời gian khá dài chứ khôngthể nhanh gọn trong vòng 3tháng
Theo nguồn thư tịch, sử sách còn ghi chép, cùng với các dấu vết nềnmóng trong thành thì phía trong thành có xây dựng các cung điện lầu gác nhàcửa của triều đình nhà Hồ.Với yêu cầu gấp rút hoàn thiện nhanh công trình
Hồ Quý Ly đã cho dỡ một vài cung điện ở Thăng Long chuyển về lắp ghép ở
Tây Đô, trong Đại việt sử ký toàn thư còn ghi: “cuối năm Đinh Sửu (1397)
Hồ Quý Ly đã sai Lương Nguyên Bưu dỡ bỏ một số cung điện ở Thăng Long
về lắp ở Tây Đô”[8, tr660] Nên nhiều công trình của Tây Đô vẫn giữ nét kiến
trúc của kinh thành Thăng Long nhưng có nhiều đột phá trong quy hoạch đôthị Qua các dấu tích khảo cổ, tên gọi cùng các truyền thuyết thì phần nàocũng hình dung ra được sự tấp nập của kinh thành xưa Những tên gọi lànhững tên gọi chỉ các cung điện xưa mà ngày nay người dân vẫn dùng để gọi
Trang 31những vùng canh tác lúa trong thành: Thành nội, Chính điện, Góc ngục, ao vừng, ao tắm, ao vôi, Đội đèn v.v…
Trong khi chưa có điều kiện khai quật, hiện vật khai quật tìm được cònrất ít, 2 di vật nổi lên chỉ có hai loại thành bậc cửa chạm rồng và sấu, vànhững viên gạch trang trí đắp nổi Đôi rồng được tìm thấy nằm ở thành bậccửa Chính điện Chúng ta đều biết rằng mỗi vương triều trong lịch sử nhànước phong kiến Việt Nam đều có con rồng là biểu trưng quyền lực như là:Rồng thời Lý, rồng thời Trần, rồng thời Lê…Đôi rồng này được chạm bằng
đá với dáng cuộn khúc khỏe mạnh, kích thước tương đối lớn, dài 3m62 Vớiđôi rồng to lớn khoẻ mạnh ở trước thành bậc thì cung điện chắc chắn cũngtương đối lớn (Hình20)
Khu vực Nội thành giờ đây là cánh đồng canh tác lúa màu mỡ của cưdân địa phương, trong quá trình canh tác thỉnh thoảng người dân còn thấynhiều bát đĩa và đồ gốm các loại, cùng ngói mũi, ngói bò bằng đất nung dùng
để trang trí bộ mái của kiến trúc cung điện thời nhà Hồ Các loại vật liệu bằngđất nung với nhiều hoa văn tinh xảo như ngói đầu đao, đầu rồng…dùng đểtrang trí góc mái cung điện thời Hồ Bao nung gốm dùng để nung các vật liệutráng men và bình, lon sành – là các đồ dùng gia dụng thường được dùng thờinhà Hồ Thậm chí họ còn tìm thấy cả bể cạn đựng nước bằng đá nhỏ (dài120cm, cao 80cm, rộng 60cm) có dáng hình gần với dáng hình của bể cạnhiện đại Nhiều kim loại khí thời Hồ cũng vùi sâu trong lớp đất đá: Chông sắtbốn cạnh, mũi dao, mũi tên, đinh thuyền Các hiện vật là minh chứng tiêubiểu về công tác phòng thủ và chế tác vũ khí rất được chú trọng Với nhữnghiện vật đó có thể nói rằng triều đình nhà Hồ tuy chỉ tồn tại trong thời gianngắn (7 năm), nhưng cũng đã tạo ra được tại đây một cơ sở vật chất nhất định.Hiện nay, tới thăm Thành Tây Đô du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng và tìmhiểu các hiện vật đang được trưng bày và lưu giữ tại phòng trưng bày củaTTBTDS Thành nhàHồ
Trang 32Nhà Hồ tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn về kiến trúc giai đoạn nàychưa có nhiều và có kế thừa nền kiến trúc của nhà Trần nhưng đồng thời kiếntrúc nhà Hồ cũng mang trong mình phong cách nghệ thuật riêng Điển hìnhnhư những hình khối cuồn cuộn khỏe mạnh của thân rồng ở thành bậc, nhữngđường nét to thoáng, chắc nịt ở các hoa văn nổi của các viên gạch hoa chanhbáo hiệu một sự chuyển biến mới của nghệ thuật, nhưng điều đáng tiếc là nó
