1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS

133 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 5,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2016

Trang 2

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC

TẬP CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS QUẬN 5,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Giáo dục

Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Trí Hậu ( Trưởng nhóm )

Lê Hoài Mi

Trần Nguyễn Bích Ngọc

Dân tộc: Kinh

Lớp: QLGD K39 Khoa: Khoa học Giáo dục

Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Quản lý Giáo dục

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Danh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học này là công trình nghiên cứu do nhóm sinh viên của chúng tôi thực hiện

Các tài liệu sử dụng trong đề tài nghiên cứu này đều được trích dẫn đầy đủ, chính xác

và được ghi trong phần danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong đề tài nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố trên tạp chí khoa học dưới bất cứ hình thức nào

Chúng tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Trang 4

4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học “Thực trạng quản lý hoạt động kiểm

tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS Q.5, TPHCM”

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Đức Danh, Giảng viên Khoa Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, người thầy đã tận tình giúp đỡ, góp ý cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

Chúng tôi chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Khoa Khoa học Giáo dục, Khoa Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TPHCM đã hướng dẫn, giảng dạy cho chúng tôi suốt 4 năm, tích lũy cho chúng tôi những kiến thức về chuyên ngành để chúng tôi thực hiện bài nghiên cứu

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Ban giám hiệu các Trường THCS Ba Đình và Trường THCS Mạch Kiếm Hùng, tập thể Thầy/Cô cũng như học sinh của hai trường đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong việc cung cấp những thông tin quý báu về thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tại đơn

vị, những thông tin này là nguồn tư liệu thiết thực giúp chúng tôi có thể hoàn thành bài nghiên cứu một cách chu đáo nhất

Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn những anh, chị sinh viên Khoa Khoa học Giáo dục

đã giúp đỡ nhóm rất nhiều trong việc tư vấn thực hiện đề tài nghiên cứu

Mặc dù nhóm đã đầu tư nhiều công sức, nhưng chắc chắn bài nghiên cứu không thể tránh khỏi những sai sót, chúng tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô, quý anh, chị và các bạn cùng khóa để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

TPHCM, ngày 22 tháng 04 năm 2016 Nhóm nghiên cứu

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 11

1 Lý do chọn đề tài 11

2 Mục đích nghiên cứu 12

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 12

4 Giả thiết nghiên cứu 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

6 Phạm vi nghiên cứu 13

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13

CHƯƠNG 1 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG 16

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 16

1.2 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 29

1.3 Về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS 35

1.3.1 Kiểm tra, đánh giá KQHT của HS 35

1.3.2 Phân loại kiểm tra, đánh giá KQHT 43

1.3.3 Vị trí, vai trò của kiểm tra, đánh giá KQHT trong quá trình dạy học 43

1.3.4 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập 45

1.3.5 Cơ sở và yêu cầu, nguyên tắc kiểm tra đánh giá kết quả học tập 46

1.3.6 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập: 49

1.4 Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ cơ sở 52

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 65

CHƯƠNG 2: 66

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KTĐG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS QUẬN 5, TP.HCM 66

2.1 Vài nét khái quát về Quận 5, TPHCM 66

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 67

2.3 Thực trạng về công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THCS Quận 5, TPHCM 70

Trang 6

6

2.3.1 Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh các

trường THCS Quận 5, TPHCM 70

2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THCS Quận 5, TPHCM 84

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM 95

2.4.1 Ưu điểm 95

2.4.2 Hạn chế 96

2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM 97 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 100

CHƯƠNG 3 101

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 5, TPHCM 101

3.1 Cơ sở pháp lý 101

3.2 Cơ sở lý luận 102

3.3 Cơ sở thực tiễn 102

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 109

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110

Kết luận 110

Kiến nghị 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 117

Trang 7

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Ưu, nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách

3 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của

kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh THCS 71

4 Bảng 2.3

Vai trò của công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS trong hoạt động dạy học tại trường

72

5 Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL và GV về mục đích kiểm tra,

đánh giá kết quả học tập học sinh THCS 73

6 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL và GV về hiệu quả của các

7 Bảng 2.6 Mức độ và kết quả vận dụng các phương pháp kiểm tra,

8 Bảng 2.7 Mức độ GV kết hợp các phương pháp kiểm tra, đánh

9 Bảng 2.8 Vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá vào các

10 Bảng 2.9 Mức độ và kết quả thực hiện yêu cầu kiểm tra, đánh giá

11 Bảng 2.10 Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc ra đề kiểm tra 84

12 Bảng 2.11 Mức độ và kết quả thực hiện quản lý tổ chức hoạt động

13 Bảng 2.12 Đánh giá của HS về một số nội dung trong công tác

quản lý tổ chức kiểm tra, thi trên lớp 88

14 Bảng 2.13 Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc chấm bài, ghi

Trang 9

15 Bảng 2.14 Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc đánh giá, xếp

97

Trang 10

10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

1 Hình 1.1 Sơ đồ biểu diễn các mối quan hệ tác động tương

hỗ giữa chủ thể và khách thể quản lý 33

3 Hình 1.5 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT 50

4 Biểu đồ 2.1

Nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá KQHT học sinh THCS

71

5 Biểu đồ 2.2 Nhận thức của CBQL, GV về hiệu quả của các

phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT 76

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập thế giới trên nhiều mặt, đặc biệt sự hội nhập về kinh tế - xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi nền giáo dục quốc gia phải không ngừng nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đó Giáo dục được thể hiện qua việc người học tiếp thu tri thức và vận dụng vào thực tiễn Để đánh giá được chất lượng giáo dục, khâu kiểm tra, đánh giá phải tổ chức nghiêm túc và khoa học Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là một trong những khâu quan trọng của quá trình dạy học và liên hệ mật thiết đến việc phản ánh chất lượng dạy học Thông qua việc kiểm tra, đánh giá, người dạy có thể rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình truyền thụ kiến thức cho học sinh Đối với người học, kết quả đánh giá nhằm ghi nhận mức độ lĩnh hội các mục tiêu học tập đã đặt ra Bên cạnh

đó, kết quả kiểm tra, đánh giá cũng có ý nghĩa nhất định đối với nhà quản lý giáo dục

để giúp họ hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạy học nói riêng, các nhà giáo dục và người học cần chú trọng vào công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh vẫn còn nhiều bất cập Việc kiểm tra kết quả học tập của học sinh phổ thông vẫn nặng nề kiến thức sách vở, chưa tập trung vào sự phát triển của người học và chủ yếu ở các mức thấp của sự lĩnh hội là nhớ và tái hiên kiến thức Mục tiêu đánh giá kết quả học tập chỉ chú trọng điểm số cuối của quá trình dạy – học và mục đích của kiểm tra đánh giá vẫn chủ yếu phục vụ công tác quản lý như xếp loại học sinh, xét lên lớp, cấp chứng chỉ, v.v…Trong khi đó, chức năng cung cấp thông tin phản hồi cho học sinh và giáo viên thông qua kiểm tra đánh giá các môn học hầu như chưa được chú trọng Điều này có thể do công tác quản

lý chưa thật sự hiệu quả nên chưa phản ánh đúng năng lực người học

Theo quyết định của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo kể từ năm học 2006-2007, các trường THCS bắt đầu triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, đòi hỏi phải đổi mới công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Đặc biệt, điều này cũng đặt ra sự đổi mới trong công tác quản lý giáo dục, nhất là quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Trang 12

