Khi lựa chọn, sắp xếp bố trí hệ thống các bài tập phát triển tố chất thể lực trong quá trình huấn luyện, cần tuân thủ các nguyên tắc tăng dần lượng vận đông, nguyên tắc hệ thống, nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NĂM HỌC 2014 – 2015
NGƯỜI THỰC HIỆN
SV: LÂM HOÀNG THỂ MSSV: 9117019 Lớp 11X6A1 Cần thơ Ngày 10/4/2015
Trang 2NĂM HỌC 2014 – 2015
MSSV: 9117019 LỚP: TD11X6A1
Cần thơ Ngày 10/04/2015
Trang 3Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Đào Vũ Nguyên , giảng viên bộ môn Giáo dục thể chất – Trường Đại học Cần Thơ đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Cô bộ môn Giáo dục thể chất - Trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Mặc dù đã cố gắn trong lần đầu tiên tiến hành công tác nghiên cứu khoa học
Do kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình hoàn thiện đề tài Vì vậy tôi mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô, các bạn và những ai quan tâm đến đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cần thơ, ngày….tháng….năm 2015
Sinh viên thực hiện
(ký, ghi rõ họ tên)
Lâm Hoàng Thể
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kì công trình nào
Cần thơ, ngày….tháng….năm 2015
Sinh viên thực hiện
(ký, ghi rõ họ tên)
Lâm Hoàng Thể
Trang 6Chương Tên biểu bảng Trang
3
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn sử dụng các test kiểm tra
và các bài tập bổ trợ nhằm phát triển kỹ thuật đòn tay cho võ sinh câu lạc bộ Taekwondo trường THCS Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
33
3
Bảng 3.2: Test kiểm tra và các bài tập bổ trợ nhằm
phát triển kỹ thuật đòn tay cho võ sinh câu lạc bộ Taekwondo trường THCS Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
34-35
3
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra hệ thống test lựa chọn của
võ sinh nam Taekwondo trường THCS có năm sinh
3
Bảng 3.4 So sánh kết quả bài tập kiểm tra thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm 42 - 43
3 Bảng 3.5 So sánh kết quả bài tập kiểm tra thể lực của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 6 tháng
44
3 Bảng 3.6- So sánh kết quả thi đấu của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm
45 - 46
3 Bảng 3.7 - So sánh kết quả thi đấu của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm
46
Trang 7Chương Tên biểu đồ Trang
3 Biểu đồ 1 Nhóm thực nghiệm
47
3 Biểu đồ 2: Nhóm đối chứng 47
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Bác Hồ về TDTT 4
1.1.1 Quan điểm của Bác Hồ……….……….5
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT 5
1.2 Khái niệm về hệ thống bài tập 6
1.3 Huấn luyện thể lực trong thể thao 7
1.3.1 Huấn luyện các tố chất thể lực cho vận động viên Taekwondo 8
1.3.2 Các tố chất thể lực: 9
1.3.2.1 Sức mạnh: 9
1.3.2.2 Sức nhanh: 10
1.3.2.3 Sức bền:……… 11
1.3.2.4 Mềm dẻo : 12
1.4 Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi 12-15 (Trung học cơ sở: THCS) 14
1.4.1 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi 12 - 15: 14
1.4.2 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi 12 - 15 15
1.4.2.1 Đặc điểm của hệ thần kinh: 17
1.4.2.2 Đặc điểm hệ tim mạch: 18
1.4.3 Vấn đề phương pháp huấn luyện VĐV Taekwondo trẻ 19
1.4.3.1 Giai đoạn tập luyện ban đầu 19
1.4.3.2 Giai đoạn chuyên môn thể thao 21
1.5 Những vấn đề còn tồn tại của nghiên cứu: 22
1.5.1 Vấn đề kỹ thuật môn Taekwondo 22
1.5.2 Vấn đề chiến thuật 23
1.6 Nghiên cứu thực trạng 24
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 25
2.2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU: 28
CHƯƠNG III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Nghiên cứu lựa chọn các bài tập bổ trợ nhằm phát triển kỹ thuật đòn tay cho võ sinh câu lạc bộ Taekwondo trường THCS Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 30
3.2 Lộ trình nghiên cứu lựa chọn các bài tập bổ trợ nhằm phát triển kỹ thuật đòn tay
cho võ sinh câu lạc bộ Taekwondo trường THCS Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ……… ……… 31
3.3 So sánh kết quả thực nghiệm 45
3.3.1 So sánh kết quả thi lên cấp của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm 45
3.3.2 So sánh Kết quả thi lên cấp của 2 CLB Taekwondo Hưng Phú- Q.Cái Răng – TP.Cần Thơ và CLB Taekwondo Trần Ngọc Quế, Lê Bình 2 sau khi áp dụng các bài tập bổ trợ phát triển kỹ thuật phòng thủ (đòn tay) 46
3.3.3 Biểu đồ thể hiện sự phát triển kỹ thuật đòn tay của CLB Taekwondo Hưng Phú- Q.Cái Răng – TP.Cần Thơ so với CLB Taekwondo Trần Ngọc Quế và Lê Bình 2 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
* Kết luận 49
* Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
1 Sách tham khảo bằng tiếng việt 51
2 Luận văn, luận án và bài báo 52
PHỤ LỤC……… 53
Trang 10đã rất chú trọng, vào những năm đầu mới giành được độc lập, đất nước đang phải đương đầu với muôn vàn khó khăn: Chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm…
Để đáp ứng với sự phát triển của xã hội - xã hội công nghệ đòi hỏi người thầy phải thật sự chuẩn mực về tư cách, nhà giáo, vừa phải chuẩn mực về kiến thức, kỹ năng Đạt được vấn đề này người giáo viên dạy môn giáo dục thể chất phải không ngừng trao dồi kiến thức, thường xuyên rèn luyện thể lực, kỹ chiến thuật để đáp ứng với những tiến bộ kĩ thuật của người học và đạt được chuẩn mực như chỉ thị 36CT/TW của ban bí thư Trung ương Đảng khoá VIII về: “Công tác TDTT trong tình hình mới, ghi rõ: “Phải phấn đấu đạt được các mục tiêu về giáo dục thể chất trong trường học, đồng thời cần kiệm toàn hệ thống đào tạo Cán bộ giáo viên, huấn luyện viên, vận động viên trẻ, nâng cao thành tích thể thao”
Ngày nay trong công cuộc đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, Thể thao Việt Nam nói chung và môn võ Taekwondo nói riêng cũng đã phát triển nhanh, mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ tại các kỳ SEA Games, các giải thi đấu trong khu vực và Châu Á, Olympic… Hiện nay, Taekwondo trở thành một trong số các môn Thể thao mũi nhọn của Thể thao Việt Nam trên đấu trường Quốc tế Được sự quan tâm và đầu tư đúng hướng của ngành TDTT nước ta, Thể thao Việt Nam nói chung và môn võ Taekwondo nói riêng đang ngày một phát triển và bước đầu đã có sự đầu tư về vật chất và nghiên cứu khoa học mạnh mẽ để tiến tới giành được những thứ hạng cao hơn nữa tại các giải thi đấu trong khu vực, Châu Á và Thế giới
Cùng với sự phát triển của ngành TDTT, môn võ Taekwondo đã có những bước tiến vượt bậc và có những đóng góp đáng kể vào thành tích của thể thao Việt Nam Trên đấu truờng quốc tế, từ khu vực, châu lục và thế giới, đều có dấu ấn đáng tự
Trang 11hào của Taekwondo Việt Nam Tên tuổi nhiều võ sỹ Taekwondo đã gắn liền với vinh quang như Trần Quang Hạ (HCV ASIAD 12, HCV SEA Games 16, 18), Hồ Nhất Thống (HCV ASIAD 13, HCV SEA Games 19, 20), Nguyễn Văn Hùng (HCV SEA Games 20) Đặc biệt, tấm HCB Olympic Sydney 2000 của Trần Hiếu Ngân, đã đánh một mốc son trong bước tiến của TTVN, bởi đây là lần đầu tiên, thể thao Việt Nam mới có được huy chương tại Đại hội lớn nhất hành tinh này
Hòa mình cùng sự phát triển Taekwondo cả nước theo đó phong trào Taekwondo TPCT ngày càng được mở rộng và hiện tại con số võ sinh đã lên đến 3.000 Hiện nay TPCT có 15 huấn luyện viên WTF và ITF có đẳng cấp từ huyền đai