bị chấm dứt ngay khi giặc phong kiến phương Bắc sang xâmlược
- Công nghệ xây dựng ở Thành TâyĐô
Thành Tây Đô xây dựng và tồn tại cho tới ngày nay đã hơn 600 năm.Thời gian trôi qua cùng sự tàn phá của thời gian nhiều công trình kiến trúclịch sử, nhiều giá trị văn hóa phi vật thể cũng bị hao mòn theo năm tháng.Nhưng những gì còn lại và tồn tại tới ngày nay của di tích này đáng được ghinhận Sự tồn tại của Thành Tây Đô khẳng định công nghệ xây dựng của ôngcha ta, khi mà khoa học kỹ thuật ở nước ta chưa phát triển hầu hết là cácphương pháp thủ công kết hợp với kinh nghiệm xây dựng đã được truyền dạy
từ ngàn đời Thành nổi bật với kỹ thuật kè móng, đục đẽo mài các phiến đábằng phẳng nhẵn thín, kỹ thuật giằng gia cố đá đất rồi lắp ghép chắc chắn cácphiến đá lớn mặt ngoài, kỹ thuật tạo mái vòm Với phương pháp thủ côngcùng các phép toán đơn giản nhưng đã hình thành công nghệ lắp ghép thô sơđạt độ chính xác và nghệ thuật độcđáo
Đấy là chưa kể tới với một khối lượng lớn công việc như vậy mà ôngcha ta đã hoàn thành trong thời gian ngắn Việc tính toán trong khai thác, chếtác đá, vận chuyển các phiến đá lớn nặng hàng chục tấn về thành rồi nâng xếpcác khối đá nặng hàng chục tấn (10 – 26 tấn) từ mặt đất đưa lên cao tới hàngchục mét, sử dụng nhiều loại đá khác nhau để lắp ghép vào các vị trí tươngthích, tạo dáng kiến trúc thích hợp, với công năng kiến trúc vừa đảm bảo lạivừa đảm bảo yếu tố mỹ thuật Trên diện tích rộng lớn không máy móc khôngphương tiện chụp chiếu căn chỉnh, kì lạ thay các di tích, dấu vết còn lại đềuđược bố trí cân đối, quy tụ tại trung tâm thành Tất cả chỉ được thực hiện bằng
Trang 33những phép tính toán đơn giản được thực hiện một cách cẩn thận, tập chung,chi ly, hợp lý, chuẩn xác cộng với sự đồng tâm hiệp lực cao độ của các côngnhân hay “kỹ sư xây dựng”.
Ngày nay, chúng ta được thừa hưởng nhiều kỹ thuật và công nghệ xâydựng hiện đại nhưng xem ra về kỹ thuật dựng thành của chúng ta vẫn chưa đạtđược độ chính xác và nghệ thuật như xưa Một đoạn tường thành ở phía Bắcmới đây đã được phục dựng lại nhưng mặt tường ngoài không khít, bị lệch rangoài và đang có xu hướng bị sụt đổ, tính thẩm mỹ, độ chính xác chưa đạttrình độ cao Tóm lại, với những phương tiện còn nặng tính chất thủ côngnghiệp, với trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế thời bấy giờ, nhân dân ta đãxây dựng được một thành đá to lớn như Thành Tây Đô, quả là một kỳ công.Điều đó phản ánh sự nỗ lực lao động phấn đấu phi thường, trí thông minh,sáng tạo của cha ông ta
- Kĩ thuật điêu khắc chạmtrổ:
