1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sỹ ổn ĐỊNH CHÍNH TRỊ xã hội TRONG CÔNG CUỘC đổi mới ở VIỆT NAM

178 400 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 823,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu: ổn định chính trị xã hội liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử. Trong phạm vi của đề tài này, luận án chỉ nghiên cứu lĩnh vực ổn định tư tưởng chính trị, ổn định quan hệ giai cấp, dân tộc, tôn giáo, ổn định hoạt động của hệ thống chính trị, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá tức là giữ vững ổn định chính trị xã hội từ khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đến nay

Trang 1

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH,HĐH

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước sự khủng hoảng, thoái trào nghiêm trọng của các nước XHCN, đặc biệt là saukhi các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lựcphản động cho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ biến mất vào cuối thế kỷ XX và chậm nhất làđầu thế kỷ XXI còn chủ nghĩa tư bản thì sẽ tồn tại vĩnh hằng, chiến tranh lạnh chấm dứt

và thế giới đi vào kỷ nguyên hoà bình, các dân tộc được sống trong bình yên, hạnhphúc Nhưng điều đó đã không xảy ra Từ khi thế giới trở thành “thế giới một siêucường”, siêu cường ấy là Mỹ, thì nền hoà bình thế giới lại bị đe doạ, bị xâm phạm lớnhơn bao giờ hết, bởi chính vì đế quốc Mỹ đã có chủ trương mang tính chiến lược mới

là : “Chớp lấy thời cơ trong thế giới một siêu cường” Chiến tranh cục bộ giữa các dântộc nhỏ yếu, giữa các sắc tộc, các tôn giáo liên tục nổ ra hết nơi này đến nơi khác trênthế giới với quy mô càng rộng lớn, với tính chất quyết liệt hơn và hầu hết đều có vai trò,mưu đồ của chủ nghĩa đế quốc nhất là Mỹ vì lợi ích của họ

Ngay trong năm đầu tiên của thế kỷ XXI, cả thế giới tư bản hoảng loạn sau vụkhủng bố ở nước Mỹ (11/9/2001) Sự mất ổn định chính trị - xã hội đã đến gõ cửa

“thánh đường” thiêng liêng nhất, được bảo vệ nghiêm ngặt nhất của thế giới tư bản Sự

Trang 2

mất ổn định chính trị - xã hội đâu chỉ là việc riêng của các nước nghèo, bị phụ thuộc mà

có thể nói là việc đáng lo ngại của tất cả các nước trong tình hình thế giới ngày nay.Đảng và nhân dân ta đã, đang và sẽ còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề ổn định chínhtrị - xã hội Ngay từ những ngày đầu đổi mới đất nước (1986), Đảng ta đã đề ra nhiệm

vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội Đảng ta xác định rõ có ổn định chính trị - xã hội mới có điều kiện để ổn định và phát triển tất cả các lĩnh vực khác của toàn bộ chế độ xãhội ta Suốt 15 năm đổi mới đất nước, không khi nào Đảng ta lơi lỏng nhiệm vụ giữvững ổn định chính trị - xã hội Do vậy công cuộc đổi mới của ta đã có những bước đirất vững chắc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thắng lợi sau to hơn thắng lợi trước.Sau 15 năm đổi mới đất nước, tình hình chính trị - xã hội của nước ta: “Cơ bản ổn định,quốc phòng và an ninh được tăng cường [14,tr.70] Nước ta được đánh giá là một trongnhững nước ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới Nhưng hiện nay nước ta cũngcòn có những nhân tố tiềm ẩn gây ra mất ổn định chính trị - xã hội Nước ta nằm trongkhu vực Đông Nam Á, châu Á Thái Bình Dương, một khu vực có nhiều nhân tố tiềm ẩngây mất ổn định trong những năm tới Ở trong nước, “bốn nguy cơ” mà Đảng ta đã chỉ

rõ vẫn đang có nhiều tác động tiêu cực có thể gây rất mất ổn định chính trị - xã hội ,trong đó nguy cơ tham nhũng đang là một mối đe doạ đến việc sống còn của chế độ xãhội chủ nghĩa ở nước ta Riêng về vấn đề tham nhũng nguyên Tổng Bí thư Đảng cộngsản Việt Nam Đỗ Mười đã chỉ rõ:

Trong lịch sử thế giới xưa nay không ít trường hợp một Nhà nước, một chế độ mặc

dù có quá khứ vẻ vang nhưng sụp đổ mau chóng một khi thoái hoá tham nhũng, quanliêu, xa rời nhân dân, đánh mất niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân [47, tr.12]

Ở nước ta hiện nay cũng nổi lên một số vấn đề bức xúc mà nếu không ngăn chặnkịp thời cũng sẽ gây ra những hậu quả khôn lường thậm chí gây mất ổn định chính trị -

xã hội Vì vậy, việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội , hơn bao giờ hết, lại là vấn đềđược đặt lên hàng đầu, là một mục tiêu có ý nghĩa sống còn mà toàn Đảng, toàn dânphải tập trung thực hiện trên thực tế đời sống xã hội nước ta

Trang 3

Trong lý luận cũng như trên thực tiễn hiện nay, việc nhận thức về “ổn định chính trị

- xã hội” và hành động nhằm thực hiện giữ vững ổn định chính trị - xã hội cũng chưađược nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống Để thực hiện nhiệm vụ hàng đầu, sinh

tử này trước hết đòi hỏi phải có sự thống nhất nhận thức về “ổn định chính trị - xã hội”,

từ đó mới có thể có sự thống nhất hành động nhằm thực hiện thành công mục tiêu giữvững ổn định chính trị - xã hội tạo điều kiện cơ bản cho phát triển mọi lĩnh vực của đấtnước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một yêu cầu khách quan và cấp thiết

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có thệ thống vấn đề ổn địnhchính trị - xã hội ở nước ta là việc làm cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Các văn kiện của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước trong thời kỳ đổi mớiđất nước ít hay nhiều đều đề cập đến vấn đề ổn định chính trị - xã hội Để định rađường lối đúng đắn lãnh đạo đất nước, Đảng ta đều phân tích sâu sắc tình hình chính trị

- xã hội trên thế giới và trong nước, đánh giá thực trạng của việc giữ vững ổn định chínhtrị - xã hội, từ đó nêu ra những quyết sách chính trị lớn cho đất nước Các chủ trương,chính sách của Nhà nước đều hướng tới mục tiêu đảm bảo cho đất nước giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội để đất nước từng bước phát triển Đường lối chính trị của Đảng,chủ trương chính sách của Nhà nước, vì vậy trở thành căn cứ lý luận trong việc nghiêncứu ổn định chính trị - xã hội

-Trên lĩnh vực nghiên cứu, trước đây và hiện nay đã có nhiều công trình khoa họccấp Nhà nước, cấp Bộ giành sự chú ý cần thiết để phân tích, lý giải ý nghĩa vai trò của

ổn định chính trị - xã hội đối với sự nghiệp đổi mới Thí dụ như đề tài KX 05 “Đổi mới

và tăng cường hệ thống chính trị của nước ta trong giai đoạn mới” Đề tài này đã nghiêncứu một cách hệ thống lý luận về hệ thống chính trị, thực trạng của hệ thống chính trị vànhững giải pháp tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Tuy không trực tiếp đặt ravấn đề ổn định chính trị - xã hội nhưng đề tài này cũng đưa ra sự liên quan giữa việc đổimới hệ thống chính trị với việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội Đề tài KX 09-04:

Trang 4

“Chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn, lật đổ và đối sách của ta”; đề tài KX04-14

“Đổi mới chính sách xã hội nhằm đảm bảo an ninh xã hội” đều đề cập đến mối quan hệgiữa giữ vững ổn định chính trị - xã hội với việc chống lại chiến lược “diễn biến hoàbình” của các thế lực thù địch, quan hệ mật thiết giữa giữ vững ổn định chính trị - xãhội với việc thực hiện các chính sách xã hội

Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề ổn định chính trị - xã hội trongcác tác phẩm của mình Chẳng hạn các tác giả như Nguyễn Đức Bách- Lê Văn Yên-Nhị Lê đã viết: “Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Laođộng, Hà Nội, 1998; Phạm Xuân Nam: “Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắctiến bộ và công bằng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Vũ Thị Phùng:

“Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”,Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội1999; Lương Xuân Quỳ: “Cơ cấu thành phầnkinh tế ở nước ta hiện nay, lý luận thực trạng và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trịquốc gia Hà Nội, 2001; Trần Xuân Sầm: “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnhđạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị- quốc gia, HàNội, 1998…

Trên các tạp chí nghiên cứu, một số tác giả cũng đã đề cập đến trạng thái ổn địnhchính trị - xã hội với những góc độ khác nhau Chẳng hạn các tác giả như Lê HữuNghĩa đã bàn về: “ Vai trò của chính trị trong việc đảm bảo định hướng XHCN”, Tạpchí Cộng sản số 5/1996; Văn Tạo: “Cải cách, đổi mới và cách mạng - những phạm trùlịch sử và biện chứng”, Tạp chí Cộng sản số 3 (2-1999); Đường Vinh Sường; “Một sốvấn đề xã hội nổi cộm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Cộng sản số 6 (3-2000) Nguyễn Trọng Chuẩn; Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế

và đổi mới chính sách xã hội”, Tạp chí Triết học, số 6/1996

Như vậy, vấn đề ổn định chính trị - xã hội đối với sự nghiệp đổi mới đất nước đãđược nhiều tác giả nghiên cứu quan tâm Nhưng cho đến nay chưa có một công trìnhchuyên sâu nào bàn đến vấn đề ổn định chính trị - xã hội đối với công cuộc đổi mới đất

Trang 5

nước Luận án “Ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước” sẽ nghiêncứu cơ bản, hệ thống cả về lý luận và thực tiễn vấn đề ổn định chính trị - xã hội trongcông cuộc đổi mới đất nước.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

3.1 Mục đích:

Nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề ổn định chính trị - xã hội ở nước ta

cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra một số giải pháp để giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH trong công cuộc đổi mới đất nước tatheo định hướng XHCN

- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục giữ vững ổn định vềchính trị - xã hội ở nước ta trong quá trình phát triển đất nước, đẩy mạnh sự nghiệpCNH, HĐH những năm tới

4 đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trongcông cuộc đổi mới ở nước ta

- Phạm vi nghiên cứu: ổn định chính trị - xã hội liên quan đến nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội và trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử Trong phạm vi của đềtài này, luận án chỉ nghiên cứu lĩnh vực ổn định tư tưởng chính trị, ổn định quan hệ giai

Trang 6

cấp, dân tộc, tôn giáo, ổn định hoạt động của hệ thống chính trị, việc giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá tức là giữ vững ổn định chính trị -

xã hội từ khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đến nay

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án.

- Trình bày một cách có hệ thống quan niệm về: chính trị - xã hội , ổn định chính trị

- xã hội , phân tích vai trò ổn định chính trị - xã hội trong quan hệ với sự phát triển của

xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm về ổn định chính trị - xã hội

- Phân tích thực trạng tình hình ổn địnhh chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay (cảthành tựu lẫn hạn chế), đồng thời nêu ra một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằmtiếp tục củng cố sự ổn định chính trị - xã hội trong thời gian tới

6 Cơ sở phương pháp luận của luận án.

- Luận án dựa trên những phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, lấy tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN và xã hộiXHCN ở Việt Nam; những quan điểm đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam hiện naylàm cơ sở lý luận

Sử dụng các tài liệu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến ổn định chính trị

-xã hội (cả tài liệu quốc tế và trong nước)

7.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.