đệ ngũ đẳng đến lục đẳng, trên 65 huấn luyện viên từ nhị đẳng đến tứ đẳng Đoàn Taekwondo TPCT đã tham dự rất nhiều giải đấu trong nước ra khu vực và tại Hội khỏe Phù Đổng năm 2012 được tổ chức tại TPCT đoàn được xếp hạng thứ 3/64 đoàn, cùng với những chiếc huy chương vàng, bạc, đồng, nổi bật hơn cả là VĐV Nguyễn Hữu Thắng và Trần Tiến Khoa – Đoàn VĐV TP.Cần thơ đã đạt được hai huy chương
vàng nội dung cá nhân quyền môn Taekwondo khối THCS, THPT “Tư liệu báo cáo
tháng 03/2014 của Liên đoàn Taekwondo TPCT”
Từng bước môn võ Taekwond đã đi vào học đường gắng bó với các em học sinh, thiếu niên nhi đồng, vừa học vừa vui chơi giải trí sau bao ngày học tập trên lớp các em được hòa mình vào không khí tập luyện, tập võ không chỉ nâng cao thể chất mà còn tinh thần cho các em ngoài ra có thể phòng thân, tự vệ khi gặp những tình huống bất ngờ Taekwondo trường học không còn lạ gì nữa, nhiều CLB Taekwondo trong trường học được mở ra thu hút hàng trăm học viên chủ yếu là các em học sinh trong và ngoài trường theo học, điển hình trên địa bàn TP Cần Thơ có trên 35 CLB Taekwondo trong Trường học như : CLB Taekwondo trường Nguyễn Việt Hồng, CLB Taekwondo trường Trần Ngọc Quế, CLB Taekwondo trường tiểu học Lê Bình 1,2 , phong trào thí đấu trong trường chào mừng các ngày lễ lớn đều không thiếu sự góp mặt của Taekwondo nhiều tiết mục biểu diễn kỹ thuật quyền bằng tay của các em đều được đông đảo mọi người hoan hô chào đón rất nhiệt tình
Tuy nhiên, qua thực tế, tìm hiểu, trong quá trình quan sát cho thấy chất lượng
kỹ thuật đòn tay khi thực hiện bài quyền cũng như trong đối kháng, vấn đề phòng thủ tấn công của các em võ sinh còn nhiều hạn chế chất lượng không đồng đều chưa đáp
Trang 12ứng được nhu cầu như mong đợi của các bậc phụ huynh và hội thi cấp tỉnh thành, quốc gia
Các CLB Taekwondo trường học là cơ sở, nền tảng tạo ra những thế hệ vàng cho may sau Tuy nhiên, theo quan niệm chung của các HLV chỉ muốn các em đến lớp
có một sân chơi lành mạnh chứ chưa định hướng được cho các em ngắm vào mục đích thi đấu và chú trọng nâng cao kỹ thuật đòn tay trong đối kháng và thi quyền Cho nên, đến kỳ kiểm tra thực hành các em còn hạn chế nhiều và không đạt được kết quả tốt
Xuất phát từ những yêu cầu bức thiết nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường nói chung và của môn Taekwondo nói riêng Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT ĐÒN TAY CHO VÕ SINH CLB TAEKWONDO TRƯỜNG THCS HƯNG PHÚ, QUẬN CÁI RĂNG, TPCT NĂM HỌC 2014 – 20 15 ” là việc làm cần thiết để góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo của môn Taekwondo
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu, đề tài sẽ xây dựng các bài tập bổ trợ chuyên môn phục vụ trong giảng dạy các kỹ thuật đòn tay trong thi đấu quyền và đối kháng cho võ Sinh Taekwondo Trường THCS Hưng Phú, quận Cái Răng, TPCT Giúp cho võ sinh nhanh chóng tiếp thu và thực hiện chính xác, đẹp các kỹ thuật đòn tay Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo môn võ Taekwondo trong trường học
Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu:
Để giải quyết mục đích nghiên cứu, đề tài tiến hành giải quyết 2 mục tiêu sau:
* Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng việc sử dụng bài tập chuyên môn trong giảng dạy các kỹ thuật đòn tay cho võ sinh Taekwondo trường THCS Hưng Phú, quận Cái Răng, TPCT
* Mục tiêu 2: Nghiên cứu Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các bài tập ứng dụng trong giảng dạy các kỹ thuật đòn tay cho võ sinh CLB Taekwondo trường THCS Hưng Phú – Q Cái Răng – TP.Cần Thơ
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Bác Hồ về TDTT
Dưới chế độ phong kiến Đế quốc thực dân, Thể dục thể thao đã bị sự kìm hãm do sự ích kỷ của giai cấp thống trị Hiểu được nỗi khổ nhục của nhân lao động vùng thuộc
địa, Mác – Ăng Ghen đã nêu luận chứng rằng: “chỉ có xã hội được tổ chức trên cơ sở
Cộng Sản Chủ Nghĩa mới đem lại cho các thành viên xã hội phát triển toàn diện và sử dụng đầy đủ năng lực của mình”
Sau cách mạng tháng 10 Nga, V.I Lê Nin đã tiếp tục đi sâu và phát triển sáng tạo Học thuyết về giáo dục toàn diện của Mác và Ăng Ghen Lê Nin đặc biệt quan tâm
sâu sắc đến tương lai của thế hệ trẻ, đến cuộc sống của họ Người nhấn mạnh: “Thanh
niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham gia các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần, học tập, phân tích nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau”
Lê Nin còn khẳng định tính biện chứng của sự phát triển hài hòa giữa thể chất
và tinh thần “tinh thần khỏe mạnh phù thuộc vào thân thể khỏe mạnh”
1.1.1 Quan điểm của Bác Hồ - một vĩ nhân của Thế giới, là vị cha già kính
yêu của dân tộc Việt Nam, là một nhà chính trị và văn hóa lỗi lạc Sinh thời, Bác đã rất quan tâm đến hoạt động Thể dục thể thao Sự thật lịch sử đã chứng minh, Bác Hồ
là người khai sinh, người sáng lập nền Thể dục thể thao cách mạng của nước ta Tư tưởng bao trùm của Bác Hồ trong việc đặt nền tảng xây dựng Thể dục thể thao là sự khẳng định có tính chiến lược, là nhu cầu khách quan của xã hội phát triển, là nghĩa
vụ của mọi người yêu nước Mục tiêu cao đẹp của Thể dục thể thao là bảo vệ, tăng cường sức khỏe nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống, làm cho dân cường nước thịnh Những ý tưởng đó được thể hiện xuyên suốt qua các lời huấn thị, văn kiện, bài viết của Người
Tháng 3 năm 1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh, Bác
Hồ đã nêu rõ: “Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống
thêm khỏe mạnh” Sau khi nước nhà vừa mới độc lập, chính quyền cách mạng còn non
trẻ, đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn như thù trong, giặc ngoài, nạn đói, xã hội chưa ổn định Ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 2 năm 1946 Bác Hồ mặc dù bận rộn trăm công, nghìn việc, nhưng bác
Trang 14Hồ đã nhìn thấy tầm quan trọng của GDTC Người đã kêu gọi toàn dân tập thể dục
Bác Hồ đã dạy: “Dân có cường thì nước mới thịnh”
Ngày 27/3/1946, Hồ Chủ Tịch lại ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục để giữ gìn
sức khỏe, Người chỉ cho nhân dân ta thấy rằng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà,
gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”, và Người cũng chỉ
rõ, muốn có sức khỏe thì “nên tập luyện thể dục” và coi đó là “bổn phận của mỗi
người dân yêu nước” Từ năm 1991, theo quyết định của Chính phủ, lấy ngày 27/3
hàng năm là “Ngày Thể thao Việt Nam”
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT
Đảng lãnh đạo công tác Thể dục thể thao bằng việc hoạch định đường lối quan điểm Thể dục thể thao, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đường lối quan điểm Thể dục thể thao do mình đề ra và được thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về Thể dục thể thao suốt thời kỳ lãnh đạo Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân cũng như các
giai đoạn xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội: “Từng bước xây dựng nền Thể dục thể thao XHCN phát triển cân đối, có tính dân tộc, khoa học và nhân dân” và “Công tác Thể dục thể thao cần coi trọng việc nâng cao chất lượng GDTC trong trường học, tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân rèn luyện thân thể hàng ngày”
