1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất

50 616 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục thể thao, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức t

Trang 1

Sinh viên thực hiện

LÊ THỊ BÍCH NHI MSSV: 9117054

Năm 2015

Trang 2

Th.S GVC NGUYỄN VĂN THÁI LÊ THỊ BÍCH NHI

MSSV: 9117054

Lớp: TD11X6A2

Năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý

Thầy, Cô trong Bộ môn Giáo dục Thể chất trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Tôi kính lời cảm ơn Th.s Nguyễn Văn Thái đã hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn này với tất cả tinh thần, trách nhiệm và lòng nhiệt thành

Tôi xin chân thành cám ơn các em sinh viên ngành Giáo dục Thể chất các khóa đã giúp tôi trong việc thu thập số liệu, là một trong nhũng điều kiện cần để tôi hoàn thành luận văn này

Sau cùng, tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, những người thân đã quan tâm và

ủng hộ tôi

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Sinh viên thực hiện

(ký, ghi rõ họ tên)

Lê Thị Bích Nhi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Sinh viên thực hiện

(ký, ghi rõ họ tên)

Lê Thị Bích Nhi

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

1 3.1 Kết quả phỏng vấn các test

2 3.2 Thực trạng thể lực nam sinh viên bóng chuyền ngành GDTC

trường Đại Học Cần Thơ năm 2014- 2015

3 3.3 Thang điểm đánh giá từng chỉ tiêu thể lực sinh viên môn bóng

chuyền ngành GDTC Trường ĐHCT năm học 2014 - 2015

Trang 7

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 QUAN ĐIỂM VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THỀ LỰC ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜi

1.1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục và rèn luyện sức khỏe

1.1.2 Quan niệm của đảng và nhà nước về vấn đề GDTC

1.2 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên

1.2.1 Những đặc điểm sinh học của lứa tuổi sinh viên

1.2.2 Những đặc điểm sinh học của lứa tuổi sinh viên

1.2.3 Những đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi sinh viên

1.2.3.1 Tố chất sức nhanh

1.2.3.2 Tố chất sức mạnh

1.2.3.3 Tố chất sức bền

1.2.3.4 Tố chất mền dẽo:

1.2.3.5 Tố chất khóe léo:

1.3 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu:

CHƯƠNG II: MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU…

2.1 Mục đích nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

2.3.2 Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.3.2.1 Sức nhanh

2.3.2.2 Sức mạnh

2.3.2.3 Khéo léo

Trang 8

2.3.3 Phương pháp toán thống kê …

2.4 Tổ chức nghiên cứu

2.4.1 Đối tượng nghiên cứu

2.4.2 Địa điểm nghiên cứu

2.4.3 Thời gian nghiên cứu

2.4.4 Kế hoạch nghiên cứu

2.5 Dự trù kinh phí vàtrang thiết bị- dụng cụ…

2.5.1 Dự trù kinh phí 2.5.2 Dự trù trang thiết bị dụng cụ CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất trường đại học Cần Thơ học môn bóng chuyền nâng cao, nâng học 2014- 2015

3.2 Xây dựng thang điểm đánh giá được thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất trường đại học Cần Thơ học môn bóng chuyền nâng cao, năm học 2014- 2015

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Để hòa nhập vào sự phát triển TDTT và xác định vị trí nước nhà đối với khu vực nói riêng vàThế Giới nói chung Bộ văn hóa Thể Thao và Du Lịch đã đưa ra chỉ thị số 48/CT-BVHTTDL về việc tổ chức triển khai thực hiện “ Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020” Đây là chiến lượt đã được thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03/02/2010

Chiến lược TDTT Việt Nam xác định rõ: “ Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được gọi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng… Vận động TDTT là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính

là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT Việt Nam (Chỉ thị số 106-CT/TW của ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về công tác TDTT)”

Thực hiện chỉ thị đưa ra các phong trào thể thao ngày được quan tâm và phát triển rộng khắp với nhiều loại hình và qui mô khác nhau từ cơ sở vật chất đến nâng cao thành tích ở các môn thể thao như: Điền kinh, cầu lông, võ thuật,… đặt biệt là bóng chuyền

Bóng chuyền cũng như những môn thể thao khác khi tập luyện có tác dụng củng cố và nâng cao sức khỏe, giáo dục con người những phẩm chất quí giá như:

Trang 10

đích giải trí lành mạnh bóng chuyền còn là phương tiện phát triển con người toàn diện: đức- trí- thể- mĩ, tạo cho người tập đủ nâng lực trong cuộc sống và sự nghiệp, góp phần xây dựng Tổ Quốc Bóng chuyền còn là môn thể thao quần chúng thể hiện ở chỗ là ai cũng có thể tham gia, rất dễ tập, không phân biệt tuổi tác, giới tính, là môn thể thao rất hấp dẫn mà trong đó diễn ra sự tranh chấp rất quyết liệt giữa quá trình tấn công và phòng thủ, tạo nên những pha bóng hấp dẫn đầy kịch tính nhưng mang đậm tính tập thể Nhu cầu tập luyện và thi đấu bóng chuyền ngày càng đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống giảng dạy, huấn luyện nhằm đào tạo nên hệ thống kỹ - chiến thuật Trong đó thể lực và kỹ thuật đều bóng là 2 yếu tố cơ bản và quan trọng của bóng chuyền Để đánh giá trình độ thi đấu một đội bóng thì yếu tố về thể lực là yếu tố cơ bản liên quan đến khả năng thực hiện kỹ thuật và chiến thuật trong thi đấu bóng chuyền

Những năm gần đây Bộ môn Giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ đã tập trung phát triển môn thể thao này phổ biến, rộng rãi Thực tế, trường Đại học Cần Thơ có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học nói về môn bóng chuyền như: Cao

Vũ Bằng, Lê Trung Tính, Lâm Thái Phan, Thạch Nêm, Nhưng chưa có đề tài

nào nghiên cứu xây dựng thang điểm đánh giá thể lực

Xuất phát từ lý do trên đã dẫn dắt tôi lựa chọn đề tài:

“Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ học bóng chuyền nâng cao

năm học 2014-2015”

Mục đích nghiên cứu nghiên cứu: nhằm xây dưng thang điểm đánh giá

thể lực cho nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất của trường Đại học Cần Thơ học bóng chuyền nâng cao phục vụ cho công tác giảng dạy và huấn luyện

Trang 11

Để giải quyết mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu sau:

+Nhiệm vụ 1: Thực trạng thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành Giáo dục

thể chất Trường Đại học Cần Thơ học bóng chuyền nâng cao năm

2014-2015

+ Nhiệm vụ 2: Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực cho nam sinh viên

khóa 37 ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ học bóng chuyền nâng cao năm 2014 - 2015

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC:

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi

trọng công tác GDTC trong trường học, nhằm đào tạo những lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần trong sáng về đạo đức …." Đó là mục tiêu của Đảng và Nhà nước, là ước nguyện

của Bác Hồ đối với thế hệ trẻ Việt Nam, những người sẵn sàng kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cần khẳng định rằng, không thể có sức khoẻ của nhân dân nếu không quan tâm đến sức khoẻ của thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên Việc duy trì và tăng cường thể chất của giống nòi Việt Nam phải bắt đầu từ thế hệ trẻ

Bác Hồ đã từng dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" Rèn luyện TDTT là một biện pháp quan trọng nhằm đem lại sức

khoẻ và thể chất cường tráng cho thế hệ trẻ hiện tại và mai sau Bởi vậy, việc chăm lo cho công tác giáo dục thể chất trong trường học là một việc làm có tầm quan trọng đặc biệt của sự nghiệp giáo dục đào tạo, nhằm chuẩn bị nguồn lực con người cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thủ đô và đất nước

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định ở

điều 41: “ Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục thể thao dân tộc, khoa học

và nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục thể thao, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự nguyện của nhân dân; tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chú trọng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao."

Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần V khoá VII về giáo dục đào tạo đã khẳng

định mục tiêu “…Xây dựng con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức."

Trang 13

Ngày 24/3/1994 Ban Bí thư trung ương Đảng ra chỉ thị 36/CT-TW về công

tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới đã nêu rõ: "…Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho từng trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất các trường học."

Ngày 7/3/1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 133/TTg về việc xây dựng và quy hoạch phát triển ngành Thể dục thể thao và giáo dục đào tạo Về

giáo dục thể chất trong trường học, Chỉ thị nêu rõ:" Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt quan trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp, có quy chế bắt buộc đối với công tác giáo dục thể chất trong nhà trường"

Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, năm 1996 đã

khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế

kỷ 21” và nhấn mạnh“Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu không những chỉ có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải có con người cường tráng về thể chất Chăm lo cho con người

về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể”

Ngày 9/10/2000, Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công

bố lệnh về việc ban hành pháp lệnh thể dục, thể thao đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá X thông qua ngày 25/9/2000 Pháp lệnh có 9 chương; 59 điều Trong đó có 1 chương, 6 điều quy định về TDTT trường học

Điều 14 của pháp lệnh ghi rõ: “Thể dục thể thao trường học bao gồm Giáo dục thể chất và hoạt động TDTT ngoại khoá cho người học Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc, nhằm tăng cường sức khoẻ phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu

Trang 14

giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích hoạt động TDTT ngoại khoá trong nhà trường.”