Tiêu biểu cho kĩ thuật điêu khắc chạm trổ tinh vi phải kể tới các sảnphẩm trang trí trong cung điện mà giờ chỉ còn lại một vài vết tích, cả đôi rồngnằm chầu trực ở bậc cửa Chính điện, và kho tượng sấu mà mới đây cũng đượcphát hiện Kho tượng con sấu vừa phát hiện có kích thước dài tới 90cm (Hình40) Sấu không phải là con vật có thực Hình ảnh thực gần với nó nhất là consóc, với mình là con thú 4 chân còn cái đuôi là một khối lông lớn to chẳngkém gì thân mình Tượng con sấu này được diễn tả như một con thú 4 chânđang ngồi thu mình Phần đuôi của nó là một khối lớn dài đúng bằng thânmình và to gần như vậy Những hình khối này chắc to khỏe nhưng tạo dángchung có phần hơi nặng nề làm cho chân tượng hơi chùn lại, thiếu hẳn sức bậtcủa tư thế chuẩn bị lao đi Vẻ đẹp hoa mỹ của con sấu được thể hiện quanhững hoa văn rất mực tinh tế cũng được đặc biệt chú ý Chính lớp lông trênmình con thú được lợi dụng và khuôn định trong một số hình dáng để chởthành những hoa văn Vẫn những hoa văn xoắn ốc đuôi được sắp xếp trật tựchạy theo các đường vành cung quanh cổ, các đường gờ của sống đuôi, các
Trang 34đường viền của hai bờm lớn cùng đường xoắn ốc duỗi ở hai bên hông Vẫnnhững đường vằn chải mượt mà được khuôn định trong những hình nhọn nhưmột tam giác cân của bờm tóc ở gáy, những hình xoắn ốc và lưỡi lửa gắn vớinhau của các bờm ở khoe chân và trở thành những đường khắc rạch song songđều đặn và mềm mại để diễn tả khối lông đuôi Vặn dạng chữ “S”vốn rất quenthuộc trên những hình rồng thời Lý cũng có mặt ở đây – trung tâm điểm củabờm lông phía sau đuôi Đồng thời văn dạng lưỡi lửa xoắn ở gốc xuất hiệnđột ngột nối tiếp nhau trên một đường diềm của khối lông đuôi, đánh dấubước mở đầu của nó để rồi trở thành rất thông dụng sau này [18,tr63].
Với tư thế ngồi thu hình, hai chân trước thu ngắn với vẻ hoa mỹ và tinh
tế của những hoa văn, khiến tượng con sấu này trở lại gần với những tượng sư
tử chùa Hương Lãng của thời Lý, sư tử chùa Thông của buổi đầu thời Trần
Đôi tượng rồng đá được chạm trổ tinh vi vẫn nằm trầu trực mặt chophong ba bão táp và sự tàn phá trong hơn 6 thế kỷ qua Cũng tiếc rằng đôitượng rồng ở Thành Tây Đô đều đã bị gãy mất đầu Cái đầu chỉ còn sót lạidấu tích là những đường vành cung ở hai bên má có hoa văn xoắn ốc duỗi kennhau đều đặn và trật tự, là cái bờm tóc sau gáy kết thành khối mượt, dài vànhọn hoắt, uốn sóng nhẹ nhàng, đều đặn và kéo thành một nét ngang trên lưngtới mãi tận gần giữa thân [18, tr64] Đôi tượng rồng đó thể hiện một sự kếthợp nhuần nhị và rõ ràng giữa cái khỏe mạnh vững chắc của thời Trần với cáimềm mại tinh tế của thời Lý Chỉ bằng những khúc uốn sóng đều đặn, rõ ràng,nhịp nhàng cũng đã khiến cho tấm thân hình ống, mập mạp, rất dài, trở nêndịu dàng, uyển chuyển Chất mềm mại lại được tăng thêm bởi những nétchạm vòng cung kép thể hiện những hình vẩy phủ kín trên khắp mình tượngtinh tế như những hoa văn, bởi một phần không gian giới hạn quanh mình conrồng được chạm thủng rất tinh xảo, những hoa văn xoắn ốc đuôi kết hợp vàđối chiếu nhau thành một thể liên hoàn [18,tr65]
Nhà Hồ dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn nhưng đã xây dựng nên mộtphong cách nghệ thuật điêu khắc riêng biệt vừa khoẻ khoắn, thực dụng mạnh
Trang 35mẽ thể hiện được uy quyền của một vương triều lại vừa mềm mại tinh tế, uyển chuyển đậm chất nghệ thuật đạt trình độ thẫm mỹcao.
