1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục

58 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 430,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực lứa tuổi sinh viên 1.5 Một số công trình nghiên cứu về giáo dục thể chất có liên quan 3.1 Thực trạng thể lực của nam sinh viên khóa 39 hệ khôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NĂM HỌC 2013 - 2014

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện ThS NGUYỄN VĂN THÁI HUỲNH GIANG TỬ

Mã số SV: 9117026 Lớp: TD11X6A1

Cần Thơ 2015

Trang 2

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Tên đề tài:

XÂY DỰNG THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC NAM SINH VIÊN KHÓA 39 HỆ KHÔNG CHUYÊN THỂ DỤC THỂ THAO HỌC MÔN CẦU LÔNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NĂM HỌC 2013 - 2014

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện ThS NGUYỄN VĂN THÁI HUỲNH GIANG TỬ

Mã số SV: 9117026 Lớp: TD11X6A1

Cán bộ phản biện Học hàm, học vị và tên cán bộ phản biện

Luận được bảo vệ tại: Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp ………

Bộ môn Giáo dục thể chất, Trường Đại học Cần Thơ vào ngày tháng năm 2015

Mã số đề tài:

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Thư viện Bộ môn Giáo dục thể chất, Trường Đại học Cần Thơ

Website: http://dpe.ctu.edu.vn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

HUỲNH GIANG TỬ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn quý thầy, cô giảng dạy đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu về công tác giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, làm tiền đề cho việc nghiên cứu luận văn khoa học

Xin cảm ơn ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ, cùng tập thể cán bộ, giáo viên và sinh viên của trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện luận văn này

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy hướng dẫn thạc sĩ Nguyễn Văn thái đã tận tình động viên và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu luận văn đại học

Xin cảm ơn quý Thầy, Cô, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, động viên và hỗ trợ tôi

để hoàn thành luận văn đại học

Tác giả

HUỲNH GIANG TỬ

Trang 5

1.4 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực lứa tuổi sinh viên

1.5 Một số công trình nghiên cứu về giáo dục thể chất có liên quan

3.1 Thực trạng thể lực của nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể

dục thể thao học môn cầu lông trường Đại Học Cần Thơ học năm

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Thuật ngữ Tiếng Việt

Bộ GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU ĐO LƯỜNG

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

3.1

Thực trạng thể lực của nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục

thể thao học môn cầu lông trường Đại học Cần Thơ học năm học 2013-

2014 (n=50)

42

3.2

So sánh thực trạng thể lực nam sinh viên Đại học Cần Thơ khóa 39 học

Cầu lông với nam sinh viên 19 tuổi theo tiêu chuẩn phân loại của Bộ

GD&ĐT số 53/2008/QĐ – BGD&ĐT, năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo

dục và Đào tạo

43

3.5

3.9

Kết quả xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ

không chuyên thể dục thể thao học môn cầu lông trường Đại Học Cần

Thơ năm học 2013- 2014

48

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

Thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế - văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia Phát triển TDTT là góp phần chăm lo sức khỏe toàn dân, là một việc làm cần thiết và quan trọng gắn liền với xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khẳng định “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây dựng đời sống mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân khỏe mạnh tức là làm cho cả nước mạnh khỏe”, có luyện tập thể dục thể thao thường xuyên thì mọi người mới có đủ sức khỏe để học tập lao động và thực hiện các hoạt động khác nhau Hiện nay Việt Nam đang trên đà phát triển hòa nhập vào nền kinh tế thế giới là một thành tựu có ý nghĩa hết sức to lớn đối với Đảng và nhân dân ta Để có được thành tựu này, ngoài những đóng góp trong các ngành khoa học về lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ… thì ngành Thể Dục Thể Thao (TDTT) cũng có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nước nhà

Để hòa nhập vào sự phát triển TDTT và xác định vị trí của nước nhà đối với khu vực nói riêng và Thế Giới nói chung Bộ văn hóa Thể Thao và Du lịch đã đưa ra chỉ thị số 48/CT-BVHTTDL [1] về việc tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020” Đây là chiến lược đã được Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt tại Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03/2/2010

Chiến lược TDTT Việt Nam xác định rõ: “Chăm sóc sức khoẻ, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khoẻ dồi dào, thể chất cường tráng Vận động TDTT là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT Việt Nam (Chỉ thị số 106-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng

Lao động Việt Nam về công tác TDTT)”[2]

Trang 10

Thực hiện chỉ thị đưa ra các phong trào thể thao ngày được quan tâm và phát triển rộng khắp với nhiều loại hình và qui mô khác nhau từ cơ sở vật chất đến nâng cao thành tích ở các môn thể thao như: Điền kinh, bóng chuyền, võ thuật,… đặc biệt là cầu lông Cầu lông là môn thể thao có tính quần chúng và nghệ thuật cao, được phát triển ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á Môn cầu lông đã được Ủy ban Olympic quốc tế đưa vào thi đấu trong chương trình thi đấu của Đại hội Olympic tổ chức tại Baxelona (Tây Ban Nha) năm 1992 Cầu lông đang được phổ biến trong quần chúng như là một trong những phương tiện để giáo dục, rèn luyện thể chất, sức khỏe và phát triển trình độ văn hóa thể thao cho mọi người

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo không ngừng nghiên cứu cải tiến nội dung, đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy thể dục trong trường học các cấp, trong đó cầu lông là một trong những nội dung không thể thiếu của hầu hết chương trình giảng dạy thể dục ở các trường phổ thông cũng như bậc đại học, cao đẳng

và trung học chuyên nghiệp

Chính vì thế cầu lông được coi là môn thể thao phát triển, nằm trong mục tiêu phát triển thể thao thành tích cao của ngành thể dục thể thao nước ta Việc giành thứ hạng cao của các vận động viên cầu lông Việt Nam tại các giải thi đấu lớn của khu vực