Điều 15 của pháp lệnh TDTT ngày 25/9/2002 quy định “Bộ giáo dục đào tạo phối hợp với Uỷ ban TDTT thực hiện các nhiêm vụ: Xây dựng, chỉ đạo, thực hiện chương trình Giáo dục thể chất Quy định tiêu chuẩn RLTT và đánh giá kết quả RLTT của người học quy định hệ thống thi đấu TDTT trường học”

Tóm lại: Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về Giáo dục thể chất

và thể thao trường học được thể hiện rõ và nhất quán trong Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các Bộ, Ngành, đoàn thể chính trị xã hội có liên quan Đó là quan điểm coi GDTC là một mặt quan trọng của giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, nhằm đào tạo những thế hệ con người Việt Nam có thể lực cường tráng, có trí tuệ phát triển cao, có đạo đức trong sáng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.2 Một số đặc điểm phát triển thể lực lứa tuổi sinh viên (18-22 tuổi)

1.2.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý, tâm lý lứa tuổi sinh viên (18-22 tuổi): 1.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý lứa tuổi 18-22:

- Hệ thần kinh: Kích thước não và hành tủy đạt tới mức người trưởng thành Hành động phân tích và tổng hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt, điều khiển thần kinh chiếm vai trò chủ đạo, khả năng định hướng trong không gian đạt tới mức trưởng thành, khả năng điều chỉnh về lực của tác động đến mức hoàn chỉnh

- Hệ cơ xương: Ở lứa tuổi này, cơ thân mình phát triển nhất Sau khi kết thúc thời kỳ tăng trưởng cơ thể, chiều cao cơ thể phát triển chậm lại, độ dày cơ bắp bắt đầu phát triển nhanh, sợi cơ dày lên rõ rệt, trọng lượng cơ thể tăng lên, sức mạnh cơ bắp phát triển đáng kể, sức mạnh tối đa của các nhóm cơ khác tăng

từ 9-14 lần

Trang 15

- Trao đổi chất và năng lượng: Chu kỳ hô hấp và độ sâu hô hấp tăng lên, sức bền ưa khí tăng mạnh, sức bền được đánh giá qua khả năng hấp thụ oxy tối đa tăng 3,5lần/p ở lứa tuổi 18-22

- Hệ tuần hòan: Mạch bắt đầu ổn định khoảng 70-80 l/phút

- Huyết áp: Bắt đầu ổn định, huyết áp tối đa do vận động với công suất lớn tăng khoảng 50mmHg

1.2.1.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 18-22:

- Tri giác: Ở lứa tuổi 18-22 tri giác chính xác Đặc biệt là động tác với nhịp điệu.Khi làm sai động tác, sinh viên có thể tự nhận thấy và tìm cách hòan thiện

- Khả năng tập trung chú ý: Ở lứa tuổi này chú ý có chủ định chiếm ưu thế,

sự tập trung ý chí cao và linh hoạt Khối lượng chú ý lớn, sự phân phối ý thức đúng mức

- Trí nhớ: Ở lứa tuổi này, trí nhớ phát triển cao, tính chủ động chiếm ưu thế, tiếp thu động tác có phê phán và biết tự so sánh các động tác gần giống nhau

- Tư duy: Tư duy trừu tượng là chủ yếu, vì vậy khi giảng dạy động tác nên

sử dụng lời nói sinh động, có hình ảnh mô tả động tác, lời phân tích ngắn gọn, rõ ràng, chính xác thì sinh viên sẽ tiếp thu kỹ thuật động tác nhanh hơn

- Tưởng tượng: Quá trình tưởng tượng sinh động (phản ánh cả khách quan lẫn chủ quan) Trong quá trình tập luyện và vui chơi, trí tưởng tượng ngày càng được phát triển