* Giá trị thẩm mỹ:
- Quy hoạch hợp lý hài hòa hợp cảnhquan
Thành nhà Hồ còn biểu hiện một giá trị thẩm mỹ đặc biệt, một cảmquan nghệ thuật của người đương thời Lấy La thành làm giới hạn, Tây Đô códiện tích khá rộng, trung tâm là toà thành xây đá, bao ngoài là vùng nôngnghiệp rộng lớn với nhiều làng mạc và có cả phố xá, tất cả đều ổn định và gắn
bó với cảnh quan thiên nhiên Thành Tây Đô cát cứ trên một vùng đất cóphong cảnh hữu tình, có núi có sông bao bọc lấy thành Bốn góc thành đượcthiết kế những hồ lớn cho trồng sen với những cái tên mà đã đi vào lịch sửcho tới mãi ngày hôm nay như; hồ Mỹ Đàm, hồ Dục Thúy, hồ Bơi Chải, hồBán Nguyệt (hình 9) Dù công việc xây thành rất bận rộn và gấp rút nhưng HồQuý Ly vẫn cho quân lính đào 4 hồ lớn để là nơi vui chơi du ngoạn của triềuđình, 4 hồ cũng là nơi thoát nước, dự trữ và cung cấp nước chủ yếu cho thành,nhưng đồng thời 4 hồ nước trong xanh cùng với hương thơm mát của hoa sen
đã tạo nên một kinh Thành Tây Đô thêm lung linh nhiều màu sắc Thiên nhiênđược sắp xếp lại cùng với toà thành đá có vòng hào sâu bao lấy thànhcao
Tường thành với hình khối rõ ràng, đường nét thẳng tắp, góc cạnh dứtkhoát Mặt tường phẳng, rộng với những mạch ghép đá, như những đường kẻtrang trí ở khoảng giữa nhô ra Hệ thống cửa tò vò được đặt giữa ở trung tâmđiểm của đường thành với những tường đứng ở thành cửa và các đường cong
ở vòm cửa vừa làm đường nét thay đổi tạo nên sự duyên dáng uyển chuyểnmềm mại Mặt trong của vòm cong phẳng rộng mang lại cho thành vẻ đẹphoàn mỹ nhưng đồng thời các cửa thành có khả năng chịu lực và sức nén rấtlớn Trong thành các kiến trúc được quy hoạch theo sự đăng đối hai nửa phảitrái quy tụ tại điểm giữa, tạo nên sự trang nghiêm, chững chạc nơi chínhquyền trung ương (Hình 7) Thành Tây Đô là một công trình có giá trị nổi bậttoàncầuvớikiếntrúcxâydựngkiểukinhthànhphươngĐông,vừalàtrung
Trang 36tâm quyền lực, vừa là một pháo đài quân sự Thành Tây Đô được xây dựnghoàn hảo như là biểu tượng của vương quyền kết hợp với thần quyền, nhưngđồng thời có sự gắn kết tài tình giữa công trình kiến trúc với cảnh quan vănhoá và thiên nhiên
- Hoa văn trangtrí
Ngoài sản phẩm chế tác bằng đá ở Thành Tây Đô còn có nhiều sảnphẩm làm bằng gốm, đất nung với những hoa văn tinh xảo, cầu kỳ mang đặctrưng của triều đại nhà Hồ Nhiều hiện vật được tìm thấy dưới lòng sâu củalớp đất đá ở Thành Tây Đô như: ngói mũi, ngói bò, ngói đầu đao, đầu rồng dùng để trang trí góc mái cung điện thời nhà Hồ Đây là những loại sản phẩmbằng đất nung có nhiều hoa văn tinh xảo và đẹp mắt Hiện nay nhiều di vậtquý bằng đất nung được tìm thấy và trưng bày như đầu rồng, gạch hoa, gạchtrang trí, đấu hổ, gạch ốp trang trí (Hình 21-26)
Một dấu tích khác là đường Cái Hoa Đường này chạy từ Chính điệntrong thành qua cổng phía Nam để ra mãi tận Đàn Nam Giao ở núi Đốn Sơn,cách thành khoảng 5km, đường đươc lát bằng các gạch hoa trang trí vớinhững hoa văn đẹp mắt Nhân dân trong vùng thỉnh thoảng còn đào đượcnhiềuviêngạchhoanày.Đâylàmộtloạigạchvuôngmỏngcỡlớn(35cm