đã tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của phong trào tập luyện và thi đấu cầu lông trong

cả nước Cùng với sự có mặt vận động viên Nguyễn Tiến Minh tại Olympic 2008 Trung Quốc đã cho thấy sự vươn lên mạnh mẽ của môn cầu lông Việt Nam trên đấu Trường quốc tế

Để tiếp tục duy trì và đạt được thứ hạng cao ở khu vực và trên thế giới thì công việc quan trọng hàng đầu của chúng ta là: đổi mới quy trình đào tạo vận động viên một cách khoa học, bám sát xu thế phát triển cầu lông hiện đại, đề ra những nội dung và phương pháp huấn luyện hiện đại

Cầu lông là môn thể thao thi đấu đối kháng với lối đánh biến hóa, thực dụng, hiệu quả đòi hỏi vận động viên phải có khả năng thích ứng cao với lượng vận động lớn và năng lực phối hợp vận động cao trong thời gian dài Trong thi đấu cầu lông đỉnh cao ngày nay các trận đấu trở nên căng thẳng, quyết liệt, thì vận động viên phải nỗ lực ổn định tâm lý, tự tin, hưng phấn trong hiệp đấu, phát huy tối đa sở trường của bản thân, cố

Trang 11

gắng phòng thủ chặt chẽ, hạn chế điểm mạnh của đối phương Muốn thực hiện được những điều trên thì việc huấn luyện cho vận động viên hoàn thiện về kỹ thuật chuyên môn, khả năng duy trì hoạt động với thời gian thi đấu kéo dài là cường độ hoạt động cao

và liên tục đặc biệt là thể lực để có thể duy trì hoạt động thi đấu lâu dài qua mỗi trận đấu

để chiến thắng đối phương đó là việc làm cần thiết

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, phát triển thể lực cho vận động viên cầu lông nói chung và cho SV chuyên sâu Trường Đại học Cần Thơ nói riêng là một điều cấp thiết không thể thiếu được Trong quá trình chuẩn bị thể lực cho SV học cầu lông, các giáo viên cũng đã tiến hành sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy, huấn luyện cũng như các bài tập nhằm phát thể lực cho SV Tuy nhiên, hệ thống các bài tập được sử dụng lại chưa đồng bộ, chưa có hệ thống và được sắp xếp một cách khoa học Chính vì vậy, hiệu quả phát triển thể lực chưa cao, chưa đáp ứng hoạt động đặc thù của môn cầu lông

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trên, là một sinh viên ngành giáo dục thể chất, tôi muốn cống hiến công sức nhỏ để nghiên cứu tố chất thể lực và nâng cao chất lượng giảng

dạy của bộ môn nên tôi mạnh dạn chọn đề tài“Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực

nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục thể thao học môn cầu lông trường

Đại Học Cần Thơ năm học 2013- 2014”

Mục đích nghiên cứu

Xây dựng thang điểm đánh thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục thể thao học môn cầu lông trường Đại học Cần Thơ học năm học 2013- 2014

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ 1: Thực trạng thể lực của nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục

thể thao học môn cầu lông trường Đại học Cần Thơ học năm học 2013- 2014

Nhiệm vụ 2: Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực cho nam sinh viên khóa 39 hệ

không chuyên thể dục thể thao học môn cầu lông Đại học Cần Thơ học năm học

2013-2014.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm về Giáo dục thể chất và sự ảnh hưởng của thể lực đến sự phát triển của con người

1.1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục và rèn luyện sức khỏe

Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc, Người đã cống hiến tài năng và sức lực của mình để giành lại nền độc lập dân tộc, đánh đuổi các đế quốc xâm lược và định hướng xây dựng nền xã hội mới Hồ Chí Minh không chỉ khởi xướng sự nghiệp dân giàu nước mạnh mà Người còn khởi xướng nền thể dục thể thao nước nhà

Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của dân tộc Việt Nam nói chung và ngành TDTT của nước nhà nói riêng Bác đã nhìn xa trông rộng về sự nghiệp TDTT nước nhà, đó cũng là tiền đề cho phát triển nhân cách, thể lực cho nhân dân, đặc biệt là thanh - thiếu niên, lực lượng vũ trang,…

Sự nghiệp TDTT là một mặt, một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp chung của

cách mạng nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Công tác thể dục thể thao cũng là một trong những công tác cách mạng khác” [3]

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đất nước vừa giành được độc lập dân tộc đã gặp phải biết bao khó khăn, trở lực bởi thù trong giặc ngoài, cộng với nền kinh tế do chế độ cũ để lại rất nghèo nàn lạc hậu, nhân dân nhiều nơi đói rét, dịch bệnh hoành hành, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, thất học và mù chữ nặng

nề Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đề ra nhiều chủ trương hết sức đúng đắn, kịp thời nhằm đẩy lùi những khó khăn trở lực và Người kêu gọi đồng bào cả nước chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Đồng thời do nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vai trò sức khỏe con người, sức khỏe nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm ký Sắc lệnh thành lập ngành Y tế và ngành TDTT của nước Việt Nam mới

Sự quan tâm to lớn đó của chủ tịch Hồ Chí Minh được gói gọn trong lời kêu gọi

nhân dân ta giữ gìn sức khỏe ngày 27/03/1946: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công.” [3] Người đã đưa ra

nhận xét của mình rằng “mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho đất nước yếu ớt đi một

Trang 13

phần, mỗi người dân mạnh khỏe tức góp phần cho cả nước mạnh khỏe” vì vậy mỗi người

dân muốn khỏe mạnh thì phải “rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [3]