- Luận án góp phần làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh về các khái niệm chính trị, xã hội, chính trị - xã hội , ổn định chính trị - xã hội

; làm rõ những đặc trưng của việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nước ta ; làm rõthực trạng của vấn đề này ở nước ta hiện nay và luận chứng tính khả thi của các giảipháp cơ bản để tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy triết học Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và cho những ai quan tâm tới việc nghiên cứu vấn đề

-ổn định chính trị - xã hội của đất nước ta hiện nay

8 Kết cấu của luận án

Trang 7

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3chương, 7 tiết

tố có giá trị nhất định nhưng chưa làm rõ bản chất giai cấp của chính trị, tính quy địnhcủa mối quan hệ lợi ích trước hết là lợi ích kinh tế giữa các giai cấp đối với chính trị.Chủ nghĩa Mác- Lênin đã có quan niệm khoa học về chính trị Những người mácxítcho rằng phải xem xét chính trị trong quan hệ với kinh tế, với giai cấp, với lợi ích giaicấp, với Nhà nước cùng thiết chế chính trị bảo đảm hiện thực hoá những nhu cầu chínhtrị, kinh tế

Trang 8

Xét về bản chất, chính trị có nguồn gốc từ kinh tế, là sự biểu hiện tập trung của kinh

tế, là kinh tế cô đọng lại Đây là luận điểm mang tính duy vật về chính trị, bởi vì chínhtrị không phản ánh nhu cầu kinh tế ngẫu nhiên mang tính chất đơn nhất, mà nó phản ánhtính bản chất của nhu cầu kinh tế Trong khi phản ánh những khuynh hướng kinh tếkhác nhau thì chính trị của giai cấp cầm quyền phản ánh khái quát những xu hướngkhác nhau đó và làm nổi bật xu hướng của kinh tế chủ đạo Điều đó sẽ làm cho chính trịquy tụ được sức mạnh của toàn giai cấp hay xã hội nói chung để hiện thực hoá xuhướng kinh tế chủ đạo V.I.Lênin đã chỉ rõ: “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinhtế… chính trị không thể chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế” [29,tr.349] So với kinh

tế, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu vì khi giải quyết các vấn đề kinh tế,chính trị của giai cấp cầm quyền phải định hướng vào việc bảo vệ và phát triển quyềnlực chính trị của mình Một khi quan điểm đúng, chính trị sẽ can thiệp tự giác vào tiếntrình kinh tế khách quan (điều chỉnh mối tương quan kinh tế) Xét về tương quan, kinh

tế tuy là điểm xuất phát và là mục tiêu của chính trị, nhưng chính trị phải có vị trí đặcbiệt quan trọng vì quyền lực chính trị là tiền đề xuất phát để đi tới giành lợi ích kinh tế,

vì quan điểm chính trị trong kinh tế có tác dụng quy định chiều hướng, khuynh hướngphát triển kinh tế và hoạt động kinh tế phải nhằm đảm bảo và bảo vệ định hướng chínhtrị, khi giải quyết các vấn đề kinh tế phải luôn luôn xuất phát từ các quan điểm chính trị

Do vậy, cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hoá tự do kinh tế, đồng thời cũng tránh tuyệtđối hoá chính trị mà xa rời quyền lợi kinh tế hoặc làm thiệt hại đến lợi ích kinh tế củacộng đồng

Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp Các giai cấp là chủ thể của chính trị tươngứng bởi vì chính các giai cấp cấu thành những mặt của các quan hệ chính trị Quan hệgiai cấp biểu hiện bản chất của đời sống chính trị cả trong lĩnh vực kinh tế lẫn phạm vikiến trúc thượng tầng Chính trị là mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mối quan hệnày quy định nội dung và tạo thành nền tảng hết sức quan trọng của chính trị Các giaicấp và mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp tạo thành cơ sở trực tiếp của chính trị

Trang 9

Chính trị có quan hệ hữu cơ với lợi ích giai cấp Do vị trí khác nhau trong hệ thốngsản xuất của xã hội, các giai cấp có nhu cầu khác nhau Các nhu cầu đó được biểu hiệntrong những lợi ích giai cấp nhất định Giai cấp thống trị luôn quan tâm tới việc sử dụngmọi công cụ có trong tay để duy trì, củng cố quan hệ sản xuất thống trị mà nó là đạidiện Giai cấp bị trị lại muốn thay thế quan hệ sản xuất đó để giải phóng mình.Ph.Ăngghen cho rằng trong xã hội có đối kháng giai cấp, các quan hệ kinh tế bao giờcũng được biểu hiện ra trước hết là những lợi ích Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, cáclợi ích kinh tế cơ bản biểu hiện tập trung và khái quát thành lợi ích chính trị Khát vọnglợi ích cơ bản của giai cấp làm nảy sinh đấu tranh giai cấp mà hình thức cơ bản của nó

là đấu tranh chính trị Chính vì thế V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng lợi ích kinh tế cơ bảncủa giai cấp công nhân chỉ được thoả mãn nhờ cách mạng chính trị, thay thế chuyênchính tư sản bằng chuyên chính vô sản

Như vậy, từ bản chất giai cấp của chính trị, chúng tôi tán thành quan điểm cho rằng:

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà nước, là biểu hiện tập trung của kinh tế, là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi những lợi ích

cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để hiện thực hoá lợi ích cơ bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị khác[6,tr.39]

Nhưng theo chúng tôi, không nên dùng từ “chính trị” ngay trong định nghĩa kháiniệm chính trị Và chúng tôi bổ sung thêm là: những quan hệ, hoạt động theo phươnghướng, mục tiêu đó trước hết và chủ yếu thể hiện bản chất một chế độ xã hội khi còngiai cấp và đấu tranh giai cấp

1.1.2.Khái niệm xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất.Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữangười với người làm nền tảng C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Xã hội không phải

Trang 10

gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ củacác cá nhân đối với nhau” [40,tr.355] Theo C.Mác: “xã hội- cho dù nó có hình thức gì

đi nữa- là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”[38,tr657]

Xã hội là một bộ phận đặc biệt của thế giới tự nhiên Cùng với quá trình tiến hoácủa tự nhiên, xã hội cũng có một quá trình phát triển lịch sử của mình, thể hiện bằng sựvận động, biến đổi và phát triển không ngừng của cơ cấu xã hội.Ở mỗi giai đoạn lịch sử

cụ thể, có một dạng cơ cấu xã hội cơ bản đặc thù (hình thái kinh tế-xã hội, được coi nhưnhững nấc thang của sự phát triển xã hội) Nền tảng chung của các cơ cấu cụ thể này lànhững mối quan hệ sản xuất vật chất, những mối quan hệ kinh tế giữa người và người,trên đó sẽ hình thành một thượng tầng kiến trúc phù hợp C.Mác viết:

Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là nhữngquan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn pháttriển lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt Xã hội cổ đại, xã hộiphong kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể

đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhânloại[34,tr.553]

Khi nhấn mạnh xã hội đều được đặc trưng bởi một tổng thể quan hệ sản xuất thì chủnghĩa Mác- Lênin cũng chỉ ra rằng quan hệ sản xuất chỉ là cái biểu hiện bên ngoài làhình thức xã hội của một phương thức sản xuất nhất định còn cái quyết định nội dungcủa nó lại chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữacon người và tự nhiên Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện trình độchinh phục tự nhiên của con người, là thước đo năng lực thực tiễn của con người trongquá trình cải biến tự nhiên, nhằm bảo đảm sự sinh tồn và phát triển của con người và xãhội Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất Quan hệgiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ biện chứng, chúng luôn quyđịnh và chế ước nhau, trong đó lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định Quan hệ

Trang 11

giữa con người và tự nhiên (lực lượng sản xuất) được hình thành một các khách quan vàtất yếu Nội dung và cũng là cái quyết định một phương thức sản xuất là lực lượng sảnxuất đã mang tính khách quan tất yếu thì hình thức biểu hiện của nó - quan hệ sản xuấtnói riêng và quan hệ xã hội nói chung cũng phải mang tính khách quan và tất yếu Dođó:

Xã hội với tư cách là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người và người cũngđược hình thành một cách khách quan và tất yếu Sự vận động, biến đổi và phát triểncủa xã hội phải tuân theo những quy luật nội tại vốn có của nó, trước tiên là quy luật về

sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển nhất định của lực lượng sảnxuất Từ đó, có thể khẳng định rằng con người không thể tuỳ tiện lựa chọn cho mìnhmột hình thức xã hội này hay một hình thức xã hội khác.[22, tr.401]

Như vậy, với nghĩa thông thường, có thể quan niệm về xã hội như sau:

Xã hội, theo nghĩa rộng nhất là một khái niệm phản ánh các hoạt động và các mối quan hệ giữa con người với con người trên mọi lĩnh vực ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Một xã hội xác định vận động, phát triển theo những quy luật nội tại, trước tiên là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, kiến trúc thợờng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng.

Xét về ngữ nghĩa, với nội dung cơ bản nhất và với nghĩa rộng nhất thì khái niệm xãhội rộng hơn khái niệm chính trị Bởi vì mọi vấn đề có liên quan đến các hoạt động củacon người đều là những quan hệ và những hoạt động xã hội, trong đó có cả chính trị,

kinh tế, văn hoá v.v… Nhưng trên thực tế có nhiều quan hệ, vấn đề cụ thể không thể chỉ diễn đạt theo nghĩa rộng nhất của xã hội, do đó mà cũng có khái niệm xã hội theo nghĩa hẹp hơn, ngang cấp với khái niệm chính trị, kinh tế, văn hoá… đó là khái niệm xã hội

phản ánh những quan hệ những hoạt động, những mặt… cụ thể hơn của toàn xã hội đã

và đang nảy sinh một cách khách quan cùng với kinh tế, chính trị, văn hoá mà ta thườnggọi là những vấn đề xã hội để có thể có những chính sách xã hội Ví dụ: các vấn đề thấtnghiệp và việc làm, thất học, phân hoá giàu, nghèo, phong tục và hủ tục, công bằng và

Trang 12

bất công, đạo lý và phi đạo lí, nhân cách và phản nhân cách, bệnh tật, rủi ro, tệ nạn

v.v… Đó là những vấn đề gắn trực tiếp hơn với nhu cầu vật chất và tinh thần của mỗi người trên cơ sở kinh tế, chính trị, lịch sử và văn hoá xác định Những vấn đề xã hội đó

luôn có liên quan chặt chẽ với kinh tế, chính trị nhưng lại không thể xếp vào một cáchgiản đơn với các vấn đề kinh tế,chính trị

Do vậy, hiểu quan niệm về xã hội cần phải hiểu theo nghĩa rộng (gồm nhiều lĩnhvực như chính trị, kinh tế, văn hoá…)và cả là vấn đề xã hội theo nghĩa hẹp Ở luận ánnày, khái niệm xã hội sử dụng theo nghĩa hẹp khi đề cập đến vấn đề chính trị - xã hội và

ổn định chính trị - xã hội

1.1.3 Khái niệm chính trị - xã hội

Nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước, nhiều bài phát biểu của những người lãnhđạo Đảng và Nhà nước ta có nói đến thuật ngữ chính trị - xã hội Trong cuộc sống hàngngày, thuật ngữ chính trị - xã hội cũng thường được sử dụng (nhất là từ những năm 80của thế kỷ XX đến nay) Tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa khoa học nào

và chính trị, giữa Nhà nước với các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tập thể, các

cá nhân v.v… Các quan hệ xã hội này trong xã hội có giai cấp đều có tính chất chính trị nên gọi là các quan hệ chính trị - xã hội Cần chú ý rằng việc nghiên cứu các quan hệ

chính trị - xã hội rất phức tạp về cơ cấu và có quan hệ mật thiết với các quan hệ xã hộikhác trong lĩnh vực kinh tế và đời sống tinh thần của xã hội [20,tr.15]

Ở đoạn lập luận này, tác giả của giáo trình có giải thích quan hệ chính trị - xã hội làcác quan hệ xã hội này trong xã hội có giai cấp đều có tính chất chính trị nên gọi là các

Trang 13

quan hệ chính trị - xã hội Cách giải thích này đã cho chúng ta hiểu được phần nào kháiniệm ghép chính trị - xã hội Tuy vậy, theo chúng tôi, sự phân tích rất cần thiết và khoahọc đó vẫn chưa hẳn là một định nghĩa khái niệm ghép chính trị - xã hội.