×35cm), trên mặt khắc hoa văn hình chanh, cứ 4 viên ghép lại một hoa to lớnđẹp mắt Nét khắc của chúng sắc sảo bố cục gọn, đơn giản độ nung già, đều,nên hoa văn nổi lên rất đẹp Những cánh hoa được nhấn bằng những đườngviền to nổi và bỏ bớt các chi tiết rườm rà chung quanh nên trông rất khỏe, rắnrỏi tập trung vào sự chú ý của người xem [18, tr51] Với những hiện vật tìmthấy ở Thành nhà Hồ có thể khẳng định về trình độ nghệ thuật trang trí vàtrình độ kỹ thuật làm gạch thời kỳ này đã có phần trội hơn đầu thờiTrần
* Đàn Nam Giao
Cùng với di tích Thành Tây Đô, sự ra đời của Đàn Nam Giao chủ yếu
vì mục đích tâm linh Nhưng đồng thời đàn tế Nam Giao chứa đựng nhiều giátrị văn hóa kiến trúc mỹ thuật đặc sắc, cũng như văn hóa tâm linh đã tạo nên
Trang 37sức hấp dẫn lớn với du khách khi tới thăm thành Đàn tế nằm thẳng đườngthần đạo từ cổng Nam Thành nhà Hồ, cùng trong quần thể di tích của ThànhTây Đô cách thành Tây 2 km về phía Nam.
Đàn tế Nam Giao - công trình quan trọng để hoàn thiện cho việc định
đô của nhà Hồ khẳng định quyền lực thuộc về tay nhà Hồ Chức năng chínhcủa Đàn Nam Giao là nơi cử hành các nghi lễ tế trời đất của vua quan cầu choquốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, vương triều trường tồn, thịnh trị Đồngthời, đàn còn là nơi tế linh vị của các vị Hoàng đế đương triều, các vì sao vànhiều vị thần khác Quan niệm thờ Trời – Cha, thờ Mẹ - Đất là tập tục lâu đờicủa cư dân nông nghiệp Đông và Đông nam châuÁ
Công trình này được Hồ Hán Thương xây dựng vào tháng 8 năm 1402,
“tháng 8, Hán Thương sai đắp đàn Giao ở Đốn Sơn để làm lễ tế Giao; đại xá cho thiên hạ Ngày hôm tế Hán Thương ngồi kiệu Vân Long, do cửa Nam đi
ra, các cung tần, mệnh phụ, triều thần văn võ thứ tự theo sau hầu Mũ áo của đàn bà kém chồng một bậc, người nào bản thân là tôn quý thì không phải kém” [8, tr661] So về niên đại thì đàn tế Nam Giao triều Hồ không cổ bằng
Đàn Nam Giao Thăng Long nhưng cũng thuộc vào loại Đàn Nam Giao cổnhất nước ta Thời nhà Hồ Phật giáo không được thịnh như thời đầu Trần,thay vào đó các tư tưởng học thuyết cai trị của Nho gia lên ngôi cùng với đóhình thành nên những văn hóa tâm linh đặc sắc của người Việt Nhưng cácnghi lễ tâm linh trọng đại tế trời đất vẫn được nhà Hồ chú trọng thực hiện theo
niên kỳ Trong Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi “Lệ cũ của đời trước có đặt ra
ba bậc nghi lễ, các vua và người đi hầu rất đông Cứ ba năm một lần đại lễ thì thiên tử ngồi xe Thái Bình, khắc gỗ làm bốn mươi hình người tiên mặc áo vóc cầm cờ đi trước, hoặc đi thuyền nhỏ ở hồ Chu Tước thì lấy dây thừng gấm để kéo thuyền, 2 năm thì làm trung lễ, thiên tử ngồi ngai chạm bách cầm (chạm vào giống chim); hàng năm thì làm tiểu lễ, thiên tử ngồi cái ngai nhỏ”[8, tr662].