Giáo dục toàn diện là mục tiêu luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhằm chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ bước vào tương lai Về định hướng công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong những năm tới, nghị quyết Trung
ương II khóa VIII đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ phải trở thành quốc sách hàng đầu Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh phải có con người phát triển toàn diện Tức là không chỉ phát triển về mặt trí tuệ, đạo đức mà còn cường tráng về thể chất Chăm lo cho con người về thể chất, là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các ngành, các đoàn thể, trong đó có GDĐT, y tế và Thể dục thể thao”
- Cùng với nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước Bộ GD và ĐT đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác Giáo dục thể thao nói chung và GDTC trong học đường nói riêng, bằng rất nhiều văn bản, pháp quy cụ thể như:
- Thông tư liên tịch số 08/LB-DN-Thể dục thể thao ngày 24/12/1986 về công tác thể dục thể thao trong trường nghề và sư phạm
Trang 15+ Chỉ thị 36 CT/TW nêu rõ: “ Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác Thể dục thể thao là hình thành nền Thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân Thực hiện GDTC trong tất
cả các trường học, nhằm mục tiêu làm cho việc tập luyện Thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên”
+ Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Thể dục thể thao nước nhà, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 133/TTg về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành Thể dục thể thao, trong đó nêu rõ: (Ngành Thể dục thể thao phải xây dựng định hướng phát triển có tính chất chiến lược, trong đó quy định các môn thể thao và các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi tạo thành
phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng “ khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ
quốc” )
1.2 Khái niệm về hệ thống bài tập
Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp, Mátveép, thì hệ thống các bài tập được khái niệm như sau “ Những bài tập có cùng mục đích xắp xếp theo trình tự đơn giản đến phức tạp, từ dể đến khó, từ nhẹ đến nặng… được gọi là hệ thống các bài tập” hệ thống bài tập bao gồm hệ thống bài tập bổ trợ giảng dạy, hệ thống bài tập nâng cao hoàn thiện kỹ thuật , hệ thống bài tập phát triển chung …….Trong đó mỗi loại bài tập thực hiện nhiệm vụ chung Ví dụ: hệ thống bài tập phát triển thể lực chung là hệ thống bao gồm những bài tập phát triển các tố chất chung như bài tập sức nhanh, mạnh, bền,… của VĐV tạo nền tảng phát triển thể lực chuyên môn
- Các nhà khoa học trong và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), Điền Mạnh Cửu (Trung Quốc), Nguyễn Văn Trạch, Lê Văn Lẫm (Việt Nam)… cho rằng: “BTBT là một trong những phương tiện dùng để giảng dạy, huấn luyện TDTT Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho VĐV, bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập mang tính tăng cường các tố chất thể lực… còn BTBT chuyên môn lại là những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt của môn thể thao”
Cũng có cùng quan điểm với học giả nước ngoài Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng “ BTBT chuyên môn là các bài tập phối hợp các yếu tố của các động tác thi đấu và các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn dắt tác động có chủ
Trang 16đích và có hiệu quả đến sự nắm vững kỹ năng kỹ xảo và sự phát triển các tố chất thể lực củaVĐV ngay ở chính những môn thể thao đó”
Các khái niệm của các tác giả trên có khác nhau về cách trình bày cũng như ngôn ngữ sử dụng đều có sự nhất trí cao về nội hàm Như vậy BTBT chuyên môn
có thể được hiểu là những bài tập mang tính chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt nhằm giúp VĐV nắm vững và hoàn thiện, nâng cao kỹ chiến thuật cho từng môn thể thao cụ thể
Khi bố trí các bài tập phát triển thể lực chung cho vận động viên Taekwondo, cần chú ý đảm bảo phát triển các năng lực thể chất, các kỹ năng, kỹ xảo vận động hỗ trợ tích cực cho các kỹ thuật Taekwondo và thúc đẩy nhanh sự hồi phục
Khi lựa chọn, sắp xếp bố trí hệ thống các bài tập phát triển tố chất thể lực trong quá trình huấn luyện, cần tuân thủ các nguyên tắc tăng dần lượng vận đông, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc lựa chọn, nguyên tắc phù hợp… và căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi, giới tính, trình độ của vận động viên
1.3 Huấn luyện thể lực trong thể thao
Thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực được quan tâm đặc biệt không kém các lĩnh vực văn hoá - xã hội, thể hiện sự khát vọng vươn lên khả năng cao nhất của con người Vì vậy, tiềm năng của con người đã và đang được khai thác triệt
để, nhằm đạt thành tích thể thao cao nhất trong các cuộc thi đấu Các khả năng về kỹ, chiến thuật, thể lực, hoạt động tâm lý, ý chí, tri thức của vận động viên là những yếu tố quyết định đến thành tích thể thao Trong đó: khả năng hoạt động thể lực, đặc biệt là thể lực chung và thể lực chuyên môn giữ vai trò nền tảng
Huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là vấn đề được quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, các chuyên gia, các huấn luyện viên
Huấn luyện thể lực là tiền đề để nâng cao thành tích thể thao Song, về bản chất mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan và hệ thống cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng giữ vai trò chủ yếu trong mỗi hoạt động cơ bắp Theo Philin V.P [19] , "Các tố chất thể lực phát triển có tính giai đoạn và không đồng đều , tuỳ thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi" Vì vậy, người huấn luyện viên không những phải nắm vững các quy luật phát triển tự nhiên,
Trang 17đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc phát triển các tố chất thể lực) của cơ thể, mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tố chất thể lực theo độ tuổi của vận động viên
Huấn luyện thể lực cho vận động viên là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng hệ thống các bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo cho vận động viên đạt thành tích cao nhất trong huấn luyện và thi đấu [38]
Quá trình huấn luyện thể lực phải căn cứ vào đặc điểm đối tượng, lứa tuổi của vận động viên và đặc thù môn thể thao, mà sử dụng các phương pháp, phương tiện phù hợp Có như vậy, huấn luyện thể lực mới mong đạt hiệu quả cao [40]
Dưới góc độ Y - sinh học, các nhà khoa học Việt Nam: GS.TS Lưu Quang Hiệp [9] , GS Trịnh Hùng Thanh [22] cho rằng: Nói đến huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong huấn luyện thể thao là nói tới những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể vận động viên dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp
Tổng hợp các ý kiến trên, chứng tỏ quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn của vận động viên là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) lên vận động viên nhằm hình thành, phát triển khả năng vận động, mà biểu hiện là ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo),
là ở việc nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với năng lực vận động của vận động viên và phù hợp với các yếu tố tâm lý đặc trưng cho hoạt động của mỗi môn thể thao