12

của học sinh Tuy có nhiều nghiên cứu về hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông nhưng chưa có nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở Vì vậy,

chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả

học tập của học sinh ở một số trường Trung học cơ sở quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS này

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở

trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS quận 5, TPHCM

4 Giả thiết nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM có thể đã được thực hiện khá tốt trong việc xây dựng kế hoạch; tổ chức – chỉ đạo tổ chuyên môn và giáo viên lập kế hoạch kiểm tra đánh giá các môn học; quản lý việc thực hiện quy chế đánh giá xếp loại học lực của học sinh Tuy nhiên, công tác này có thể vẫn còn một số mặt hạn chế về quản lý việc

ra đề kiểm tra, quản lý việc chấm bài, trả bài, ghi điểm; quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực ra đề của giáo viên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông

Trang 13

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM 5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bao gồm: Quản lý lập kế hoạch kiểm tra, thi trên lớp; Quản lý việc chấm trả bài kiểm tra, lưu điểm vào sổ điểm cá nhân; Quản lý việc ghi điểm, đánh giá, xếp loại KQHT của HS trong sổ điểm lớn; Quản lý việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực ra đề của GV

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

- Quan điểm hệ thống – cấu trúc:

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài này, người nghiên cứu có thể nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của học sinh trong mối quan hệ với công tác quản lý hoạt động giáo dục của học sinh ở trường THCS

Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cần nghiên cứu hệ thống các hoạt động quản lý cụ thể sau: Quản lý lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá các môn học; Quản lý việc ra đề; Quản lý tổ chức kiểm tra, thi trên lớp; Quản lý việc chấm, trả bài kiểm tra, lưu điểm vào sổ điểm cá nhân; Quản

lý việc ghi điểm, đánh giá, xếp loại KQHT của HS; Quản lý việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực ra đề của GV

Khi đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của học sinh ở một số trường THCS tại Quận 5, các biện pháp được sắp xếp trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau và theo một chỉnh thể thống nhất

- Quan điểm lịch sử:

Người nghiên cứu thực hiện quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng cách tìm hiểu, phát hiện sự nảy

Trang 14

14

sinh, phát triển vào những khoảng thời gian và không gian, với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để phát hiện được quy luật tất yếu trong quá trình quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Quan điểm thực tiễn:

Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài này, người nghiên cứu phân tích đánh giá công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đặt trong điều kiện cụ thể của từng trường THCS Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải dựa vào điều kiện thực tiễn về nhân lực, khả năng và điều kiện thực hiện để đưa ra các biện pháp quản lý mang tính khả thi

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp các cơ sở lý luận từ các giáo trình, bài báo, tạp chí chuyên ngành, văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục,…có liên quan đến công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông

7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a) Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Mục đích điều tra: Bảng hỏi được thiết kế nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT và công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS THCS

Nội dung: Chia làm 2 phần: Phần 1 tìm hiểu về thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, Phần 2 tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

Đối tượng điều tra: Bảng hỏi dành cho các đối tượng là CBQL (phó hiệu trưởng chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn), giáo viên và học sinh THCS

b) Phương pháp phỏng vấn

Trang 15

Mục đích: nhằm thu thập thêm thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS ở một số trường THCS Quận 5, TPHCM sau khi đã kiểm tra sơ bộ kết quả thu số liệu từ khảo sát bằng bảng hỏi

Nội dung: Bước đầu là tìm hiểu và nắm bắt sơ bộ tình hình chung liên quan đến nội dung công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học ở trường THCS nhằm mục đích xây dựng bảng hỏi Sau đó tìm hiểu sâu hơn và lấy ý kiến ở một số nội dung có liên quan đến công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong trường

Đối tượng: phỏng vấn một số CBQL là Ban giám hiệu của trường

c) Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này nhằm xử lý kết quả nghiên cứu để đánh giá thực trạng và làm cơ sở đề xuất biện pháp Để xử lý số liệu điều tra thực trạng, người nghiên cứu dùng phần mềm SPSS 20 để tính số liệu phần trăm, điểm trung bình, hệ số tương quan PEARSON Từ đó, người nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng nhằm đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp

Trang 16

Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại J.A Comenxki (1592-1670) đã đưa ra

mô hình nhà trường và được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Đó là nhà trường được phân theo cấp học, bậc học ở những lứa tuổi nhất định; các môn học trong nhà trường được quy định chặt chẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất; thời gian đào tạo cũng được ấn định, đương nhiên cách KTĐG kết quả học tập của học sinh cũng được quy định rõ ràng

Đến thế kỷ XVIII thì hệ đánh giá chất lượng đầu tiên được áp dụng phổ biến trong nhà trường Lúc đầu hệ đánh giá có 3 bậc chính: Tốt - Trung bình - Kém Tuy nhiên để đánh giá được theo 5 bậc chất lượng học sinh thì phải kiểm tra như thế nào

để đánh giá được chính xác, phù hợp với đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học mới là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm

Từ những năm 1970 trở lại đây có rất nhiều công trình nghiên cứu từng vấn

đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung đánh giá kết quả của học

Trang 17

sinh như: Những vấn đề lý luận dạy học của việc đánh giá trí thức (V.M.Palomxki); Con đường hoàn thiện việc kiểm tra tri thức kỹ năng (X.V.Uxova) Cũng trong giai đoạn này nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu các nguyên tắc của việc KTĐG nhằm đảm bảo tính khách quan như: Các hướng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá tri thức học sinh (A.M.Levitop)

1.1.2 Trong nước

Ở nước ta kiểm tra, đánh giá bằng thi cử có từ thời nhà Lý (thế kỷ XI-XII), thời nhà Lý thế kỷ XI – XIII thông qua các kì thi Hương để chọn tú tài, cử nhân; thi Hội để chọn Thái học sinh, phó bảng, thi Đình để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa với 3 hình thức cơ bản là thi Văn, thi Võ, thi Lại viên Trong các kì thi này được quy định rất chặt chẽ nhiệm vụ của các lực lượng, sự thưởng phạt nghiêm minh Tuy nhiên có nhiều phiền toái, gò bó, không phát huy hết khả năng sáng tạo của thí sinh Bên cạnh đó kết quả của các kì thi thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo

Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị) Song ở thời kỳ này các kỳ thi tuyển được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục Công tác KTĐG chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến

Từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay KTĐG đã có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, với mỗi lần mục tiêu giáo dục đào tạo được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nước Đặc biệt là trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục - đào tạo, hoạt động nghiên cứu KTĐG; nghiên cứu công tác quản lý hoạt động KTĐG có những phát triển mới Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm nâng cao chất lượng KTĐG góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

Năm 1969 tác giả Dương Thiệu Tống trong “Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập”, đưa ra nhận định soạn thảo đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập phải dựa trên mục tiêu dạy học, đồng thời chỉ ra những điểm khác nhau giữa phương pháp luận đề và phương pháp trắc nghiệm khách quan, cách sử dụng từng phương pháp phù hợp từng mục đích đánh giá

Trang 18

Năm 1995 tác giả Nguyễn Đình Chỉnh trong “Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp, kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh”, xem vấn đề kiểm tra, đánh giá học sinh là “cơm ăn nước uống” hằng ngày Tác giả đồng thời chỉ ra và phân tích các chức năng của đánh giá (chức năng định hướng, chức năng điều chỉnh, chức năng xác nhận hay xếp loại) Với những chức năng trên đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học, bởi vì: “Cấu trúc của quá trình dạy học đòi hỏi phải có sự vận hành của thành phần liên hệ ngược, vì thiếu nó không thể đảm bảo việc điều chỉnh và sửa đổi quá trình này”