Trang 38Đốn Sơn là một quả núi dài, có hai đỉnh, cách Cửa Nam Thành nhà Hồkhoảng 2,5km về phía Đông – Nam, nay Vĩnh Thành và tiểu khu 3, thị trấnVĩnh Lộc Di tích đàn tế Nam Giao, nằm gọn trong lòng hai đỉnh của núi nàytheo thế dựa vào tay ngai, lọt trong khu vực La thành của di tích Thành nhà
Hồ, tiền án là cánh đồng Nam Giao, phía sau lưng là sườn đá cao Sát bênđỉnh của sườn núi phía Đông có Đàn tế Nam Giao, sát đỉnh sườn bên này cógiếng Ngự Duyên (Ngự Dục) Địa hình núi Đốn Sơn dốc thoải thoải về hướngNam nên quanh năm khô ráo Địa đàn của đàn tế nằm lọt trong thế tay ngaicủa núi Đốn Sơn, thiên đàn được đẩy sâu vào trong tựa lưng vào núi Đốn Sơn,lấy núi Đốn Sơn làm trục chính lợi dụng yếu tố phong thủy của vùng đấtthiêng Đốn Sơn làm nơi thực hiện nghi lễ tế trời Đàn tế Nam Giao triều Hồxây dựng có dựa vào yếu tố phong thủy cùng với việc quy hoạch sáng tạo cólựa chọn địa hình hài hòa với điều kiện tự nhiên thuộc tư duy thuầnViệt
Đàn Nam Giao đã tồn tại cho tới ngày nay đã hơn 6 thế kỷ với bao biếnđộng của thời gian, lịch sử các dấu ấn của đàn đã vùi sâu trong lòng đất.Những cuộc khai quật gần đây phần nào đã phát lộ ra lớp cấu trúc của đàn vàkiến trúc chủ yếu của đàn Cấu trúc của đàn tế có thể được nhận diện qua dấutích của các lớp tường đàn Qua điều tra khai quật, đàn Nam Giao Thành nhà
Hồ hiện đã thấy có ít nhất 4 vòng tường đàn, trong đó 3 vòng đã phát lộ móngcủa các bức tường đá bao xung quanh nền đàn trung tâm gồm: nền Thượng,nền Trung, nền Hạ (Hình6) Vòng đàn 1 (trong cùng) hình đa giác có 4 cốngthoát nước Vòng đàn 2 nằm ở giữa có hình chữ nhật, ở vòng đàn 2 có cửangách ra vào 2 bên và 4 cống thoát nước Vòng tường 3 có hình tứ giác, bắtcong hai góc ở phía Tây Bắc và Đông Nam Qua phát hiện cấu trúc nền móng
ở Đàn tế các nhà khoa học và Ts Đỗ Quang Trọng (giám đốc TTBTDSTNH)
đã nhận định đây là “Đàn tế có cấu trúc nền móng còn nguyện vẹn nhất trong các đàn tế được đến ở Việt Nam”[3] Thật vây, mỗi vương triều thường cho
xây dựng một Đàn tế nhưng tới nay những dấu vết và ghi chép lại ở các Đàn
Trang 39tế ở Việt Nam không còn nhiều với Đàn tế Nam Giao triều Nguyễn hay đàn tế Nam Giao thời hậu Lê chỉ còn lại dấu vết.