Ngày 30-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ liên hiệp lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 14, thành lập Nhà Thể dục Trung ương

trong Bộ Thanh Niên Với mục tiêu “xét vấn đề thể dục rất cần thiết để tăng bổ sức khoẻ quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam” [4]

Vào ngày 31 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14, thành lập Nhà Thể dục Trung ương thuộc Bộ Thanh niên, tiền thân của ngành TDTT ngày nay Ngành TDTT mới ra đời có nhiệm vụ là liên lạc mật thiết với Bộ Y tế và Bộ Giáo dục để nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc nhằm tăng bổ sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam Để tăng cường và mở rộng các hoạt động TDTT

và trực tiếp chỉ đạo công tác GDTC cho thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tiếp Sắc lệnh số 33 ngày 27-3-1946 thành lập Nhà Thanh Niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục [4]

Đối với nước ta từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Bác Hồ rất quan tâm và chăm lo tới việc giữ gìn và rèn luyện sức khỏe cho nhân dân nhằm tiến hành công

cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Người đã từng nói: “Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống thêm khỏe mạnh” [3] Trong quan điểm của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, Người rất coi trọng công tác đối ngoại của TDTT Người cho rằng đó là một phương tiện quan trọng để giao lưu, đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và các nước trong cộng đồng quốc tế Vì vậy, mọi hoạt động đối ngoại ở trong nước hay quốc tế cũng đều phải đặt mục tiêu đoàn kết, hữu nghị lên hàng đầu Thấm nhuần tư tưởng của Người,

Ủy ban Thể dục thể thao đã lãnh đạo phong trào, lập ra các đội tuyển quốc gia các môn

để tham gia thi đấu giao hữu và các giải quốc tế

1.1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề GDTC

Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng và nhà nước ta không ngừng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển con người, xây dựng nguồn nhân lực cho đất nước sau này

Trang 14

Đảng đã vạch ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp TDTT nước nhà, luôn kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện đường lối quan điểm TDTT do Đảng đề ra Nhờ vậy mà những quan niệm lệch lạc đối với công tác TDTT dần dần được thay đổi Từ khi có chỉ thị số 106CT/TW ngày 2 tháng 10 năm 1958 do sự chuyển biến nhận thức trong một số cấp ủy Đảng mà phong trào TDTT phát triển khá rộng rãi hơn trong học sinh, quân đội, cơ quan,

xí nghiệp, Phong trào ngày càng lành mạnh, càng toàn diện và đã góp phần nâng cao sức khỏe, giáo dục, đoàn kết quân đội, cán bộ, công nhân, thanh niên, học sinh Một số địa phương và một số ngành đã chấn chỉnh lại việc lãnh đạo công tác TDTT [4]

Phong trào TDTT và thể thao quốc phòng của ta trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, ngày càng được nâng cao về mặt kỹ thuật Để đạt mục đích góp phần tăng cường thể chất, nghị lực và giáo dục, đoàn kết đông đảo nhân dân, cần lấy việc phong trào làm chính, không bó hẹp trong một số ít tổ chức hoặc một vài môn, đồng thời cần quan tâm đúng mức đến việc nâng cao trình độ chuyên môn

Trong chỉ thị 106/CT – TW có viết: “Việc săn sóc sức khoẻ của nhân dân, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xây dựng nước nhà và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khoẻ dồi dào, thể chất cường tráng” [4]

Chỉ thị còn nhấn mạnh “Ngoài việc tăng cường cải thiện sinh hoạt và điều kiện lao động, tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh, vấn đề vận động thể dục thể thao và thể dục quốc phòng có tác dụng lớn trong việc bồi bổ sức khoẻ của nhân dân và cán bộ Công tác thể dục thể thao là một phương pháp rất có hiệu quả để tăng cường lực lượng lao động sản xuất và lực lượng quốc phòng của cán bộ và nhân dân ta, tăng cường dũng khí và nghị lực của mỗi người dân, tăng cường sức đề kháng của nhân dân ta chống bệnh tật, chống vi trùng” [5]

Hơn nữa, vận động thể dục thể thao còn là một trong những phương pháp tốt để giáo dục nhân dân về tính tổ chức, tính kỷ luật và đoàn kết quần chúng đông đảo chung quanh Đảng và Chính phủ

GDTC là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm

Trang 15

việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” [6] GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm GDTC cũng như những loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm GDTC chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác và giáo dục tố chất thể lực Bên cạnh đó nó còn là một lĩnh vực TDTT xã hội với nhiệm vụ là “phát triển toàn diện tố chất thể lực và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khỏe, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kĩ năng và kĩ xảo quan trọng cho cuộc sống”

Đồng thời chương trình GDTC trong các Trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục là “trang bị kiến thức, kĩ năng và rèn luyện thể lực cho HS – SV”

GDTC trong các Trường Đại học Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp vừa là nhiệm vụ quan trọng vừa góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện, có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng để kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta

GDTC có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện HS – SV về thể lực để nâng cao sức khỏe với mục tiêu “khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”, “khỏe để chinh phục đỉnh cao tri thức” Ngoài ra còn giúp ta có một tâm lý vững vàng, chuẩn bị tốt tinh thần cho người cán bộ tương lai, trang bị những kiến thức, phương pháp tập luyện thể thao có khoa học để khi thực hiện công tác giảng dạy có hiệu quả hơn và hoàn thành công tác tốt hơn

Luật TD,TT năm 2006 đã xác định rõ tầm quan trọng của công tác GDTC và ý nghĩa lợi ích tác dụng của các hoạt động thể thao trong nhà trường nên đã dành 7 điều từ Điều 20 đến Điều 26 quy định về GDTC và thể thao trong nhà trường Nội dung của các điều này quy định về mục tiêu của GDTC trong các nhà Trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta hiện nay, quy định có tính định hướng về nội dung, hình thức, phương pháp GDTC và tổ chức các hoạt động thể thao trong nhà trường Luật xác định

rõ chủ thể của công tác GDTC, hoạt động thể thao trong nhà trường, quyền và nghĩa vụ

Trang 16

của các bên tham gia các hoạt động này, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có liên quan về GDTC và thể thao trong nhà trường

Những quy định của Luật TDTT về GDTC và thể thao trong nhà trường là những

sự thể chế hoá đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về GDTC và thể thao trong nhà Trường cùng với các quy định về giáo dục đào tạo trong các đạo luật khác như Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan tạo nên hệ thống luật pháp thống nhất đồng bộ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong GDTC và thể thao trong nhà trường Để những quy định của các luật này đi vào cuộc sống cần được các cơ quan quản lý nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn Đó là:

+ Các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật TDTT và các đạo luật đã ban hành về ngân sách nhà nước, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đất đai, bảo hiểm, lao động… đối với giáo dục đào tạo trong đó có GDTC và thể thao trong nhà Trường nhằm đảm bảo sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống pháp luật

ở nước ta, đòi hỏi các cấp chính quyền phải tổ chức nghiên cứu, phổ biến, giáo dục để mọi người biết và thực hiện

+ Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng theo luật định như chế độ phụ cấp đặc thù đối với giáo viên, giảng viên TDTT và các vấn đề về đầu tư, quy hoạch giáo dục và đào tạo…

+ Các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ GD và ĐT ban hành hoặc liên tịch với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, tổ chức Chính trị - xã hội ban hành quy định và hướng dẫn thực hiện những vấn đề thuộc thẩm quyền về GDTC và thể thao trong nhà trường như: Quy định về chương trình chuẩn quốc gia về môn học GDTC [7], quy định về tiêu chuẩn giáo viên, giảng viên TDTT, quy chuẩn về nhà tập, dụng cụ sân bãi môn học GDTC, quy định bảo đảm an toàn trong cho người dạy và người học môn GDTC, hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc thù cho giáo viên, giảng viên TDTT theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường và quy định hệ thống thi đấu thể thao trong hệ thống giáo dục quốc dân,

Trang 17

hướng dẫn việc tổ chức phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm cả hệ thống các trường năng khiếu thể thao và trường, lớp phổ thông năng khiếu thể thao, quy định chương trình văn hoá phổ thông giảng dạy trong trường năng khiếu thể thao, quy định và hướng dẫn các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về TDTT tham gia hoạt động GDTC và thể thao trong nhà trường + Các văn bản của Hội đồng nhân dân và UBND cấp tỉnh thực thi các vấn đề GDTC và thể thao trong nhà trường theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cấp trên là rất quan trọng trực tiếp đưa chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước được quy định trong luật pháp vào thực tiễn của cuộc sống

Thực tiễn triển khai thực hiện Luật Thể dục, thể thao thời gian qua cho thấy Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành và quy định chi tiết một số điều của các đạo luật trên Để đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường [8]

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật thực hiện các quy định về giáo dục đào tạo nói chung trong đó có GDTC và thể thao trong nhà Trường theo luật định

Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ VHTT & DL đang tiếp tục thực hiện các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 20; phối hợp với Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư, chế độ chính sách cho GDTC và thể thao trong nhà trường.[9]

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi quản lý của mình chỉ đạo hướng dẫn tổ chức thực hiện việc xây dựng cơ sở vật chất, bố trí giáo viên, giảng viên TDTT cho các trường

UBND cấp tỉnh nhiều nơi đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật triển khai thực hiện những nội dung quy định tại Khoản 4 Điều 20 của Luật Thể dục, Thể thao và theo hướng dẫn thi hành luật của các cấp trên [10]

Trang 18

Nhìn chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về GDTC và thể thao của nước ta hiện nay tương đối đầy đủ và có tính pháp lý cao, phù hợp với điều kiện cụ thể của nền kinh tế xã hội nước ta hiện nay, đồng thời mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa nhân văn sâu sắc vì sự phát triển toàn diện nhân cách của thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tuy nhiên, với những quy định trong Luật TDTT để bảo đảm cho người dạy và người học thụ hưởng được quyền lợi theo luật định và có nghĩa vụ tương ứng thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại luật này cần tổ chức nghiên cứu và kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, thực thi Luật, giúp cho các tổ chức

cá nhân hiểu đúng và thực sự đưa Luật vào cuộc sống một cách sinh động đáp ứng yêu cầu về GDTC và thể thao trong nhà trường ngày càng lớn, đồng thời để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật, nhằm đạt được mục tiêu của công tác GDTC và thể thao đã đặt ra

Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V đã nêu lên ý nghĩa của việc tập luyện TDTT quần chúng, bồi dưỡng, xây dựng phẩm chất tốt đẹp cho con người mới xã hội chủ nghĩa [11] Văn kiện có nêu: “TDTT là một bộ phận không thể thiếu được trong công cuộc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Đảng và nhà nước phải chăm lo hơn nữa phát triển TDTT nhằm góp phần tăng cường sức khỏe nhân dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp cho con người như lòng dũng cảm, khéo léo, trí thông minh và óc thẩm mỹ, tinh thần tập thể và lòng trung thực…”

Nhằm mục đích mở rộng chất lượng TDTT trong các lĩnh vực, nghị quyết Đại hội Đảng lần VI nêu rõ: “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, đưa việc rèn luyện thân thể thành thói quen hằng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết

là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng GDTC trong các Trường học…” [12]

Mục đích đẩy mạnh công tác TDTT trong giai đoạn mới Chỉ thị số 36-CT/TW ngày

24 tháng 3 năm 1994 nhấn mạnh: “Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh

Trang 19

thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang” [4]

“Ngành TDTT cần đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào trong lĩnh vực TDTT, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên TDTT, huấn luyện viên, tiếp tục đổi mới tổ chức, quản lý TDTT theo hướng xã hội hóa…”

Nhằm tăng cường phát triển phong trào TDTT nước nhà, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với từng bước phát triển chung của phong trào Ngày 23/ 10/2002 Ban

bí thư Trung ương Đảng, triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 17 – CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và phương hướng, nhiệm vụ về phát triển Thể dục - Thể thao đã được Đại hội lần thứ X Đảng bộ tỉnh xác định, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung thực hiện tốt những việc cần thiết để nâng cao thế mạnh nền Thể thao nước nhà như: “Có kế hoạch chỉ đạo phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục thể thao quần chúng ở sở xã, phường, thị trấn, trường học cho tất cả các đối tượng, lực lượng

vũ trang; chú trọng địa bàn nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đảm bảo đến năm 2005 có 15 – 20% và năm 2010 có 25% dân số luyện tập thể dục - thể thao thường xuyên”.[13]

Bên cạnh đó chỉ thị còn nhấn mạnh phải phát triển mở rộng hoạt động TDTT trong đội ngũ cán bộ giáo viên, học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục Thể thao trong Trường học và qui định “Trường học phải có sân tập, từng bước xây dựng phòng tập thể dục đúng tiêu chuẩn Ngành giáo dục – đào tạo chủ động phối hợp với ngành thể dục thể thao

và các ngành liên quan tiến hành xây dựng các Câu lạc bộ thể dục thể thao trong trường học” [13]

Nhận thức sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại “Vì sự nghiệp mười năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người” [14], để sự nghiệp trồng người gặt hái được những thành quả tốt đẹp, cần có sự kết hợp hài hòa của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố giáo dục trí thể lực cho con người là vô cùng quan trọng, vì thế trong suốt nhiều năm qua, mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ - những người chủ tương lai của đất nước, để thế hệ trẻ của dân tộc ta được phát triển cao không chỉ về trí tuệ, mà còn phát triển mạnh mẽ cả về thể chất – luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng quan

Trang 20

tâm, hoạch định triển khai Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII đã khẳng định: “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà phải là con người cường tráng

về thể chất [15]

Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các ngành, các đoàn thể, trong đó có giáo dục – đào tạo, y tế, TDTT Tới Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 9, khóa X cũng vẫn giữ vững quan điểm cần phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo một cách toàn diện

1.2 Một số khái niệm liên quan

1.2.1 Sức khỏe:

Sức khỏe là vốn quý của con người Có sức khỏe thì chúng ta mới có thể thực hiện được những ước mơ, hoài bão, những lý tưởng, những điều mà chúng ta cho rằng khó trở thành hiện thực

Theo tổ chức Y tế Thế giới ( OMS-1946) “ Sức khỏe là một trạng thái hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ có nghĩa là không có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả”, [16, tr.82]

điểm tương đối ổn định về cấu trúc hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, nhân tố tâm lý

được biểu hiện trên cơ sở di truyền và khả năng đạt được (trong đời sống, trong lao

động, huấn luyện thể thao…) thể chất biểu hiện rất nhiều mặt, trong đó có tố chất thể lực

Nhiều tác giả sinh lý và sư phạm thể thao cho rằng: Tố chất thể lực bao gồm các năng lực nhanh, mạnh, bền…của cơ thể

1.2.3 Giáo dục thể chất:

Trang 21

Thuật ngữ giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Ở nước ta, do bắt nguồn từ Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất là thể dục với nghĩa tương đối hẹp, vì định nghĩa rộng của từ Hán – Việt thể dục còn có nghĩa là thể dục thể thao

Thường người ta coi giáo dục thể chất là một bộ phận của hoạt động thể dục thể thao Nhưng khi nghiên cứu một cách chính xác hơn, giáo dục thể chất còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình có tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị thuộc về kiến thức của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục chung, [18]

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: “ Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động ( động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người” [10, tr 18] Từ quan niệm trên ta có thể coi phát

triển thể chất là một phần hệ quả của giáo dục thể chất Quá trình phát triển thể chất là sự kết hợp giữa yếu tố bẩm sinh tự nhiên và tác động có chủ đích, hợp lý của giáo dục thể chất mang lại

PGS.TS Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “Giáo dục thể chất là một bộ phận của TDTT Giáo dục thể chất còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường)… Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người”

Với mục tiêu góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế

và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa về mọi mặt, có sức lực cường tráng, có năng lực hoạt động chuyên môn độc lập, sáng tạo, có tư tưởng, đạo đức tác phong lành mạnh, trong sáng đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, GDTC đã trở thành nội dung quan trọng không thể thiếu trong chương trình đào tạo của trường ĐH,

CĐ & THCN

1.2.4 Thể lực:

Thể lực là sức lực của cơ thể, biểu hiện qua các tố chất thể lực Tố chất thể lực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người, bao gồm: Nhanh, mạnh, bền,

Trang 22

khéo léo, mềm dẻo Tố chất thể lực thường được thể hiện trong khi làm động tác và phụ thuộc vào cấu trúc của động tác Ngoài ra, việc thể hiện các tố chất còn phụ thuộc vào trạng thái người tập và điều kiện thực hiện