Đầu thế kỷ XXI, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục ở Việt Nam nhiều bài báo về giáo dục, quản lý giáo dục ra đời như: Phan Trọng Ngọ ở tác phẩm “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” bàn về khái niệm đánh giá, mối quan hệ của đánh giá và mục tiêu học tập, các phương pháp đánh giá

Năm 2002, để tăng cường quản lý chất lượng đầu vào các kỳ thi đại học, cao đẳng, Bộ GD&ĐT bắt đầu tổ chức kỳ thi đại học “3 chung” và cuối tháng 9/2003

Bộ đã cho phép thành lập “Cục Khảo Thí và Kiểm Định Chất Lượng” thực hiện vai trò quản lý công tác kiểm tra, đánh giá để cải tiến việc thi cử và đánh giá chất lượng các trường đại học

Các công trình nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng được tiến hành nhiều, đặc biệt là nhiều công trình được thực hiện trong thời gian gần đây

Đinh Thị Kim Hòa (2008), “Nghiên cứu thực trạng việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương” Đề tài khảo sát 53 giáo viên và 255 sinh viên của 5 khoa: Giáo dục Đặc biệt, Giáo dục Mầm non, Công nghệ thông tin, Sư phạm Âm nhạc và Mác Lê-Nin tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả

Trang 19

tập trung đi sâu vào nghiên cứu đánh giá các đề thi tự luận và đề trắc nghiệm khách quan Đề tài đã đưa ra kết luận rằng việc đánh giá kết quả học tập của học sinh trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương là đánh giá theo quá trình chứ không đánh giá qua điểm thi kết thúc học phần

Kết quả điều tra từ giáo viên và sinh viên, giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương cho thấy GV, SV sử dụng 5 phương pháp KTĐG sau để đánh giá kết quả học tập của sinh viên: Viết (tự luận), vấn đáp, thực hành, bài tập lớn và trắc nghiệm khách quan Tuy nhiên đa số giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp thi viết tự luận để đánh giá KQHT cho sinh viên Một số giáo viên thỉnh thoảng sử dụng phương pháp vấn đáp và thực hành còn lại hầu như họ ít sử dụng phương pháp TNKQ và bài tập lớn để đánh giá KQHT cho sinh viên Khảo sát cho thấy có gần 21% giáo viên thường xuyên kết hợp 3 phương pháp KTĐG để đánh giá KQHT trong một học phần Điều này lí giải các giáo viên đã sử dụng rất nhiều phương pháp KTĐG khác nhau trong một học phần để hiệu quả đánh giá được cao hơn Điều này cần được động viên và khuyến khích các giáo viên vì nếu kết hợp nhiều phương pháp KT, ĐG thì sẽ đánh giá chính xác năng lực của sinh viên hơn Đồng thời cũng có khoảng 7% giáo viên không bao giờ kết hợp 3 phương pháp KTĐG KQHT cho sinh viên trong 1 học phần Khảo sát các GV đều nhận thức rằng nếu muốn đánh giá kĩ năng người học thì nên chọn phương pháp thực hành Nếu mục tiêu của bài thi kết thúc cho kết quả đánh giá khách quan, muốn chấm bài nhanh, muốn xử lí kết quả thuận lợi và đề thi bao phủ nội dung kiến thức chương trình học thì sử dụng phương pháp TNKQ Muốn đánh giá khả năng viết thì GV sẽ ra đề tự luận Khảo sát còn cho thấy phương pháp thi viết tự luận vẫn được các giáo viên sử dụng như một phương pháp chính để đánh giá KQHT cho sinh viên (67,7%), nó cũng cho thấy đây là một xu hướng chung là các giáo viên ngại thay đổi Số liệu trên cũng cho thấy, phương pháp vấn đáp (11,2%), thực hành (10,3%), TNKQ (4,9%) và bài tập lớn (5,8%) không phải là phương pháp chủ đạo để đánh giá KQHT cho sinh viên Qua khảo sát, đề tài còn cho thấy việc thực hiện đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường còn một số tồn tại Đề thi khó có khả năng bao phủ kín chương trình học, tiêu chí đánh giá chưa rõ ràng, quy trình chấm điểm chưa đảm bảo Thậm chí có đề thi còn chưa phù hợp với mục tiêu chương trình học Các đề thi được biên soạn theo kinh nghiệm, cảm tính của giáo viên chứ chưa đúng theo quy

Trang 20

20

trình do vậy không đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật Mặt khác, giáo viên chưa chú trọng đến chất lượng của đề thi Bởi vậy việc đánh giá KQHT ở trường CĐSPTƯ sẽ thiếu công bằng, thiếu khách quan và khó đánh giá đúng năng lực của sinh viên

Vũ Thị Ngọc Anh (2010), nghiên cứu đề tài “Thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay” Về lí luận, đề tài đã đưa ra một số khái niệm cơ bản về đánh giá kết quả giáo dục Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ và mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin và diễn giải hiện trạng, nguyên nhân, hiệu quả, chất lượng giáo dục theo hai khía cạnh khác nhau: kết quả học tập đạt được của học sinh so với kết quả học tập của học sinh khác, và kết quả học tập đạt được của học sinh so với mục tiêu giáo dục đạt ra Phương pháp đánh giá là cách thức tương tác giữa người đánh giá và người được đánh giá nhằm thu thập thông tin cho quá trình đánh giá Mỗi phương pháp đánh giá lại có các kỹ thuật đi kèm, kỹ thuật đánh giá là cách thức triển khai các giai đoạn cụ thể trong quy trình đánh giá Và để thực hiện các chức năng đánh giá, việc đánh giá cần đảm bảo một số nguyên tắc sau: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc công bằng, nguyên tác đảm bảo tính toàn diện, nguyên tác đảm bảo tính công khai, nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục và nguyên tắc đảm bảo tính phát triển Đề tài đã tiến hành thực hiện tổng quan kinh nghiệm quốc tế về đánh giá kết quả học tập của học sinh theo ba bước:

Thứ nhất, lựa chọn một số quốc gia phát triển và đang phát triển ở các châu lục, có hệ thống giáo dục tương đồng hoặc tương đối khác biệt với Việt Nam

Thứ hai, tập trung mô tả và so sánh về phương thức đánh giá trong lớp học

và thi cử cấp quốc gia, phân cấp quản lý việc đánh giá kết quả học tập, cách sử dụng kết quả đánh giá kết quả học tập

Thứ ba, khái quát hóa xu thế đánh giá kết quả học tập của học sinh trên thế giới

Từ đó, đề tài đã rút ra những bài học kinh nghiệm về quản lý và chỉ đạo việc đánh giá kết quả học tập của học sinh như sau: Cần phân cấp quản lý về đánh giá kết quả học tập; Cần khôi phục lại kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở; Tăng cường

Trang 21

các kỳ đánh giá quốc gia định kỳ ở các giai đoạn lớp 3, 5,7, 9 và 11; Sử dụng đa dạng hóa các phương pháp đánh giá; Sử dụng đa dạng, hợp lý các công cụ khác nhau; Tiêu chí hóa chuẩn kiến thức, kỹ năng và xây dựng chuẩn đánh giá thống nhất trên cả nước; Cần phân tích nhiều loại thông tin về kết quả học tập