1.3.1 Huấn luyện các tố chất thể lực cho vận động viên Taekwondo
Thành tích thể thao của môn Taekwondo là tổng hợp kết quả của nhiều yếu tố hợp thành, nên không thể coi nhẹ bất kỳ một yếu tố nào, mà phải phát triển đồng bộ, toàn diện Một vấn đề hết sức cấp bách, quan trọng trong công tác huấn luyện và đào tạo vận động viên trẻ là phải phát triển toàn diện các tố chất thể lực chuyên môn
Muốn phát triển tố chất thể lực cho vận động viên Taekwondo hay vận động viên các môn thể thao khác thì nhất thiết phải thực hiện huấn luyện thể lực một cách toàn diện, có kế hoạch, có mục đích và khoa học
Có như vậy mới đảm bảo cơ sở cho việc nắm vững, ổn định toàn diện trình độ
kỹ, chiến thuật, tâm sinh lý của vận động viên Taekwondo, Trên cơ sở chuẩn bị thể lực chung tiến hành chuẩn bị thể lực chuyên môn thông qua các bài tập chuyên biệt như :
Trang 18Đấm, đá bao kết hợp, thi đấu nhẹ (đấu vờn với nhau, có mục tiêu nhưng không va chạm đòn), di chuyển tấn công và phản đòn, đá tay đá (lăm- pơ), đá nhiều mục tiêu di động
Rút ra từ những quan điểm trên, đề tài đặt ra nhiệm vụ chuẩn bị cho các bài tập thể lực chuyên môn là:
- Nâng cao khối lượng và cường độ tập luyện bằng các phương tiện chuyên môn và phương pháp hữu quan
- Phát triển và hoàn thiện các tố chất thể lực, riêng ưu tiên trực tiếp cho thi đấu
- Phát triển có chọn lọc các nhóm cơ cần thiết cho thi đấu như bài tập về đòn tay kết hợp với đòn chân thực hiện một cách liên tục
- Khắc phục những điểm yếu trong việc phát triển thể lực, có ảnh hưởng xấu đến việc tiếp thu kỹ thuật đúng
- Những bài tập chuẩn bị thể lực chuyên môn là những bài tập có cấu tạo thần kinh - cơ hoặc có tính chất tương đồng với các bài tập thể lực chung, nhằm chủ yếu phát triển và hoàn thiện những nhóm cơ làm việc chính và những chức năng chủ yếu
1.3.2 Các tố chất thể lực:
Các mặt khác nhau của hoạt động thể lực được gọi là các tố chất thể lực hay còn gọi là tố chất vận động Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý, lý luận, và phương pháp thể dục thể thao về tố chất thể lực, đề tài tiến hành phân tích đặc điểm của từng tố chất
1.3.2.1 Sức mạnh:
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài, hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp [23] [21] Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt động như vậy cơ bắp sản ra các lực cơ học, các trị số khác nhau cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ
sở phân biệt các loại sức mạnh Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã
đi đến một số kết luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh
Trang 19Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị
số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của các cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối
đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan với nhau Trên cơ sở đó sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh tốc độ còn được chia nhỏ tuỳ theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung [23]
Trong vận động thể thao, sức mạnh luôn có quan hệ với các tố chất thể lực khác, cụ thể là sức nhanh và sức bền Do đó, năng lực sức mạnh được phân thành 3 hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh (sức mạnh - tốc độ), năng lực sức mạnh bền Đồng thời các năng lực sức mạnh này rất có ý nghĩa trong hoạt động thể dục thể thao, có vai trò quyết định đến thành tích của hoạt động Song, năng lực sức mạnh - tốc độ, sức mạnh bền đặc trưng cho phần lớn các môn thể thao nói chung và môn Taekwondo nói riêng Đặc điểm sức mạnh của vận động viên Taekwondo thể hiện ở sức nặng của đòn đấm và đòn đá khi ra đòn trong thi đấu đối kháng hay trong thi đấu quyền
1.3.2.2 Sức nhanh:
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động [23]
Người ta phân biệt 3 hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:
- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động
- Tốc độ động tác đơn (với lực đối kháng bên ngoài nhỏ)
- Tần số động tác
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau
Trong nhiều động tác thực hiện với tốc độ tối đa người ta quan sát thấy hai giai đoạn
Trang 20- Giai đoạn tăng tốc độ
- Giai đoạn tốc độ ổn định tương đối
Đặc điểm của giai đoạn thứ nhất là chuyển động nhanh dần hay chuyển động có gia tốc Khi tốc độ không tăng thêm được nữa thì chuyển sang giai đoạn hai, giai đoạn chuyển động đều
Theo quan điểm sinh lý, về thời gian tiềm phục của phản ứng vận động gồm năm thành phần:
- Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ
- Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương
- Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu ly tâm
- Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ
- Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tích cực
Trong các giai đoạn thì giai đoạn thứ 3 chiếm nhiều thời gian nhất Những động tác được thực hiện với tốc độ tối đa khác với động tác chậm về đặc điểm sinh lý Nguyên do của sự khác biệt thể hiện cơ bản ở chỗ: Khi thực hiện với tốc độ tối đa thì khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến trình thực hiện động tác sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác trong các động tác rất nhanh và thực hiện với tần số cao Trong động tác với tốc độ lớn, hoạt động của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế
cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường Người ta thừa nhận rằng tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh, tức là phụ thuộc vào tốc độ luân chuyển giữa trạng thái hưng phấn và ức chế ở trung khu vận động [9]
1.3.2.3 Sức bền:
Sức bền là năng lực thực hiện lâu bền một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được [23]
Để có sức bền, vận động viên phải khắc phục mệt mỏi, nên sức bền còn có thể nói là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó [23]
Như vậy khái niệm sức bền luôn luôn liên quan đến khái niệm mệt mỏi Sức bền đảm bảo cho vận động viên đạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận động kéo dài của thi đấu tương ứng với khả năng tập luyện của mình Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao
Trang 21và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ, chiến thuật tốt từ đầu cho đến cuối cuộc đấu và khi vượt qua một khối lượng vận động lớn trong tập luyện Do đó sức bền không những là một nhân tố xác định và ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu, mà còn là một nhân tố xác định thành tích tập luyện và khả năng chịu đựng lượng vận động của vận động viên Sức bền phát triển tốt là một điều kiện quan trọng để hồi phục nhanh
Sức bền gồm sức bền chung và sức bền chuyên môn
Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ thấp, có
sự tham gia của phần lớn hệ cơ
Sức bền chung có khả năng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, tức
là khi được nâng cao trong một loại bài tập nào đó, nó có khả năng biểu hiện trong các loại bài tập khác có cùng tính chất Điều này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Để nâng cao sức bền chung của vận động viên ở một môn nào đó có thể sử dụng nhiều hình thức bài tập khác nhau
Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những
loại hình bài tập nhất định
Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào những nhân
tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật Do đó, khi nâng cao sức bền chuyên môn trong một loại bài tập xác định nào đó thì hầu như không có tác dụng làm tăng sức bền chuyên môn trong một loại bài tập khác tức là ở đây hầu như không có sự chuyển của sức bền Sự chuyển của sức bền có thể xẩy ra hay không tuỳ thuộc vào cơ chế cung cấp năng lượng trong vận động, đặc điểm các tố chất vận động của bài tập, tác dụng tương hỗ của kỹ năng, kỹ xảo vận động Sức bền nói chung rất cần thiết cho con người Đối với vận động viên Taekwondo, nó là một thành phần tất yếu trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt, trước hết đó là
hệ thống thần kinh trung ương, cũng như các hệ thống tim mạch, hô hấp
Trang 22Mềm dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp
nhờ tác động của ngoại lực như: Trọng lượng của cơ thể, lực ấn ép của huấn luyện viên hoặc bạn tập
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao
Mềm dẻo rất cần thiết cho vận động viên Taekwondo để hoàn thành các bài tập với biên độ động tác lớn Nhờ các bài tập chuyên môn, vận động viên đạt được độ mềm dẻo tốt hơn, từ đó đáp ứng được đòi hỏi khi thực hiện các động tác trong thi đấu đối kháng hay đi quyền, nhất là khi phải sử dụng nhiều đòn tay và chân Tố chất mềm dẻo giúp vận động viên Taekwondo thực hiện các đòn đá với biên độ lớn dễ dàng hơn, nhanh hơn, mạnh hơn, chính xác hơn Tố chất mềm dẻo đóng một vai trò quan trọng
và quyết định đến thành tích thi đấu của vận động viên Taekwondo Nếu không có dự trữ về khả năng mềm dẻo thì không thể đạt được sức mạnh tối đa trong động tác cũng như không đạt được hiệu qủa tốt, nhẹ nhàng trong động tác
1.3.2.5 Phối hợp vận động:
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động viên (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết ở khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin) và được vận động viên hình thành và phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: Sức mạnh, sức nhanh và sức bền, mềm dẻo
Năng lực phối hợp của vận động viên còn được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹ xảo về kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo về kỹ thuật thể thao có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể thì năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau
Năng lực phối hợp vận động gồm bẩy loại năng lực:
Năng lực liên kết vận động: Đó là năng lực liên kết các hoạt động của từng bộ
phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với hoạt động nhất định Nó thể
Trang 23hiện sự kết hợp các yếu tố về không gian, thời gian và dùng sức trong quá trình vận động
Năng lực định hướng: Đó là năng lực xác định thay đổi tư thế và hoạt động
của cơ thể trong không gian và thời gian
Năng lực thăng bằng: Đó là năng lực ổn định trạng thái thăng bằng của cơ thể
(thăng bằng tĩnh) hoặc duy trì và khôi phục nó trong và sau khi thực hiện động tác (thăng bằng động)
Năng lực nhịp điệu: Đó là năng lực nhận biết được sự luân chuyển các đặc
tính chuyển động của một động tác trong quá trình hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác
Năng lực phản ứng: đó là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện các
phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu (đơn giản hoặc phức tạp)
Năng lực phân biệt vận động: đó là năng lực thực hiện động tác một cách
chính xác cao và tinh tế từng hoạt động riêng lẻ, từng giai đoạn của quá trình đó Năng lực này thể hiện sự phân biệt có ý thức và chính xác các thông số về thời gian, không gian và dùng sức trong quá trình thực hiện động tác
Năng lực thích ứng: đó là năng lực của vận động viên chuyển nhanh chóng
chương trình hành động này sang chương trình hành động khác dựa trên cơ sở tri giác những thay đổi của hoàn cảnh hoặc dự đoán có các thay đổi đó
Như vậy, đánh giá trình độ tập luyện thể lực đòi hỏi phải xem xét nhiều mặt cấu thành của nó: sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, sức bền và năng lực phối hợp vận động
1.4 Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi 12-15 (Trung học cơ sở: THCS)
1.4.1 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi 12 - 15:
Cấu trúc tâm lý các môn thể thao là một hình thức biểu hiện hoạt tính tâm lý Vận động viên, trong đó phản ánh sự tổng hợp của các hoạt động gắn liền với các ý nghĩa nội dung cụ thể với logic xây dựng các cấu trúc vận động
Đối với Taekwondo, hoạt tính tâm lý hai chiều thể hiện tương đối rõ nét Vận động viên không những chỉ cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động kỹ, chiến thuật của mình, đồng thời phải chống đỡ và làm giảm hiệu lực hành động kỹ, chiến thuật của đối phương Song song với việc đặt kế hoạch hành động của mình và dự đoán hành động
Trang 24của đối phương, phản ứng trả lời nhanh, hợp lý, hành động quyết đoán và hạn chế các hành động tương tự của đối phương Tất cả những cái đó phản ánh nên quy luật chung nhất về hoạt tính tâm lý hai chiều của vận động viên Taekwondo
Trong hoạt động thi đấu Taekwondo những yêu cầu tâm lý đối với các vận động viên có liên quan tới: Những khó khăn liên quan đến điều kiện chung của hoạt động thi đấu như khán giả, sân bãi, luật thi đấu và đặc biệt sự luân chuyển nhanh giữa thành công và thất bại, khả năng chuyển ưu thế bất ngờ về đối phương là yếu tố tác động mạnh làm tăng hoặc giảm hưng phấn thi đấu; những khó khăn liên quan đến sự chuẩn bị thể lực; những khó khăn liên quan đến thực hiện các hành động kỹ thuật như hành động của vận động viên Taekwondo rất đa dạng và biến hoá Những hành động
đó có định hình động lực thay đổi rất lớn phù hợp với các tình huống thi đấu biến động Do đó,vận động viên môn Taekwondo phải duy trì khả năng phối hợp giữa kỹ thuật và thể lực trong điều kiện mệt mỏi ngày càng gia tăng, sự căng thẳng cảm xúc mạnh, hướng sự chú ý tới việc định hướng trong các tình huống thi đấu
1.4.2 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi 12 - 15
Đặc điểm sinh lý lứa tuổi vận động viên Taekwondo nam 12 - 15 tuổi: Trong suốt một đời người cơ thể trải qua những biến đổi mang tính quy luật đặc trưng là hình thái, chức năng, tâm - sinh lý và năng lực hoạt động thể lực cũng như khả năng trí tuệ
Sự hiểu biết sâu và cụ thể các quy luật đó giúp cho chúng ta có cách nhìn nhận khách quan khoa học trong quá trình đào tạo vận động viên nói chung cũng như vận động viên Taekwondo nói riêng Cần phải căn cứ vào đó để sắp xếp khối lượng vận động,
để bắt đầu huấn luyện và cho thi đấu Ngoài ra còn phải có chương trình tập luyện khác nhau cho các nam vận động viên Taekwondo theo từng độ tuổi
Đặc điểm cơ thể
Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển rất nhanh về chiều cao và cân nặng Đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể 80% so với người lớn
Cơ sở sinh lý của lứa tuổi 12 - 15
Đặc điểm quan trọng của công việc huấn luyện thể thao cho thiếu niên và quá trình huấn luyện diễn ra trên một cơ thể còn đang phát triển, điều đó làm cho công tác
Trang 25huấn luyện vận động viên trẻ thêm phức tạp và đòi hỏi phải nắm vững các đặc điểm lứa tuổi cũng như áp dụng phù hợp với mục tiêu và nội dung huấn luyện
Cần lưu ý rằng trong huấn luyện thể thao đối với thiếu niên, không chỉ cần quán triệt các đặc điểm sinh lý lứa tuổi mà các đặc điểm tâm lý cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng Vì vậy trong khoa học thể dục thể thao khái niệm tâm sinh lý tồn tại Tâm sinh lý lứa tuổi được xem một cách hữu cơ trong toàn bộ quá trình huấn luyện, nhất