- Cảm xúc: Lứa tuổi sinh viên có tình cảm phong phú và đa dạng Trạng thái cảm xúc của lứa tuổi này sâu hơn so với tuổi thiếu niên, đôi khi thanh niên nam nữ cũng có cảm xúc mâu thuẫn trong lĩnh vực tế nhị này.Vì vậy, giáo viên cần có sự giúp đỡ, chia sẻ, khuyên nhỏ một cách đúng đắn để sinh viên tự ý thức

và tu dưỡng đạo đức, hình thành nếp sống lành mạnh

- Ý thức nhân cách: Ở lứa tuổi này biểu hiên trước hết ở sự tự ý thức Chính điều đó khiến cho sinh viên quan tâm đến phẩm chất nhân cách và năng lực của mình Trong quá trình tập luyện, giảng viên cần giúp đỡ một cách phù

Trang 16

hợp, khéo léo đối với từng sinh viên, để hình thành ở họ một biểu tượng khách quan, đúng đắn về mình, vẫn tế nhị, thể hiện sự tôn trọng nhân cách sinh viên Tóm lại, các đặc tính giải phẫu sinh lý lứa tuổi 18-22 nói chung là các đặc tính của người trưởng thành Do vậy, ở trường ĐH, CĐ, THCN cần chú ý:

- Phải được tiếp tục GDTC một cách khoa học để nâng cao thể lực cho sinh viên, góp phần hòan thiện các chức năng và các hệ thống cơ quan trong cơ thể

- Phát triển đầy đủ các tố chất thể lực làm tiền đề phát triển thể lực chung rộng rãi và phát triển thể lực chuyên môn cần thiết sau này cho sinh viên

1.2.2 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi sinh viên:

Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất lượng của cơ thể biểu hiện trong điều kiện cụ thể của cuộc sống, lao động, học tập và hoạt động TDTT Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của tố chất thể lực, TDTT là phương tiện (qua các bài tập) để nâng cao khả năng vận động góp phần cải tạo thể chất con người

Các nhân tố về trạng thái chức năng của hệ thần kinh, chất lượng của các cơ quan vận động và chức năng của các cơ quan đảm bảo năng lượng cho cơ thể có ảnh hưởng rất lớn đến tố chất thể lực Hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực.Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất vận động.Có 5 tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo (năng lực phối hợp vận động) và độ mềm dẻo Dựa trên cơ sở sinh lý, lý luận và phương pháp TDTT về tố chất thể lực, có thể đi

sâu vào tìm hiểu từng tố chất

1.2.2.1 Tố chất sức nhanh:

Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực của cơ thể vận động tốc độ nhanh, là năng lực thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất, là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người.Nó quy định chủ yếu và trực tiếp các đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập nhau Đặc biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc

Trang 17

quan với tốc độ động tác.Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc dộ khác nhau Các hình thức phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau, như chạy cự ly ngắn (20m, 30m, 60m, 100m), tốc độ đập bóng trong bóng chuyền, tốc độ sút bóng trong bóng đá, tốc độ ra đòn trong các môn võ…

Các hình thức sức nhanh đơn giản liên quan chặt chẽ đến kết quả sức nhanh phức tạp Sức nhanh là kết quả của cả ba yếu tố cấu thành, đó là: tốc độ phản ứng, tốc độ động tác và tần suất động tác Yếu tố quyết định của tất cả các hình thức sức nhanh là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung khu thần kinh Sự thay đổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế, làm cho cá nơron vận động có khả năng phát xung đột với tầng

số cao và làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số của động tác Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỉ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ.Các cơ có tỉ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II – A có khả năng tốc độ cao hơn Tốc độ co cơ chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP ( Adenozin Triphophat) và CP (Creatin photphat) Đây là nguồn năng lượng có sẵn trong cơ thể để giúp cho các hoạt động tốc độ được thực hiện.Tố chất nhanh mang tính di truyền, phụ thuộc vào các quá trình hóa học trong cơ và vào tần số động tác đơn và yếu tố tâm lý Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm, chủ yếu ở lứa tuổi 10-13, nếu không được tập luyện tốt thì đến giai đoạn 16-18 tuổi sẽ rất khó nâng cao Vì vậy, khi ở lứa tuổi này không có điều kiện tập luyện thường xuyên, thì sang lứa tuổi 18-25, cần phải chú ý trong quá trình tập luyện sao cho phù hợp Nhất là ở lứa tuổi trưởng thành, nếu không thường xuyên rèn luyện, sẽ càng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, học tập và làm việc Các phương pháp phát triển sức nhanh: trong quá trình tập luyện phát triển sức nhanh thường sử dụng các bài tập có tác dụng phát triển năng lực phản ứng,

có tần số cao Ngoài ra, còn sử dụng các môn bóng như: bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ… thông qua các trò chơi vận động hoặc các bài tập:

Trang 18

 Cường độ vận động cần được sắp xếp trong khoảng thời gian gần tối

đa đến tối đa Người tập phải có sự nỗ lực hết sức (với tần số và biên

độ động tác phù hợp) để đạt tốc độ vận động lớn nhất và cố gắng vượt qua vận tốc đó

 Thời gian nghỉ giữa các lần lặp lại cần đạt được sự phục hồi tối ưu (từ 4-6 phút)

- Khối lượng vận động nhỏ

 Thời gian vận động ngắn

 Trong tập luyện sức nhanh, cần đảm bảo khởi động đầy đủ, góp phần tạo được trạng thái tâm lý và cơ bắp hưng phấn tối ưu nhằm đạt được mục đích tập luyện và hạn chế chấn thương Đặc biệt, với các VĐV trẻ phải chú ý: khi tập luyện sức nhanh, cần sử dụng các phương tiện

đa dạng và toàn diện

 Một số lưu ý khi tập luyện sức nhanh:

 Chỉ cần luyện tập đến gần mức mệt mỏi và có quãng nghỉ đầy đủ

 Thực hiện tốt các động tác thả lỏng trong khi thực hiện bài tập

 Tập luyện trong điều kiện giảm nhẹ (chạy từ trên dốc xuống)

 Phải thực hiện chính xác kỹ thuật động tác

 Cần được chuẩn bị đầy đủ về mặt tâm lý, tinh thần

1.2.2.2 Tố chất sức mạnh:

Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại

nó bằng nỗ lực của cơ bắp Trong bất kỳ hoạt động nào của con người, đều có sự

Trang 19

tham gia hoạt động của cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi chiều dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài cơ ( chế độ khắc phục), tăng độ dài cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt động như vậy, cơ bắp có thể sinh ra lực cơ học, các trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của có là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh

Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học, người ta đi đến một số kết luận các yếu tố cơ bản trong phân loại sức mạnh.Trị số lực sinh ra trong các hoạt động chậm hầu như không khác biệt so với các trị số lực phát huy trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh, các trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh), không có tương quan nhau

Trên cở sở đó, sức mạnh được chia ra thành sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh) sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế

độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung

Trong hoạt động vận động nói chung và hoạt động thể thao nói riêng, sức mạnh luôn có mối quan hệ với các tố chất thể lực khác, nhất là sức nhanh và sức bền Do đó, năng lực sức mạnh được phân chia thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền Sức mạnh là tiền đề rất quan trọng để nâng cao thành tích TDTT.Ở lứa tuổi

18 - 25, lứa tuổi thuận lợi cho cơ bắp phát triển tốt nhất.Vì vậy, trong quá trình rèn luyện tố chất này cần chú ý sao cho phù hợp để phát huy một cách tốt nhất Trong giáo dục tố chất sức mạnh, người ta sử dụng các bài tập gồm các động tác với lực đối kháng.Về mặt tác động chức năng, bản chất của các loại lực đối kháng không có gì khác biệt nhau nhiều lắm Vấn đề cơ bản của phương pháp rèn luyện sức mạnh là cần phải định lượng trọng lượng theo ba cách:

Theo tỉ lệ trọng lượng tốt đa, theo hiệu số so với trọng lượng tối đa, theo số lần lặp lại trong một lượt tập

Trong thực tế, có ba cách tạo ra sự kích thích lớn đối với hoạt động của

Trang 20

- Lặp lại cực hạn đối với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa

- Sử dụng lượng đối kháng tối đa

- Sử dụng trọng lượng chưa tới mức tối đa với tốc độ cực đại

Trong tập luyện sức mạnh, có thể dẫn tói sự mệt mỏi hoặc mệt mỏi quá sức

Vì vậy, cần xác định đúng lượng vận động theo đặc điểm sinh lý lứa tuổi, để đưa

ra những bài tập phù hợp nhằm tránh những rủi ro xảy ra

1.2.2.3 Tố chất sức bền

Sức bền là khả năng mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời gian với cường độ nhất định và có hiệu quả.Sức bền đảm bảo cho người tập luyện đạt được một cường độ nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu…) trong thời gian vận động kéo dài Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các hành vi động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tập luyện chuyên môn nhất định

