1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nữ sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục

53 675 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Đại hội Đảng khóa X đã khẳng định “ Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao cả về số lượng và chất lượng, phát triển sự nghiệp thể dục thể thao toàn dân, toàn diện, phát triển mạ

Trang 1

2013 – 2014

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Cần Thơ, năm 2015

Trang 2

BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

-oo0oo -

ĐỖ HỒNG TƠ MSSV: 9117025 XÂY DỰNG THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC NỮ SINH VIÊN KHÓA 39 HỆ KHÔNG CHUYÊN THỂ DỤC THỂ THAO HỌC BÓNG CHUYỀN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ HỌC NĂM HỌC

2013 - 2014

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Cán bộ hướng dẫn NGUYỄN VĂN THÁI

Cần Thơ, năm 2015

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đại hội Đảng khóa X đã khẳng định “ Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao cả

về số lượng và chất lượng, phát triển sự nghiệp thể dục thể thao toàn dân, toàn diện, phát triển mạnh thể dục thể thao trong lực lượng thanh thiếu niên, sinh viên, học sinh đặc biệt là công tác giáo dục thể chất trường học” nhằm đưa đất nước phát triển cao

hơn về mọi mặt và hội nhập quốc tế…

Vai trò của giáo dục thể chất có ý nghĩa rất quan trọng nên không thể thiết được trong hoạt động giáo dục và là một mặt của giáo dục toàn diện gồm: Đức học, trí học, thể dục, mỹ dục Quyết định số 931/QĐ – BGD&ĐT ngày 29 tháng 04 năm 1993 của

Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về việc ban hành quy chế về công tác giáo dục

thể chất trong nhà trường các cấp có ghi rõ:“Giáo dục thể chất được thực hiện trong

hệ thống nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện Giáo dục thể chất là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm giúp cho con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú

về tinh thần, trong sáng về đạo đức, thể chất – sức khỏe tốt là nhân tố quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”

Quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết”[8]

Để thực hiện theo quan điểm chỉ đạo trên, nhiều trường đại học trên cả nước đều ra sức định hướng về tăng cường đổi mới nâng cao chất lương giáo dục cho tương lai, trong đó có Trường Đại học Cần Thơ

Trường Đại học Cần Thơ, cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm của Nhà nước ở Đồng bằng Sông Cửu Long, là trung tâm văn hóa – khoa học kỹ thuật của vùng Nhiệm vụ chính của trường là đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong khu vực, có bề dày lịch sử phát triển, đến nay đã được 48 năm đào tạo, là một trường đào tạo đa ngành đa nghề với: 13

Trang 4

ngành tiến sĩ, 34 ngành thạc sĩ, 93 ngành đại học và 2 ngành cao đẳng trực thuộc 17 khoa, viện, bộ môn trực thuộc Tổng số học viên và sinh viên của trường Đại học Cần Thơ hiện nay là khoảng 61.821 người

Chất lượng đào tạo Trường Đại học Cần Thơ hiện nay có những bước tiến quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn giáo dục quốc gia và quốc tế (tiêu chuẩn AUN hay tiêu chuẩn ABET đặc thù cho khối ngành kỹ thuật công nghệ), Trường đã có chương trình đào tạo đầu tiên (Kinh tế Nông nghiệp) được công nhận đạt chuẩn AUN và chính thức trở thành thành viên trong mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á (AUN) vào tháng 7/2013; Thứ hạng Trường theo Webometrics được nâng lên rõ rệt (định kỳ tháng 01/2014 đạt hạng 39/100 trường hàng đầu khu vực Đông Nam Á, hạng 02 trong các trường đại học Việt Nam; so với tháng 7/2013 hạng

51 Đông Nam Á, hạng 03 trong số các trường đại học Việt Nam)

Qua kinh nghiệm học tập, quan sát…Để đạt hiệu quả trong công tác giáo dục thể chất thì giáo viên cần phải phát huy được tính tự giác, tích cực cho người học để có thể tham gia rèn luyện thể chất và tập luyện các môn thể thao một cách thường xuyên, tích cực, liên tục…phát triển thể lực góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trên, là 1 sinh viên ngành giáo dục thể chất tôi muốn cống hiến công sức nhỏ đễ nghiên cứu tố chất thể lực và nâng cao chất lượng

giảng dạy của bộ môn nên tôi mạnh dạn chọn đề tài“Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nữ sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục thể thao học môn bóng chuyền trường Đại học Cần Thơ năm học 2013- 2014”

 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng thang điểm đánh thể lực nữ sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục thể thao học môn bóng chuyền trường Đại học Cần Thơ học năm học 2013- 2014

 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nhiệm vụ 1: Thực trạng thể lực của nữ sinh viên khóa 39 hệ không chuyên

thể dục thể thao học môn bóng chuyền trường Đại học Cần Thơ học năm học 2013-

2014

Trang 5

Nhiệm vụ 2: Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực cho nữ sinh

viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục thể thao học môn bóng chuyền Đại học Cần Thơ học năm học 2013- 2014

Trang 6

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác Giáo dục thể chất trong trường học:

1.1.1 Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện:

Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xây dựng chủ nghĩa nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức và hoàn thiện thể chất Trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên được coi là một mặt giáo dục, vừa là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện,

có sức khỏe dồi dào, có thể chất cường tráng, có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp của Đảng và nhân dân một cách đắc lực Cùng với các mặt hoạt động khác, quá trình Giáo dục thể chất giúp cho học sinh, sinh viên hoàn thiện nhận cách và các phẩm chất khác, nhằm đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống và nghiệp vụ chuyên môn

Tư tưởng con người phải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tình cảm đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước Từ nhà triết học cổ đại Hy Lạp A-ris-tốt, những nhà theo chủ nghĩa nhân đạo thời phục hưng như Mông-ten, những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng như Xanh-xi-mông, đến những nhà bác học vào giai đoạn nỗi tiếng của Nga như M.V.Lô mô nô xốp, V.G Belinski, N.G strecnusepski và những người khác nữa đã tạo ra và bảo vệ tư tưởng học thuyết về phát triển hài hòa giữa năng lực tình cảm và tinh thần của con người [ 3]

Các Mác và Ăng – ghen đã chứng minh sự phát triển của giáo dục phụ thuộc vào điều kiện sống vật chất, khám phá ra bản chất xã hội, bản chất giai cấp, đồng thời còn chỉ ra rằng trong Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản tương lai của con người phát triển toàn diện là tất yếu khách quan, bởi vì đó là nhu cầu của xã hội Nhấn mạnh vấn đề này ,

Mác đã viết: “ Kết hợp với lao động sản xuất với trí dục và thể lực Đó là những biện

pháp để tăng sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” [ 4, tr495] “ Nền giáo dục trong xã hội tương lai khi mà

trẻ em đã qua độ tuổi nhất định nào đó, lao động sản xuất sẽ kết hợp với tri thức và thể

Trang 7

dục, không chỉ với tư cách là một phương pháp duy nhất để đào tạo những con người phát triển toàn diện”