Các tố chất sức nhanh, sức mạnh, sức bền và mềm dẻo là những yếu tố mang tính năng lượng (vì phụ thuộc vào việc cung cấp năng lượng), còn khả năng phối hợp vận động (khéo léo) là một yếu tố mang tính thần kinh – cơ ( vì chủ yếu liên quan đến sự điều khiển của hệ thần kinh – cơ) Hai thuật ngữ tố chất thể lực và tố chất vận động tương đồng về nghĩa vì cùng phản ánh những nhân tố, những mặt tương đối khác nhau của thể lực con người Tuy nhiên, khi nói tố chất vận động là muốn nhấn mạnh việc điều khiển động tác của hệ thần kinh trung ương Còn khi nói tố chất thể lực là muốn nhấn mạnh đến đặc trưng sinh học của cơ thể [20]

1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý sinh viên

1.3.1 Đặc điểm sinh lý sinh viên :

Đa số sinh viên có độ tuổi từ 18-25 Cơ thể của người từ lúc sinh ra đến khoảng 25 tuổi phát triển theo hướng đi lên, sau đó chậm dần và suy giảm theo quy luật sinh học Từ đó

sự thích nghi của các hệ thống cơ quan quan trọng trong cơ thể con người đối với những điều kiện sống mới và thay đổi của môi trường cũng trở nên khó khăn Ở lứa tuổi này về

cơ bản các cơ quan và hệ thống quan trọng nhất của cơ thể ngừng phát triển theo chiều cao vì bộ xương đã được xương hóa, nhưng lại phát triển mạnh theo chiều ngang và tăng trọng lượng của cơ thể Nếu được tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên thì mức độ linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi Song khả năng giải giải phẫu sinh lý của khớp phải là yếu tố quyết định khi lựa chọn động tác trong luyện tập thể dục thể thao[21]

Ở lứa tuổi từ 18 đến 25, cơ bắp đã phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để tập luyện phát triển sức mạnh và sức bền Cơ thể con người có năng lực hoạt động cao Tập luyện thể dục thể thao có hệ thống, khoa học sẽ làm tăng lực co cơ chính là nhờ tăng số lượng

và tiết diện ngang cũng như tăng dần sự đàn hồi của cơ [22]

Trang 23

1.3.1.1 Hệ thần kinh:

Các tổ chức thần kinh tiếp tục phát triển chậm để đi đến hoàn thiện, khả năng tư duy phân tích tổng hợp, trừu tượng hóa phát triển thuận lợi cho sự hình thành phản xạ có điều kiện Chức năng của hệ thống thần kinh trung ương thể hiện ở 3 đặc trưng chủ yếu của quá trình thần kinh mà Pap - Lốp đã chỉ ra cường độ hưng phấn và ức chế; tính cân bằng của quá trình hưng phấn và ức chế; tính sinh hoạt chuyển đổi giữa hai quá trình trên Thời gian phản xạ là chỉ tiêu thăm dò đặc tính kết cấu và chức năng phản xạ vận động Nó gián tiếp phản ánh loại hình thần kinh, trực tiếp phản ánh trạng thái tức thời và khả năng điều khiển của vỏ não đối với cơ quan vận động của con người [22]

1.3.1.2 Hệ vận động:

- Xương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, phần sụn ở đầu xương đã được xương

hóa, cột sống ổn định hình dáng Những xương thường xuyên chịu những lực tác động cơ học lớn thì giàu chất vô cơ, vì thế xương đùi dài, nhất là xương chày cứng rắn hơn xương cánh tay Chiều cao cơ thể con người phụ thuộc vào yếu tố di truyền, vì thế trong công tác tuyển chọn tài năng thể dục thể thao chúng ta không bỏ qua yếu tố quan trọng này

- Cơ: Các cơ lớn phát triển tương đối nhanh và các cơ nhỏ phát triển chậm hơn

Các cơ co phát triển chậm hơn các cơ duỗi [23]

1.3.1.3 Hệ tuần hoàn:

- Mạch đập: Hệ tuần hoàn đang phát triển và hoàn thiện Tim nam mỗi phút đập

70 - 80 lần Mạch đập này được tạo nên hoạt động của tim Tần số mạch đập bằng tần số

co bóp của tim Chỉ số mạch lúc yên tĩnh sẽ thay đổi nhiều dưới tác động tập luyện thể dục thể thao Bắt mạch là phương pháp đơn giản, dễ làm và cho ra những thông tin đáng tin cậy về tình trạng chức năng của hệ tuần hoàn, để đánh giá chức năng cơ thể con người trong cuộc sống cũng như hoạt động thể dục thể thao

- Huyết áp: Là áp lực máu đè lên thành mạch được tạo nên do hoạt động của tim

Vì có trở lực của các mao mạch cho nên trong động mạch huyết áp tăng lên trong thời gian tâm thu và đạt mức cao nhất ở cuối thời gian tâm thu Đó là huyết áp tối đa tương ứng với thời gian tâm thu Nó phụ thuộc vào các yếu tố: sự co bóp của tim, trở lực của mạch máu ngoại biên lớn nên huyết áp trong thời gian tâm trương vẫn còn ở mức nhất định Đó là huyết áp tối thiểu và nó phụ thuộc vào huyết áp tối đa, trợ lực của mạch ngoại

Trang 24

biên và tính đàn hồi của thành động mạch Bình thường huyết áp tối đa từ 100 - 150 mmHg; Dưới 100 mmHg là huyết áp thấp Trên 130 mmHg là huyết áp cao Huyết áp tối thiểu từ 65 - 85mmHg là trung bình Chỉ số huyết áp bình thường phụ thuộc vào lứa tuổi

và giới tính Chỉ số huyết áp là chỉ số tương đối ổn định, trong tập luyện thể dục thể thao huyết áp ít thay đổi [23][24]