Chúng ta cần phân tích mối quan hệ giữa chính trị và xã hội

Chính trị là một bộ phận nằm ở thượng tầng kiến trúc của một hình thái kinh tế - xãhội Chính trị có ảnh hưởng rất rõ đối với các yếu tố khác ở thượng tầng kiến trúc nhưpháp luật, tôn giáo, văn hoá, nghệ thuật và có tác động rất lớn đối với cơ sở kinh tế V.I.Lênin nhấn mạnh chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế do đó chính trị khôngthể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế Chính trị tác động đến cơ sở kinh tế của

xã hội, chi phối các hoạt động và các quan hệ xã hội Sự tác động của chính trị đến cácquan hệ xã hội có thể trực tiếp có thể gián tiếp Trực tiếp là các chủ thể chính trị có thểthông qua các chính sách mà điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các giai cấp xãhội Tác động gián tiếp của chính trị là chính trị tác động đến kinh tế và kinh tế lại tácđộng quyết định các quan hệ xã hội Tác động tích cực hay tiêu cực của nhân tố chínhtrị phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cách mạng hay phản tiến bộ, phản cách mạng củagiai cấp đang thống trị xã hội Khi giai cấp thống trị đại diện cho lực lượng sản xuất tiến

bộ, cho tư tưởng chính trị tiến bộ thì có tác dụng tích cực đến sự phát triển của xã hội.Khi giai cấp thống trị xã hội trở thành lạc hậu thì kìm hãm sự phát triển của xã hội Nhưvậy, trong xã hội có giai cấp, nhân tố chính trị thâm nhập vào nhân tố xã hội và nhân tố

xã hội cũng thâm nhập vào nhân tố chính trị Các quan hệ xã hội tốt đẹp sẽ làm chochính trị bền vững, các quan hệ xã hội rối loạn sẽ làm cho kinh tế bị kìm hãm, xã hộimất ổn định và chính trị có thể bị lung lay Vì vậy giữa nhân tố chính trị và nhân tố xãhội của một hình thái kinh tế xã hội không tách rời nhau luôn có quan hệ biện chứng vớinhau

Vậy theo chúng tôi, khái niệm chính trị - xã hội được hiểu là một khái niệm ghép phản ánh một thực tế khách quan của xã hội có giai cấp, trong đó, mọi quan hệ xã hội của con người, những cộng đồng người đều bị chi phối bởi một giai cấp cầm quyền

Trang 14

thông qua hệ tư tưởng chính trị và những thiết chế quyền lực của nó ở một chế độ xã hội cụ thể.

Phân tích cặn kẽ hơn về khái niệm chính trị - xã hội thể hiện trên cả mặt thực tiễn và

lý luận, chúng ta có thể thấy rõ, đó là: Những định hướng chính trị, những ý nghĩa chính trị, những tác động chính trị, do giai cấp cầm quyền tác động lên những quan hệ, những hoạt động của con người trên các lĩnh vực cơ bản của xã hội như lĩnh vực chính

trị, lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực văn hoá Trong lịch sử nhân loại, các chế độ xã hội khácnhau đều có những lĩnh vực chủ yếu như trên Nhưng ở các xã hội khác nhau thì cáclĩnh vực chủ yếu đó lại có nhiều đặc điểm, nội dung, hình thức khác nhau Suy cho cùng

là do các giai cấp thống trị ở mỗi chế độ xã hội đã có những định hướng chính trị khác nhau trên các lĩnh vực của xã hội “theo hình ảnh của mình”, tức là phải phù hợp với

mục tiêu và lợi ích của mình Thí dụ cùng trên lĩnh vực kinh tế nhưng lĩnh vực kinh tế

tư bản chủ nghĩa là đem lại lợi ích kinh tế nhiều nhất cho giai cấp tư sản còn lĩnh vựckinh tế chủ nghĩa xã hội mang lợi ích cho toàn dân, đặc biệt là cho đại đa số người laođộng Thí dụ như cùng là sử dụng thành tựu khoa học như lý thuyết về nguyên tử, lade… nhưng chủ nghĩa đế quốc dùng những thành tựu này để xâm lược các dân tộc khác.Chủ nghĩa xã hội dùng những thành tựu này để bảo vệ hoà bình Thí dụ, cùng là vấn đềgiúp đỡ người thất nghiệp, người nghèo, nhưng ở chủ nghĩa tư bản, Chính phủ tư sảnchủ yếu là trợ cấp, phát chẩn, bằng nguồn chính từ ngân sách Nhà nước Suốt mấy thế

kỷ qua (dù có thể có mức trợ cấp rất cao) nhưng họ không đặt ra mục đích giải quyếttriệt để vấn đề thất nghiệp, đói nghèo vì nếu xã hội thực sự có bình đẳng tư sản - vô sảnthì không còn giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản Trong chủ nghĩa xã hội, dù bước đầusản xuất, đời sống còn thấp nhưng Đảng của giai cấp công nhân và Nhà nước XHCNchủ trương xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ người nghèo để người nghèo tự vươn lên chủyếu bằng sản xuất để giàu có như những người khác Rõ ràng là cùng một vấn đề,nhưng giai cấp tư sản và giai cấp công nhân đã có định hướng chính trị - xã hội khácnhau theo mục đích, lợi ích của mình

Trang 15

Với cách hiểu này thì các xã hội có giai cấp khác nhau như xã hội chiếm hữu nô lệ,

xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa, xã hội XHCN đều có mặt chính trị - xã hội

khác nhau Mặt chính trị - xã hội về cơ bản bị chi phối bởi giai cấp đang thống trị xãhội Các học giả tư sản tuy thừa nhận mặt chính trị - xã hội của xã hội tư sản (khôngngừng củng cố tăng cường các tổ chức bạo lực nhằm duy trì xã hội theo trật tự tư sản)nhưng vẫn cố tình che giấu bản chất giai cấp tư sản Còn những người mác xít thì quanniệm chính trị - xã hội phải bao hàm tính giai cấp Chính trị - xã hội của xã hội XHCNmang bản chất giai cấp công nhân Việc công khai bản chất chính trị của giai cấp côngnhân, của chủ nghĩa xã hội là cần thiết để nhân dân hiểu, tin ở đường lối cách mạng củaĐảng cộng sản vì lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của quần chúng laođộng, phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân

1.2.QUAN NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

1.2.1Quan niệm về ổn định.

Hiện nay, thuật ngữ ổn định được dùng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Thí dụ như ổn định đời sống, ổn định thu nhập, ổn định gia đình… chỉ mộttrạng thái của sự vật trong một hoàn cảnh xác định Về mặt triết học, thuật ngữ ổn địnhchỉ một trạng thái trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Thế giới vật chất luônvận động không ngừng nhưng không loại trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng

im tương đối Không có hiện tượng đứng im tương đối: “không có sự vật nào tồn tạiđược” [22, tr.189] Ph.Ănggen cho rằng:

Trong vận động của các thiên thể, có vận động trong cân bằng và có cân bằng trongvận động (một cách tương đối) Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào (…)cũng đều có xu hướng khôi phục lại sự đứng yên tương đối, sự cân bằng Khả năngđứng yên tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủyếu của sự phân hoá của vật chất [36,tr.740]

Trang 16

Ph.Ăng ghen còn chỉ rõ: Mọi sự cân bằng chỉ là “tương đối” và “tạm thời” trong sựvận động tuyệt đối và vĩnh viễn của thế giới vật chất.

Ổn định phải được xem là mặt “nhất thời” của trạng thái vận động, phát triển.C.Mác nhấn mạnh:

Trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời baohàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó về sự diệt vong tất yếu của

nó, về mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động,tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó [37, tr.35]

Trạng thái ổn định nhất thời của sự vật có 2 mặt, mặt khẳng định và phủ định Haimặt này có sự tác động qua lại với nhau Đó là mối quan hệ biện chứng của sự vật, làmcho sự vật tồn tại trong thể “vừa là nó” lại “không phải là nó” Nói đến ổn định là nóiđến trạng thái đối lập với rối loạn, khủng hoảng… đồng thời trạng thái này cũng xa lạvới sự tĩnh lặng hoàn toàn hay bất biến, cố định tuyệt đối Ổn định không làm triệt tiêuhay kìm hãm sự vận động, phát triển mà có quan hệ mật thiết với vận động, phát triển.Mặt ổn định của sự vật là điều kiện để sự vật tự khẳng định, tự định hình, đồng thời làmôi trường tốt cho các thuộc tính, các mặt bên trong sự vật tiến hành quá trình chuyểnhoá biến đổi Nhờ có trạng thái ổn định, sự vật trong quá trình vận động sẽ biến đổi từtrình độ thấp lên trình độ cao, từ mức độ bấp bênh, không chắc chắn đến mức độ vữngbền hơn Với ý nghĩa đó, ổn định là một dạng đặc biệt của vận động, phát triển và vậnđộng, phát triển là quá trình thay đổi các trạng thái ổn định của sự vật Không có ổnđịnh thì không có phát triển nhưng “không phát triển thì cũng khó duy trì được ổn địnhlâu dài và vững chắc” [51,tr.353] Ổn định và biến đổi vừa là tiền đề là điều kiện chonhau, vừa là nhân, vừa là quả của nhau, là sự thể hiện của mối quan hệ giữa vận động vàđứng im

Tóm lại, ổn định chỉ một trạng thái của tự nhiên, xã hội, tư duy trong quá trình vận

động phát triển của sự vật đó Do vậy, xét cả trên thực tiễn lẫn trong sự khái quát triết học thì ổn định mang tính tương đối, vì nó chính là sự vận động trong những mâu

Trang 17

thuẫn, trong sự thống nhất giữa các mặt đối lập và cũng là sự thống nhất tương đối- xét

về mặt triết học.

1.2.2.Nội dung cơ bản về ổn định chính trị - xã hội

Trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, trong các tác phẩm nghiên cứu lý luận, cácbài báo của nhiều tác giả, trong ngôn ngữ thường dùng, chúng ta thường gặp thuật ngữ

ổn định chính trị - xã hội Cách hiểu thuật ngữ này rất khác nhau Vì thế cho đến naycũng chưa có một định nghĩa đầy đủ nào về thuật ngữ: ổn định chính trị - xã hội Để cóthể đi đến một định nghĩa về thuật ngữ ổn định chính trị - xã hội cần phải xem xét vấn

đề này trên những khía cạnh sau:

*Ổn định chính trị - xã hội là trạng thái xã hội mà ở đó có sự phù hợp giữa quan

hệ sản xuất với tính chất, trình dộ của lực lượng sản xuất; giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của xã hội.

Khi nghiên cứu xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, C.Mác - Ph.Ăng ghen đãđưa ra khái niệm hình thái kinh tế - xã hội

Theo C.Mác - Ph.Ăng ghen, xã hội là một chỉnh thể các yếu tố hợp thành bao gồmlực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, các yếu tốnày có mối quan hệ biện chứng với nhau

C.Mác - Ph.Ăng ghen đã nêu ra quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất là : “một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là

“hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất Nghĩa là trạng thái mà ở đó cácyếu tố cấu thành quan hệ sản xuất “tạo thành địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển”

C.Mác - Ph.Ăngghen còn chỉ rõ sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa những quan hệkinh tế của xã hội và các quan hệ chính trị tinh thần hình thành trên các quan hệ kinh tế

đó qua mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng C.Mác viết:

Trang 18

Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội; tức là cái

cơ sở hiện thực trên đó dựng lêm một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị vànhững hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó [35,tr.15].Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mối quan hệ biện chứng.Chúng tôi nhận thấy sự phân tích sau đây về mối quan hệ đó là khoa học và sát thựctiễn Đó là: cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có thể “phù hợp với nhau và cũng cóthể mâu thuẫn với nhau Nếu sự thống nhất, sự phù hợp giữa chúng tạo nên sự ổn định,

sự phát triển của xã hội thì sự không phù hợp giữa chúng lại tạo nên sự bất ổn định, sựtrì trệ thậm chí là sự rối loạn đối với xã hội” [62, tr.4]

Sự phù hợp giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng sẽ tạo ra sự phù hợp củanhân tố chính trị và nhân tố kinh tế Lịch sử chứng minh, không có nền kinh tế nàotrong xã hội có giai cấp mà lại không chịu sự chi phối điều tiết của chính trị, không trựctiếp thì cũng gián tiếp, không biểu hiện bên ngoài thì cũng ẩn dấu bên trong Trong thựctiễn, sự tác động của chính trị với kinh tế theo các hướng:

Một là, cùng với sự phát triển kinh tế, khi đó chính trị có vai trò tích cực đối với sựphát triển kinh tế

Hai là, ngược chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó chính trị là vật cản, kìm hãm sựphát triển kinh tế

Ba là, chính trị có khả năng hạn chế phần nào phạm vi tác dụng những khuynhhướng phát triển này hoặc có thể đẩy mạnh tác dụng của những khuynh hướng pháttriển khác trong một chế độ kinh tế nhất định

Sự tác động cùng chiều của chính trị với phát triển kinh tế sẽ làm cho cả chính trị vàkinh tế đều ổn định và phát triển Lúc đó, chính trị sẽ mở đường cho sự phát triển củakinh tế và mỗi bước tiến của kinh tế sẽ góp phần củng cố hoàn thiện các yếu tố chính trị

Ở trạng thái có sự phù hợp giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, xã hội cũngthường xuất hiện sự phát triển cùng chiều của chính trị và văn hoá Chính trị phát triển

Trang 19

cùng chiều với văn hoá sẽ mở đường cho sự phát triển của văn hoá Mỗi bước phát triểncủa văn hoá lúc đó cũng sẽ góp phần thúc đẩy cả chính trị, kinh tế phát triển.