Lê Nin tiếp tục đi sâu vào sáng tạo học thuyết về giáo dục toàn diện người nhấn

mạnh: “ Thanh niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, còn có thể thao lành mạnh

, thể dục, bơi lội, thăm quan, các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần, học tập, phân tích, nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau” [ 5, tr.29]

1.1.2 Quan điểm Hồ Chí minh về giáo dục con người toàn diện:

Hồ Chí Minh được thế giới công nhận danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới Suốt đời Bác đã hy sinh vì nền độc lập dân tộc, lãnh đạo tài tình cuộc cách mạng giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thành công Bác là người trung thành với học thuyết Mác – Lê Nin Trong chỉ đạo công tác cách mạng và lãnh đạo sự nghiệp phát triển dân tộc Bác cũng rất quan tâm công tác Thể Dục Thể Thao, coi đó là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thanh niên

Tháng 3 năm 1941 trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh Bác Hồ

đã nêu rõ: “ Khuyến khích và giúp đỡ nền TDTT quốc dân, làm cho nòi giống thêm

khỏe mạnh”

Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 năm 1946

Người đã viết: “ Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng

cần có sức khỏe mới thành công Mỗi người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh Vì vậy “ Luyện tập thể dục bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước [ 22]

Trong thư gửi hội nghị cán bộ thể dục thể thao toàn miền Bắc 31 tháng 3 năm

1960 Bác đã dạy: “ Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức

khỏe Muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên tập luyện thể dục thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể duc thể thao cho rộng khắp” Đồng thời Bác

còn căn dặn: “ Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và

hăng hái công tác”, nhằm phục vụ sức khỏe toàn dân Về vị trí của TDTT trong xã hội

Người khẳng định: “ Là một trong những công tác cách mạng khác”

Trang 8

Quan điểm đó của Người đã được Đảng và nhà nước ta thực hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, trở thành kim chỉ nam trong hoạt động TDTT, nhằm nâng cao thể chất con người, được khẳng định qua các chỉ thị, nghị quyết trong suốt thờ kỳ lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân và tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội

với chủ trương: “ Từng bước xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩa phát triển cân đối,

có tính chất độc lập , khoa học và nhân dân” Công tác TDTT cần coi trọng, nâng cao

chất lượng giáo dục trong trường học, tổ chức, hướng dẫn, vận động đông đảo nhân dân rèn luyện hàng ngày Mục tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ, tăng cường sức khỏe của nhân dân

1.1.3 Quan điểm đường lối của Đảng và nhà nước về Giáo dục thể chất và thể thao trường học:

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, thực hiện tư

tưởng chủ đạo của Hồ Chủ Tịch, Đảng và nhà nước ta không ngừng tạo điều kiện để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực

Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1994 của ban bí thư trung ương Đảng khóa VII, giao trách nhiệm cho bộ GD & ĐT và tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC cải tiến chương trình giáo dục tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho trường học các cấp, tạo điều kiện cẩn thiết cho cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên Qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho đất nước

Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41 quyết

định: “ Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ

GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao

Tại đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, các vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng trong lĩnh vực TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao, GDTC trong trường

học và phát triển lực lượng vận động viên trẻ đã được đề cập thảo luận “ Mở rộng và

nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân

Trang 9

thể thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học”

Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX, nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thong qua ngày 02 tháng 12 năm 1990 và pháp lệnh TDTT được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua tháng 09 năm 2000 quy định: Nhà nước coi trọng TDTT trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên và nhi đồng Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện cho

hệ thống giáo dục quốc dân từ mần non cho đến đại học TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho người học Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm, lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là một

bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ

tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…

Văn kiện đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu chuẩn bị tốt hành trang cho thế

hệ trẻ đồng thời khẳng định “ Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu bản thân của con

người là vốn quý để tạo ra tài sản, trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội của các cấp, các ngành, các đoàn thể”

Nghị quyết đại hội Đảng IX đã xác định mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Muốn đạt được mục tiêu này chúng ta phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xây dựng lại cơ cấu đội ngủ lao động phục vụ phát triển kinh tế trong thành công của sự nghiệp này, đòi hỏi người lao động phải được chuẩn bị tốt về thể chất Chăm lo cho con người về mặt thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất

cả các ngành các cấp, các đoàn thể Trong đó có giáo dục và đào tạo, y tế, thể dục thể thao

Chỉ thị 17/CT – TW ngày 23 tháng 10 năm 2002 của Ban bí thư trung ương Đảng

nêu rõ: “ Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học, đảm bảo mỗi trường học đều có

giáo viên TDTT Tăng cường đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực thể dục thể thao”

Để tạo điều thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp thể thao nước nhà, thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 133/ TG về việc xây dựng quy hoạch ngành TDTT,

Trang 10

trong đó ghi rõ: “ Ngành TDTT phải xây dựng định hướng có tính chất chiến lược,

trong đó quy định các môn thể thao và các hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của thể thao quần chúng, khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”

BGD&ĐT đã kịp thời có những chỉ thị, quyết định chỉ đạo thực hiện công tác GDTC trong trường học, như việc ban hành quy chế GDTC và y tế trường hoc trong nhà trường các cấp Theo quy định số 14/2001 ngày 03 tháng 05 năm 2001, Bộ tiếp tục khẳng định vị trí vai trò GDTC là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ

và tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên

Đảng và nhà nước ta định hướng và vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và phát triển những quan điểm về TDTT ứng với từng giai đoạn cách mạng cụ thể, nhằm phục vụ nhiệm

vụ chiến lược của Đảng và dân tộc Trong từng thời kỳ cách mạng, từng theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tiễn Đảng và nhà nước luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời, chủ trương đúng đắn để chỉ đạo phong trào TDTT Lần lượt rất nhiều hiến pháp, nghị quyết, chỉ thị về công tác TDTT được Đảng và nhà nước ban hành, các bộ luật, luật và pháp lệnh các văn bản pháp luật xây dựng qua đó nhiều chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước có liên quan đến quyền và nghĩa vụ mọi công dân, phục vụ cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, tạo ra môi trường pháp lý Đáp ứng những yêu cầu cấp bách của việc xây dựng một xã hội công bằng văn minh

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam năm 1992 Điều 41 ghi “

Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học” Điều đó đã khẳng định

sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta đối với công tác TDTT và GDTC trong nhà trường, coi đó là nhiệm vụ cấp thiết và liên tục của Đảng, toàn dân [7]

Luật giáo dục một văn bản pháp luật về giáo dục thống nhất có hiệu lực pháp lý cao, thể chế đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về giáo

dục:“Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân

tộc, khoa học, hoạt động, lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”

Trang 11

Ngày 18 tháng 09 năm 2008, BGD&ĐT ban hành quyết định số 53/2008/QĐ – BGD&ĐT về việc ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên Đây là cơ sở để các trường tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên trường mình

Luật TDTT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua

ngày 29/11/2006, Mục 02 – Điều 20 quy định:“Giáo dục thể chất là một môn học

chính khóa trong chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động

cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”

Tóm lại, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói

chung, của ngành TDTT nói riêng Đó chính là phương hướng cơ bản, quan trọng nhất của nền giáo dục nước ta