Về thực tiễn đề tài đã đưa ra thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông, trong đó đã đề cập đến phương thức đánh giá, đến công tác chỉ đạo hoạt động đánh giá, và đến quá trình triển khai công tác đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông

Về phương thức đánh giá kết quả học tập, cần xác định mục tiêu đánh giá, đó

là phạm vi, là lĩnh vực đánh giá đối với từng lớp, từng chương cụ thể,…Cần căn cứ vào tính chất của giai đoạn giáo dục và thời điểm tiến hành hoạt động động đánh giá

để lựa chọn mục tiêu đánh giá thích hợp Đối với chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay, mục tiêu đánh giá được phân chia thành ba lĩnh vực là kiến thức,

kỹ năng và thái độ Mỗi mục tiêu thuộc lĩnh vực lại được diễn tả cụ thể hơn bởi các chuẩn kiến thức, kỹ năng Bên cạnh mục tiêu được phân chia như trên, cần hướng tới mục tiêu đánh giá theo cách tiếp cận năng lực Khi đó cần căn cứ vào mục tiêu của môn học để xác định các năng lực cần hình thành và phát triển ở người học thông qua các môn học Sau khi đã xác định mục tiêu, cần xây dựng nội dung và tiêu chí đánh giá Nội dung đánh giá là những kiến thức, kỹ năng được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông Các tiêu chí đánh giá chính là cơ sở đánh giá sự thành công, tiến bộ trong học tập của học sinh Tiếp đó, cần xác định các loại hình đánh giá, lựa chọn phương pháp và kỹ thuật đánh giá Cuối cùng là phân tích

và sử dụng kết quả đánh giá

Về công tác chỉ đạo hoạt động đánh giá kết quả học tập, Bộ đã thông qua hệ thống văn bản pháp quy Theo đó, Bộ đã quy định một số vấn đề cụ thể triển khai đánh giá về mục đích đánh giá, các phương pháp đánh giá, các hình thức đánh giá, thang đánh giá, và chuẩn đánh giá Định hướng trên của Bộ đã công tác đánh giá đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông dần đưa nước ta dần tiếp cận với những thành tựu hiện đại về khoa học đánh giá thế giới Điều đó được thể hiện như sau: Kết quả học tập của học sinh được so sánh với yêu cầu cần đạt được về kiến thức, kỹ năng của từng môn học; Đa dạng hóa hình thức đánh giá; Đa dạng hóa các

Trang 22

22

loại thông tin về chứng cứ thành công của học sinh; Kết hợp kết quả học tập định tính và kết quả học tập định lượng; năng lực quản lý, chỉ đạo của cán bộ quản lý, năng lực triển khai của giáo viên đối với việc đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông

Bên cạnh những ưu điểm cơ bản trên, còn một số hạn chế chủ yếu sau: Chưa

có hướng dẫn cụ thể về việc triển khai cụ thể vấn đề đánh giá kết quả học tập phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu thái độ của chương trình giáo dục phô thông; Quy chế chỉ sử dụng kết quả nhận xét và điểm số của cuối chương, giữa học kỳ, đầu học kỳ và cuối năm học nên khó thuyết phục cán bộ quản lý và giáo viên trường phổ thông sử dụng phương pháp đánh giá như chuyên gia, nghiên cứu sản phẩm, trình diễn, tự đánh giá,…; Quy định về thang đánh giá kết quả học tập nhưng không quy đinh tiêu chí cho từng mức điểm của thang định khoảng, nên giáo viên thường xây dựng thang chấm điểm căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh

là chủ yếu; Quy chế cho phép điểm thô làm căn cứ để xếp loại học lực trung bình môn học, nhưng điểm thô không thể so sánh và phân tích được sự tiến bộ của học sinh, cần phải chuyển điểm thô về cùng một thang quy chuẩn

Đối với việc đánh giá kết quả học tập ở nhà trường phổ thông, đề tài đã chỉ

ra một số ưu điểm sau: Về nhận thức, đa số cán bộ quản lý, giáo viên đã nhận thức được mục đích quan trọng nhất của hoạt động đánh giá Do đó, giáo viên đã nhận thức cần giảm áp lực của điểm số vì điểm số chỉ có tác dụng khi xếp loại học lực, đồng thời tăng cường nhận xét để giúp học sinh nhìn thấy rõ những yếu kém, sai lệch của mình trong học tập và tìm cách khắc phục

Về phương thức đánh giá, các nhà trường đã và đang triển khai hoạt động đánh giá kết quả học tập theo một tiến trình gồm ba công đoạn với hành động cụ thể

là thu thập thông tin đánh giá, xử lý và phân tích thông tin đã thu thập, ra quyết định đánh giá Bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế cơ bản về nhận thức và về phương thức đánh giá Giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc hình thành các mục tiêu học tập ở mỗi bài, mỗi chương cho học sinh, chưa khắc phục hoàn toàn áp lực về điểm số Giáo viên đã tăng cường đánh giá bằng nhận xét, tuy nhiên các nhận xét mang tính chủ quan vì không dựa hệ thống tiêu chí rõ ràng và thống nhất

Đề tài đã tìm hiểu một cách toàn diện về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở nhà trường phổ thông: tìm hiểu cơ sở lý luận về đánh giá kết quả học tập

Trang 23

của học sinh ở nhà trường phổ thông: một số khái niệm cơ bản, một số yêu cầu cơ bản về nguyên tắc và phương thức đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông; đúc kết kinh nghiệm của một số nước về đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông; thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông

Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông Tuy nhiên đề tài chỉ đề cập đến phương thức đánh giá, đến công tác chỉ đạo hoạt động đánh giá, và đến quá trình triển khai công tác đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông mà chưa đi sâu sát vào từng hoạt động của công tác này

Trần Thị Kim Xuyến (2011), thực hiện nghiên cứu “Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trường Trung học cơ sở Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng” Tác giả đã khảo sát bằng bảng hỏi với các mức độ “Rất nhất trí, nhất trí, không nhất trí” cho toàn thể giáo viên và học sinh trong nhà trường Từ kết quả của bảng khảo sát, kết hợp với thông qua quan sát, tìm hiểu thực tiễn, đê tài

đã đưa ra một số kết luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường như: kế hoạch xây dựng ngân hàng câu hỏi chưa dài hơi, còn bất cập, việc lập kế hoạch tổ chức kiểm tra, thi còn lúng túng Các tiêu chí đánh giá chưa cụ thể, chưa thống nhất giữa các môn, vẫn còn nhiều tình trạng chấm bài và sửa bài sai quy cách Nhà trường vẫn chưa có bộ phận chuyên trách về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, điểm số học sinh còn yếu

Nguyễn Kim Dung (2011), nghiên cứu về “Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài tiến hành chọn mẫu tại TPHCM gồm khoảng quận và huyện theo cách phân tầng theo địa bàn, mỗi địa bàn cũng tiếp tục được phân tầng theo: nội thành, ngoại thành và vùng sâu vùng xa, các trường tham gia khảo sát chủ yếu là trường mang tính đại diện cho các trường THPT Số lượng mẫu khảo sát ở các trường phân chia cho các đối tượng gồm học sinh (HS), giáo viên (GV), phụ huynh (PH) và cán bộ quản lý (CBQL) Các trường được khảo sát gồm: THPT Trần Đại Nghĩa, TH Thực hành, THPT Bùi Thị Xuân, THPT Lê Thị Hồng Gấm, THPT Phan Đăng Lưu, THPT Mạc Đỉnh Chi, THPT Thanh Đa, THPT Lương Văn Can, THPT

Trang 24

24

Phú Nhuận, THPT Thủ Đức và các đối tượng khác Sau khi khảo sát bằng phiếu hỏi,

đề tài tiến hành phỏng vấn một số CBQL, GV, HS và PH Đề tài, đã đưa ra kết quả

về thực trạng đảm bảo các yêu cầu của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh của giáo viên Về cách thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh những người tham gia khảo sát đánh giá chưa cao ở các mặt sau đây: (1) chính xác (đánh giá đúng năng lực học sinh): có hơn 44% hoặc không đồng ý hoặc không rõ; (2) khách quan (không thành kiến và không phân biệt): có 42% hoặc không đồng ý hoặc không rõ; (3) khuyến khích học sinh thể hiện năng lực của mình: có 45% hoặc không đồng ý hoặc không rõ; (4) giúp học sinh có động cơ học tập nhiều hơn: có hơn 46% hoặc không đồng ý hoặc không rõ Những nội dung còn lại cũng chưa được đánh giá cao với tỉ lệ không đồng ý hoặc không rõ dao động từ 30% đến dưới 40%

Nhìn chung, HS còn đánh giá chưa cao cách thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập của nhà trường và GV Để kiểm chứng cho đánh giá trên, đề tài có phần hỏi dành riêng cho đối tượng HS và PH về hệ thống đánh giá kết quả học tập hiện nay trong nhà trường Kết quả cho thấy vẫn có một tỉ lệ không nhỏ HS và PH tham gia khảo sát không có ý kiến hoặc không đồng ý về các ý kiến có liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập của HS như: (1) Về GV: GV trả bài thường xuyên, chấm bài công bằng và đánh giá HS chính xác, không thiên vị, phân tích lỗi để giúp

HS cải tiến việc học tập; (2) Về thủ tục: “Các buổi kiểm tra/thi được tổ chức nghiêm túc”; “HS được làm quen với các dạng bài kiểm tra”; “Bài kiểm tra được trả cho HS trong vòng 2 tuần”; “PH được thông báo về kết quả học tập của con em thường xuyên”; (3) Sự minh bạch, rõ ràng về các mong đợi của nhà trường và GV đối với kết quả học tập của HS: “Bạn biết được cách GV đánh giá kết quả học tập” (55,4%),

“Bạn biết được các mong đợi của nhà trường và GV về kết quả học tập” (48,1%),

“Các bài kiểm tra thường khó hơn so với trình độ HS”

Đề tài đã đưa ra các kết luận: kiểm tra, đánh giá hiện nay mang tính áp đặt và không khuyến khích tính sáng tạo Cách giáo dục và phương pháp kiểm tra, đánh giá của các trường đang làm cho học sinh thiếu năng động, yếu kĩ năng mềm, kĩ năng sống, phát triển không đồng đều do thiếu sức khỏe và thời gian giải trí lành mạnh Áp lực thi cử đè nặng lên các em, đặc biệt là ở những lớp cuối cấp Chỉ chú trọng đánh giá cuối cùng mà chưa chú trọng vào đánh giá quá trình, đánh giá chưa

Trang 25

tích hợp vào chương trình học Một số phương pháp kiểm tra còn nghèo nàn, lạc hậu

Đề tài cho thấy, vẫn còn một tỉ lệ khá cao PH và HS chưa đánh giá cao công tác đánh giá kết quả học tập hiện nay, chủ yếu là do GV phụ trách Chỉ có 44,6% đồng ý hoặc rất đồng ý với câu “HS biết được cách GV đánh giá kết quả học tập” Các trường THPT còn đang áp dụng phương châm “học gì thi nấy”, cùng với đó là phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện nay tại các trường THPT còn nghèo nàn, lạc hậu

Tuy nhiên đề tài nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc khảo sát thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh

Lê Thị Bích Huệ (2013), nghiên cứu về “Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh” Đề tài đã thực hiện khảo sát tại 17 trường THCS thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh với 9851 học sinh, 510 giáo viên và 37 ban giám hiệu trong thời gian từ năm học 2009-2010 với các phương pháp như điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, quan sát, lấy ý kiến chuyên gia và xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Đề tài đã đưa ra các ưu điểm và hạn chế trong hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Về ưu điểm, đại đa số cán bộ quản lý các tổ chuyên môn, giáo viên và học sinh nhận thức được vai trò của công tác kiểm tra - đánh giá đối với quá trình dạy và học Công tác kiểm tra - đánh giá có sự chỉ đạo tương đối thống nhất từ ban giám hiệu đến các tổ, nhóm chuyên môn và giáo viên trong trường Có ngân hàng đề kiểm tra của một số bộ môn, hàng năm có bổ sung và chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu của bộ môn và của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đã ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá

Bên cạnh đó đề tài, đã đưa ra các hạn chế sau: Việc ra đề kiểm tra định kỳ, cuối

kỳ vẫn còn có sự sai sót, yêu cầu còn cao, đề và hướng dẫn chấm chưa đồng nhất dẫn đến việc các trường chấm không thống nhất với nhau, làm cho kết quả của học sinh của mỗi trường là khác nhau Kế hoạch kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong trường còn thiếu và chưa khoa học, việc thực hiện kế hoạch chưa nghiêm túc Kiểm tra - đánh giá chưa xác định rõ mục đích đánh giá, chưa có mục tiêu và tiêu

Trang 26

Giáo viên chưa kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh hiệu quả: Giáo viên chưa hiểu sâu sắc về các phương pháp kiểm tra - đánh giá, chưa nắm được kỹ thuật soạn câu hỏi kiểm tra, chưa biết kết hợp các hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, chưa biết cách sử dụng kiểm tra - đánh giá để tạo động lực, khuyến khích động viên học sinh trong học tập

Học sinh chưa hiểu được mục đích, vai trò của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập: Nhiều học sinh chưa hiểu rõ vai trò của kiểm tra - đánh giá và lợi ích của hoạt động này mang lại là gì, một số học sinh chưa nghiêm túc khi kiểm tra - đánh giá, học sinh chưa biết dựa vào kết quả kiểm tra - đánh giá để điều chỉnh quá trình học tập của mình

Một đề tài khác trong năm 2013 là “Biện pháp quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của hoc sinh trường trung cấp nghề Việt Á Đà Nẵng” của tác giả Trần Thị Chinh Đề tài đã khảo sát 200 học sinh cuối khóa về thực trạng công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay của nhà trường Khảo sát 33 giáo viên (cơ hữu và thỉnh giảng) tại trường về thực trạng công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay của nhà trường Tiến hành khảo sát 09 cán bộ quản lý về mức độ thực hiện và đánh giá thực tế các nội dung quản lý công tác kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh, khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường Thời gian tiến hành khảo sát vào tháng 10 năm 2012 với công cụ khảo sát là bộ anket dành cho giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh Hiện nay, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học là việc làm thường xuyên của các cơ sở giáo dục đào tạo

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Trang 27

của học sinh: Quản lý việc ra đề, quản lý việc tổ chức thi, quản lý việc chấm thi và đánh giá kết quả

Việc ra đề thi bám sát mục tiêu chương trình đào tạo đã xây dựng theo kế hoạch hàng năm, Ban Giám Hiệu giao cho khoa và phòng đào tạo thực hiện công tác tổ chức kiểm tra đánh giá các lớp, trên cơ sở những tiêu chí quy định của quy chế kiểm tra, thi hết học phần, thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp và khung chương trình chuẩn của từng học phần Việc thành lập ngân hàng đề thi cho tất cả các học phần chưa thật cần thiết và tại thời điểm như hiện nay chưa thể thực hiện được, bởi lẽ do có sự điều chỉnh chương trình mới, nên cần có các bước chuẩn bị thích hợp, từ khâu thành lập Hội đồng ra đề, thẩm định đề thi đến việc tổ chức thành lập trung tâm khảo thí thì ngân hàng đề thi mới có thể hình thành được

Việc tổ chức thi, qua bảng tổng hợp kết quả khảo sát, cho thấy đối với thi học phần thì hình thức thi viết tự luận có tỷ lệ là 60,3%; thi vấn đáp tỷ lệ 29,3%; thi trắc nghiệm tỷ lệ 10,04% Điều đó chứng tỏ hình thức thi viết tự luận vẫn chiếm ưu thế hơn cả Cả ba đối tượng đều cho rằng thi viết tự luận sẽ cần thiết hơn để người học thể hiện kiến thức của mình qua trình độ tư duy Đối với thi tốt nghiệp thì cho kết quả: thi viết tự luận chiếm tỷ lệ 77,87%; thi trắc nghiệm chiếm tỷ lệ 22,13% Việc này điều tra cả ba đối tượng cho kết quả tương đối khớp với nhau Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy hình thức thi viết tự luận vẫn là phổ biến nhất, rồi sau đó mới đến hình thức thi trắc nghiệm và cuối cùng là thi vấn đáp

Việc chấm thi và công bố kết quả cho thấy, nội dung về tính khách quan, tính chính xác rất cao, đối với đối tượng giảng viên tỷ lệ trưng cầu ý kiến đồng ý “đảm bảo” đạt từ 75 - 81%, tỷ lệ trưng cầu ý kiến “chưa đảm bảo” từ 2 - 5%; đối tượng học viên tỷ lệ trưng cầu ý kiến đồng ý “đảm bảo” đạt 55 - 58% , tỷ lệ trưng cầu ý kiến “chưa đảm bảo” 5 - 10% Riêng nội dung về thời gian trả bài thi thì đối tượng giảng viên có tỷ lệ ý kiến trưng cầu “đảm bảo” 53%, “tương đối đảm bảo” 37% và

“chưa đảm bảo” 10%; đối tượng học viên có tỷ lệ trưng cầu ý kiến đồng ý “đảm bảo” đạt 50%; “tương đối đảm bảo” 32% và “chưa đảm bảo” 18%

Nhận thấy đề tài của tác giả đã đi sâu sát vào các hoạt động quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá như quản lý ra đề, quản lý tổ chức và quản lý việc chấm thi

và công bố kết quả Tuy nhiên đề tài chưa khảo sát hoạt động quản lý đánh giá, xếp loại kết quả học tập của học sinh

Trang 28

kế hoạch nhất định, đảm bảo số lần kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ cả lý thuyết và thực hành” Đề tài đã khai thác công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nội dung lập kế hoạch KTDG KQHT được thực hiện thường xuyên và đạt kết quả tốt, nội dung quản lý ra

đề, quản lý việc tổ chức thực hiện kiểm tra, thi được lãnh đạo nhà trường quan tâm, nội dung quản lý việc xếp loại kết quả học tập HS được đánh giá khá tốt

Tác giả còn chỉ ra các hạn chế trong công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá như: Một bộ phận học sinh chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT đối với quá trình học tập của học sinh Nhận thức của một số GV về mục đích KTDG KQHT của học sinh chưa đúng đắn, còn mang nặng mục đích xếp loại và không nhằm mục đích điều chỉnh cải tiến nội dung môn học Các phương pháp chưa có sự kết hợp đa dạng, tính công khai và tính phát triển trong kiểm tra, đánh giá KQHT của HS còn chưa được đáp ứng Công tác quản lý xây dựng ngân hàng đề vẫn chưa được CBQL và GV quan tâm, công tác kiểm tra chặt chẽ việc ra đề của GV theo đúng cách thức và quy trình chưa thật sự sâu sát, việc giám sát việc thực hiện các bài kiểm tra thường xuyên trên lớp của GV chưa được quan tâm dẫn đến đa phần các GV đánh giá tổng kết là chủ yếu và chưa quan tâm tới đánh giá quá trình Các hình thức tổ chức bồi dưỡng còn nghèo nàn, chưa có

kế hoạch tự bồi dưỡng tại trường, chủ yếu là thực hiện theo kế hoạch bồi dưỡng của

Sở GD&ĐT

Các công trình trên đã đề cập đến các khái niệm, các lí luận về kiểm tra - đánh

Trang 29

giá đo lường trong giáo dục nói chung cũng như hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các cấp học, bậc học bằng các cách tiếp cận khác nhau nói riêng Tuy nhiên các công trình nói trên chỉ mới tiếp cận các hoạt động KTĐG kết quả học tập của học sinh ở các bậc học như: THPT, trung cấp nghề, cao đẳng, đại học ở các địa phương khác nhau, mà chưa đi sâu vào cấp học THCS Một số đề tài nêu trên đã tiếp cận hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS ở cấp học THCS nhưng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ (1 trường) chỉ tập trung vào xác định thực trạng kiểm tra, đánh giá là chủ yếu mà chưa đi sâu vào công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS trong khi đó công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá lại đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học

Cho đến nay chưa có công trì́nh nghiên cứu nào nghiên cứu về “Thực trạng quản

lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường trung học cơ sở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh” Cùng với việc đổi mới giáo dục nói chung, với việc đổi mới giáo dục trong trường THCS nói riêng cần có sự đổi mới mạnh mẽ hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS Thành phố Hồ Chí Minh Qua thực tiễn và nghiên cứu các báo cáo, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng giáo dục THCS các trường THCS Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù đã đạt được nhiều thành tích nhưng c ̣ũng cần phải tiếp tục đổi mới

để đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục của Thành phố Đặc biệt cần phải đổi mới mạnh mẽ việc quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở cấp THCS Với những lí do trên chúng tôi đề xuất lựa chọn đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường trung học cơ sở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh”, nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà trường THCS Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Thành phố Hồ Chí Minh nói chung

1.2 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 30

30

Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các b́ình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đ ̣òi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt v́ mọi sự

phát triển của xã hội đều thông qua quản lý Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội

trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd,

t 46 phần II, tr 348-384]

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nh́ìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động

Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm:

Theo tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold Kontz

(1987) viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực

cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn

cá nhân ít nhất”

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996): “Hoạt động

quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Như vậy, Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường

có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng các thuật ngữ khác nhau Thực chất của Quản lý là gì? Cũng có những quan điểm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học, Quản lý cơ bản đã được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể

Trang 31

quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất

Quản lý bao gồm các yếu tố:

- Phải có chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một đối tượng

bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều người Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin ) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng ) Quản lý là sự công tác liên tục

có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản

lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người, sự vật cụ thể Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ

để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là con người trong tổ chức, thông qua

đó tác động lên các yếu tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động Vì vậy khi xét về thực chất quản lý trước hết và chủ yếu là quản lý con người Như vậy quản lý luôn tồn tại với tư cách là hệ thống gồm các thành

tố cơ bản sau:

- Chủ thể quản lý: Là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức

Trang 32

- Khách thể quản lý: Là cơ sở khách quan của đối tượng quản lý Trong quan

hệ với chủ thể quản lý, đối tượng quản lý luôn là cái khách quan, thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lý

- Cơ chế quản lý: Là phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý,

mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp quy luật trong quá trình quản lý

Cơ chế quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý Cơ chế quản lý có tác động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức

- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Như vậy, người quản lý phải là người am hiểu nghiên cứu khoa học, là người có nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ vô cùng phức tạp trong hệ thống

Tùy theo việc xác định đối tượng quản lý mà QLGD được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Tác giả Trần Kiểm (2006) quan niệm QLGD được phân chia thành 2 cấp: vĩ

mô và vi mô

Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm

Trang 33

thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ

mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục

Đối với cấp vi mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có

ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.”

- Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo (1995): “QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục đựơc hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều nhằm đến hiệu quả công tác quản lý, phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý Theo quan điểm của người nghiên cứu, sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhờ công cụ

và phương pháp quản lý để đạt được mục tiêu của hoạt động quản lý Sự tác động này,

có thể do yêu cầu khác quan của xã hội hay do có sự cam kết thỏa thuận giữa chủ thể

và khách thể quản lý Từ đó nảy sinh các mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chủ thể

và khách thể quản lý Quá trình này được mô tả qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ biểu diễn các mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chủ thể và khách thể quản lý

Công cụ quản lý

Mục tiêu quản lý

Trang 34

34

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo

- Quá trình dạy học là quá trình bảo đảm cùng một lúc ba sự thống nhất: + Thống nhất giữa dạy và học;

+ Thống nhất giữa truyền đạt với chỉ đạo trong dạy;

+ Thống nhất giữa lĩnh hội và tự chỉ đạo trong học

- Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học;

nó được thực hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác (cộng tác) giữa dạy và học, tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học (khái niệm khoa học – đối tượng của học)

Chúng ta đã biết, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của nhà quản lý nhằm đạt tới mục tiêu quản lý Nhà quản lý cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội,…bằng hành động của mình biến mục tiêu đó thành hiện thực

Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này Vì vậy quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học

Như vậy, quản lý hoạt động dạy - học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

a Nhiệm vụ quản lý hoạt động dạy học

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của hoạt động dạy học ở trường phổ thông, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy học với những nhiệm vụ sau:

- Gắn hoạt động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

- Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Trong đó, quan trọng nhất là tạo động lực và kích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ giáo viên

Trang 35

- Kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên trong tập thể với sự quản lý thống nhất của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường

Các nội dung người hiệu trưởng cần thực hiện trong quản lý hoạt động dạy-học bao gồm: Xây dựng kế hoạch năm học, sau đó hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động trong nhà trường Tiếp đến là việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học; chỉ đạo xây dựng nề nếp dạy học; chỉ đạo các hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên Thêm vào đó là sự kết hợp giữa giáo viên

bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức Đoàn thể, Hội cha mẹ học sinh góp phần phối hợp hướng dẫn hoạt động học của học sinh Hiệu trưởng còn chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học, song song đó chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ dạy học (Căn cứ vào Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, Ban hành theo Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

1.3 Về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

1.3.1 Kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

a) Kiểm tra

Chất lượng dạy - học đang là vấn đề có tính thời sự được đặt ra đối với mỗi cơ

sở giáo dục trong thời điểm hiện nay Để nâng cao chất lượng giáo dục, bên cạnh việc

Trang 36

36

đổi mới mục tiêu, cải tiến nội dung, phương pháp Việc nâng cao chất lượng kiểm tra

- đánh giá là rất cần thiết Một số năm trở lại đây, ngành giáo dục – đào tạo có nhiều

cố gắng nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh - sinh viên Tuy nhiên, do cách thức kiểm tra còn nặng về mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp dạy học nên hiệu quả chất lượng giáo dục chưa cao, còn chạy theo thành tích; nhiều hiện tượng tiêu cực trong quản lý giáo dục nảy sinh là vấn đề nhức nhối trong ngành giáo dục và toàn xã hội

Do đó, việc cải tiến hoạt động kiểm tra - đánh giá (ra đề, hình thức thi ) là khâu quan trọng mang tính đột phá để tạo ra những chuyển biến cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường

Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm kiểm tra: Trong Từ

điển Tiếng Việt (1998) có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh

giá, nhận xét”

Dưới góc độ khoa học giáo dục, khái niệm kiểm tra được hiểu như sau: Từ

điển Bách Khoa (2001) có định nghĩa thuật ngữ: “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của

quá trình hoạt động dạy - học nhằm uốn nắn được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động dạy - học”

Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2003) “Kiểm tra là quá trình xác định mục đích,

nội dung, lựa chọn phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển”

Qua nghiên cứu các định nghĩa trên, dưới góc độ giáo dục học, kiểm tra được hiểu là công việc thường xuyên để kiểm chứng hay xác định mức độ về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học đạt được sau một quá trình học tập

Kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu đã định Để tiến hành kiểm tra, cần phải có các tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp kiểm tra, dựa trên các nguyên tắc khoa học để hình

Trang 37

thành hệ thống kiểm tra thích hợp Ngoài 4 chức năng quản lý trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ

đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả

Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, rà soát lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hàng ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần ) và kiểm tra tổng kết (kiểm tra cuối học kì)

Như vậy kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành

Hình 1.2: Sơ đồ tiến trình kiểm tra

(Trích trong tác phẩm Essentials of Management của Giáo Sư Harold Koontz)

Trang 38

Theo tác giả G.J.Posner và A.N.Rudnitsky (2001) thì định nghĩa ngắn gọn:

“Đánh giá là việc sưu tập và phân tích dữ liệu nhằm mục đích phán xét một giá trị hay phản hồi một quyết định”

Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2003): “Đánh giá là một quá trình có hệ thống

bao gồm việc thu thập, phân tích, giải tích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học”

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1990), đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị Theo từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật

Dưới góc độ giáo dục học, “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách có hệ thống nhằm mục đích giúp người học hoạch định chính sách lựa chọn một phương pháp khả thi để tiến hành công việc giáo dục của mình”

Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển Xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực Thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy

và đánh giá chất lượng học của trò Đánh giá thực chất sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng dạy và học Đánh giá chất lượng học tập của các môn học của học sinh thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho quá trình giáo dục ở các môn học, trong đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ

mà học sinh đã đạt được sau một giai đoạn học tập

Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình

độ học sinh Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định Do

Trang 39

vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá

c) Kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau, là hai công việc có thứ tự và đan xen nhắm miêu tả, tập hợp những bằng chứng về kết quả của quá trình giáo dục để đối chiếu với mục tiêu Kiểm tra là phương tiện của đánh giá Đánh giá là mục đích cuối cùng của kiểm tra Mục đích đánh giá quyết định nội dung và hình thức của kiểm tra Nếu chúng ta quan niệm rằng người học được kiểm tra và cho điểm thì đã diễn ra sự đánh giá là chưa đầy đủ vì thực chất, kiểm tra chỉ

là một phần của quá trình đánh giá Do đó, người nghiên cứu sử dụng cụm từ “Kiểm tra, đánh giá” để đặt tên cho hoạt động bao gồm cả kiểm tra và đánh giá

d) Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

 Kết quả học tập

Theo lý luận dạy học hiện đại, học tập là hoạt động nhận thức của người học được thực hiện dưới sự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm, mục đích của hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa, văn minh nhân loại và chuyển hóa chúng thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân người học Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng được thể hiện ở nội dung của môn học, bài học bằng hệ thống khái niệm khoa học và khái niệm môn học Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái

độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của cả một khóa học, một khóa đào tạo

Kết quả học tập (KQHT) của học sinh, sinh viên bao gồm các kiến thức, kĩ năng, năng và thái độ mà họ đạt được và phát triển trong suốt khóa học Các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các môn học khác nhau trong suốt quá trình học được quy định cụ thể trong chương trình Giáo dục - Đào tạo

Kết quả học tập được hiểu theo hai nghĩa sau đây:

Trang 40

 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập được xem là quá trình thu thập, chỉnh lý,

xử lý thông tin một cách hệ thống những kết quả học tập ở từng giai đoạn khác nhau, đối chiếu với mục tiêu dạy học ở từng giai đoạn và cuối cùng đối chiếu với chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, để đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá chất lượng của quá trình dạy học (với cách hiểu chất lượng là sự trùng hợp với mục tiêu, với chuẩn kiến thức,

kĩ năng)

Theo từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển Bách khoa (2001), đánh giá kết quả

học tập là “xác định được mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh

so với yêu cầu của chương trình đề ra”

Trong cuốn tài liệu “Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học”, tác giả cho rằng,

“Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đóan về trình độ, phẩm chất của người học, hoặc

Ngày đăng: 24/08/2016, 12:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Sỹ Anh (2011), Đề xuất giải pháp đánh giá chất lượng học sinh phổ thông Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tập 1, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất giải pháp đánh giá chất lượng học sinh phổ thông Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Anh
Năm: 2011
2. Vũ Thị Ngọc Anh (2010), Thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay, Tạp chí Giáo dục, 238, 32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Anh
Năm: 2010
3. Vũ Thị Phương Anh (2006), Kiểm tra đánh giá để phục vụ học tập: Xu hướng mới của thế giới và bài học cho Việt Nam, Kỉ yếu Hội thảo khoa học kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của học sinh bậc trung học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá để phục vụ học tập: Xu hướng mới của thế giới và bài học cho Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Phương Anh
Năm: 2006
4. Đặng Quốc Bảo (2005), Các quan điểm quản lý nhà trường, Bài giảng lớp thạc sỹ QLGD, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan điểm quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2005
5. Đặng Quốc Bảo (2005), Vấn đề quản lý và việc vận dụng vào quản lý nhà trường. Chuyên đề đào tạo quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý và việc vận dụng vào quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2005
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư số: 58/2011/TT- BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số: 58/2011/TT- BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định sô 83/2008/QĐ -BGDĐT quy định và quy trình kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông, tháng 12/2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định sô 83/2008/QĐ -BGDĐT quy định và quy trình kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông, tháng 12/2008
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
8. Ngô Cương (2001), Cơ sở đánh giá giáo dục hiện đại, NXB Ngọc Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở đánh giá giáo dục hiện đại
Tác giả: Ngô Cương
Nhà XB: NXB Ngọc Lâm
Năm: 2001
9. Vũ Cao Đàm (1999), Phương pháp luận nghiên cứu khoa họ, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa họ
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
10. Trần Bá Hoành (2006), Đánh giá trong giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
11. Lê Thị Bích Huệ (2013), Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Đại học sƣ phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Lê Thị Bích Huệ
Năm: 2013
12. Nguyễn Lộc (2010), Lý luận về quản lý, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về quản lý
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
Năm: 2010
13. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), Đánh giá và đo lường kết quả học tập, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và đo lường kết quả học tập
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
14. Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Xuân Cương (2011), Đánh giá kết quả giáo dục ở trường phổ thông – Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Kỉ yếu Hội thảo khoa học giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tập 2, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả giáo dục ở trường phổ thông – Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Xuân Cương
Năm: 2011
15. Nguyễn Ngọc Quang (1992), Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục, Trường CBQL GDDTTW 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1992
16. Nguyễn Văn Tạo (1997), Những biện pháp cơ bản đảm bảo tính khách quan trọng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường trung học CSNDI, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp cơ bản đảm bảo tính khách quan trọng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường trung học CSNDI
Tác giả: Nguyễn Văn Tạo
Năm: 1997
17. Trần Thị Kim Xuyến (2011), Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trường trung học cơ sở Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Đại học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trường trung học cơ sở Ngô Quyền thành phố Hải Phòng
Tác giả: Trần Thị Kim Xuyến
Năm: 2011
18. Nguyễn Nhƣ Ý (1990). Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Ý
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa thông tin
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT (Trang 7)
15  Bảng 2.14  Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc đánh giá, xếp - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
15 Bảng 2.14 Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc đánh giá, xếp (Trang 9)
1  Hình 1.1  Sơ đồ biểu diễn các mối quan hệ tác động tương - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
1 Hình 1.1 Sơ đồ biểu diễn các mối quan hệ tác động tương (Trang 10)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ biểu diễn các mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chủ thể và  khách thể quản lý - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ biểu diễn các mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chủ thể và khách thể quản lý (Trang 33)
Hình 1.2: Sơ đồ tiến trình kiểm tra - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Hình 1.2 Sơ đồ tiến trình kiểm tra (Trang 37)
Hình 1.3: Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Hình 1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT (Trang 50)
Bảng 2.1: Vài nét về đối tượng nghiên cứu (N=79) - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Bảng 2.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu (N=79) (Trang 70)
Bảng 2.3: Vai trò của công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học  tập của HS trong hoạt động dạy học tại trường - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Bảng 2.3 Vai trò của công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS trong hoạt động dạy học tại trường (Trang 72)
Bảng 2.4: Nhận thức của CBQL và GV về mục đích kiểm tra, đánh giá kết quả - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL và GV về mục đích kiểm tra, đánh giá kết quả (Trang 73)
Bảng  2.6:  Mức  độ  và  kết  quả  vận  dụng  các  phương  pháp  kiểm  tra,  đánh  giá KQHT của học sinh - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
ng 2.6: Mức độ và kết quả vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh (Trang 77)
Bảng  2.7:  Mức  độ  GV  kết  hợp  các  phương  pháp  kiểm  tra,  đánh  giá  KQHT  theo đánh giá của HS - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
ng 2.7: Mức độ GV kết hợp các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT theo đánh giá của HS (Trang 79)
Bảng 2.8: Vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá vào các môn học - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Bảng 2.8 Vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá vào các môn học (Trang 80)
Bảng 2.1:. Mức độ và kết quả thực hiện quản lý tổ chức hoạt động kiểm tra, thi - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Bảng 2.1 . Mức độ và kết quả thực hiện quản lý tổ chức hoạt động kiểm tra, thi (Trang 86)
Bảng 2.13: Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc chấm bài, ghi điểm KQHT  của HS - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
Bảng 2.13 Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc chấm bài, ghi điểm KQHT của HS (Trang 91)
Bảng  2.14:  Mức  độ  và  kết  quả  thực  hiện  quản  lý  việc  đánh  giá,  xếp  loại  KQHT của HS - QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA DANH GIA KET QUA HOC TAP HOC SINH THCS
ng 2.14: Mức độ và kết quả thực hiện quản lý việc đánh giá, xếp loại KQHT của HS (Trang 92)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w