Như vậy, tổng hợp của sự phù hợp và phát triển cùng chiều của các nhân tố chínhtrị, kinh tế, văn hoá sẽ tạo ra trạng thái ổn định chính trị - xã hội

*Ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực tư tưởng chính trị của xã hội.

Ổn định tư tưởng chính trị của xã hội thực chất là hệ tư tưởng của giai cấp thống trịgiữ vị trí chủ đạo trong xã hội Các hệ tư tưởng, tư tưởng của các giai cấp tầng lớp kháctrong xã hội phải tuân theo hệ tư tưởng chủ đạo của giai cấp thống trị Có thể có sựxung đột về mặt tư tưởng, hệ tư tưởng giữa các giai cấp, tầng lớp với nhau và giữa cácgiai cấp với giai cấp thống trị Nhưng những xung đột này vẫn nằm trong khuôn khổ củaluật pháp, không phá vỡ được hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Trong lịch sử, nếu hệ

tư tưởng của giai cấp thống trị nào đại diện cho lợi ích của đại đa số giai cấp, tầng lớptrong xã hội thì hệ tư tưởng ấy được toàn xã hội chấp nhận, trở thành nền tảng tư tưởng,tinh thần của xã hội Ngược lại, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị chỉ đại diện cho lợiích của một nhóm người thống trị thì dù giai cấp thống trị có dùng cả hệ thống bạo lực

để bảo vệ hệ tư tưởng của mình, hệ tư tưởng ấy cũng không thể giữ được vị trí chủ đạotrong xã hội Hệ tư tưởng đó sẽ bị xã hội lên án Các cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại

hệ tư tưởng của giai cấp thống trị sẽ xảy ra, đẩy xã hội vào tình trạng rối loạn tư tưởng.Thông thường, khi giai cấp thống trị đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, thì hệ tưtưởng của giai cấp này cũng mang tính cách mạng tiên tiến Vì vậy sự hấp dẫn, sứcmạnh chinh phục của hệ tư tưởng tiên tiến đó sẽ tạo ra cho xã hội sự ổn định về tưtưởng, chính trị Nhưng cũng có một thực tế là, khi giai cấp thống trị xã hội không còn

là giai cấp cách mạng nữa, hệ tư tưởng thống trị bị chỉ trích, công phá, giai cấp thống trị

đã biết điều chỉnh hệ tư tưởng của mình phù hợp với một số đòi hỏi về lợi ích của nhândân Sự điều chỉnh này cũng đã làm giảm đi xung đột về tư tưởng trong xã hội và cũngvẫn giữ được sự ổn định tạm thời về tư tưởng chính trị của xã hội

*Ổn định chính trị - xã hội trong lĩnh vực quan hệ chính trị của xã hội:

Trang 20

Quan hệ chính trị là một loại quan hệ xã hội đặc biệt mang tính khách quan Đó làquan hệ giữa công dân với Nhà nước, quan hệ giữa các tập đoàn, giai cấp khác nhau vớivấn đề nhà nước; quan hệ giữa các thành phần dân tộc khác nhau trong một quốc gia vớiNhà nước; quan hệ giữa Nhà nước (của một quốc gia) với một quốc gia khác, quan hệcủa nhà nước với các tôn giáo trong một quốc gia Đồng thời, về bản chất cũng là quan

hệ với giai cấp cầm quyền xã hội thông qua Đảng chính trị của nó Bởi vì, về thực chất,mọi hiến pháp, pháp luật, chính sách và hoạt động của Nhà nước đều là thể chế hoá vàthực thi đường lối chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền Chỉ có điều khác về bảnchất giai cấp cầm quyền là: lợi ích, quyền lực của giai cấp công nhân và Đảng cộng sảnlại thống nhất cơ bản về lợi ích, quyền lực của toàn thể nhân dân lao động các dân tộc

Ổn định chính trị - xã hội là trạng thái ổn định của các quan hệ chính trị đặc biệt đó.Quan hệ giữa các cá nhân con người (ở xã hội tư bản và xã hội ngày nay gọi là côngdân) với Nhà nước là một quan hệ chính trị cơ bản của tất cả các chế độ chính trị - xãhội từ xưa cho đến nay Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, đó là quan hệ giữa các thành viên của

xã hội với nhà nước chủ nô Ở xã hội phong kiến là mối quan hệ giữa thân dân và vua

Ở xã hội tư bản và XHCN là mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước Trong mối quan

hệ này, các thành viên của xã hội phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội như phảilao động đóng góp tiền của cho Nhà nước, phải chiến đấu bảo vệ Nhà nước… Ngược lạiNhà nước phải đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong xã hội như quyền đượcsống, quyền mưu cầu hạnh phúc và một số quyền chính trị, kinh tế, văn hoá khác…Quyền và nghĩa vụ của các thành viên của mỗi một xã hội do trình độ phát triển kinh tế

- xã hội ở xã hội đó quy định Nếu Nhà nước đảm bảo được sự thống nhất hài hoà giữanghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên xã hội với Nhà nước Còn nếu như Nhà nướcchỉ chú trọng mặt nghĩa vụ mà xem nhẹ mặt quyền lợi hoặc chỉ giải quyết mặt quyềnlợi mà không giải quyết mặt nghĩa vụ đều tạo ra sự mất ổn định trong mối quan hệ giữacác thành viên xã hội với Nhà nước Cho nên ổn định quan hệ giữa các thành viên xãhội với Nhà nước thực chất là ổn định mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi của các

Trang 21

thành viên xã hội đối với Nhà nước Nhà nước nào giải quyết thoả đáng mối quan hệgiữa nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên xã hội với Nhà nước thì sẽ tạo ra đượcđiều kiện thuận lợi cho việc ổn định chính trị - xã hội, giải quyết không thoả đáng mốiquan hệ này sẽ tạo ra những nhân tố làm mất ổn định chính trị - xã hội.

Từ khi giai cấp và Nhà nước xuất hiện đến nay, mối quan hệ giữa các giai cấp vớiNhà nước luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các Nhà nước Giải quyết thành cônghay không thành công mối quan hệ này quyết định đến sự còn- mất của một Nhà nướccủa một chế độ chính trị - xã hội Ở xã hội có giai cấp, các giai cấp đều có những lợi íchriêng, thậm chí có lợi ích đối lập nhau Các giai cấp thường có sự xung đột với nhau vềlợi ích dẫn đến các cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử C.Mác cho rằng: “Lịch sử các

xã hội từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” [33,tr.596] Nhà nước là

tổ chức đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị Để duy trì lợi ích lâu dài của mình, dùmuốn hay không muốn, giai cấp thống trị bắt buộc phải bảo đảm một số lợi ích cơ bảncủa các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, giữ cho các lợi ích này ở trạng thái khôngxung đột quyết liệt với lợi ích của giai cấp thống trị Thông qua Nhà nước, giai cấpthống trị có thể điều chỉnh một phần quan hệ lợi ích của các giai cấp và các tầng lớp xãhội đặc biệt là hạn chế ở mức độ nào đó sự bóc lột giai cấp thống trị khi có những bấtđồng xảy ra Trong lịch sử, ngay chế độ phong kiến đã có những thời kỳ phải thực hiệnchính sách hạn điền, hạn nô Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản phải xã hội hoáquan hệ sản xuất ở một số lĩnh vực Đó là những biện pháp để duy trì trật tự xã hội trongkhuôn khổ pháp luật của các xã hội này

Mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau trong một quốc gia với Nhà nước cũng làmột quan hệ chính trị phức tạp đòi hỏi các Nhà nước phải giải quyết đúng đắn Ở cácquốc gia đa dân tộc, sắc tộc, mỗi dân tộc, sắc tộc tuy có những điểm chung như sự cốkết cộng đồng quốc gia, liên kết kinh tế… Nhưng cũng có rất nhiều điểm khác biệt vềvăn hoá, tín ngưỡng, lợi ích… Trong quá trình phát triển của các quốc gia đa dân tộc,sắc tộc, các dân tộc, sắc tộc thường xung đột với nhau mà nguyên nhân có thể là do sự

Trang 22

bất bình đẳng dân tộc gây ra Cho nên Nhà nước phải giải quyết vấn đề quan hệ giữa cácdân tộc (chủ yếu là việc giải quyết quan hệ lợi ích giữa các dân tộc) Nhà nước phải cóchính sách cụ thể về dân tộc, đoàn kết dân tộc trên cơ sở đặt lợi ích của quốc gia dân tộclên trên hết Nhà nước của bất cứ chế độ chính trị - xã hội nào nếu có được các chínhsách dân tộc phù hợp đều có thể tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Quan hệ giữa Nhà nước (của một quốc gia) với các quốc gia khác là một quan hệchính trị rất phức tạp Sự ổn định hay không ổn định của quan hệ này đều có ảnh hưởngđến tình hình chính trị - xã hội của cả các bên tham gia Trong khu vực cũng như trêntrường quốc tế, mỗi quốc gia đều có những lợi ích riêng Quan hệ giữa các quốc giathực chất cũng là mối quan hệ về lợi ích của các quốc gia Trong mỗi quan hệ này, Nhànước (đại diện cho quốc gia) phải bảo vệ được lợi ích của quốc gia mình Nhưng việcbảo vệ lợi ích của quốc gia là rất khó Lịch sử cho thấy, từ xưa đến này, các quốc gialớn luôn có xu hướng xâm lược các quốc gia nhỏ, chà đạp lên lợi ích của các quốc gianhỏ Các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia gây ra sự mất ổn định chính trị - xã hội củakhu vực và trên thế giới Để giữ lợi ích quốc gia của mình, Nhà nước phải có đường lốiđối ngoại phù hợp Đường lối đối ngoại này phải dựa trên nguyên tắc: giữ vững chủquyền dân tộc, tôn trọng lợi ích của quốc gia khác, hợp tác với quốc gia khác để cùngphát triển Chỉ trên cơ sở đó mới tạo ra sự ổn định trong quan hệ giữa các quốc gia, gópphần giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở quốc gia mình cũng như ổn định chính trị - xãhội ở các quốc gia khác

Quan hệ của Nhà nước với các tôn giáo trong một quốc gia Tôn giáo là một vấn đề

xã hội nhưng nếu giải quyết không thoả đáng sẽ trở thành vấn đề chính trị rất phức tạp.Hiện nay trên thế giới, nước nào cũng có nhiều tôn giáo tồn tại Hoạt động của các tôngiáo ở các nước nhìn chung đang có xu hướng chuyển thành các hoạt động mang tínhchính trị Những cuộc xung đột giữa các tôn giáo ở một số quốc gia dần mang màu sắcchính trị đã đẩy xã hội lâm vào tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội Vì thế, Nhànước của nhiều quốc gia phải đặt ra và giải quyết vấn đề tôn giáo sao cho vấn đề tôn

Trang 23

giáo không biến thành những vấn đề chính trị Để giữ cho các hoạt động tôn giáo diễn rabình thường Nhà nước (của một quốc gia) phải có chính sách tôn giáo phù hợp Chínhsách tôn giáo phải đảm bảo lợi ích chính đáng cho những người theo tôn giáo, đảm bảo

tự do tín ngưỡng của họ, đồng thời trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo để hoạt độngchính trị Đảm bảo cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo khuôn khổ của luậtpháp cũng góp phần tạo ra sự ổn định của xã hội

*Ổn định chính trị - xã hội trong hoạt động hệ thống chính trị của xã hội.