Cũng như Thành Tây Đô, vật liệu kiến trúc chính để xây dựng đàn là đáxanh và nhóm vật liệu bằng đất nung (gạch, ngói) Nền móng được xây dựngbằng cách lắp ghép, gia cố đất bên trong, kè giằng các viên đá sao cho chắcchắn (Hình 15) Bên trong sân nghi lễ còn xuất hiện lớp đá dăm được nệnphẳng phiêu bên trên được lát gạch vuông dài 48cm–50cm và gạch bìa hìnhchữ nhật thường được lát sát với hàng kè đứng của đá, gạch có độ dầy khoảng7cm mặt trơn không trang trí hoa văn Con đường ở trong vòng tường 2 đượclát bằng các phiến đá xanh Trong lối đường giữa hai vòng đàn còn thấy nhiềugạch ngói và đá xây tường bị đổ, vùi lấp trên bề mặt đường dày tới 0,6m chothấy có khả năng có các kiến trúc gỗ lợp ngói [3] Phát lộ không kém phầnquan trọng ở Đàn tế là con đường thần đạo Con đường để vua đi lên hành lễ
tế Đường gồm một lối đi chính (ở giữa) và hai lối đi phụ 2 bên Đường rộng4,8m, trong đó lối đi chính rộng 2m, hai lối đi hai bên rộng 1,4m, lối đi chínhcao hơn lối đi phụ Việc tìm thấy đường thần đạo đã góp phần quan trọng đểxác định trục trung tâm của Đàn Nam Giao và các kiến trúc hai bên trụcđường trung tâm Mặc dù, địa hình núi Đốn Sơn có độ dốc thoai thoải vềhướng Nam quanh năm khô ráo Nhưng công tác thoát nước ở đàn tế vẫnđược chú trọng Ở đàn tế một hệ thống cống thoát nước được mở ở dướitường đá các vòng đàn Từ móng tường dọc phía Đông Nam, đã phát hiện 4cống thoát nước được mở ra ngoài Các cống nước phần lớn được làm bằng
đá, lát đáy bằng đá phiến, đậy bên trên bằng các khối đá xanh được xây ngầmcắt ngang qua đường đi Đã hơn 6 thế kỷ qua, với sự tồn tại còn tương đốinguyên vẹn của lớp nền móng đàn tế ở Thành nhà Hồ càng khẳng định tàinăng nghệ thuật xây dựng của cha ông ta lúc bấy giờ Khi mà trình độ kỹthuật khoa học chưa phát triển các công cụ xây dựng lại thô sơ mà ông cha ta
có thể xây dựng được một công trình với có độ bền vững trường tồn cùng thờigian nhưng không kém phần thẩmmỹ
Trang 40Trong khu Đàn tế các nhà khảo cổ đã khai quật và tìm thấy 7 tầng bậc
đá kè đá ở giếng Ngự Duyên Giếng nằm ở góc Đông Nam của đàn tế NamGiao Kiến trúc giếng cổ xuất lộ có dạng hình vuông được kè đá theo cấp bậcnhỏ dần trong lòng cạnh lớn nhất hiện thấy dài 14m, giếng sâu 9m, được kèbằng đá Hiện nay xuất lộ 7 bậc mỗi bậc có chiều cao khoảng 20cm [3] Cácnhà khảo cổ học đã tìm ra mạch nước của chiếc giếng cổ và đang tiến hànhlàm rõ, phục dựng lại cấu trúc giếng cổ Cùng với việc phát hiện kiến trúcGiếng Ngọc khẳng định nhà Hồ là một trong những triều đại phong kiến sửdụng thành thạo nhất kỹ thuật ghép đá, gia cố, cắt gọt và lắp ghép
Ngày nay công tác khảo cổ khai quật đã làm xuất lộ gần hết các cấutrúc của Đàn Nam Giao, cùng với việc nghiên cứu tài liệu còn ghi chép lại ở
di tích Công trình Đàn Nam Giao đang được phục dựng lại gồm: ĐườngThần Đạo đang được kè lát đá hoa xanh, bậc thang dẫn lên khu vực tế lễ, lát
đá và gạch ở sân nghi lễ và các lối đi lại trong các vòng đàn, phục dựng bànnghi lễ, các cửa đi lại trong vòng tường đàn, xây mới thiên đàn dựa trên cấutrúc nền móng cũ, Giếng Ngự Duyên và một vài di tích khác như cột gỗ cómái che trên con đường Thần Đạo Tất cả công việc đang được nhanh chónghoàn thiện gấp rút để phục vụ cho dịp đại lễ tháng6
Cùng với Thành Tây Đô đàn Nam Giao là công trình kiến trúc kháhoành tráng đạt quy chuẩn về kỹ thuật xây dựng và phù hợp với văn hóangười Việt Di tích đã điểm tô thêm những sắc màu văn hoá truyền thống đặcsắc của nước ta Đến Với Nam Giao – Tây Đô, du khách không chỉ cảm nhậnđược những nét độc đáo về mặt kiến trúc – mỹ thuật và kỹ thuật xây dựng độcđáo của một triều đại Ngoài ra du khách sẽ cảm nhận được sự linh thiêng, cao
cả của đất - trời, nơi gửi gắm khao khát ước mơ của ngườiViệt
1.2.3 Các điểm tham quan phụ cận Thành TâyĐô
Các điểm tham quan phụ cận vùng Thành Tây Đô nằm trong vùng đệm
di sản, nơi đây là một vùng có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, được con người