1.3.1.4 Hệ hô hấp:

Xác định khả năng tối đa của độ sâu hô hấp Vì vậy, nó là các chỉ số quan trọng

về khả năng hoạt động của bộ máy hô hấp Dung tích sống phụ thuộc vào dung tích chung và sức mạnh của các cơ hô hấp, vào lực cản của lồng ngực và phổi khi chúng co giãn Dung tích sống của phổi bao gồm thể tích hô hấp, thể tích khí hút vào bổ sung và thể tích sự trữ thở ra Dung tích sống của mỗi người rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước cơ thể, giới tính và lứa tuổi Ở Việt Nam dung tích sống trung bình của lứa tuổi 20

- 25 nam là 3500 ml và nữ là 2600 ml Để xác định dung tích sống, người ta sử dụng phế dung kế Trong thực tiễn hoạt động thể dục thể thao để xác định dung tích sống của phổi, người ta sử dụng test Rozenfall

Trong hoạt động thể dục thể thao lượng thông khí phổi tăng dần lên phụ thuộc vào công suất hoạt động Hoạt động với công suất thấp, thông khí phổi tăng lên chủ yếu là do tăng khí lưu thông Hoạt động với công suất tăng dần thì tần số hô hấp tăng song song với thông khí phổi, khi lưu thông tăng lên gần tới giới hạn của dung tích sống Như vậy

để có lượng khí lưu thông tăng cao, sự tham gia của các cơ hô hấp là yếu tố quan trọng.[21]

1.3.2 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi sinh viên

Thế giới tâm ký của con người vô cùng kì diệu và phong phú, được loài người quan tâm nghiên cứu cùng với sự hình thành và phát triển nhân loại, từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý thì tâm lý học đã hình thành, phát triển không ngừng và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nhóm các khoa học về con người

Bất kì cá nhân nào cũng mang trong mình hai thuộc tính sinh vật và xã hội hay nói một cách tương đối con người có 2 thành phần thể xác và tinh thần phần tinh thần bao gồm tất cả những hiện tượng diễn ra trong đầu óc con người như: cảm giác, tri giác,

tư duy tư tưởng, trí nhớ, tình cảm, cảm xúc, nhu cầu, động cơ mục đích thói quen, cách

Trang 25

nhìn nhận các suy nghĩ…tất cả hiện tượng đó điều là tâm lý Tâm lý là toàn bộ những hiện tượng thuộc thế giới tinh thần của con người

- Đặc điểm tâm lý của hoạt động giáo dục thể chất

Trong hệ thống giáo dục thể chất mang tính bắt buộc

+ Đặc điểm tâm lý của hoạt động giáo dục thể chất

Giảng dạy bài tập thể chất khác với truyền thụ và tiếp thu tri thức lý luận ở chỗ: Bài tập thể chất luôn gắn liền với hoạt động cơ bắp, kết quả của người học phụ thuộc vào phương pháp sư phạm của người dạy dạy các động tác tương ứng như thế nào

để người học biết cách thực hiện, hình thành kĩ xảo động tác đồng thời phát triển tố chất vận động (nhanh, mạnh, bền…)

Giáo dục thể chất không những tác động đến sự hình thành các phẩm chất đạo đức tình cảm, ý chí của người tập mà còn phát huy được tính sáng tạo, lòng dũng cảm, tinh thần đồng đội, lòng yêu nước

Giáo dục thể chất không chỉ giúp người tập tiếp thu thực hiện được bài tập mà còn giáo dục con người phát triển toàn diện, con người mới của xã hội chủ nghĩa để họ sẵn sàng tham gia các hoạt động lao động, học tập và bảo vệ tổ quốc

Trong quá trình giáo dục thể chất nâng cao kết quả giáo dục, trước tiên người thầy phải giúp người học biết dược mục đích, tác dụng của giáo dục thể chất đối với việc củng cố, tăng cường sức khỏe phục vụ lao động sản xuất, học tập và xây dựng bảo vệ tổ quốc Được như vậy người học sẽ có động cơ học tập, từ đó tự giác học tập Từ đó động tác tích cực rèn luyện và dần hình thành thói quen luyện tập

Trong giáo dục thể chất, để nâng cao hiệu quả của bài tập và đạt được mục đích của nó là củng cố nâng cao sức khỏe cho người rèn luyện thì trong quá trình giảng dạy

Trang 26

phải biết sử dụng tác động của môi trường xung quanh, các yếu tố vệ sinh trong môi trường tập luyện

Để giáo dục toàn dân mang tính xã hội và tình nguyện thì giáo dục thể chất dần dần được xã hội hóa mọi người cùng tham gia thúc đẩy phát triển

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Ở đây, chúng tôi quan tâm đến sinh viên, những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, đại học Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng hạn sinh viên đang học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó

họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của

họ

Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn

Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác

Trang 27

nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín mùi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sinh viên

Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân

họ

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên

1.4 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực lứa tuổi sinh viên:

Tố chất thể lực của con người là tổng hòa chất lượng của cơ thể biểu hiện trong từng điều kiện cụ thể của đời sống, lao động, học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động thể dục thể thao Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của các tố chất thể lực Thể dục thể thao là phương tiện để nâng cao khả năng vận động góp phần cải tạo thể chất con người

Trang 28

Các nhân tố về trạng thái chức năng của hệ thần kinh, chất lượng của các cơ quan vận động và chức năng của các cơ quan đảm bảo năng lượng cho cơ thể hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đến các tố chất thể lực Hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất vận động

Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý thể dục thể thao và lý luận phương pháp thể dục thể thao về tố chất thể lực, chúng tôi đi sâu phân tích đặc điểm của từng tố chất thể lực

1.4.1 Tố chất sức nhanh

Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ thể vận động tốc độ nhanh,

là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người, nó qui định đặc tính tốc độ động tác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập nhau, đặc biệt là thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau

Các hình thức phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền anh, tốc độ dẫn bóng trong bóng đá Các hình thức sức mạnh đơn giản liên quan chặt chẽ với kết quả sức nhanh phức tạp[25]

Sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: tốc độ phản ứng, tốc độ động tác, tần số động tác Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các hình thức sức nhanh là

độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh[26] Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế làm cho các noron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số động tác Tốc độ co cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Các bó cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A có khả năng tốc độ cao Tốc độ co cơ còn chịu ảnh hưởng

Trang 29

của hàm lượng ATP (Adenozin Tri Photphat) và CP (Creatin Photphat) Đây là nguồn năng lượng có sẵn trong cơ giúp cho quá trình co cơ được thực hiện nhanh Tố chất nhanh mang tính chất di truyền, phụ thuộc vào các quá trình hóa học trong cơ, vào tần số động tác và quá trình tâm lý

Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 đến 13 tuổi, nếu không được tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn từ 16 đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nâng cao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hết sức chú ý đến đặc điểm của lứa tuổi, có như thế thì kết quả huấn luyện mới đem lại như mong muốn[21], [19], [17]

Để huấn luyện sức nhanh có thể dùng các bài tập chuyền bắt bóng, với các hướng thay đổi đột ngột Các trò chơi vận động để phát triển sức nhanh và phản ứng động tác Trong động tác với tốc độ lớn, hoạt động của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức độ không kịp co lại nhiều vì thực tế hoạt động theo chế độ đẳng trương Người ta thừa nhận rằng tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh, tức là phụ thuộc vào tốc độ luân chuyển giữa trạng thái hưng phấn và ức chế ở trung khu vận động

Vì vậy trong một buổi tập, thường áp dụng bài tập để phát triển sức nhanh vào đầu phần

cơ bản[17], [19]

Phương pháp cơ bản để phát triển sức nhanh là phương pháp lặp lại song để tránh

sự đơn điệu người ta có thể sử dụng các trò chơi như chạy tiếp sức, các trò chơi với bóng

…Trong giáo dục sức nhanh để phá vỡ “Hàng rào tốc độ” có thể áp dụng các bài tập chạy xuống dốc, chạy theo người có tốc độ nhanh hơn, chạy theo người đạp xe…[21], [19], [17]

1.4.2 Tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc để kháng lại nó bằng cơ bắp Trong bất kỳ một hoạt động nào của con người đều có sự tham gia của hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học

có trị số khác nhau cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh

Ngày đăng: 24/08/2016, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý học TDTT. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2003
19. Lâm Quang Thành – Nguyễn Thành Lâm (2005) – Đo lường thể thao – TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
20. Trịnh Hùng Thanh (2000), Cơ sở lý luận các tố chất thể lực, tài liệu dùng cho học viên cao học, Trường Đại học TDTT TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận các tố chất thể lực, tài liệu dùng cho học viên cao học
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh
Năm: 2000
21. Lưu Quang Hiệp – Phạm Thị Uyên (1995) – Sinh lí học Thể dục Thể thao – Nxb TDTT HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lí học Thể dục Thể thao
Nhà XB: Nxb TDTT HN
22. Nôvicốp A.D. Mátvêép L.P (1979), “ Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất”, 2, Nxb TDTT HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất”
Tác giả: Nôvicốp A.D. Mátvêép L.P
Nhà XB: Nxb TDTT HN
Năm: 1979
23. Trịnh Hùng Thanh – Lê nguyệt Nga – Trịnh Trung Hiếu (1998) - Sinh cơ và huấn luyện Thể dục Thể thao – Nxb TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh cơ và huấn luyện Thể dục Thể thao
Nhà XB: Nxb TP.HCM
24. Trịnh Hùng Thanh – Lê nguyệt Nga – Cơ sở sinh học và sự phát triển tài năng thể thao – Nxb TDTT Hà Nội – 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và sự phát triển tài năng thể thao
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội – 1993
25. Viện Khoa Học TDTT – Thực trạng thể chất người Vệt Nam từ 6 đến 20 tuổi thời điểm năm 2001 – Nxb TDTT – 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thể chất người Vệt Nam từ 6 đến 20 tuổi thời điểm năm 2001
Nhà XB: Nxb TDTT – 2003
26.. Nguyễn Văn Thái (2010) - Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. So sánh thực trạng thể lực nam sinh viên Đại học Cần Thơ khóa 39 học  Cầu  lông  với  nam  sinh  viên  19  tuổi  theo  tiêu  chuẩn  phân  loại  của  Bộ  GD&ĐT  số  53/2008/QĐ – BGD&ĐT, năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.2. So sánh thực trạng thể lực nam sinh viên Đại học Cần Thơ khóa 39 học Cầu lông với nam sinh viên 19 tuổi theo tiêu chuẩn phân loại của Bộ GD&ĐT số 53/2008/QĐ – BGD&ĐT, năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo (Trang 45)
Bảng 3.3 Thang điểm lực bóp thuận tay - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.3 Thang điểm lực bóp thuận tay (Trang 46)
Bảng 3.5 Thang điểm bật xa tại chỗ - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.5 Thang điểm bật xa tại chỗ (Trang 47)
Bảng 3.4 Thang điểm nằm ngửa gập bụng - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.4 Thang điểm nằm ngửa gập bụng (Trang 47)
Bảng 3.6 Thang điểm chạy 30m xuất phát cao - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.6 Thang điểm chạy 30m xuất phát cao (Trang 48)
Bảng 3.7 Thang điểm chạy con thoi 4x10m - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.7 Thang điểm chạy con thoi 4x10m (Trang 48)
Bảng 3.8 Thang điểm chạy tùy sức 5 phút - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.8 Thang điểm chạy tùy sức 5 phút (Trang 49)
Bảng 3.9. Kết quả xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.9. Kết quả xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nam sinh viên khóa 39 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w