Hệ thống chính trị của xã hội bao gồm: các chính đảng, nhà nước, các tổ chức chínhtrị - xã hội của quần chúng Ổn định hoạt động của hệ thống chính trị là ổn định vị tríchính trị của các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị và ổn định cơ chế hoạt độngcủa hệ thống chính trị

Thứ nhất là ổn định hoạt động của các chính đảng.

Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới đều có hiện tượng mỗi nước ít nhất phải

có một vài đảng phái và có thể đến hàng trăm đảng phái Các đảng phái chính trị nàyđại diện cho các giai cấp, tầng lớp của xã hội Hoạt động của các đảng phái chính trị tạo

ra bức tranh chính trị về các đảng phái Các đảng phái chính trị trong một quốc gia cóthể liên minh với nhau và có thể xung đột với nhau Sự xung đột giữa các đảng pháichính trị có thể gây ra sự mất ổn định xã hội của quốc gia Thông thường, một hoặc haiđảng phái sẽ vươn lên giữ vị trí là Đảng cầm quyền Hoạt động của đảng cầm quyền sẽkhống chế hoạt động của các chính đảng còn lại Các chính đảng không cầm quyền sẽchỉ được hoạt động trong khuôn khổ phápluật Vì thế thực chất của việc ổn định hoạtđộng của các chính đảng là việc ổn định hoạt động của Đảng cầm quyền Nếu Đảng cầmquyền mạnh, hoạt động có hiệu quả thì có thể giữ được sự ổn định chính trị - xã hội,không cho các chính Đảng khác gây ra mất ổn định chính trị - xã hội Ở nước Mỹ gần

200 năm qua chỉ có hai đảng: Dân chủ, Cộng hoà thay nhau cầm quyền Hai đảng nàyđều đại diện cho tầng lớp đại tư sản Mỹ Hai đảng này tuy có những điểm bất đồngnhưng về cơ bản là giống nhau Cả hai đảng đều liên minh với nhau để không cho một

Trang 24

đảng thứ ba ngoi lên cầm quyền nước Mỹ Hoạt động ổn định của hai đảng này là nhân

tố rất quan trọng tạo ra sự ổn định của nước Mỹ

Ở các nước XHCN có thể chỉ có một Đảng cộng sản hoặc có thể có nhiều đảngchính trị nhưng đảng cầm quyền duy nhất chỉ là Đảng cộng sản Hoạt động của Đảngcộng sản cầm quyền là nhân tố quyết định đến sự ổn định hay mất ổn định chính trị - xãhội ở các nước XHCN Nếu Đảng cộng sản giữ được vị trí lãnh đạo của mình, hoạt độnglãnh đạo có hiệu quả thì sẽ giữ được ổn định chính trị - xã hội Nếu hoạt động lãnh đạokhông có hiệu quả thì sẽ gây ra mất ổn định chính trị - xã hội Đảng cộng sản Liên Xôtrong cuộc cải tổ đã từ bỏ vị trí lãnh đạo của mình, các hoạt động lãnh đạo của Đảngcộng sản Liên Xô đều kém hiệu lực và hiệu quả, dẫn đến sự khủng hoảng chính trị - xãhội ở Liên Xô làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ

Thứ hai là ổn định hoạt động của Nhà nước.

Nhà nước có vai trò rất to lớn trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội của xãhội Nếu Nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu quả thì mới giữ được xã hội ổn định pháttriển Nếu Nhà nước hoạt động không có hiệu quả sẽ gây ra sự mất ổn định chính trị - xãhội Ổn định hoạt động của Nhà nước là ổn định các yếu tố sau:

- Giữ vững bản chất giai cấp của Nhà nước

- Thực hiện tốt các chức năng, các nhiệm vụ của Nhà nước, không chỉ chức nănggiai cấp và cả chức năng xã hội của nhà nước

- Giữ vững nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước

- Xây dựng đội ngũ cán bộ có khả năng hoàn thành các công việc trong bộ máy Nhànước

- Luôn điều chỉnh chế độ, chính sách cho phù hợp đáp ứng sự vận động, biến đổi của xã hội

Trang 25

Trong quá trình hoạt động của Nhà nước, chỉ một yếu tố trên không giữ được ổnđịnh đều có thể là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự suy yếu của Nhà nước, dẫn đến sựmất ổn định chính trị - xã hội của xã hội.

- Giữ vững bản chất giai cấp của Nhà nước Nhà nước tư sản mang bản chất của giaicấp tư sản Từ khi ra đời đến nay, các Nhà nước tư sản không hề thay đổi bản chất giaicấp của mình Nhà nước tư sản ở các nước tư bản phát triển hiện nay vẫn là Nhà nướccủa tầng lớp đại tư sản Để bảo vệ lợi ích tư sản, giai cấp tư sản không ngừng hoàn bịNhà nước tư sản Vì thế các Nhà nước tư sản ở các nước tư bản phát triển hiện nay vẫnđược xem là những Nhà nước có tiềm lực mạnh, vẫn đủ sức giữ yên được sự ổn địnhcủa xã hội Nhà nước XHCN luôn luôn là Nhà nước mang bản chất của giai cấp côngnhân gắn liền với tinh thần nhân dân rộng rãi - tức Nhà nước của dân, do dân, vì dân.Bản chất đó không bao giờ thay đổi cho đến khi nó “tự tiêu vong” (nếu không mắcnhững sai lầm có tính nguyên tắc, cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học) Một số nướcXHCN luôn giữ được bản chất của Nhà nước XHCN trong hoạt động của mình, vì vậy,những nước này đã giữ vững được sự ổn định chính trị - xã hội Còn các nước XHCN,trong quá trình phát triển đã thay đổi bản chất của Nhà nước XHCN thí dụ như Liên Xô,các nước XHCN Đông Âu thì đều dẫn đến sự rối loạn chính trị - xã hội, dẫn đến tan rã

- Thực hiện tốt các chức năng, các nhiệm vụ của Nhà nước Thể hiện ở chỗ là Nhànước có chức năng chính trị và chức năng xã hội, chức năng đối nội và chức năng đốingoại ngay trong quá trình quản lý xã hội Trong hoạt động của Nhà nước nếu Nhà nướcthường xuyên thực hiện đầy đủ các chức năng trên thì mới giữ được ổn định của đấtnước Trong các chức năng đó ổn định chức năng xã hội trực tiếp ảnh hưởng đến sự ổnđịnh chính trị - xã hội Nếu Nhà nước nào quản lý tốt những hoạt động chung vì tồn tạicủa xã hội, lo tới công việc chung của toàn xã hội, thoả mãn một số nhu cầu chung củacộng đồng dân cư chứ không phải chủ yếu về một thiểu số người thì Nhà nước đó giữđược ổn định chính trị - xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch sử, Nhà nước đều có nhiệm vụ cụthể nhất định mà bao quát nhất là: nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc về chế độ xã hội, nhiệm vụ

Trang 26

tổ chức, quản lý, xây dựng xã hội phtá triển theo mục tiêu xác định Nếu Nhà nước thựchiện thành công các nhiệm vụ đó, không tự tiện thay đổi các nhiệm vụ về lợi ích riêngcủa một thiểu số thì nmới giữ được sự ổn định chính trị - xã hội.

- Giữ vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Mỗi Nhà nướcđều có nguyên tắc tổ chức hoạt động nhằm đảm bảo việc quản lý của Nhà nước đạt hiệuquả cao nhất Ở nhà nước tư sản có nguyên tắc tổ chức Nhà nước theo cơ cấu tự cânbằng và kiểm soát quyền lực… Nhà nước XHCN có nguyên tắc thống nhất quyền lực,nguyên tắc tập trung dân chủ Tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước phải đảm bảođược sự ổn định của các nguyên tắc đó Nếu phá vỡ sự ổn định của các nguyên tắc tổchức và hoạt động, bộ máy Nhà nước sẽ rối loạn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ vững

ổn định chính trị - xã hội

- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước Mỗi một Nhà nước trong từng giaiđoạn phát triển đều định ra tiêu chuẩn cho đội ngũ công chức Nếu đối ngũ công chứcđảm bảo được tiêu chuẩn phù hợp thì sẽ hoàn thành chức trách của mình Nếu tiêuchuẩn không phù hợp và đặc biệt là đội ngũ công chức bị tha hoá, quan liêu, thamnhũng đều là nguyên nhân dẫn đến sự mất ổn định chính trị - xã hội

- Điều chỉnh chế độ, chính sách phù hợp với biến đổi của xã hội Trong thời đạingày nay, Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật Nếu như luật pháp của Nhànước liên tục thay đổi một cách tuỳ tiện thì sẽ không giữ được sự ổn định chính trị - xãhội Sự ổn định của luật pháp thể hiện ở sự ổn định của Hiến pháp và các đạo luật lớn vàsau đó là các chính sách và các công vụ của Nhà nước Việc thực thi hiến pháp và cácđạo luật lớn được duy trì thường xuyên thì mới bảo đảm cho xã hội giữ được sự ổn địnhchính trị - xã hội Tất nhiên khi đạo luật đã lạc hậu thì Nhà nước cần phải xoá bỏ và đề

ra những đạo luật mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Ổn định luật pháp là ổn địnhviệc thực hiện những luật pháp phù hợp với cuộc sống xã hội Nếu như Nhà nước vẫnduy trì các đạo luật không phù hợp cũng sẽ gây ra sự mất ổn định chính trị - xã hội.Trên thực tế, chính trị - xã hội chỉ có thể ổn định khi mà Nhà nước có một hệ thống luật

Trang 27

pháp đủ làm chỗ dựa pháp lý cho toàn bộ hoạt động của xã hội, khi luật pháp được đại

đa số nhân dân tôn trọng, khi kỷ cương phép nước được giữ vững

Thứ ba là ổn định thông qua những hoạt động có hiệu quả của các tổ chức chính trị

- xã hội.

Đó là sự ổn định thể hiện qua nhiều hoạt động theo những chức năng nhiệm vụ củamỗi tổ chức chính trị - xã hội Nhìn một cách khái quát thì các chức năng của các tổchức chính trị - xã hội là:

- Bảo vệ lợi ích các thành viên tổ chức mình trong quan hệ với Nhà nước

- Tập hợp các thành viên tham gia vào đời sống chính trị của đất nước

- Giáo dục, nâng cao trình độ mọi mặt của các thành viên để thực hiện có hiệu quả

mà tổ chức đó đặt ra

Ngoài việc ổn định các chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội phải ổn địnhnguyên tắc tổ chức và vận hành của các tổ chức chính trị - xã hội (tự nguyện, tự chủ vềtài chính, tự quản), ổn định việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội đểcác tổ chức chính trị - xã hội thực sự trở thành chỗ dựa của nhà nước về chính trị Ổnđịnh hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội phải theo hướng các tổ chức chính trị -

xã hội phải phục vụ đắc lực cho hoạt động chính trị của Nhà nước Chỉ có theo hướngnày thì ổn định của các tổ chức chính trị - xã hội mới tạo ra ổn định chính trị - xã hội

Thứ tư là ổn định cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị của xã hội

Ở các nước tư bản, hệ thống chính trị (các chính đảng, Nhà nước, các tổ chức chínhtrị - xã hội) có cơ chế hoạt động là các đảng cầm quyền có vai trò to lớn với Nhà nước.Đảng cầm quyền soạn thảo cương lĩnh phát triển xã hội và các chương trình kinh tế cụthể Đảng thông qua cơ chế nghị viện, đảng cầm quyền lập chính phủ thực hiện cươnglĩnh, chương trình của đảng mình Đảng bố trí tuyển lựa một số cán bộ chính trị vàocương vị chính quyền Các đảng viên của đảng ở Quốc hội trực tiếp chuẩn bị các vănkiện, chính sách tổ chức xây dựng chiến lược hoạt động của Quốc hội, chuẩn bị danhsách các nghị sĩ tham gia các uỷ ban của Quốc hội, chuẩn bị các tiểu ban cán sự bàn các

Trang 28

vấn đề luật pháp Với cơ chế này các đảng tư sản cầm quyền trực tiếp lãnh đạo Nhànước tư sản Đảng cầm quyền, Nhà nước tư sản hỗ trợ khuyến khích tổ chức chính trị -

xã hội ủng hộ mình đồng thời khống chế các tổ chức chính trị - xã hội chống đối mình

Ổn định cơ chế hoạt động này, hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa cũng đã tạo ra được

sự phối hợp giữ các tổ chức trong hệ thống chính trị Trong chừng mực nào đó sự phốihợp hoạt động của các tổ chức này cũng “tạm thời” tạo ra ổn định chính trị - xã hội Ởcác nước XHCN, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị là Đảng cộng sản lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Ổn định cơ chế hoạt động này sẽ tạo ra sự phốihợp nhịp nhàng giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, đảm bảo cho việc gữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội

*Ôn định chính trị - xã hội không phải là trạng thái đứng yên, trì trệ mà là trạng thái động, phát triển thực chất là quá trình thường xuyên giải quyết được những mâu thuẫn nảy sinh về chính trị - xã hội, về kinh tế, văn hoá…

Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và tính chất trình độ của lực lượng sản xuất, giữa

cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, sự phù hợp của nhân tố chính trị, kinh tế, vănhoá trong sự phát triển đều mang ý nghĩa “tương đối” Nó luôn luôn có xu hướng bị phá

vỡ bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội C.Mác cho rằng: “Theo quan điểmduy vật lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sự sản xuất vàtái sản xuất ra đời sống hiện thực” [39, tr.641] Sự phát triển khách quan của lực lượngsản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệsản xuất cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.Điều đó có nghĩa là sự phát triển liên tục của lực lượng sản xuất đòi hỏi luôn luôn phá

vỡ những quan hệ sản xuất mà trước đó là sự phù hợp để tạo lập sự phù hợp mới củaquan hệ sản xuất Chính sự phát triển khách quan, liên tục của lực lượng sản xuất đã làmcho mọi sự phù hợp của các nhân tố xã hội mang ý nghĩa “tương đối” Sự phát triểntheo hướng tiến bộ của lực lượng sản xuất sẽ phá vỡ sự cân bằng, sự phù hợp trước đó

Trang 29

để tạo ra sự cân bằng mới tức là sự ổn định ở mức độ cao hơn Nếu xét sự ổn định tưtưởng, ổn định các quan hệ chính trị của xã hội, ổn định hoạt động của hệ thống chínhtrị của xã hội, chúng ta sẽ thấy rất rõ điều này.

Ổn định tư tưởng của xã hội là sự cân bằng hợp lý trong sự tác động giữa hệ tưtưởng chính trị của giai cấp thống trị đối với tư tưởng của các giai cấp, tầng lớp kháctrong xã hội Nếu tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị phù hợp với tư tưởng chính trịcủa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội (thể hiện ở tư tưởng chính trị của giai cấp thốngtrị đại diện cho lợi ích của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội) thì sẽ tạo ra sự ổn định tưtưởng chính trị Nhưng lợi ích của các giai cấp trong xã hội lại không ngừng biến đổitheo sự phát triển hay thụt lùi của nền kinh tế - xã hội Vì vậy sự ổn định về tư tưởngchính trị của xã hội chỉ là trạng thái tạm thời tương đối

Sự ổn định này có thể bị phá vỡ nếu như có sự mâu thuẫn về lợi ích của các giai cấptầng lớp trong xã hội và cũng có thể tiến tới sự ổn định cao hơn khi xã hội có sự phùhợp cao hơn về lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp Trạng thái ổn định quan hệ chính trịgiữa các giai cấp, tầng lớp cũng có tình trạng tương tự Riêng trạng thái ổn định hoạtđộng của hệ thống chính trị xã hội thì khó nhận ra hơn Hệ thống chính trị của một xãhội bao giờ cũng do giai cấp thống trị xã hội lập ra, bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị.Nếu như giai cấp thống trị bảo đảm cho lợi ích của toàn xã hội thì hoạt động của hệthống chính trị sẽ diễn ra bình thường, ổn định Nếu như giai cấp thống trị chỉ bảo vệriêng lợi ích của mình mà xem nhẹ, chà đạp lên lợi ích của các giai cấp, tầng lớp kháctrong xã hội thì hoạt động của hệ thống chính trị của giai cấp thống trị sẽ rối loạn Suycho cùng mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở trạng thái ổn định hay không ổn địnhcũng là do quan hệ giữa lợi ích của giai cấp thống trị và các giai cấp tầng lớp khác trong

xã hội Cho nên hệ thống chính trị của giai cấp thống trị nào mà luôn luôn đảm bảo nhucầu lợi ích ngày càng tăng lên của xã hội thì hoạt động của hệ thống chính trị sẽ luôngiữ được ổn định và không ngừng thiết lập sự ổn định hoạt động ở mức độ cao hơn

Trang 30

Từ việc phân tích những khía cạnh của trạng thái ổn định chính trị - xã hội của xãhội, có thể nêu ra định nghĩa về ổn định chính trị - xã hội như sau:

Trước hết, xét về sự phù hợp giữa QHSX và LLSX; cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội, ổn định chính trị - xã hội là một trạng thái xã hội mà ở đó có

sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất; giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng của xã hội và sự phù hợp cơ bản đó là biểu hiện và trên thực tế là sự thống nhất giữa những lợi ích của giai cấp cầm quyền với những lợi ích của đại đa số thành viên trong xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

Trong quá trình phát triển của các xã hội, các nhà nước, nếu xã hội nào, Nhà nướcnào bảo đảm được các yêu cầu: ổn định tư tưởng chính trị của xã hội, ổn định các quan

hệ chính trị, ổn định hoạt động của hệ thống chính trị của xã hội đều có thể tạo ra ổnđịnh chính trị - xã hội Nhưng mục đích của ổn định chính trị - xã hội ở các xã hội khácnhau thì cũng sẽ khác nhau

Giai cấp tư sản giữ vững ổn định chính trị là nhằm bảo vệ cho lợi ích và địa vị thốngtrị lâu dài của mình, là kéo dài mãi địa vị làm thuê của giai cấp công nhân và nhữngngười lao động khác trong xã hội tư sản Trái lại, giai cấp công nhân giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội là nhằm mang lại lợi ích cho những người lao động, đưa họ trở thànhchủ nhân thực sự của xã hội, đồng thời vĩnh viễn xoá bỏ những kẻ đi áp bức bóc lột.Bản chất của ổn định chính trị - xã hội của các xã hội khác nhau cũng khác nhau Bảnchất của ổn định chính trị - xã hội trong xã hội tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản.Bản chất của ổn định chính trị - xã hội của xã hội XHCN mang bản chất của giai cấpcông nhân Thời gian giữ vững ổn định chính trị - xã hội của xã hội tư sản và xã hộiXHCN cũng khác nhau Ổn định chính trị - xã hội của xã hội tư sản chỉ là sự ổn định

“tạm thời” và sớm hay muộn sẽ bị phá vỡ Tạm thời bởi lẽ trong sự phát triển của chủnghĩa tư bản có lúc xã hội tư bản giữ được ổn định chính trị - xã hội và có nhiều khoảngthời gian dài không giữ được ổn định chính trị - xã hội Khi giai cấp tư sản đang lên (thế

Trang 31

kỷ XVII, XVIII), nhiều nước tư sản ở Châu Âu, Bắc Mỹ giữ được ổn định chính trị - xãhội Đó chính là thời kỳ mà: mỗi bước phát triển của giai cấp tư sản đều có một bướctiến bộ chính trị thích ứng Nhưng sau đó, các nước tư bản nhìn chung là không giữđược ổn định chính trị - xã hội, đặc biệt là trong hai cuộc chiến tranh thế giới do chủnghĩa tư bản gây ra ở nửa đầu thế kỷ XX Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay,nhiều nước tư bản tiến hành điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại, chú trọng cảithiện, nâng cao mức sống của người lao động Ở chừng mực nào đó họ cũng “tạm thời”tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội Nhưng sự điều chỉnh lợi ích này vẫn có giới hạn.Giai cấp tư sản không thể cào bằng lợi ích của giai cấp mình ngang như lợi ích củanhững người lao động Cho nên trước hay sau, dài hay ngắn, sự ổn định chính trị - xãhội “tạm thời” ở các nước tư bản hiện nay cũng sẽ bị phá vỡ Chính ở các chế độ tư hữu

- áp bức - bóc lột: những chế độ xã hội mà ở đó một thiểu số giai cấp thống trị (chủ nô,phong kiến, tư sản) thống trị xã hội bằng thể chế chính trị của giai cấp thống trị để bảo

vệ quyền sở hữu tư liệu sản xuất và thành quả của sản xuất chủ yếu là vì lợi ích của

thiểu số đó; đối lập lợi ích cơ bản với đa số nhân dân lao động Do vậy, mâu thuẫn cơ bản giữa các giai cấp thống trị- áp bức- bóc lột với đa số nhân dân bị bóc lột là không thể điều hoà về lâu dài Từ đó thường xuyên và ngày càng nẩy sinh nhiều mâu thuẫn

khác về chính trị, tư tưởng… phản ánh mâu thuẫn về kinh tế… đã tạo ra những bất ổn

về cả kinh tế lẫn chính trị - xã hội Trong lịch sử nhân loại, hai giai cấp tư hữu - áp bóc lột là chủ nô và phong kiến cho đến nay, chính những mâu thuẫn của xã hội nêu

bức-trên đã về căn bản được giải quyết Đến thời đại hiện nay, nổi lên chỉ còn giai cấp tư sản ở hàng trăm nước trên toàn cầu đang là giai cấp tư hữu - áp bức- bóc lột duy nhất

còn lại Cho dù vai trò lịch sử của nó đã được nhân loại, nhất là chủ nghĩa Mác- Lêninđánh giá một cách khách quan, khoa học… (là nó có những tiến bộ vượt bậc so với giaicấp chủ nô và phong kiến, cùng với CNTB đã có những thành quả thật là to lớn trong sựphát triển nhân loại v.v.) nhưng do bản chất vẫn là tư hữu - ápbức - bóc lột đại đa số

nhân dân, mà mâu thuẫn cơ bản của xã hội TBCN vẫn thể hiện về kinh tế là giữa lực

Trang 32

lượng sản xuất- quan hệ sản xuất và thể hiện về mặt cái “gốc” cơ bản gây ra sự bất ổn

cả về kinh tế lẫn chính trị - xã hội Đó là do bản chất chế độ TBCN không có khả năng

ổn định và phát triển kinh tế, chính trị - xã hội một cách cơ bản và lâu dài cùng toàn thểnhân dân lao động Đương nhiên, sự xung đột, thậm chí cả vũ trang do giai cấp côngnhân và nhân dân lao động chống giai cấp tư sản… cũng sẽ gây mất ổn định về kinh tế,chính trị - xã hội cho các nước TBCN

Còn ở các nước XHCN, giai cấp công nhân và nhân dân lao động có điều kiện, khả năng giữ vững lâu dài, liên tục sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước Điều kiện đó

là giai cấp công nhân có lợi ích thống nhất với lợi ích của những người lao động nên cóthể thống nhất lâu dài vớ lợi ích cơ bản của những người lao động Giai cấp công nhân

có Đảng cộng sản lãnh đạo, có sự ủng hộ của các tầng lớp lao động nên có khả năng

lãnh đạo xã hội giữ vững lâu dài ổn định chính trị - xã hội Đó mới là điều kiện và khả năng như những tiền đề có trong bản chất và nguyên tắc có tính pháp lý của các nước

XHCN để duy trì ổn định phát triển kinh tế, chính trị - xã hội của mình Song, khả năng,điều kiện và những tiền đề đó có trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc nhiềunhất vào những nhân tố chủ quan của Đảng cộng sản lãnh đạo, của Nhà nước, của bảnthân giai cấp công nhân, của nhân dân lao động để xây dựng củng cố, phát triển xã hộimới về kinh tế, đời sống nhân dân, chính trị văn hoá, xã hội…sẽ như thế nào? Nhữngthành tựu vĩ đại của Liên Xô và các nước XHCN về mọi mặt là minh chứng không thểbác bỏ Nhưng những sai lầm yếu kém, phản bội… đã xảy ra khủng hoảng, đổ vỡ củaLiên xô, Đông Âu XHCN… cũng là minh chứng cho các khả năng, điều kiện, tiền đềcủa CNXH có trở thành hiện thực được hay không, trong đó có vấn đề: có giữ vững

được ổn định chính trị - xã hội để phát triển đất nước theo CNXH hay không Suy cho cùng: kể cả tụt hậu kinh tế, tham nhũng, quan liêu, diễn biến hoà bình, chệch hướng XHCN v.v đều chủ yếu là do Đảng cộng sản, Nhà nước và nhân dân các nước quyết định nhất việc có mắc phải hay không? (diễn biến hoà bình có thâm hiểm mấy, nếu ta

Trang 33

vững vàng, đúng đắn, chủ động… cũng sẽ không mắc, Liên xô, Đông Âu thì mắc… chonên sụp đổ (tức là do khách quan và chủ quan, nhưng chủ quan là chính).