Để đảm bảo cho công tác TDTT phát triển đúng hướng, cần tạo sự quản lý thống nhất của nhà nước, xúc tiến quá trình xã hội hóa TDTT trong các tổ chức và cơ sở hoạt động, nhất là trong mạng lưới rộng lớn các trường học từ mẫu giáo đến đại học, bởi vì thể thao học đường là cái nôi đào tạo tài năng thể thao cho đất nước

1.2 Một số khái niệm liên quan

1.2.1 Sức khỏe:

Sức khỏe là vốn quý của con người Có sức khỏe thì chúng ta mới có thể thực hiện được những ước mơ, hoài bão, những lý tưởng, những điều mà chúng ta cho rằng khó trở thành hiện thực

Theo tổ chức Y tế Thế giới ( OMS-1946) “ Sức khỏe là một trạng thái hài hòa về

thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ có nghĩa là không có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả”, [10, tr.82]

1.2.2 Thể chất:

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (2000) thì: “ Thể chất chỉ chất lượng

thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống ( bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)”, [25, tr 18]

Thể chất theo nhiều tác giả Trung Quốc 8 – 1982( trong hội nghị khoa học toàn

quốc) cho rằng: Thể chất là chất lượng của cơ thể con người Chúng tổng hòa các đặc

Trang 12

điểm tương đối ổn định về cấu trúc hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, nhân tố tâm lý

được biểu hiện trên cơ sở di truyền và khả năng đạt được (trong đời sống, trong lao

động, huấn luyện thể thao…) thể chất biểu hiện rất nhiều mặt, trong đó có tố chất thể

lực Nhiều tác giả sinh lý và sư phạm thể thao cho rằng: Tố chất thể lực bao gồm các năng lực nhanh, mạnh, bền…của cơ thể

1.2.3 Giáo dục thể chất:

Thuật ngữ giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Ở nước ta, do bắt nguồn từ Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất là thể dục với nghĩa tương đối hẹp, vì định nghĩa rộng của từ Hán – Việt thể dục còn có nghĩa là thể dục thể thao

Thường người ta coi giáo dục thể chất là một bộ phận của hoạt động thể dục thể thao Nhưng khi nghiên cứu một cách chính xác hơn, giáo dục thể chất còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong

xã hội, một quá trình có tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị thuộc về kiến thức của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục chung, [15]

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: “ Giáo dục thể chất là một loại hình

giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động ( động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người” [25 tr 18] Từ quan niệm trên ta có thể coi

phát triển thể chất là một phần hệ quả của giáo dục thể chất Quá trình phát triển thể chất là sự kết hợp giữa yếu tố bẩm sinh tự nhiên và tác động có chủ đích, hợp lý của giáo dục thể chất mang lại

PGS.TS Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “Giáo dục thể chất là một

bộ phận của TDTT Giáo dục thể chất còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường)… Giáo dục thể chất là một hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người”

Với mục tiêu góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế

và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa về mọi mặt, có sức lực cường tráng, có năng lực hoạt động chuyên môn độc lập, sáng tạo, có tư tưởng, đạo đức tác phong lành mạnh, trong sáng đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, GDTC đã

Trang 13

trở thành nội dung quan trọng không thể thiết trong chương trình đào tạo của trường

ĐH, CĐ & THCN

1.2.4 Thể lực:

Thể lực là sức lực của cơ thể, biểu hiện qua các tố chất thể lực Tố chất thể lực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người, bao gồm: Nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo Tố chất thể lực thường được thể hiện trong khi làm động tác

và phụn thuộc vào cấu trúc của động tác Ngoài ra, việc thể hiện các tố chất còn phụ thuộc vào trạng thái người tập và điều kiện thực hiện

Các tố chất sức nhanh, sức mạnh, sức bền và mềm dẻo là những yếu tố mang tính năng lượng ( vì phụ thuộc vào việc cung cấp năng lượng), còn khả năng phối hợp vận động ( khéo léo) là một yếu tố mang tính thần kinh – cơ ( vì chủ yếu liên quan đến sự điều khiển của hệ thần kinh – cơ) Hai thuật ngữ tố chất thể lực và tố chất vận động tương đồng về nghĩa vì cùng phản ánh những nhân tố, những mặt tương đối khác nhau của thể lực con người Tuy nhiên, khi nói tố chất vận động là muốn nhấn mạnh việc điều khiển động tác của hệ thần kinh trung ương Còn khi nói tố chất thể lực là muốn nhấn mạnh đến đặc trưng sinh học của cơ thể [27]

1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý sinh viên

1.3.1 Đặc điểm sinh lý sinh viên 18 – 22 tuổi:

Trong quá trình sống của con người, trong từng giai đoạn khác nhau, các cơ quan, bộ phận cũng phát triển khác nhau Ở lứa tuổi này, cơ bản các cơ quan và hệ thống quan trọng nhất của cơ thể phát triển chậm lại Chiều cao ngưng phát triển và có

sự tăng trưởng nhiều theo chiều ngang và tăng trọng lượng của cơ thể Cơ bắp phát triển tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sức mạnh và sức bền, cơ thể con người có năng lực hoạt động cao hơn khả năng sinh vật học của cơ bắp, cho phép tập luyện tất

cả các môn thể thao Vì vậy, tập luyện TDTT có hệ thống, khoa học sẽ làm tăng lực co

cơ, nhờ tăng tiết diện ngang cũng như độ đàn hồi của cơ Ở lứa tuổi này, có thể đạt được thành tích xuất xắc trong các môn thể thao mang tính nghệ thuật (thể dục dụng

cụ, thể dục nghệ thuật, trượt băng nghệ thuật), cũng như trong bơi lội và các môn thể thao tốc độ Những môn thể thao sức mạnh và sức bền, thì thành tích cao nhất lại đạt vào lứa tuổi 25 – 30 Nói chung, có thể cho rằng, lứa tuổi 21 – 30 là lứa tuổi thuận lợi nhất để đạt thành tích cao trong hầu hết các môn thể thao, nếu được đào tạo cơ bản có khoa học

Trang 14

1.3.1.1 Hệ thần kinh:

- Các tổ chức thần kinh của các em ở lứa tuổi này tiếp tục phát triển chậm để đi

đến hoàn thiện Tuy nhiên, tổng khối lượng của võ não không tăng mấy, chủ yếu cấu tạo bên trong vỏ não phức tạp hơn, khả năng tư duy nhất là khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá phát triển thuận lợi cho sự hình thành phản xạ có điều kiện

- Tâm sinh lý trong hoạt động học tập: Theo M.N.Shachenhicop thì sự tăng trưởng mức tiêu hao năng lượng trong quá trình lao động trí óc với trạng thái yên tĩnh khi ngồi học tăng 16%, ngồi đọc thành tiếng tăng 48%, ngồi nghe giảng bài tăng 46%, làm thí nghiệm trong phòng tăng 86% Khả năng lao động trí óc của sinh viên còn có thể biến đổi phụ thuộc vào tâm trạng sức khoẻ, sự hiểu biết về ý nghĩa của công việc,

sự hứng thú của sinh viên đối với công việc Mặt khác, còn phụ thuộc vào mức độ xúc động và sự quyết tâm Sự căng thẳng kéo dài và có hệ thống của hệ thống thần kinh sẽ dẫn đến mệt mỏi quá độ Vì vậy, lao động trí óc của sinh viên có liên quan tới sự căng thẳng tâm lý, xuất hiện những điều kiện không thuận lợi là nguyên nhân bệnh lý của tim mạch, tiêu hoá, thần kinh

- Diễn biến khả năng lao động trí óc: Diễn biến khả năng làm việc ngày, đêm của con người phụ thuộc vào chu kỳ và nhịp của các quá trình sinh lý (nhịp sinh học), dưới

ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh và nội sinh (môi trường và nhịp tim, hô hấp,

huyết áp…) Đối với sinh viên, một ngày làm việc không thể bắt đầu ngay với hiệu

quả cao Giai đoạn thích ứng nhịp hoạt động mất từ 10-20 phút đến 40 phút, tiếp theo

đó là trạng thái “sẵn sàng làm việc” và khả năng làm việc sẽ đạt tới mức độ tối đa Do ảnh hưởng của sự xuất hiện mệt mỏi, khả năng làm việc được phục hồi ở mức độ nhất định Mức độ phục hồi phần lớn phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, phần lớn thường là đầu tuần khả năng làm việc thấp, vào giữa tuần, khả năng làm việc cao nhất, vào cuối tuần, khả năng làm việc hạ thấp, nhưng đôi khi lại có hiện tượng bùng nổ tăng khả năng làm việc

Phân tích diễn tiến khả năng làm việc của sinh viên trong học kỳ, có thể huy động hoàn toàn khả năng lao động kéo dài từ 3-3.5 tuần, sau đó là giai đoạn ổn định 2-2.5 tháng Vào đầu mùa thi, sinh viên sinh viên vừa học vừa kiểm tra nên cường độ lao động căng thẳng và khả năng giảm Nếu biết sử dụng tích cực phương tiện thể dục thể thao để tập luyện kết hợp nghỉ ngơi tích cực, thì khả năng làm việc có thể được nâng lên

Trang 15

Như vậy, khả năng lao động của sinh viên phụ thuộc vào các thông số về thời gian (đó là ngày, tuần, tháng, học kỳ, năm học) và biểu hiện theo sự thay đổi của các giai đoạn thích ứng, ổn định, tăng cao, suy giảm Đó là cơ sở khoa học cho việc áp dụng các biện pháp, trong đó các hoạt động thể dục thể thao góp phần tích cực trong quá trình hồi phục và nâng cao khả năng lao động, học tập của sinh viên

1.3.1.2 Hệ vận động:

- Hệ xương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, phần sụn của đầu xương đã được cốt

hóa, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay đã cốt hóa hết nên có thể tập luyện các bài tập nặng, tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, liên tục làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn, xương nữ xốp hơn xương nam và trong những năm còn lại có thể cao thêm 0,5 – 1cm, còn nam cao thêm 1 – 3cm Cột xương sống tuy đã ổn định về hình dáng và hoàn thiện về chức năng nhưng vẫn có thể bị cong vẹo, đặc biệt xương chậu của nữ to và yếu hơn nam, khi bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong như dạ con, buồng trứng Vì thế, trong cùng lứa tuổi, không để cho nữ tâp luyện những bài tập có khối lượng lớn như nam

- Hệ cơ: So với hệ xương thì các tổ chức của cơ phát triển muộn hơn, các bắp cơ

lớn phát triển tương đối nhanh ( như cơ đùi, cơ cánh tay) còn cơ nhỏ như các cơ bàn tay, ngón tay, các cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, cơ duỗi của nữ yếu phù hợp với các động tác mang tính chất mềm dẻo, nhịp điệu, khéo léo Đặc biệt, các tổ chức dưới da các em gái lại phát triển mạnh, do đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh cơ thể

1.3.1.3 Hệ tuần hoàn:

- Mạch đập: Hệ tuần hoàn đang phát triển và hoàn thiện, được tạo nên do hoạt

động của tim Tần số mạch đập đúng bằng tần số co bóp của tim, chỉ số mạch lúc yên tĩnh sẽ thay đổi nhiều dưới tác động của tập luyện thể dục thể thao Tim của nam đập mỗi phút 70-80 lần, của nữ 75-85 lần Vì thế, trong tập luyện, nhất là các hoạt động điền kinh như chạy tốc độ, hay chạy trung bình và các bài tập thể lực, phương pháp bắt mạch thường được dùng để kiểm tra chức năng của hệ tim mạch, qua đó đánh giá được

tình trạng của cơ thể và lượng vận động

- Huyết áp: Là áp lực máu đè lên thành mạch, được tạo nên do các hoạt động của

tim Vì có trở lực của các mao mạch, nên trong động mạch huyết áp tăng lên trong thời gian tâm thu và đạt mức cao nhất cuối thời gian tâm thu Đó là huyết áp tối đa tương

Trang 16

ứng với thời gian tâm thu Nó phụ thuộc vào các yếu tố: sự co bóp của tim, trở lực của các mạch máu ngoại biên, khối lượng máu tuần hoàn và độ nhớt của máu Vì trở lực của các mạch máu ngoại biên lớn, nên huyết áp trong thời gian tâm trương có giảm nhưng cuối thời gian tâm trương nó vẫn còn ở mức độ nhất định Đó là huyết áp tối thiểu và nó phụ thuộc vào huyết áp tối đa, trở lực của mạch máu ngoại biên và tính đàn hồi của thành động mạch Bình thường huyết áp tối đa từ 100 - 130mmHg, dưới 100mmHg là huyết áp thấp, trên 130mmHg là huyết áp cao Huyết áp tối thiểu từ 65 - 85mmHg là trung bình, chỉ số về huyết áp là chỉ số tương đối ổn định, phụ thuộc vào

lứa tuổi, giới tính Trong quá trình huấn luyện thể thao, thì huyết áp ít thay đổi

1.3.1.4 Hệ hô hấp:

Xác định khả năng tối đa của độ sâu hệ hô hấp, vì vậy nó là các chỉ số quan trọng

về khả năng hoạt động của bộ máy hô hấp Dung tích sống phụ thuộc chung của phổi

và sức mạnh của các cơ hô hấp, vào lực cản của lồng ngực vào phổi khi chúng co giãn Dung tích sống của phổi bao gồm thể tích hô hấp, thể tích hít vào bổ sung và thể tích

dự trữ thở ra Dung tích sống của phổi ở mỗi người rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước cơ thể, giới tính và lứa tuổi Trong quá trình trưởng thành của cơ thể có sự thay đổi về độ dài của chu kỳ hô hấp, tỷ lệ thở ra hít vào và tần số hô hấp Trung bình tần số hô hấp là 16 – 22 lần/phút, không khí lưu thông khoảng 450 – 500 ml, thông khí phổi tối đa khoảng 90 – 100 lít trong hoạt động, hấp thụ oxy tăng 15 – 16 lần so với mức chuyển hóa cơ sở, dung tích sống tương đối là 80 ml/kg trọng lượng Trong hoạt động thể dục thể thao lượng thông khí phổi tăng dần lên phụ thuộc vào công suất lao động Hoạt động với công suất thấp, thông khí phổi tăng lên chủ yếu là tăng khí lưu thông Hoạt động với công suất tăng dần thì tần số hô hấp tăng song song với thông khí phổi, khi lưu thông tăng lên gần tới hạn của sung tích sống Như vậy để có lượng khí lưu thông tăng cao, sự tham gia của các cơ hô hấp là yếu tố quan trọng

1.4 Đặc điểm tâm lý sinh viên lứa tuổi 18 – 22:

Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển hoàn chỉnh các bộ phận, hình thành thế giới quan, ý thức đạo đức hướng về tương lai, xác định đúng đắn nhu cầu sáng tạo, mong ước cuộc sống tốt đẹp Hứng thú đã phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, mang tính bền vững, phong phú và sâu sắc Có thái độ tự giác, tích cực, năng động, sẵn sàng khám phá những lĩnh vực mà mình yêu thích, xuất phát từ động cơ đúng đắn trong cuộc sống Tình cảm đã ổn định, biểu lộ yêu ghét rõ rang, tôn trọng, biết động

Trang 17

viên kịp thời và quan tâm đúng mực tới mọi người xung quanh, biết kính trên nhường dưới Trí nhớ phát triển hoàn thiện, biết ghi nhớ có hệ thống đảm bảo tính logic, tư duy chặc chẽ hơn, suy nghĩ sâu sắc và lĩnh hội đầy đủ bản chất của vấn đề

- Sự phát triển nhân cách: Phát triển và tồn tại như một thành viên trong xã hội

và noi gương những người trưởng thành làm động lực thúc đẩy bản thân phấn đấu hơn nữa Các e muốn thể hiện rõ rệt tính tự lập, muốn tách biệt khỏi sự quản lý của gia đình, có xu hướng hướng ngoại, giao lưu thiết lập mối quan hệ bạn bè, tôn trọng tình bạn cao cả Thích xây dựng mối quan hệ thân thiết với người khác giới, thích quan hệ gần gũi với người có học thức, người lớn tuổi, người có kinh nghiệm sống quý báu để học hỏi, tăng vốn hiểu biết cho bản thân

- Sự phát triển về trạng thái tình cảm: Lứa tuổi này các em giàu cảm xúc, nhạy cảm với những vấn đề của bản thân, dễ bị kích động và đôi khi không hoàn toàn làm chủ được bản thân mình, có thể sẵn sàng dùng bạo lực, nhưng cũng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và luôn hướng tới sự hoàn thiện Nhìn chung các em đã biết suy nghĩ và định hướng cho tương lai, biết đúc rút kinh nghiệm từ những thất bại mắc phải, sống vị tha, nhân ái và đoàn kết với bạn bè

- Sự phát triển trí tuệ: Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là chú trọng đến hoạt động trí tuệ , biết hệ thống hóa và trang bị vốn kiến thức cho bản thân làm hành trang bước vào cuộc sống Các em thích đọc sách, xem phim, tìm hiểu các thông tin khoa học và các vấn đề đòi hỏi tư duy trìu tượng Quan tâm sâu sắc đến các hoạt động xã hội, tình hình kinh tế chính trị, xu hướng phát triển của đất nước trong tương lai Lứa tuổi này có sự suy nghĩ lựa chọn nghề nghiệp, có sở thích cho bản thân và năng khiếu thẩm mỹ được nâng cao

1.4 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực lứa tuổi 18 -22:

Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất lượng của cơ thể biểu hiện trong từng điều kiện cụ thể của đời sống, lao động, học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động TDTT Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của các tố chất thể lực TDTT là phương tiện để nâng cao khả năng vận động, góp phần cải tạo thể chất con

người [25]

Tố chất thể lực là một phần quan trọng của các nhân tố cấu thành thể chất của cơ thể người.Trong hoạt động thể thao, tố chất thể lực là nội dung rất quan trọng trong huấn luyện thể lực cho VĐV Sự nâng cao thành tích thể thao không thể không dựa

Trang 18

vào sự phát triển cao các tố chất thể lực Trong huấn luyện thể lực thì tố chất thể lực là các loại năng lực biểu hiện khi vận động của VĐV Ngoài các yếu tố tri thức, đạo đức,

ý trí, kỹ thuật, chiến thuật, thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động thể chất của con người, trong đó có hoạt động TDTT Rèn luyện thể lực là một trong hai đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình hoạt động GDTC

Có năm tố chất thể lực cơ bản là: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo ( năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý thể dục thể thao và lý luận phương pháp thể dục thể thao và tố chất thể lực đi sâu phân tích đặc điểm từng tố chất thể lực

1.4.1 Tố chất sức nhanh

* Khái niệm: Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ thể vận động

với tốc độ nhanh, là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định đặc tính tốc

độ động tác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động

* Biểu hiện sức nhanh: Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập

nhau, đặc biệt là thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ

động tác Những hình ảnh trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau

Các hình thức phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền anh, tốc độ dẫn bóng trong bóng đá Các hình thức sức nhanh đơn giản liên quan chặt chẽ với kết quả sức nhanh phức tạp.[27]

Sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: Tốc độ phản ứng, tốc

độ động tác, tần số động tác Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các hình thức sức nhanh là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh [15] Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế làm cho noron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là yếu tố tăng cường tốc độ và tần số động tác Tốc độ co

cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và chậm trong bó cơ Các bó cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt sợi cơ nhóm II-A có khả năng tốc độ cao Tốc độ co cơ còn chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP (Adenozin Triphophat) và CP (Creatin Photphat) Đây

Trang 19

là nguồn năng lượng có sẵn trong cơ giúp cho quá trình co cơ được thực hiện nhanh

Tố chất nhanh mang tính chất di truyền, phụ thuộc vào quá trình hóa học trong cơ, vào tần số động tác và quá trình tâm lý

Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 đến 13 tuổi, nếu không được tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn 16 đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nâng cao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hết sức chú ý đến đặc điểm của lứa tuổi, có như thế thì kết quả huấn luyện mới đem lại như mong muốn [25]

* Phương pháp phát triển sức nhanh:

Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động đơn giản: Ta có thể hiểu sưc nhanh của phản xạ vận động đơn giản là khả năng phản ứng của cơ thể trước một tín hiệu đã biết trước, xuất hiện một cách bất ngờ Sức nhanh phản ứng vận động có ý nghĩa thực dụng rất lớn trong cuộc sống Ta thường gặp những trường hợp đòi hỏi tín hiệu nào đó trong khoảng thời gian ngắn nhất, tập luyện tốc độ có tác dụng nâng cao sức nhanh phản ứng vận động đơn giản Tập luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản theo phương pháp cảm giác vận động được tiến hành theo 3 giai đoạn Giai đoạn

1 người tập thực hiện động tác trong điều kiện phản ứng nhanh nhất đối với tín hiệu Giai đoạn 2 phản ứng và các động tác sau đó cũng được thực hiện với tốc độ lớn nhất Giai đoạn 3 người tập thực hiện với tốc độ định trước

Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động phức tạp: Sức nhanh của phản xạ vận động với vật di chuyển: Ta có thể hiểu là khả năng phản ứng với các vật thể di chuyển trong không gian được gia tăng thông qua tăng tốc độ với vật thể, tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự ly

Sức nhanh của phản xạ lựa chọn tình huống: là khả năng lựa chọn nhanh những phương án hợp lý để đáp lại một tình huống trong hoạt động TDTT Trong các môn đối kháng cá nhân tính phức tạp của phản ứng phụ thuộc vào hành vi đối phương Trong giáo dục phản ứng lựa chọn cần tuân thủ theo nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp, các tình huống theo hướng tăng dần

1.4.2 Tố chất sức mạnh

*Khái niệm: Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề

kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp Trong bất cứ hoạt động nào của con người

đều có sự tham gia của hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong trường hợp

Trang 20

như sau: Không thay đổi độ dài của cơ ( chế độ tĩnh) Giảm độ dài cơ ( chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ ( chế độ nhượng bộ) Trong các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học có trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh

Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận có ý nghĩa trong việc phân loại sức mạnh Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế

độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát ra, trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc

độ Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối ( tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa ( sức mạnh tĩnh) không có tương quan nhau

Trên cơ sở đó, sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần ( khả năng sinh lực trong các động tác chậm và tĩnh), sức mạnh tốc độ ( khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh – tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung

Trong hoạt động nói chung và hoạt động thể dục thể thao nói riêng sức mạnh luôn có quan hệ với các tố chất thể lực khác, nhất là sức nhanh và sức bền Do đó sức mạnh được phân ra thành ba hình thức: Năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh ( sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền Sức mạnh cũng là điều kiện rất quan trọng để nâng cao thành tích thể thao Tuổi sinh viên từ 18 đến 25 là tuổi rất thuận lợi cho cơ bắp phát triển sức mạnh[25] Vì vậy trong quá trình tập luyện, rèn luyện tố chất sức mạnh cần chú ý sao cho phù hợp nhất để phát triển sức mạnh một cách tốt nhất

* Phương pháp phát triển sức mạnh: Người ta sử dụng các bài tập sức mạnh, là

các động tác với lực đối kháng Các bài tập với lực đối kháng bên ngoài, các bài tập với lực đối kháng người cùng tập, các bài tập với lực đàn hồi, và các bài tập ngoài trời Các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể cộng thêm với trọng lượng của vật thể bên ngoài Sử dụng các bài tập với vật nặng có rất nhiều tiện lợi, ta có thể tác động tới hầu hết các nhóm cơ khi dùng bài tập này Các bài tập với lực đối kháng bên ngoài rất dễ định lượng, song cũng có một số điểm bất tiện khó di chuyển Vấn đề cơ bản của phương pháp rèn luyện sức mạnh là định lượng trọng lượng vật thể tập luyện Muốn phát triển sức mạnh thì nhất thiết phải tạo được sự căng cơ tối đa Nếu không thường

Trang 21

xuyên tập luyện với mức căng cơ tương đối cao thì sức mạnh sẽ không được phát triển Tập luyện với mức căng cơ quá nhỏ sẽ làm giảm sút sức mạnh Đối với những người không phải là VĐV, sự giảm sút sức mạnh xảy ra khi mức hoạt động của cơ bắp trong tập luyện nhỏ hơn sức mạnh tối đa 20% Mức căng cơ càng nhỏ thì quá trình giảm sút sức mạnh và hiện tượng teo cơ diễn ra càng nhanh Ở VĐV đã quen tập luyện với mức căng cơ tương đối lớn thì sức mạnh có thể bắt đầu giảm ngay khi sử dụng trọng lượng tập luyện tương đối lớn nhưng nhẹ hơn so với mức quen thuộc [25]

1.4.3 Tố chất sức bền

* Khái niệm: Sức bền là khả năng khắc phục sự mệt mỏi nhằm hoạt động trong

thời gian dài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập

luyện đạt được một cường độ tốt nhất ( tốc độ, dung lực, nhịp độ thi đấu…) Trong thời gian vận động kéo dài Sức bền còn đảm chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tập luyện [25], [27]

Trong sinh lý thể dục thể thao, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài từ hai ba phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho hoạt động bằng con đường ưa khí Sức bền được chia thành nhiều loại [16], [25], [27]

Sức bền chung: Biểu thị khả năng con người trong các hoạt động kéo dài từ vài

chục phút đến hàng giờ, với cường độ thấp, có sự tham gia phần lớn của sợi cơ

Sức bền chuyên môn: Là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những

loại hình bài tập nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, đặc biệt phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật

Sức bền tốc độ: Là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động nhanh

nhất trong một thời gian nhất định

Sức bền mạnh: Là khả năng duy trì hoạt động với một trọng lượng mang vác lớn

trong thời gian dài

Nói chung sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể hiện nên các mối quan

hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác nhau như sức mạnh, sức nhanh Tuổi sinh viên

từ 18 đến 25 khi tập luyện sức bền đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn không những bằng cơ bắp

mà còn bằng ý trí khắc phục khó khăn để vượt qua gian khổ Ở tuổi này có thuận lợi trong nhận thức và ý thức tự giác tập luyện cao, hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việc tập

Trang 22

luyện thể dục thể thao Cho nên giáo viên cần lưu ý khi giáo dục nhận thức cho sinh viên hiểu rõ được chức năng, tác dụng của mỗi bài tập khi tập luyện

Sức bền cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tập hàng ngày Đối với lĩnh vực thể dục thể thao nó là cơ sở thiết yếu để giúp cho vận động viên trong hoạt động chuyên môn của mình để gặp hái thành tích thể thao cao, đồng thời đó cũng

là cơ sở để giúp cho sinh viên bền bỉ, dẻo dai trong việc học tập và rèn luyện chuyên môn nghề nghiệp của mình

* Phương pháp phát triển sức bền: Phương pháp phát triển sức bền chuyên môn

có 2 đặc điểm chung nếu sức bền chung được phát triển chủ yếu thông qua các bài tập

có chu kỳ, thì trong phát triển sức bền chuyên môn người ta sử dụng bài tập chuyên môn hóa Các bài tập để phát triển sức bền chuyên môn được thực hiện với cường độ gần với cường độ lúc thi đấu, nếu thấp hơn sẽ không có hiệu quả

Phát triển sức bền chuyên môn trong các môn có tính chu kỳ thời gian hoạt động dưới 1 phút nhiệm vụ hàng đầu là nâng cao khả năng yếm khí Đối với các cự ly chuyên môn hóa trong vùng cường độ lớn và trung bình thì phải nâng cao khả năng yếm khí, ưa khí, nâng cao giới hạn về tâm lý – sinh lý để duy trì bền vững của cơ thể đối với những biến đổi nội môi bất lợi Đối với các môn có cường độ thấp thời gian dài phải nâng cao khả năng ưa khí

Phát triển sức bền trong các bài tập có tính chất sức mạnh: Đặc trưng bằng số lần lặp lại bài tập với hiệu quả không đổi Trong thể thao không bao giờ người ta cân bằng mọi người theo sức mạnh của họ nên thực tế ta chỉ cần chú ý đến sức bền tuyệt đối của sức mạnh

1.4.4 Tố chất mềm dẻo

* Khái niệm: Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ

tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Thông thường, độ linh hoạt của các khớp càng lớn thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn [31]

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất Đặc biệt

là lứa tuổi 11 đến 14, trước khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh Có thể tập mềm dẻo khi tập thể dục sáng, trong giờ khởi động Các động tác làm tăng độ linh hoạt của các khớp có tác dụng tích cực để chuẩn bị bước vào phần trọng động, đồng thời còn ngăn ngừa được chấn thương trong tạp luyện Tuổi trưởng thành tập luyện mềm

Trang 23

dẻo rất khó khăn vì xương, cơ, khớp dây chằng và hệ thần kinh đã phát triển hoàn chỉnh

Vì vậy, khi tiến hành giáo dục tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ động tác, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp để phong ngừa chấn thương cho người tập Tuy nhiên nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao

* Phân loại: Năng lực mềm dẻo được phân làm hai loại là mềm dẻo tích cực và

mềm dẻo thụ động Độ mềm dẻo tích cực là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ sự nổ lực của cơ bắp Độ mềm dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ tác động của ngoại lực như: Trọng lượng của

cơ thể, lực ấn ép của GV hoặc bạn tập

Năng lực mềm dẻo phụ thuộc vào đàn tính của cơ thể và dây chằng Tính chất đàn hồi cao của bộ máy vận động và phát triển chưa ổn định của hệ thống xương, khớp trong lứa tuổi thiếu niên là điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lực mềm dẻo Do vậy ở lứa tuổi thiếu niên cần chú trọng phát triển năng lực mềm dẻo

* Phương pháp phát triển năng lực mềm dẻo: Phương pháp chính để phát triển

năng lực mềm dẻo là kéo giãn cơ bắp và dây chằng

Kéo giãn trong thời gian dài: Duy trì sự kéo giãn các nhóm cơ và dây chằng trong nhiều dây tới khi có cảm giác đau gần tới giới hạn chịu đựng Thông thường mỗi bài tập kéo giãn khoảng 10–20 giây và lặp lại bài tập đó 3- 4 lần Tăng sự đàn hồi khi kéo giãn tới khi đạt mức tối đa bằng các động tác lăng đơn giản, đè ép theo dạng đàn hồi cho tới khi các nhóm cơ bị kéo giãn đạt được biên độ lớn nhất Kết hợp các động tác kéo giãn bằng đá lăng với việc dừng lại ở vị trí cao nhất của đá lăng Ví dụ: Lăng chân sang bên độ 6 – 8 lần, sau đó dừng ở vị trí cao nhất 3 – 5 giây Lập lại bài tập đó

5 – 6 lần [25]

1.4.5 Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động)

*Khái niệm: Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phối hợp phức tạp và khả

năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Về bản chất, khéo léo là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp Vì vậy, nó có liên quan tới việc hình thành kỹ năng vận động

Trang 24

Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp có tiền đề của vận động viên ( cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước tiên là khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin) và được hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác nhau như: sức mạnh, sức nhanh và sức bền [25]

Năng lực phối hợp vận động còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện, cũng cố và vận dụng các kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khác nhau cơ bản

Kỹ xảo thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, còn năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau

Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độ phát triển của các tố chất khác nhau như: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn

có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các vùng não khác nhau, do đó hoàn thiện

sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như cơ đối kháng [16], [25], [27]

* Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động: Phương pháp chính là

tập luyện, phương tiện chính là các bài tập TDTT thể lực Các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợp vận động cần thực hiện chính xác Bài tập phải đa dạng hóa việc thực hiện động tác, thường xuyên đổi điền kiện bên ngoài khi thực hiện động tác, phối hợp các kỹ sảo kỹ thuật với nhau Thực hiện các động tác với yêu cầu thời gian đặt ra, thay đổi việc thu thập thông tin Các phương pháp nhằm phát triển khả năng phối hợp vận động rất phong phú, có thể phối hợp chúng với nhau hay thực hiện một cách có trọng điểm từng phương pháp Việc lựa chọn và sử dụng cần căn cứ vào đặc điểm của từng năng lực cần phát triển Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó khăn về phối hợp vận động của từng bài tập, vì chỉ nâng cao kích thích đối

với cơ thể mới tạo được một trình độ thích ứng cao hơn

1.5 Một số công trình nghiên cứu về giáo dục thể chất có liên quan

Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học chứng minh giáo dục thể chất góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường các cấp giúp tăng

Trang 25

cường sức khỏe cho học sinh – sinh viên Giáo dục thể chất là nhân tố hết sức quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và phát triển năng khiếu Đồng thời

là một mặt của giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra lớp người có năng lực, phẩm chất, đạo đức, có sức khỏe…

Một số đề tài nghiên cứu khoa học về đánh giá thực trạng thể lực , về công tác giáo dục thể chất trong học sinh – sinh viên như:

- Nguyễn Thị Việt Hương(1999), “ Tìm hiểu năng lực thể chất của sinh viên nam

– nữ khóa 1997 trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM”.Tác giả đã sử dụng các

test thể lực sau: Chạy 30m xpc (giây), lực bóp thuận (kg), đứng dẻo gập thân (cm), chạy lườn vòng 30m (giây), chạy 1500m (nam), 800m (nữ) Qua nghiên cứu tác giả kết luận đánh giá chung về hình thái thể lực của sinh viên nam - nữ khóa 1997 trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM có sự phát triển đáng kể so với những công trình nghiên cứu trước đây của Hoàng Công Dân (1989 – 1992)

- Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải (2000), “ Đánh giá sự phát triển

thể chất của sinh viên thuộc các ngành nghề khác nhau” Ở các trường Đại học Sư

phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Nông nghiệp I, Đại học Công nghiệp Thái Nguyên, Đại học kỹ thuật Đà Nẵng và khối

kỹ thuật Đại học Cần Thơ Tác giả đã sử dụng các test thể lực sau: Chạy 100m (giây), bật xa tại chỗ (cm), chạy 1500m (nam), 800m (nữ), nằm sấp chống đẩy (30 giây/lần),

di chuyển nhặt 10 quả bóng bàn (giây)

- Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bích Huệ (2000), “ Đánh

giá thực trạng phát triển thể chất của học sinh - sinh viên trước thềm thế kỷ XXI” Đã

đánh giá một cách tổng quan và tương đối chính xác thực trạng phát triển thể lực của sinh viên cả nước Công trình nghiên cứu cho rằng các chỉ số thể lực của học sinh – sinh viên của các trường đều có xu hướng tăng Tuy nhiên trong số này có vài chỉ tiêu đánh giá khả năng vận động sức bền, sức nhanh có dấu hiệu suy giảm ở năm cuối của quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên các trường

- Trịnh Quốc Trung (2005), “Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nâng cao

hiệu quả công tác giáo dục thể chất trường Đại Học Mở Bán Công TP HCM giai đoạn 2003 – 2005” Đã chỉ ra thực trạng về hình thái và thể lực của sinh viên năm thứ

nhất Bên cạnh đó tác giả đã thực hiện cải tiến về nội dung và quy trình lên lớp có kết hợp ngoại khóa tại trường bước đầu đạt được kết quả khả quan

Trang 26

- Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí (2006), “ Xây dựng tiêu chuẩn rèn luyện

thân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam” Các tác giả đã đưa ra các chỉ tiêu là:

Chạy 30m xpc (giây), lực bóp thuận (kg), bật xa tại chỗ (cm), nằm ngửa gập thân 30 lần (giây), chạy con thoi 4x10m (giây), chạy 5 phút tùy sức (m)

- Nguyễn Phúc Nguyện (2006), “ Phong trào thể dục thể thao trong một số

trường Đại học công lập ở TP HCM hiện nay: Thực trạng và giải pháp quản lý” Đã

xác định hoạt động TDTT trong nhà trường hiện nay đang là một nhu cầu cấp thiết của

SV trong khi điều kiện phát triển còn nhiều hạn chế và tác giả đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết nhu cầu cấp thiết trên

- Đặng Thị Kim Quyên(2007),“ Nghiên cứu hiệu quả một số bài tập thể dục cho

nữ sinh viên có thể lực yếu ở Trường Đại học Cần Thơ” Đã xác định cần tiến hành

phân loại thể lực sinh viên toàn trường thành các nhóm độc lập trước khi bắt đầu học chương trình giáo dục thể chất Điều này tạo điều kiện thuận lợi rất lớn trong việc giảng dạy và phát triển thể lực một cách phù hợp cho từng nhóm đối tượng

- Nguyễn Văn Quận (2008 ), “ Xác định tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của

sinh viên Trường Đại học Cần Thơ” Tác giả nghiên cứu xây dựng bảng điểm đánh giá

tổng hợp của 11 chỉ tiêu khảo sát làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng thể lực chung cho SV toàn trường

- Phan Bửu Tú (2010),“ Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất sinh viên

trường Đại học Đà Lạt” Đề tài kết luận rằng thực trạng thể chất nam, nữ sinh viên

trường tốt hơn thể chất người Việt Nam cùng lứa tuổi Tuy nhiên thể lực nói chung giữa các sinh viên phát triển chưa đồng đều Đề tài cũng đã xây dựng bảng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp theo điểm cho nam, nữ SV trường

Tóm lại, kết quả tổng hợp tài liệu các công trình nghiên cứu về GDTC nói chung

và thể lực cho thấy mỗi trường ĐH, CĐ – THCN cần phải tiến hành nghiên cứu thực trạng thể chất của sinh viên trường mình để phù hợp với mọi từng nhóm đối tượng

Ngày đăng: 24/08/2016, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Các Mác, F. Anghen (1960), Tuyển tập, tập 23, NXB sách báo chính trị Quốc gia, Matscova, tr 495 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 23
Tác giả: Các Mác, F. Anghen
Nhà XB: NXB sách báo chính trị Quốc gia
Năm: 1960
5. Các Mác, F. Anghen (1960), Toàn tập – Phần 4 Tư bản, NXB sách báo chính trị Quốc gia, tr 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập – Phần 4 Tư bản
Tác giả: Các Mác, F. Anghen
Nhà XB: NXB sách báo chính trị Quốc gia
Năm: 1960
9. Dương Nghiệp Chí (2005), Báo cáo kết quả dự án “ Điều tra đánh giá thực trạng thể chất và xây dựng hệ thông tiêu chuẩn thể lực chung của người Việt Nam, giai đoạn 2, từ 21 – 60 tuổi”. NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Điều tra đánh giá thực trạng thể chất và xây dựng hệ thông tiêu chuẩn thể lực chung của người Việt Nam, giai đoạn 2, từ 21 – 60 tuổi”
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2005
10. Đặng Văn Chung (1979), Sức khỏe và bảo vệ sức khỏe, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe và bảo vệ sức khỏe
Tác giả: Đặng Văn Chung
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1979
11. Hoàng Hà (2005), Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên trường Đại Học Xã Hội và Nhân Văn – Đại học quốc gia TP. HCM, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên trường Đại Học Xã Hội và Nhân Văn – Đại học quốc gia TP. HCM
Tác giả: Hoàng Hà
Năm: 2005
12. Bùi Quang Hải (2003), Nghiên cứu đặc điểm phát triển thể chất những vấn đề cấp bách trong những năm đầu thế kỷ XXI, Khoa học TDTT, Viện khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm phát triển thể chất những vấn đề cấp bách trong những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Bùi Quang Hải
Năm: 2003
13. Nguyễn Trọng Hải - Vũ Đức Thu (2001), Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các tố chất thể lực của sinh viên, tuyển tập NCKH, GDTC, sức khỏe trong nhà trường các cấp, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các tố chất thể lực của sinh viên
Tác giả: Nguyễn Trọng Hải - Vũ Đức Thu
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2001
15. Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý học TDTT. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2003
16. Trịnh Trung Hiếu (1997), Lý luận và phương pháp giáo dục TDTT trong nhà trường, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục TDTT trong nhà trường
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1997
17. Vũ Đào Hùng - Nguyễn Mậu Loan, Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Lê Văn Lẫm (1996), Đo lường thể thao, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Lê Văn Lẫm
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1996
20. Lê Văn Lẫm (2000), “Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ 21”. NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ 21”
Tác giả: Lê Văn Lẫm
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2000
25. Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (2000), Lý luận & phương pháp TDTT, NXBTDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận & phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 2000
26..Phan Bửu Tú (2010),“ Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất sinh viên trường Đại học Đà Lạt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất sinh viên trường Đại học Đà Lạt
Tác giả: Phan Bửu Tú
Năm: 2010
27. Trịnh Hùng Thanh (2000), Cơ sở lý luận các tố chất thể lực, tài liệu dùng cho học viên cao học, Trường Đại học TDTT TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận các tố chất thể lực, tài liệu dùng cho học viên cao học
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh
Năm: 2000
29. Nguyễn Văn Quận (2008) “ Xác định tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM
1. Ban Bí thư trung ương Đảng (24-3-1994), Chỉ thị số 36 CT/TW về công tác TDTT giai đoạn mới Khác
6. Chỉ thị 17/CT/TW ngày (23-10-2002) của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển TDTT đến năm 2010 Khác
7. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992), NXB pháp lý, NXB sự thật, Hà Nội, tr 66 Khác
14. Nguyễn Thị Lệ Hằng (2009), Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục thể chất của các trường thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4: Tiêu chuẩn xếp loại học lực theo quy chế học học tập của trường Đại  học Cần Thơ - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nữ sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.4 Tiêu chuẩn xếp loại học lực theo quy chế học học tập của trường Đại học Cần Thơ (Trang 37)
Bảng 3.5: Bảng thống kê thành tích thể lực SV thông qua tiêu chuẩn xếp loại học lực - Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực nữ sinh viên khóa 39 hệ không chuyên thể dục
Bảng 3.5 Bảng thống kê thành tích thể lực SV thông qua tiêu chuẩn xếp loại học lực (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w