Trong sinh lý TDTT, sức bền thường được đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 2-3 phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng lớn cơ bắp, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho

cơ thể chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí Sức bền được chia làm nhiều loại

Sức bền chung: thể hiện khả năng của con người trong các hoạt động kéo dài, có thể từ vài chục phút tới hàng giờ, có cường độ thấp, có sự tham gia phần lớn của hệ cơ

Sức bền chuyên môn: là khả năng duy trì hoạt động cao trong những loại hình bài tập chuyên môn nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt, phụ thuộc vào những nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật

Sức bền tốc độ: là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động nhanh nhất trong một thời gian nhất định

Sức mạnh bền: là thời gian duy trì hoạt động với trọng lượng mang vác lớn Nói chung, sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể lực, nên nó có mối

Trang 21

tuổi 18-25, khi tập luyện sức bền, đòi hỏi sự nỗ lực lớn không ngừng bằng cơ bắp,

mà còn bằng ý chí khắc phục khó khăn, ngại khó, lười biếng…

Ở tuổi này, có sự thuận lợi trong nhận thức tự giác tập luyện, hiểu rõ tác dụng, lợi ích khi tập luyện một cách khoa học.Cho nên, giáo viên cần lưu ý giáo dục nhận thức cho sinh viên hiểu và nắm rõ được chức năng tác dụng của bài tập khi tham gia tập luyện

Phát triển sức bền với mục đích mở rộng và nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống tim mạch, các chức năng trao đổi chất trong điều kiện đủ oxy và phát triển sức bền chung cho các nhóm cơ lớn Nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho cơ thể thích nghi dần dần với lượng vận động ngày một lớn, cần phải có sự tích lũy, thích nghi dần và kéo dài liên lục trong nhiều năm, chính vì thế, trong quá trình tập luyện sức bền, đòi hỏi sinh viên phải có ý chí kiên trì, khắc phục cảm giác mệt mỏi và nặng nề, nhàm chán do tính đơn điệu của bài tập

Để phát triển sức bền, cần phải nâng cao khả năng ưa khí lẫn khả năng yếm khí của sinh viên Để nâng cao khả năng ưa khí, cần giải quyết ba nhiệm vụ:

- Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa

- Nâng cao khả năng kéo dài duy trì mức hấp thụ oxy tối đa

- Làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt động với hiệu suất cao

Trong khi đó, nhiệm vụ chính của nâng cao khả năng yếm khí của cơ thể là tăng cường khả năng giải phóng năng lượng nhờ các phản ứng phân hủy photphocreatin và phân hủy glucoza, đồng thời nâng cao khả năng nợ oxy ở mức cao

Phương pháp tập luyện và phát triển sức bền:

- Phương pháp kéo dài: có đặc điểm là hoạt động trong thời gian dài và không có thời gian nghỉ giữa

Việc nâng cao khả năng hấp thụ oxy có thể thực hiện theo 2 cách khác nhau:

có thể là nâng thông qua một lượng vận động liên tục trong điều kiện đủ oxy Cách thứ hai là thông qua một lượng vận động kéo dài nhưng thay đổi cường độ

Trang 22

thời gian nhất định Phương pháp tập luyện có thể thực hiện theo các hình thức sau:

- Phương pháp liên tục: duy trì tốc độ vận động trong thời gian dài Cường

độ vận động có thể xác định dễ dàng thông qua mạch đập Cường độ vận động tùy theo yêu cầu của từng môn thể thao có thể giao động trong khoảng từ 140-

170 lần/phút Nếu sử dụng mạch đập để xác định cường độ vận động của VĐV, cần chú ý đặc điểm là các trẻ khi thực hiện các lượng vận động thường có mạch đập cao hơn các VĐV trưởng thành (tăng thể tích phút chủ yếu bằng nhịp tim) Phương pháp thay đổi tốc độ vận động một cách có kế hoạch trong quá trình thực hiện lượng vận động, khi tăng tốc độ vận động làm cho hoạt động của các cơ quan cung cấp năng lượng bị căng thẳng, tạo nên quá trình trao đổi thiếu oxy trong khoảng thời gian nhất định

- Phương pháp giãn cách: là phương pháp luyện tập mà trong đó sự luân phiên một cách hệ thống giữa các giai đoạn vận động ngắn, trung bình và dài với các quãng nghỉ ngắn làm cho cơ thể chưa kịp hồi phục và hồi phục vượt mức đã tiến hành những bài tập tiếp theo