là huấn luyện thể thao cho thiếu niên
Trong huấn luyện thể thao thiếu niên cần phải đặc biệt lưu ý đến sự phù hợp giữa lượng vận động tập luyện và thi đấu với mức độ phát triển tâm - sinh lý của các
em Lượng vận động cực đại không đảm bảo phát triển các phản ứng thích nghi cần thiết cho sự phát triển trình độ thể thao Ngược lại, lượng vận động quá sức có thể làm cạn kiệt khả năng dự trữ của cơ thể, dẫn đến những hiện tượng rối loạn bệnh lý
Đối với cơ thể thiếu niên, tập luyện nóng vội, rút ngắn giai đoạn, sử dụng những bài tập chuyên môn hạn hẹp cũng có thể gây nên ảnh hưởng xấu Vì vậy những bài tập phát triển toàn diện, với số lượng vận động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng trong các chương trình huấn luyện thể thao thiếu niên khả năng vận động của cơ thể thiếu niên cũng tuân theo những đăc điểm lứa tuổi giai đoạn thích nghi với vận động của thiếu niên ngắn hơn so với người lớn Tuy nhiên, vận động viên lứa tuổi này vẫn cần phải được khởi động đủ và kỹ để phòng chấn thương và đảm bảo phát huy hết dự trữ chức năng
Trạng thái ổn định của vận động viên tuổi này nói chung ngắn hơn của người lớn Ví dụ, khi thực hiện bài tập có công suất trung bình (30 - 40 phút trên xe đạp lực kế), trạng thái ổn định của các em 12 - 15 kéo dài 15 đến 20 phút, trong khi của vận động viên 25 - 26 tuổi kéo dài 30 đến 32 phút Dự trữ đường (đường huyết) Của vận động viên trẻ giảm sớm hơn so với người lớn
Quá trình mỏi mệt của các vận động viên thiếu niên cũng phụ thuộc vào đặc điểm của lứa tuổi và được thể hiện ở 2 mặt:
- Thứ nhất, trong giai đoạn mỏi mệt, khả năng vận động nói chung cũng như những chỉ số riêng như tần số động tác, sức mạnh, độ chuẩn giảm rõ rệt hơn nếu so sánh với người lớn
Trang 26- Thứ hai là, mỏi mệt ở thiếu niên ngay cả khi ở môi trường bên trong của cơ thể mới chỉ có những biến đổi tương đối nhỏ
Lứa tuổi còn ảnh hưởng tới cả tính chất của các quá trình hồi phục sau vận động Sau các bài tập yếm khí (tốc độ) thời gian ngắn, sự phục hồi khả năng vận động,các chức năng sinh lý và dinh dưỡng ở trẻ em xảy ra nhanh hơn so với người lớn
Ví dụ trong hoạt động công suất tối đa thì các em hồi phục nhanh hơn người lớn
Sau các bài tập kéo dài có tính chất phát triển sức bền, các em vận động viên thiếu niên, ngược lại, lại hồi phục chậm hơn so với người lớn Điều này thể hiện đặc biệt rõ sau các bài tập lặp lại tăng dần công suất hoặc rút ngắn dần thời gian nghỉ giữa quãng
1.4.2.1 Đặc điểm của hệ thần kinh:
Chức năng của hệ thần kinh chịu ảnh hưởng của hoạt động nội tiết trong tuổi dậy thì, các hocmon sinh dục và hocmon của tuyến giáp tăng, làm cho khả năng hưng phấn của hệ thần kinh trung ương tăng và còn làm rối loại thăng bằng giữa các quá trình hưng phấn và ức chế Hoạt động của tuyến yên cũng tăng lên và lại có tác dụng kích thích tuyến sinh dục Quá trình ức chế tăng lên nhưng hưng phấn vẫn chiếm ưu thế Hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển hơn nữ Khi huấn luyện các em nam Vận động viên Taekwondo tuổi 12 -15 chúng tôi nhận thấy rất rõ Các em có thể có những lối tấn công nhanh, mạnh, tốc độ nhưng độ chính xác chưa cao, phản ứng thiếu linh hoạt khi đối phương thay đổi chiến thuật và hướng tấn công Từ 15 tuổi trở lên, ức chế có điều kiện phát triển, mối quan hệ giữa hưng phấn và ức chế được hoàn thiện hơn Động tác tiết kiệm hơn và phối hợp tốt hơn
Các em nam ở lứa tuổi 12 - 15 đang tách dần thời thơ ấu chuyển sang tuổi trưởng thành Do đó, các nhà tâm lý học thường gọi thời kỳ này là thời kỳ quá độ chuyển sang từ trẻ con sang người lớn Trong giai đoạn này trẻ em được hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ, tình cảm, ý chí nhưng ở giai đoạn này sự phát triển của trẻ diễn ra tương đối phức tạp, đời sống tâm lý có nhiều mâu thuẫn, nhiều thay đổi đột biến khiến những nhà giáo dục phải ngạc nhiên và cảm thấy khó xử
Công tác giáo dục và huấn luyện vận động viên ở lứa tuổi này rất phức tạp, huấn luyện viên cần nắm chức các đặc điểm phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tâm lý
Trang 27để điều chỉnh khối lượng vận động, cường độ vận động và phương pháp để đảm bảo thành tích thể thao phát triển ở trước, trong và sau thời kỳ của tuổi dậy thì
Sự phát triển của trẻ em nam tuổi 12 - 15 mang tính độc đáo, nổi bật là tính chất quá độ: “vừa trẻ con, vừa người lớn”, vì lẽ đó nên trong giáo dục, huấn luyện và đối xử với các em phải hết sức tế nhị và tôn trọng tính độc lập, nhưng lại phải hướng dẫn, theo dõi kịp thời từng bước phát triển của chúng
Hệ thần kinh được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy, phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho việc hình thành phản xạ có điều kiện Ngoài ra do hoạt động mạnh của tuyến giáp tuyến sinh dục, tuyến yên, làm cho quá trình hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực cho nên phải
sử dụng các bài tập sao cho phù hợp
là giai đoạn đầu của bệnh huyết áp cao
Mạch đập của nam vận động viên Taekwondo lứa tuổi 12 - 15 theo quan sát của
đề tài thường dao động từ 65 - 75 lần/ph, không có sự khác biệt nhiều so với vận động viên cùng lứa tuổi ở các môn thể thao khác
Trong thực tiễn hoạt động thể thao và huấn luyện Taekwondo trẻ, khi vận động viên có loạn nhịp tim đã dẫn đến các ý kiến khác nhau giữa các thầy thuốc Có người cho rằng loạn nhịp tim thì không thể tập luyện với lượng vận động lớn được, còn có người thì nói ngược lại
1.4.2.3 Hệ xương: Vẫn tiếp tục được cốt hoá mãi tới năm 24 – 25 tuổi mới hoàn
thiện, các cơ tăng khối lượng và đạt 40 - 42 % trọng lượng toàn thân Sự cốt hoá bộ xương điều đó có ý nghĩa chuẩn bị chấm dứt sự phát triển chiều dài Quá trình đó xảy
ra do các màng xương được phát triển dày lên bao bọc quanh sụn
Trang 281.4.2.4 Hệ cơ: Riêng cơ bắp cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) các cơ co
phát triển sớm hơn cơ duỗi vì vậy sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh là hợp lý nhưng các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ
1.4.2.5 Hệ tuần hoàn: Đã phát triển hoàn thiện mạch đập của nam vào khoảng 70 -
75 lần / phút Sau hoạt động mạch và huyết áp hồi phục tương đối nhanh cho nên phù hợp với những bài tập sức mạnh tốc độ, cường độ tương đối lớn phát triển sức mạnh
và nhanh cho lứa tuổi này rất phù hợp
1.4.2.6 Hệ hô hấp: Vòng ngực dần dần hoàn thiện trung bình của nam vào khoảng 65
- 70 cm diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 110 - 140 cm, dung lượng phổi khoảng 3 -
4 lít tần số hô hấp 10 - 20 l/ phút vì vậy các bài tập phát triển sức bền rất phù hợp với lứa tuổi này
Đặc điểm hệ hô hấp: Cùng với sự phát triển của cơ thể, thể tích của phổi cũng tăng
lên Đặc biệt sự tăng trưởng rõ nhất xuất hiện ở tuổi từ 12 đến 16 Sự tăng trưởng của phổi chủ yếu là do tăng số lượng các phế nang
Chỉ số chức năng cơ bản của phổi đó là dung tích sống của phổi Trong thực tiễn huấn luyện thể thao chúng tôi nhận thấy dung tích sống của các em vận động viên Taekwondo nam tuổi 12 - 15 đạt chỉ số gần bằng ở người lớn bình thường không tham gia tập luyện thể thao Chỉ số đó có thể đạt từ 3.000 – 3.500 ml