1.3 VAI TRÒ CỦA ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI.

Vận dụng phương pháp trừu tượng hoá của triết học Mác- Lênin, ở đây chúng tôi cóthể tạm thời tách biệt “hai mặt” (trong một thể thống nhất của công cuộc đổi mới đấtnước) là ổn định chính trị - xã hội và phát triển.Đồng thời, qua việc làm rõ từng mặt vàmối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đó, mà có thể thấy rõ vai trò của ổn định chính trị

- xã hội trong công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN của nước ta

1.3.1.Ổn định chính trị - xã hội là tiền đề và điều kiện cơ bản để phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Một vấn đề nào đó được xác định là “tiền đề”, có nghĩa là vấn đề đó trước hết phải

có trong quan hệ với nhiều vấn đề khác ở sự tồn tại và tác động lẫn nhau trong nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể

Thực tế lịch sử ở nhiều nước và ở nước ta, khó có thể tìm ra những tư liệu thực tiễn

để minh chứng rằng: một chế độ đang rối loạn về chính trị - xã hội mà lại phát triển vềkinh tế và đời sống của nhân dân Đặc biệt là những thập kỷ vừa qua, kể cả các nướcTBCN lẫn các nước XHCN, khi lâm vào hỗn loạn là đổ vỡ chế độ chính trị - xã hội, đềuchẳng những cản trở sự phát triển kinh tế, đời sống của toàn xã hội nói chung mà còntàn phá nhiều thành quả kinh tế, đời sống đã từng đạt dược Thậm chí, có những nước

có thể phát triển với quy mô, tốc độ nhanh, nhưng không chú ý đúng mức đến sự ổnđịnh và tính bền vững thì cũng sẽ trở thành sự “phát triển nóng” với nhiều mâu thuẫn vàchứa đựng nhiều nhân tố gây mất ổn định và rồi cũng cản trở sự phát triển mọi mặt.Đưong nhiên, nếu ổn định chính trị - xã hội mà trong sự bảo thủ trì trệ, không tăngtrưởng và phát triển, cũng sẽ dẫn đến mất ổn định Song, nếu tạm tách rời hai mặt củamối quan hệ biện chứng này ra mà xem xét thì theo chúng tôi, cách tiếp cận cho rằngtrước hết phải có sự ổn định chính trị - xã hội (tức là nó làm tiền đề) mới có những điều

Trang 34

kiện cơ bản để phát triển nhanh và bền vững… là cách tiếp cận hợp lý hơn và sát thực tếhơn.

Các quốc gia dân tộc ngày nay càng nhận rõ rằng, muốn tồn tại thì phải phát triển,phát triển theo chiều sâu, phát triển vì con người, phát triển nhanh và bền vững Sự pháttriển của một quốc gia, một quốc gia, một xã hội chỉ có được trên cơ sở xác nhập đượcmột lý thuyết phát triển thật sự khoa học Chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng lýthuyết phát triển có tính khoa học phải:

Dựa trên nguyên lý và quy luật phát triển phổ biến của giới tự nhiên nói chungvàcủa xã hội loài người nói riêng với sự tính toán một cách khoa học có sự kết hợp đúngđắn các yếu tố, các điều kiện, các khả năng và cả các thời cơ, v.v [24,tr.32]

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện lý thuyết phát triển nhanh vàbền vững Theo lý thuyết phát triển đó thì sự phát triển của một quốc gia được hiểu làquá trình thay đổi của chất lượng cuộc sống theo hướng tiến bộ, văn minh, mà sự thayđổi đó coi con người là mục đích tự thân của sự phát triển và làm cho con người trởthành chủ thể quyết định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế trong điều kiện công bằng xãhội; biến đổi cách thức sản xuất và các mô hình tiêu dùng và sự thay đổi một cách tiến

bộ dựa trên thế cân bằng sinh thái và sinh lực của khu vực Quá trình này đòi hỏi phảitôn trọng tính đa dạng về lãnh thổ, về dân tộc, về văn hoá và tộc người cũng như phải có

sự tham gia đầy đủ của các công dân trong điều kiện hoà hợp và chung sống một cáchhợp lý tự nhiên, không làm tổn hại và bảo đảm chất lượng sống của các thế hệ thươnglai Như vậy, tăng trưởng chưa phải là phát triển Tăng trưởng mới chỉ là yếu tố quantrọng đầu tiên của sự phát triển Chỉ khi một sự tăng trưởng về lượng làm chuyển đổichất của sự vật, làm cho sự vật (xã hội) được nâng lên với một tính chất mới có cấu trúcphức tạp, hoàn thiện hơn mới có được một bước phát triển Sự phát triển trong thế hàihoà mà tự nhiên - xã hội - con người kết hợp đồng bộ các mặt kinh tế - kỹ thuật - vănhoá… vận động và đi lên bằng chính năng lượng và nội lực của chính mình, bảo đảm sự

ổn định, sự vững chắc cả hiện tại lẫn tương lai - đó là sự phát triển bền vững Và như

Trang 35

vậy, chỉ với sự phát triển bền vững mới có thể gọi là một sự tiến bộ Tiến bộ thể hiệntrình độ vượt qua bản thân sự vật, mà đối tượng ở đây đang nghiên cứu là trình độ vượtqua cả bản thân xã hội Có nghĩa là, sự tiến bộ trước hết là kết quả của sự phát triển bềnvững Mỗi sự phát triển bền vững là một bước đưa sự vật (xã hội) đi lên phía trước theohướng cao hơn, hoàn thiện hơn.

Đổi mới toàn diện xã hội là con đường đảm bảo cho xã hội Việt Nam phát triển bềnvững Có tác giả đề xuất một cách tiếp cận vấn đề đổi mới: đổi mới theo nghĩa chung là

“thay cái cũ không còn phù hợp bằng cái mớii tốt hơn Cái mới ở đây là cái mới tốt hơntrước, tiến bộ hơn trước, chứ không phải bất kỳ cái mới nào, bất kỳ sự thay đổi nào”[26,tr.7] Chúng tôi cũng nhất trí với quan điềm vừa nêu, chỉ muốn bổ sung thêm cho rõhơn là: cái mới tốt hơn, tiến bộ hơn, về cơ bản phải là cái mới đó do đại đa số nhân dân

có nhu cầu, sáng tạo ra và tất cả những thành quả mới đó phải trở lại phục vụ lợi ích và

sự phát triển ngày càng cao, toàn diện của đại đa số nhân dân Chính từ điều đó mà tathấy, những cái mới, tốt hơn, tiến bộ hơn lại chính là một trong những đặc trưng bảnchất nhất, tính ưu việt nhất của CNXH Và do đó, nội dung này đã mang ý nghĩa hàmsúc của “định hướng XHCN” trên mọi lĩnh vực Đổi mới là một quá trình biến đổi sựvật, hiện tượng sang một trình độ mới về chất Đó là một quá trình vận động của nhữngmâu thuẫn đan xen giữa cái cũ và cái mới, giữa cái bảo thủ, trì trệ với cái tiến bộ, vănminh, giữa sự giáo điều và sự sáng tạo Đây cũng là quá trình đấu tranh lâu dài, gay go,phức tạp, nhằm đem lại thắng lợi cho cái mới, cái tiến bộ trong lĩnh vực đời sống xã hội.Khái niệm đổi mới (renovation) và khái niệm cải cách (reforme) về thực chất là nhưnhau, cũng đều là sự thay đổi tiến bộ ở tầm vĩ mô, thay đổi có ý nghĩa hệ thống, từ nhậnthức, chủ trươngvà tổ chức hành động

Một số nước khi tiến hành cải cách, đổi mới đất nước, do không xác định được mụctiêu, tiền đề là giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong tiến trình đổi mới nên đã dẫnđến thất bại Cuối những năm 80 (thế kỷ XX), Liên Xô tiến hành cải tổ, cải cách đấtnước Cuộc cải tổ này diễn ra trong tình hình chính trị - xã hội ngày càng mất ổn định

Trang 36

Cải tổ không ngăn chặn được rối loạn mà lại làm cho sự rối loạn đó trầm trọng hơn, dẫnđến sự khủng hoảng chính trị - xã hội, đến sự sụp đổ Liên bang Xô viết Trong nhữngnăm 80, Trung Quốc cũng tiến hành đổi mới đất nước Lúc đầu công cuộc đổi mới nàycũng gây ra những xáo trộn nhất định về mặt chính trị - xã hội của đất nước Do sai lầm

về mặt giáo dục, Trung Quốc nắm chưa chặt công tác giáo dục tư tưởng chính trị đối vớithanh niên, chế độ đãi ngộ đối với trí thức quá thấp Đây chính là nguyên nhân dẫn đến

sự kiện động loạn ngày 6-4-1989 ở quảng trường Thiên An Môn Sự kiện quảng trườngThiên An Môn là một bài học không thành công lớn nhất kể từ khi Trung Quốc cải cách

mở cửa Khi sự kiện Thiên An Môn xảy ra, Trung Quốc đã thi hành hàng loạt nhữngbiện pháp cứng rắn để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục duy trì cải cách, mởcửa Theo ông Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc lựa chọn con đường cải cách mở cửa vàkiên trì thực hiện con đường đó, do vậy Trung Quốc coi mục tiêu “ổn định là trên hết”[7, tr.416] và “Trung Quốc k hông cho phép sự loạn lạc” [7, tr.418] Bài học về gây rốiloạn trong cuộc “cách mạng văn hoá”, vụ động loạn chính trị 1989, khiến Trung Quốcnhận ra rằng phải kiên quyết loại trừ, không dung túng cho mọi nhân tố gây ra rối loạn.Ông Đặng Tiểu Bình còn cho rằng, nếu Trung Quốc rối loạn thì không những nhân dântrong nước chịu hậu quả mà hàng chục, hàng trăm triệu người Trung Quốc chạy ra nướcngoài gây ảnh hưởng xấu trong vùng châu Á- Thái Bình Dương, vùng có triển vọngnhất thế giới ngày nay Đó sẽ là tai hoạ có tính chất thế giới Vì vậy, Trung Quốc

“không được gây rối loạn Đó là nhận định của người Trung Quốc” [68,tr.128] Chính là

vì coi “ổn định là trên hết”, “không cho phép bạo loạn” đã đảm bảo cho việc cải cách

mở cửa của Trung Quốc liên tục đạt được các thành tựu to lớn, vững chắc (đương nhiên

ở đây “ổn định” không hề có nghĩa là bảo thủ, trì trệ… mà phải gắn với phát triển ngàycàng cao hơn, tốt hơn Vì ổn định mà trì trệ xã hội thì cũng tất yếu dẫn đến mất ổn định,rối loạn xã hội)

Nghiên cứu bài học cải cách, đổi mới, mở cửa của Liên Xô, Trung Quốc, Đảng, Nhànước và nhân dân ta luôn xác định mục tiêu ổn định chính trị - xã hội phải giữ vị trí

Trang 37

hàng đầu Điều này được thể hiện rất rõ qua các chặng đường đổi mới đất nước Côngcuộc đổi mới ở nước ta do Đại hội VI (12/1986) đề ra thực tế là nhằm phát triển toàndiện đất nước Đó là quá trình thực hiện mục tiêu: “Cải biến xã hội cũ thành một xã hộimới tiến bộ hơn hoặc cải thiện mọi mặt đời sống xã hội để xã hội đó tốt đẹp hơn”[59,tr.19] Mục tiêu chung là đi tới đổi mới toàn diện Từ đổi mới tư duy đến đổi mớikinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng an ninh, đối ngoại Nếu chúng ta thực hiện thànhcông sự đổi mới toàn diện này thì đất nước sẽ phát triển bền vững trong sự cân đối, hàihoà Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta, Đảng, Nhà nước xác định ổn định xã hội làmục tiêu, là tiền đề cơ bản Khi bắt tay vào công cuộc đổi mới, tình hình chính trị, kinh

tế, xã hội của nước ta lúc đó diễn biến rất phức tạp Sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước (30-4-1975), đất nước thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xãhội Từ đó đến khi Đảng ta đề xướng đường lối đổi mới ở Đại hội VI (1986) vừa trònmột thập kỷ Đây là thời kỳ xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá sau chiến tranh đi liềnvới nỗ lực của toàn Đảng toàn dân nhằm khắc phục hậu quả vô cùng nặng nề của cuộcchiến tranh khốc liệt, kéo dài nhất trong lịch sử của dân tộc ta Trong 10 năm này, đấtnước ta liên tục gặp nhiều khó khăn, thử thách Thiên tai, hạn hán, bão lụt, mất mùa làmcho nông nghiệp suy sụp trầm trọng Hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ chưa khắcphục xong thì hai cuộc chiến tranh mới lại xuất hiện: chiến tranh biên giới Tây- Nam chống bọn diệt chủng Pôn Pốt (1978) và chiến tranh ở vùng biên giới phía Bắc (1979).Hai cuộc chiến tranh và hậu quả của nó gây ra những xáo trộn kinh tế, xã hội rất nặng

nề Ở ngoài nước, Liên Xô và các nước XHCN đang “cải tổ” gặp nhiều khó khăn nên đãcắt giảm viện trợ cho nước ta Mỹ lại tăng cường cấm vận Các thế lực đế quốc bằngmọi cách đã làm cho Việt Nam rơi vào thế cô lập và bị bao vây Trong khi lãnh đạoquản lý đất nước, Đảng và Nhà nước ta lại có sai lầm khuyết điểm Đại hội Đảng cộngsản Việt Nam lần thứ V đã nhận định: “Trên những mặt nhất định, khuyết điểm sai lầm

về lãnh đạo và quản lý là nguyên nhân chủ yếu gây ra và làm trầm trọng thêm tình hìnhkhó khăn về kinh tế và xã hội trong những năm qua” [10, tr.36]

Trang 38

Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã đẩy nước ta lâm vào cuộc khủnghoảng trầm trọng về kinh tế xã hội Sản xuất tuy có tăng nhưng tăng rất chậm so với khảnăng sẵn có và công sức bỏ ra, so với yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân

và có vốn để công nghiệp hoá, củng cố quốc phòng, an ninh Hiệu quả sản xuất và đầu

tư rất thấp Tài nguyên đất nước chưa được khai thác tốt, bị sử dụng lãng phí, môitrường sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng Lưu thông ách tắc, phân phối rối ren, lạmphát tăng với tốc độ phi mã “(hơn 700%) Nền kinh tế mất cân đối trầm trọng giữa cung

và cầu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, năng lượng, vận tải, giữa thu và chi.Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, viên chức gặp rất nhiều khó khăn Nhiều nhucầu vật chất, tinh thần tối thiểu của nhân dân chưa được bảo đảm Nông dân nghèo nàn,thiếu thốn, có nơi nạn đói xuất hiện Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển Côngbằng xã hội bị vi phạm, pháp luật kỷ cương không nghiêm Những hành vi lộng quyền,tham nhũng của một số cán bộ và công chức Nhà nước, những hoạt động của bọn làm

ăn phi pháp… chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời Thực trạng này đã làm giảmlòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quanNhà nước

Cũng chính xuất phát từ tình hình trên cho nên muốn hạn chế, loại trừ khủng hoảngkinh tế - xã hội thì phải được ổn định chính trị - xã hội Có thực hiện được mục tiêu giữvững được ổn định thì mới chặn đứng sự lây lan của khủng hoảng kinh tế - xã hội,không cho khủng hoảng kinh tế - xã hội chuyển thành khủng hoảng chính trị - xã hội.Mặt khác giữ vững mục tiêu ổn định chính trị - xã hội sẽ tạo ra thuận lợi để từng bướcloại trừ khủng hoảng kinh tế - xã hội

Sau năm năm thực hiện công cuộc đổi mới, vào đầu những năm 90 (của thế kỷ XX),tình hình chính trị - xã hội của nước ta có nhiều diễn biến rất phức tạp Trên thế giới,Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu đang ở giai đoạn tan rã, sụp đổ Các thế lực thùđịch, đứng đầu là Mỹ có âm mưu, hành động hòng xoá sạch chủ nghĩa xã hội hiện thựcvào cuối thế kỷ XX Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, sự “thắng

Trang 39

thế” tạm thời của chủ nghĩa đế quốc đã gây ra hoang mang dao động cho cán bộ, đảngviên và nhân dân ta Cũng ở thời điểm này một mặt, những thế lực phản động trongnước cùng với bọn lưu vong tăng cường hoạt động chống cộng Một số phần tử cơ hộixét lại trong Đảng cũng nhân cơ hội đó mà ra sức nói xấu Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng.Trên thực tế, nước ta dù đạt được một số thành tựu về kinh tế - xã hộinhưng vẫn chưa

ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Công cuộc đổi mới còn những mặt hạn chế, nhiềuvấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết, lạm phát còn ở mức cao Nhiều

cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, thiếu việc làm Đời sống của những người sống chủyếu bằng lương hoặc trợ cấp xã hội và đời sống của một bộ phận nông dân giảm sút.Nhiều mặt văn hoá xã hội xuống cấp; tham nhũng, tiêu cực và bất công xã hội tăngthêm, lối sống thực dụng, hủ tục mê tín dị đoan phát triển Tình trạng vi phạm dân chủcòn nhiều, pháp luật, kỷ cương chưa nghiêm đều là những nhân tố có thể gây ra mất ổnđịnh chính trị - xã hội không thể xem thường Như vậy cả tình hình quốc tế và trongnước đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội.Bởi vì nếu để xảy ra mất ổn định chính trị - xã hội lúc này có nghĩa là mất nước, mấtchủ nghĩa xã hội và các thành quả cách mạng khác mà biết bao máu xương của các thế

hệ cách mạng Việt Nam chiến đấu, hy sinh mới có được

Sau 10 năm đổi mới đất nước, vào những năm cuối của thập kỷ 90 (thế kỷ XX), tìnhhình chính trị - xã hội ở quốc tế cũng như trong nước có nhiều dấu hiệu khả quan hơnnhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây ra mất ổn định chính trị - xã hội Trên thế giới,nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ,xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ,khủng bố vẫn xảy ra nhiều hơn Khu vực châu Á- Thái Bình Dương đang phát triểnnăng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao Đồng thời khu vực này cũng tiềm ẩnmột số nhân tố có thể gây mất ổn định Ở trong nước, những thành tựu và hạn chế của

10 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước có thời cơ và có cả những nguy cơ Sự tác độngcủa bốn nguy cơ: tụt hậu về kinh tế, quan liêu tham nhũng, chệch hướng XHCN, âm

Trang 40

mưu “diễn biến hoà bình” là sự đe doạ thường xuyên đối với việc giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội Vì vậy, mục tiêu giữ vững ổn định chính trị - xã hội vẫn là mục tiêu

cơ bản, hàng đầu đối với công cuộc đổi mới đất nước

Sang đầu thế kỷ XXI, sau 15 năm đổi mới, đất nước ta đã có những bước tiến dài,vững chắc Về cơ bản là nước ta giữ vững được ổn định chính trị - xã hội Nhưng cùngvới sự ổn định này vẫn có những nhân tố có khả năng gây mất ổn định Trên thế giới,đấu tranh dân tộc và giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt Chiến tranh cục bộ, xung đột dântộc, tôn giáo… xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng Đặc biệt chủnghĩa khủng bố đang là hiểm hoạ đối với an ninh trật tự quốc tế Khu vực Đông Nam Á,châu Á- Thái Bình Dương đang “nóng” dần lên, tiềm ẩn những nhân tố gây ra mất ổnđịnh chính trị - xã hội trong khu vực Ở trong nước, nguy cơ mà Đại hội giữa nhiệm kỳkhoá VII của Đảng nêu ra đang trở thành những vấn đề chính trị - xã hội bức xúc, đedoạ trực tiếp đến việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội Trong tình hình chính trị - xãhội ngày càng có xu hướng căng thẳng và phức tạp, để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổimới đất nước, Đảng ta vẫn xác định phải: “Giữ vững ổn định chính trị - xã hội và trật tự

an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốcgia” [14, tr.90]

Như vậy mục tiêu ổn định chính trị - xã hội là mục tiêu cơ bản hàng đầu của các giaiđoạn đổi mới đất nước ở nước ta Trong suốt 15 năm đổi mới đất nước, Đảng và nhândân ta luôn quán triệt mục tiêu này vào mọi hoạt động đổi mới đất nước Vì vậy, côngcuộc đổi mới của nước ta luôn giữ được sự ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo cho côngcuộc đổi mới đi tới thắng lợi Sau đây là phân tích mối quan hệ biện chứng giữ ổn địnhchính trị - xã hội với phát triển trên từng lĩnh vực chủ yếu của đất nước ta trong côngcuộc đổi mới

1.3.2 Ổn định chính trị - xã hội đối với việc đổi mới và phát triển các lĩnh vực chủ yếu của xã hội.

*Ổn định chính trị - xã hội với việc đổi mới và phát triển hệ thống chính trị

Ngày đăng: 24/08/2016, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng- Văn hoá Trung ương (2001), Tài liệu tham khảo phục vụ Nghiên cứu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ Nghiên cứu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng- Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Lương Gia Ban (1999), Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Tác giả: Lương Gia Ban
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
6. Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Tuyến, Nguyễn Văn Thạc, Trần Xuân Sầm (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạnmới
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Tuyến, Nguyễn Văn Thạc, Trần Xuân Sầm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
7. Đặng Tiểu Bình (1995), Bàn về cải cách mở cửa của Trung Quốc, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách mở cửa của Trung Quốc
Tác giả: Đặng Tiểu Bình
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1995
8. Đặng Vũ Chư (1998), “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề dân số ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản (21), tr.35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề dân số ở nướcta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Vũ Chư
Năm: 1998
9. Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trungương tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
10. Đảng cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V tập I
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Tham luận tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận tại đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Trương Quan Được (2002), “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”,Tạp chí Cộng sản (12), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở”,"Tạp chí Cộng sản (
Tác giả: Trương Quan Được
Năm: 2002
17. Trần Văn Giàu (1999), “Nhìn về thế kỷ XX và nhìn sang thế kỷ XXI”, Tạp chí Cộng sản (19), tr.17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn về thế kỷ XX và nhìn sang thế kỷ XXI”, "Tạp chíCộng sản
Tác giả: Trần Văn Giàu
Năm: 1999
19. Trần Đình Hoan (2001), “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh cải cách tổ chức hoạt động của Nhà nước”, Tạp chí Cộng sản (17), tr.37-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh cải cách tổchức hoạt động của Nhà nước”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Đình Hoan
Năm: 2001
20. Học Viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Chương trình cao cấp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa xã hộikhoa học, Chương trình cao cấp
Tác giả: Học Viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
23. Vũ Hiền (1996), “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Cộng sản (18), tr.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, "Tạp chíCộng sản
Tác giả: Vũ Hiền
Năm: 1996
24. Nguyễn Văn Huyên (1998), “Phát triển một số vấn đề từ khía cạnh nhân văn”, Tạp chí Cộng sản (22), tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một số vấn đề từ khía cạnh nhân văn”,"Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1998
25. Phan Văn Khải (2001), “ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng phát triển, tạo chuyển biến mới về kinh tế - xã hội trong 5 năm mở đầu thế kỷ”, Tạp chí Cộng sản (23), tr.19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượngphát triển, tạo chuyển biến mới về kinh tế - xã hội trong 5 năm mở đầu thế kỷ”, "Tạp chíCộng sản
Tác giả: Phan Văn Khải
Năm: 2001
26. Nguyễn Khánh (1999), Đổi mới bước phát triển tất yéu đi lên CNXH ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới bước phát triển tất yéu đi lên CNXH ở ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Khánh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
43. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w