Tốc độ vận động, thời gian vận động và thời gian nghỉ được xác định trên

cơ sở nhiệm vụ tập luyện Việc phân chia các phương án của các giai đoạn vận động (giãn cách thời gian ngắn, giãn cách thời gian trung bình, giãn cách thời gian dài), hoặc có thể căn cứ vào thời gian vận động

Tóm lại, sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống, trong lao động và học tập Đối với hoạt động thể thao, nó là cơ sở thiết yếu giúp cho VĐV trong hoạt động chuyên môn, đồng thời đó cũng là khả năng dẻo dai để sinh viên học tập và làm việc

1.2.2.4 Tố chất mềm dẻo:

Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Thông thường, độ linh hoạt của các khớp càng lớn thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất

Trang 23

niên nhi đồng Đặc biệt là lứa tuổi 11-14, trước khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh Có thể tập mềm dẻo khi tập thể dục buổi sáng, trong giờ khởi động, các động tác chân làm tăng độ linh hoạt của khớp, đồng thời là động tác khởi động, có tác dụng tích cực với tập luyện kỹ thuật ở phần cơ bản, ngăn ngừa chấn thương Còn ở tuổi trưởng thành, tố chất mềm dẻo tập luyện rất khó khăn, vì các

cơ, khớp xương, hệ thần kinh…đã phát triển tương đối hoàn chỉnh

Vì vậy, khi rèn luyện tố chất mềm dẻo cần chú ý dến biên độ động tác, những yêu cầu khi thực hiện cần phải phù hợp với lứa tuổi để đề phòng chấn thương có thể xảy ra.Tuy nhiên, nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển một cách đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển các năng lực thể thao, cũng như trong cuộc sống

1.2.2.5 Tố chất khéo léo (khả năng phối hợp vận động):

Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phức tạp và khả năng hình thành nhanh những động tác phù hợp với yêu cầu vận động

Về bản chất, sự khéo léo là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp, vì vậy nó liên quan đến việc hình thành kỹ năng vận động

Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động (cần thiết ít hoặc nhiều), để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định.Năng lực này được xác định trước hết ở khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin) và được hình thành, phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có mối quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền

Năng lực khéo léo còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng cũng như việc hoàn thiện, củng cố và vận dụng kỹ xảo về kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khác nhau cơ bản.Trong kỹ xảo thể thao, chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, thì năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác

Trang 24

Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức

độ phát triển của các tố chất khác như : sức nhanh, sức mạnh, và sức bền Mức

độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyện khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn hoặc thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp các vùng não khác nhau Do đó, hoàn thiện sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như nhóm cơ đối kháng

1.3 Đặc điểm và tác dụng của môn bóng chuyền

1.3.1 Đặc điểm của môn bóng chuyền

Bóng chuyền là môn thi đấu mang tính đồng đội có tính đối kháng không trực tiếp do lưới ngăn cách ở giữa 2 bên, Đội hình chính của mỗi đội bao gồm 6 người trong đó có một vận động viên là Libero Bản chất thi đấu bóng chuyền là giành phần thắng từng hiệp và cả trận đấu Mục đích cụ thể là giành từng điểm và làm cho đối phương không lên điểm Toàn bộ quá trình thi đấu là sự so tài đấu trí, đấu lực căng thẳng quyết liệt về trình độ kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý Muốn đánh thắng đối phương phải có trình độ kỹ thuật, chiến thuật cao, phối hợp đồng đội tốt, đặc biệt phải khống chế tầm cao trên lưới Song song với kỹ thuật, chiến thuật, yêu cầu VĐV cần có thể lực tốt, cơ năng, hình thái cơ thể hoàn hảo, tâm lý ổn định, kỹ thuật cá nhân toàn diện, vận dụng sáng tạo linh hoạt trước mọi tình huống biến hóa, bất ngờ để giành thắng lợi Bên cạnh đó, nhận thức được qui luật không gian thời gian trong thi đấu bóng chuyền rất quan trọng Trong thi đấu bóng chuyền, có những đặc điểm giống các môn bóng bàn, quần vợt, cầu mây, cầu lông, đá cầu hai đội tiến hành thi đấu ở hai bên sân Để giành được điểm, hiệp, trận, theo luật thi đấu đã được tổng kết được điểm, mất điểm, được phát bóng hoặc mất phát bóng, chiến thuật là mục đích, kỹ thuật là biện pháp, thể lực

là cơ sở tâm lý, là yếu tố ổn định số lượng và chất lượng, chiến thuật tấn công phòng thủ, phản công của cá nhân và đồng đội để thực hiện trên phạm vi khung

là luật thi đấu, vấn đề giải pháp mang tính mục đích nguyên tắc là phải tìm được chỗ (điểm) đã thực hiện nó Đó là không gian, cụ thể là không gian trên lưới,