1.4.3 Vấn đề phương pháp huấn luyện VĐV Taekwondo trẻ
Căn cứ vào đặc thù của môn Taekwondo và thực tiễn huấn luyện ở Việt Nam, quan điểm nghiên cứu, đề tài chia quy trình đào tạo VĐV Taekwondo trẻ thành 3 giai đoạn theo từng nhóm tuổi:
1.4.3.1 Giai đoạn tập luyện ban đầu
Lứa tuổi tập luyện ở giai đoạn này là 11-13 tuổi và kéo dài khoảng 2 năm Nhiệm vụ chính là huấn luyện để tăng cường sức khoẻ, nắm vững những khả năng vận động, đa dạng và các yếu tố kỹ thuật cơ bản môn Taekwondo, huấn luyện thể lực toàn diện và những yêu cầu về năng khiếu của VĐV Do vậy các phương pháp huấn luyện
chủ yếu sử dụng trong giai đoạn 11-12 tuổi này bao gồm:
- Huấn luyện kỹ thuật: Do trình độ nhận thức và khả năng tư duy của các em cũng thấp, nên chủ yếu khi học kỹ thuật động tác cần phát huy khả năng bắt chước của các em, không nên dùng lời nói qúa nhiều mà phải tập trung, tránh rườm rà Do vậy,
Trang 29để huấn luyện kỹ thuật cần phải sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp giảng giải, phương pháp trực quan và phương pháp hoàn chỉnh
- Huấn luyện thể lực: Giai đoạn này chủ yếu huấn luyện thể lực toàn diện Tuy nhiên, cần chú ý nhiều đến sức nhanh Các phương pháp huấn luyện chủ yếu là: Phương pháp trò chơi, phương pháp vòng tròn, phương pháp tổng hợp và phương pháp tập luyện lặp lại
Trong giai đoạn chuyên môn hóa thể thao ở lứa tuổi 12-13 là rất phù hợp:
Giai đoạn này có nhiệm vụ tăng cường sức khoẻ, phát triển thế lực chung toàn diện và các tố chất thể lực chuyên môn như sức mạnh, sức bền tốc độ, sức mạnh tốc
độ, mềm dẻo, khéo léo, khả năng phối hợp vận động, thực hiện tốt các kỹ thuật cơ bản của môn Taekwondo Trong đó đặc biệt chú ý tới kỹ thuật mũi nhọn như di chuyển tấn công hay phòng thủ, kỹ thuật đòn chân, tâm lý thi đấu và có khả năng vận dụng được một số chiến thuật cơ bản để xử lý các tình huống trong lúc thi đấu Bước đầu, xây dựng phong cách lối đánh cho VĐV trên cơ sở lựa chọn kỹ thuật sở trường theo đặc điểm riêng của từng VĐV
Giai đoạn này giữ vị trí rất quan trọng trong kế hoạch huấn luyện nhiều năm, bởi vì nó đặt toàn bộ nền móng cho trình độ thể thao đỉnh cao Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này, trình độ nhận thức của các em đang chuyển biến rõ rệt, khả năng hình thành kỹ năng động tác nhanh hơn và đây cũng là thời kỳ nhạy cảm của hầu hết các tố chất thể lực Do vậy việc lựa chọn và sử dụng tổng hợp các phương pháp huấn luyện thể thao ở giai đoạn này có ý nghĩa to lớn đến hiệu quả của quá trình huấn luyện Thực tiễn, tuỳ thuộc vào nhiệm vụ cụ thể để lựa chọn phương pháp cho phù hợp
- Huấn luyện kỹ chiến thuật và tâm lý:
Ở môn Taekwondo trong giai đoạn này cần dành thời gian tương đối lớn hơn cho huấn luyện kỹ thuật thể thao, VĐV cần nắm vững nhiều kỹ xảo kỹ thuật do vậy cần phải lựa chọn các phương pháp huấn luyện chủ yếu sau: Phương pháp giảng giải, phương pháp trực quan, phương pháp hoàn chỉnh Song với các kỹ thuật phức tạp cũng phải sử dụng phương pháp phân chia Đây là phương pháp chia toàn bộ kỹ thuật ra thành các đoạn nhỏ để tập sau đó lắp ghép lại thành kỹ thuật hoàn chỉnh Thực tế trong huấn luyện kỹ thuật, huấn luyện viên phải sử dụng cả hai phương pháp phân chia và hoàn chỉnh một cách hữu cơ có như vậy với đạt hiệu quả của huấn luyện kỹ thuật Các phương pháp huấn luyện chính sử dụng ở đây là phương pháp huấn luyện nhiều tình
Trang 30huống với phản xạ tốc độ, phương pháp huấn luyện thi đấu và phương pháp huấn luyện lặp lại các bài tập
Huấn luyện thể lực: Trước hết vẫn phải chú ý phát triển thể lực toàn diện, sau
đó cần chú ý đặc biệt việc phát triển sức nhanh, sức mạnh Vì vậy, phải sử dụng rộng rải các bài tập chạy bằng phương pháp huấn luyện tổng hợp bao gồm áp dụng các trò chơi vận động và các môn bóng, các bài tập thi đấu cũng như các bài tập huấn luyện chuyên môn nhằm phát triển các tố chất thể lực Ngoài ra cần chú ý phương pháp tập luyện lặp lại các bài tập như đã đề cập ở trên với các dạng khác nhau dần dần chiếm vị trí chủ đạo, chẳng hạn: Phương pháp tập luyện lặp lại các bài tập sức mạnh, tốc độ khi không và khi có trọng lượng phụ không lớn; phương pháp tập luyện lặp lại các bài tập tốc độ tối đa và gần tối đa; phương pháp tập luyện lặp lại các bài tập tốc độ trong điều kiện được giảm nhẹ
Việc rèn luyện sức bền chung có ý nghĩa quan trọng để phát triển thể lực toàn diện Các phương pháp chủ yếu trong giai đoạn này là: phương pháp tập luyện đồng đều, phương pháp tập luyện biến đổi, phương pháp trò chơi và phương pháp tập luyện vòng tròn
1.4.3.2 Giai đoạn chuyên môn thể thao
Giai đoạn này kéo dài 1 năm ứng với lứa tuổi 14 - 15, đây là giai đoạn cuối cùng chuẩn bị chuyển sang vòng thành tích ban đầu của VĐV Taekwondo Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là: Phát triển toàn diện các tố chất thể lực chung và chuyên môn, nâng cao kiến thức lý luận, tiếp tục hoàn thiện các bước di chuyển phù hợp với phong cách, sở trường, kỹ xảo của VĐV
Việc lựa chọn các phương pháp huấn luyện để giải quyết nhiệm vụ trên thực tế rất đa dạng Song ngoài các phương pháp đã giới thiệu trên cũng chú ý thêm một số các phương pháp khác cụ thể như sau: Phương pháp huấn luyện theo mô hình và phương pháp huấn luyện thi đấu bao gồm thi đấu theo thể thức luân phiên giao lưu và thi đấu thích ứng
Việc huấn luyện thể lực, ngoài các phương pháp huấn luyện đã trình bày ở giai đoạn chuyên môn hoá như phương pháp lặp lại, phương pháp thay đổi, phương pháp vòng tròn, phương pháp thi đấu, để phát triển thể lực toàn diện cũng như các tố chất thể lực chuyên môn của VĐV Taekwondo trẻ Ngoài ra có thể sử dụng một phương pháp thông dụng khác là: Phương pháp huấn luyện quãng cách
Trang 31Quan điểm nghiên cứu về phương pháp huấn luyện trong giai đoạn nâng cao thành tích thể thao:
1.4.3.3 Giai đoạn hoàn thiện thể thao
Giai đoạn này kéo dài khoảng 1 năm, ứng với lứa tuổi 15-16 Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là tiếp tục nâng cao kỹ, chiến thuật, thể lực, hoàn thiện phong cách thi đấu, nâng cao trình độ lý luận, tham gia nhiều cuộc thi đấu trong nước và ngoài nước, có thể chịu đựng lượng vận động cao Căn cứ vào nhiệm vụ trên việc lựa chọn các phương pháp huấn luyện sẽ là: Phương pháp hoàn chỉnh, phương pháp luyện tập lặp lại, phương pháp thi đấu, phương pháp trò chơi, phương pháp luyện tập vòng tròn, phương pháp luyện tập tổng hợp, phương pháp cách quãng
Các hình thức và phương pháp huấn luyện cho thời kỳ này:
- Trong giai đoạn này do các vận động viên đã có một trình độ nhận thức cao và một trạng thái tình cảm phức tạp, cho nên họ không thể sẽ bày tỏ sự phản đối của mình trước các quyết định vô lý hoặc những thái độ không đúng mực của HLV Vì vậy trong giai đoạn này HLV phải cố gắng duy trì một quan hệ tốt với các vận động viên
và phải tạo ra cơ hội để cùng học trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan Tuy nhiên HLV cũng phải giữ một khoảng cách nhất định với vận động viên, tuyệt đối tránh việc quá sa đà và chấp nhận vô điều kiện tất cả các lỗi lầm của vận động viên
- Huấn luyện viên phải nhất thiết giúp các vận động viên củng cố lòng tự tin thông qua việc động viên và khuyến khích họ nổ lực vươn lên tới các mục tiêu đúng đắn đã được đề ra