Trang 25

vùng tranh chấp gay cấn căng thẳng nhất giữa hai đội để từ đó thực hiện các biện pháp kỹ chiến thuật phối hợp biến hóa giành thắng lợi

ˆ Đặc trưng tranh giành không gian - thời gian của thi đấu bóng chuyền hiện đại

Tuy bóng chuyền là môn thể thao mới chỉ có trên 100 năm lịch sử, nhưng

từ những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, sau khi xu hướng phát triển nhanh, mạnh

kỹ, chiến thuật biến hóa giành ưu thế trên sân, qua đó các nhà chuyên môn đã tìm

ra xu hướng tổng quát nhất là toàn diện Tốc độ thi đấu ngày càng nhanh, tầm vóc vận động viên ngày càng cao hơn (cao đứng, bật cao, tay với cao) từ nhận thức mới, đã có hàng loạt biến hóa sâu sắc nhiều mặt, then chốt nhất là vận dụng quan điểm khoa học không gian làm cho biến đổi nhảy vọt về hiểu biết, lý luận, huấn luyện Vận dụng quy luật không gian - thời gian trở thành xu hướng và thực tiễn mang tính quy luật cơ bản cho toàn bộ sự phát triển bóng chuyền, cũng là xu thế mới, là đặc trưng cơ bản để từ đó nghiên cứu sâu sắc hơn về nội dung và hình thức của bóng chuyền hiện đại, tìm được các quy luật chỉ đạo huấn luyện bóng chuyền càng chất lượng, thiết thực hơn

* Đặc trưng lớn nhất của bóng chuyền hiện đại là:

 Đối kháng mạnh qua tranh quyền chủ động không gian thời gian

 Tranh giành ưu thế không gian thời gian

 Biến hóa nhịp thi đấu với tốc độ cao

 Khống chế vững chắc không gian sử dụng thời gian, kỹ thuật hợp lý, đơn giản khéo léo, điêu luyện, biến hóa

 Sáng tạo lợi dụng không gian sử dụng thời gian toàn công toàn thủ của toàn bộ chiến thuật cần nghiêm, chặt, kín

 Điều chỉnh phối hợp cơ động của công và thủ

 Năng lực hoạt động thể lực cao

 Giữ trạng thái ổn định, tâm lý, kỹ chiến thuật

1.3.2 Tác dụng của môn bóng chuyền

Trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện môn bóng chuyền, cùng với các

Ngày đăng: 24/08/2016, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Chạy cây thông 92 (m) - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Hình 1 Chạy cây thông 92 (m) (Trang 32)
Hình 3: Dụng cụ đo dẻo đứng gập thân - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Hình 3 Dụng cụ đo dẻo đứng gập thân (Trang 34)
Bảng 4: Dự trù kinh phí - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Bảng 4 Dự trù kinh phí (Trang 37)
Bảng 2. Kế hoạch nghiên cứu - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Bảng 2. Kế hoạch nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn các test kiểm tra trình độ thể lực của nam sinh viên - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn các test kiểm tra trình độ thể lực của nam sinh viên (Trang 40)
Bảng 3.3: Thang điểm đánh giá từng chỉ tiêu thể lực sinh viên môn bóng  chuyền ngành GDTC Trường ĐHCT năm học 2014 - 2015 - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Bảng 3.3 Thang điểm đánh giá từng chỉ tiêu thể lực sinh viên môn bóng chuyền ngành GDTC Trường ĐHCT năm học 2014 - 2015 (Trang 45)
Bảng 3.4: Điểm tổng hợp thể lực của sinh viên - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Bảng 3.4 Điểm tổng hợp thể lực của sinh viên (Trang 46)
Bảng 3.5: Xếp loại tổng hợp 8 chỉ tiêu thể lực của nam sinh viên môn bóng  chuyền ngành GDTC Trường ĐHCT năm học 2014 - 2015 - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 37 ngành giáo dục thể chất
Bảng 3.5 Xếp loại tổng hợp 8 chỉ tiêu thể lực của nam sinh viên môn bóng chuyền ngành GDTC Trường ĐHCT năm học 2014 - 2015 (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w