- Nếu HLV trở thành thần tượng của các vận động viên thì họ sẽ sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn và gian khổ để thực hiện những lời chỉ dẫn của HLV, vì vậy HLV phải cố gắng để làm được điều đó
- HLV nhất thiết phải làm cho các vận động viên hiểu rõ về mục tiêu cụ thể của quá trình huấn luyện, cũng như là ý nghĩa và tầm quan trọng cuả việc luyện tập đối với mỗi cá nhân
- Trong giai đoạn này việc phát triển về thần kinh cần phải được tiến hành đồng
bộ với việc nâng cao trình độ chuyên môn
1.5 Những vấn đề còn tồn tại của nghiên cứu:
Trang 32Đặc điểm hoạt động vận động môn Taekwondo là di chuyển nhanh, mạnh, chính xác và sự thăng bằng Độ linh hoạt ra đòn tốc độ, vận dụng các kỹ-chiến thuật tấn công, phòng thủ để giành chiến thắng…Nói chung, Những đặc trưng tiêu biểu được thể hiện qua các mặt cơ bản cấu thành thành tích của Vận động viên Taekwondo như: Kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý
1.5.1 Vấn đề kỹ thuật môn Taekwondo
Taekwondo là môn thể thao có kỹ thuật đa dạng và phong phú, đặc thù kỹ thuật Taekwondo biểu hiện qua 2 nhóm kỹ thuật lớn: Nhóm kỹ thuật phòng thủ và tấn công; nhóm kỹ thuật di chuyển bước chân Ngoài ra, tuỳ thuộc vào thời điểm tiếp xúc đòn, tính chất ra đòn, đặc điểm lối đánh riêng, tính năng từng đấu thủ mà vận động viên sử dụng đòn do tình huống thi đấu đưa đến lại nảy sinh ra nhiều loại hình kỹ thuật và những kỹ thuật ngoại suy ngoài hệ thống các kỹ thuật cơ bản Do đặc điểm môn võ, yêu cầu ra đòn tốc độ, nhanh, mạnh, biến hoá kỹ thuật nên đòi hỏi vận động viên phải có kỹ thuật toàn diện, sở trường độc chiêu, có khả năng di chuyển nhanh linh hoạt, phối hợp nhịp nhàng với kỹ thuật mới giành được thắng lợi.Thực tiễn, trong quá trình thi đấu đối kháng có 3 mấu chốt cơ bản: Phán đoán , di chuyển hợp lý, kỹ thuật chính xác đồng thời có 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả đạt thành tích cao Qua đó, vấn đề đặt ra cho các nhà chuyên môn là bằng con đường nào để hoàn thiện khả năng và tác động vào những mặt nào của quá trình huấn luyện: Kỹ chiến thuật, trình độ thể lực, các quy định của luật thi đấu, thần kinh tâm lý
Chính từ những vấn đề trên, đòi hỏi Taekwondo Việt Nam phải tìm ra những hướng đi mới, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến việc lựa chọn và ứng dụng các
phương pháp huấn luyện; các bài tập thể lực …thích hợp nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả của quá trình huấn luyện nói chung
1.5.2 Vấn đề chiến thuật
a Chiến thuật Taekwondo là những phương pháp, hình thái vận dụng kỹ
thuật trong thi đấu một cách hợp lý, có mục đích, có ý thức và tính đến điều kiện cụ thể từng hiệp đấu nhằm giành được thắng lợi Là môn thể thao cá nhân mang tính đối kháng cao, tính chất phức tạp của các nhân tố chi phối ảnh hưởng đến quá trình thi đấu, đặc việc sử dụng rất nhiều kỹ thuật cơ bản để thi đấu Cũng như sự cải tiến phong cách lối đánh khác nhau, mà nảy sinh ra rất nhiều loại hình chiến thuật khác nhau
Trang 33Chiến thuật Taekwondo có thể chia ra làm 4 loại hình: Chiến thuật tấn công đối phó với tấn công, chiến thuật tấn công đối phó với phòng thủ, chiến thuật phòng thủ đối phó với tấn công, chiến thuật phòng thủ đối phó với phòng thủ Nhưng trong 4 loại hình chiến thuật trên, mỗi loại hình có nhiều hành động chiến thuật cụ thể Nhiệm vụ chủ yếu của chiến thuật Taekwondo là nhằm phát huy điểm mạnh của mình để khai thác điểm yếu của đối phương, đồng thời che dấu yếu điểm của mình, khắc chế điểm mạnh của đối phương, giành quyền chủ động, nhanh chóng giành thắng lợi Chiến thuật trong thi đấu Taekwondo của từng Vận động viên bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở của sự hoàn thiện kỹ thuật, trong đó kỹ chiến thuật di chuyển biến hoá tạo cho đối phương khó phán đoán ý đồ là một trong những vấn đề ưu thế để chiến thắng
1.6 Nghiên cứu thực trạng
Thực hiện yêu cầu của ngành TDTT thì các bộ môn cần phải nổ lực, phấn đấu, huy động mọi nguồn lực để tiếp cận các phương tiện, phương pháp huấn luyện hiện đại nhằm hoàn thiện quy trình đào tạo vận động viên đỉnh cao nói chung và bộ môn Taekwondo nói riêng
Taekwondo là môn thể thao thành tích cao, hầu hết các kỹ thuật sử dụng phụ thuộc nhiều vào tư duy của người thực hiện và để đạt được hiệu quả cao trong tập luyện và thi đấu đòi hỏi vận động viên cần phải chuẩn bị tốt trình độ thể lực, kỹ chiến thuật, các yếu tố tâm sinh lý, phẩm chất ý chí cố gắng vượt khó Tuy nhiên, trong thực
tế vận động viên vẫn còn hạn chế về thể lực, khả năng tự điều chỉnh tâm lý thi đấu, sự
tự tin quyết đoán và khát vọng chiến thắng chưa cao, cho nên việc thường xuyên kiểm tra và đánh giá trình độ của vận động viên là rất cần thiết
Những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu đến môn võ Taekwondo: Trương Ngọc Để, Trần Quang Hạ, Nguyễn Đăng Khánh, Nguyễn Quốc Tuấn: nghiên cứu về kế hoạch huấn luyện dài hạn sáu năm cho Vận động viên Taekwondo trình độ cao Nguyễn Mạnh Hùng: nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn tuyển chọn và chương trình huấn luyện ban đầu cho đội tuyển Taekwondo trẻ Hà-Nội lứa tuổi 14-16 Vũ Xuân Long: nghiên cứu một số bài tập phát triển tố chất mềm dẻo cho Vận động viên 14-16 tuổi trong giai đoạn huấn luyện ban đầu Nguyễn Hữu An: nghiên cứu ứng dụng một số test sư phạm trong tuyển chọn nam vận động viên Taekwondo lứa tuổi 12-14 Ủy ban TDTT, Bộ môn võ thuật: đưa ra nội dung Tuyển
Trang 34chọn vận động viên năng khiếu môn Taekwondo lứa tuổi 13-14 Trịnh Hồng Sơn: nghiên cứu hiệu quả một số bài tập được lựa chọn phát triển năng lực tập trung chú ý của Vận động viên nam Taekwondo 15-16 tuổi Nguyễn Thế Truyền và cộng sự (2003) đã đưa ra thang điểm đánh giá các tố chất thể lực đối với nam Vận động viên Taekwondo
Từ những lý do nêu trên, đề tài xác định đối tượng nghiên cứu là Nam, có
độ tuổi từ 12 – 15 tuổi, đang là học sinh của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ chuẩn bị bổ sung VĐV cho đội tuyển Taekwondo TP Cần thơ Đây là mục đích ý nghĩa của nghiên cứu
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu:
Trong quá trình nghiên cứu, tham khảo tài liệu, phân tích tổng hợp các tài liệu
có liên quan đến đề tài và các đề tài cùng chủ đề Tài liệu tham khảo bao gồm các báo cáo khoa học thể dục thể thao, kỷ yếu Hội nghị khoa học…sách của các nhà xuất bản thể dục thể thao, nhà xuất bản y học, nhà xuất bản giáo dục…
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn:
Đề tài sử dụng các phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp
Phương pháp phỏng vấn gián tiếp: được sử dụng bằng phiếu hỏi để chọn lọc và xây dựng các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả thành tích học tập kỹ thuật đòn tay trong Taekwondo Đối tượng phỏng vấn là các chuyên gia, các huấn luyện viên của các CLB trong địa bàn TPCT, các Trung tâm huấn luyện Taekwondo, trường năng khiếu môn Taekwondo và các giáo viên giảng dạy Taekwondo để thu thập các thông tin về thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ trong dạy kỹ thuật đòn tay; cơ sở lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn Đồng thời có được các ý kiến đánh giá của họ về hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy các kỹ thuật đòn tay cho
võ sinh Taekwondo trường THCS Hưng Phú, quận Cái Răng, TPCT
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm: