Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việc đào tạo cho dân tộc Việt Nam những người con ưu tú, đủ sức đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách hiểm nghèo, liên tục giành được những thắng lợi ngày càng to lớn, làm thay đổi tận gốc địa vị của dân tộc Việt Nam trên chính trường thế giới.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá trong kho tàng lịch sử tư tưởng Việt Nam Đó
là tư tưởng của “Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất”, người chiến
sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc và cách mạng Việt Nam
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam
Việc nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn nữa tính cách mạng và tính khoa học sâu sắc cũngnhư giá trị to lớn, nhiều mặt của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Namtrước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay là đòi hỏi cấp thiết có ý nghĩa thời đại tolớn
Lương tâm, trách nhiệm, lòng kính yêu lãnh tụ và tinh thần khoa học đã và đang cuốnhút hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước say mê nghiên cứu tư tưởng Hồ ChíMinh
Trong di sản tư tưởng phong phú và vô giá của Hồ Chí Minh có tư tưởng: Phát triểncon người toàn diện, một tư tưởng nhân văn rất đặc sắc Đây là sự tiếp nối và nâng caonhững giá trị tinh túy nhất tư tưởng nhân văn của truyền thống Việt Nam và thế giới Đâycũng là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việcđào tạo cho dân tộc Việt Nam những người con ưu tú, đủ sức đưa dân tộc Việt Nam vượt
Trang 2qua muôn vàn khó khăn, thử thách hiểm nghèo, liên tục giành được những thắng lợi ngàycàng to lớn, làm thay đổi tận gốc địa vị của dân tộc Việt Nam trên chính trường thế giới.Thực tế vinh quang đó đến nay đang được nghiên cứu và tổng kết.
Hồ Chí Minh là bậc “Đại trí, đại nhân, đại dũng”, là điển hình của con người phát triểntoàn diện về thể lực, đạo đức trí tuệ, tài năng, là hình mẫu sinh động của con người hiệntại và tương lai
Cho nên nghiên cứu, giới thiệu, phổ biến tư tưởng phát triển con người toàn diện, củamột người thực sự đã phát triển mọi mặt cá nhân mình là điều cực kỳ lý thú, bổ ích Việclàm này không chỉ cần thiết về lý luận mà còn nhằm làm cho mọi người hiểu và tiếp thu
tư tưởng quan trọng này của Người, trên cơ sở đó noi gương Người, phấn đấu vươn lên,hoàn thiện bản thân mình, tạo tiền đề cho sự phát triển xã hội
Hiện nay, việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dạy “chữ”, dạy “nghề”, dạy “người”trong giáo dục ở nhà trường, gia đình, xã hội đang có sự lệch lạc khá lớn Hầu hết chỉ chútrọng đến trang bị kiến thức khoa học, chuyên môn nghề nghiệp mà coi nhẹ việc giáo dụcđạo lý làm người, trách nhiệm công dân Điều này đang làm méo mó sự phát triển toàndiện nhân cách của một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên cũng như cán bộ, Đảng viên
và nhân dân, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển xã hội Cho nên, việc nghiên cứu tưtưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết để tìm ranhững định hướng đúng đắn cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, phát triển con người ở ViệtNam trong quá trình đổi mới
Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang đi vào chiềusâu Nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp thiết đang đặt ra đòi hỏi các nhà khoa họctrên nhiều lĩnh vực khác nhau phải nghiên cứu và giải quyết, trong đó có vấn đề thiết kế
Trang 3và xây dựng chiến lược về con người thật sự khoa học, phù hợp với hoàn cảnh nước ta,nhằm phục vụ cho việc phát triển nhanh và bền vững của đất nước Đây là công việc rấtkhó khăn, phức tạp, muốn hoàn thành nó trước hết phải có những định hướng đúng.Trong thực tế, tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh đã, đang và sẽcho chúng ta những chỉ dẫn quý báu, sáng suốt để xây dựng thành công chiến lược conngười trong điều kiện mới, nhằm đào tạo cho đất nước những con người mới, đủ tài, đức,sức khỏe, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy nghiên cứu, làm sáng tỏ giá trị khoa học to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của tưtưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, tìm ra những cách thức, biệnpháp đúng đắn để thực hiện tốt hơn tư tưởng đó trong thực tiễn là vấn đề có ý nghĩa thời
sự cấp bách
Luận án này nhằm góp phần nhỏ vào việc giải quyết những vấn đề lớn có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn quan trọng đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu từlâu, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ II (6- 1991) của Đảng cộng sản Việt Nam Nhà nước
đã thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh Nhiều đề tài khoa họccấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nghiệm thu
Trong lĩnh vực tư tưởng nhân văn, trong vấn đề con người, nhiều nhà nghiên cứu đãcông bố những công trình khoa học có giá trị
Liên quan trực tiếp đến vấn đề giáo dục, đào tạo, phát triển con người của Hồ ChíMinh GS Vũ Khiêu có bài: “Trồng cây và trồng người” Tạp chí Triết học số 4/1990,
Trang 4PGS Song Thành có bài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồngngười”, Tạp chí Công tác khoa giáo số tháng 12/1997; GS.TS Phạm Minh Hạc trongphần III cuốn “Phát triển giáo dục phát triển con người, phục vụ phát triển xã hội - kinh
tế, Nxb KHXH - 1996 cũng đã đề cập một cách khá sâu sắc tư tưởng giáo dục, đào tạocủa Hồ Chí Minh Gần đây nhất (năm 2001), PGS TS Thành Duy đã cho ra mắt côngtrình “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triểntoàn diện”
Những công trình này đã nêu lên và khát quát được những nét lớn, chủ yếu trong tưtưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người của Hồ Chí minh Một số bắt đầu đi vàokhai thác, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của tư tưởng đó và cũng đã nêu lên những
ý kiến đặc sắc
Song nhìn chung, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục đào tạo phát triển conngười của Hồ Chí Minh chưa nhiều, còn thiếu những công trình quy mô, xứng đáng vớitầm vóc của vấn đề này trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Hơn nữa, do khuôn khổchung của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc do giới hạn của một bài nghiêncứu, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói chung và giáo dục đào tạo,phát triển con người nói riêng vẫn còn nhiều mặt, nhiều nội dung chưa được đề cập đếnnhất là vấn đề đào tạo, phát triển con người một cách toàn diện để tạo ra những con ngườiViệt Nam phát triển về mọi mặt: đức, trí, thể, mỹ; “hồng đến nơi, chuyên đến chốn”, vấn
đề mà sinh thời Hồ Chí Minh hết sức quan tâm
Nhu cầu về lý luận và thực tiễn hiện nay đòi hỏi phải có những chuyên khảo nhằm làmsâu sắc hơn, đầy đủ hơn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh để cho bức tranh toàncảnh về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về con người, giáo dục, đào tạo,
Trang 5phát triển con người nói riêng vừa có bề rộng vừa có chiều sâu, phục vụ cho việc nhậnthức, vận dụng và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới.
Vì vậy để góp một phần nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu trên, tác giả chọn đề tài: Phát triển con người toàn diện- một tư tưởng đặc sắc về con người của Hồ Chí Minh làm nội
dung nghiên cứu của luận án này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
a) Mục đích của luận án
Làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ ChíMinh, nhằm khẳng định giá trị khoa học của tư tưởng đó và vận dụng nó vào việc pháttriển con người mới ở Việt Nam hiện nay
b) Nhiệm vụ của luận án
Để đạt mục đích trên, luận án phải giải quyết những nhiệm vụ sau: Làm rõ cơ sở lýluận của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
- Luận chứng những nội dung cơ bản trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của
Hồ Chí Minh
- Nêu lên những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn phát triển con người theo quan điểmtoàn diện của Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người toàn diện vào xây dựng con người Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Trong quá trình nghiên cứu, luận án vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước
-về con người Luận án còn sử dụng các tài liệu điều tra, công trình nghiên cứu có liênquan
- Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp phân tích - tổng hợp; lôgíc-lịch sử, thống
kê, so sánh v.v
5 Cái mới của luận án
Luận án phân tích, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản tư tưởng pháttriển con người toàn diện của Hồ Chí Minh; góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng nhânvăn Hồ Chí Minh
Luận án luận chứng sự cần thiết phải vận dụng và phát huy tư tưởng phát triển conngười toàn diện của Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng con người mới ở Việt Namhiện nay
6 Ý nghĩa luận án
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn học
tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học và cao đẳng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 7tiết
Chương 1
Trang 7CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON
NGƯỜI TOÀN DIỆN 1.1 TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO, PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM - CỘI NGUỒN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIÊN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Trong những dòng chảy hợp thành của lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng đào tạophát triền con người là một bộ phận quan trọng, góp phần làm nên giá trị to lớn, nhiềumặt của tư tưởng truyền thống Việt Nam Có thể nói, từ rất sớm, cha ông ta đã hết sứcquan tâm đến vấn đề sống còn này của đất nước Trải bao thăng trầm của lịch sử, bao sựhưng vong của các triều đại tư tưởng đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam
đã tỏ rõ những giá trị to lớn nhưng đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế của nó cần phảikhắc phục và vượt lên
Chúng ta biết rằng, Việt Nam là một quốc gia nằm ở cửa ngõ vào Đông Nam châu Á,khí hậu khắc nghiệt, nóng lắm, mưa nhiều, bão lớn Đó là một môi trường sống khó khăn,thiên tai thường xuyên đe dọa sự tồn vong của cả cộng đồng cũng như mỗi một cá nhân.Điều này đặt ra nhu cầu khách quan cần phải rèn luyện thân thể, phát triển thể lực đối vớimọi người cũng như yêu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
Suốt mấy ngàn năm qua, nền kinh tế Việt Nam thực chất là kinh tế tiểu nông lạc hậu,dựa trên sản xuất nông nghiệp theo lối độc canh cây lúa là chủ yếu Công nghiệp bản địakhông có, thủ công nghiệp manh mún, thương nghiệp què quặt Tư tưởng “Nhất nông vibản” đè nặng lên toàn xã hội từ vua quan, cho đến thường dân Những người làm kỹnghệ, thương mại bị xếp vào loại kém nhất trong bậc thang xã hội (Sĩ, nông, công,thương) Do đó tính năng động của nền kinh tế rất kém
Trang 8Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, do nằm ở vị trí trấn giữ con đường quantrọng và thuận lợi bậc nhất vào Đông Nam Á (cả đường bộ và đường biển), lại ở cạnhmột quốc gia rộng lớn, luôn có tham vọng bành trướng xuống phía Nam, nhân dân ta phảiluôn luôn đương đầu với các cuộc xâm lược lớn đến từ phương Bắc và phương Tây Đặcđiểm đó đòi hỏi con người Việt Nam phải luôn cảnh giác, phải quan tâm đến rèn luyệnsức khỏe, võ nghệ, kỹ năng chiến đấu, đặc biệt là tinh thần sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổquốc Vì vậy, việc giáo dục đạo đức, nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo làm người được cha ông
ta hết sức coi trọng Hơn nữa, điều kiện kinh tế thấp kém, khoa học kỹ thuật lạc hậu nênphương tiện kỹ thuật phục vụ cho chiến đấu kém tinh xảo, do đó các yếu tố thuộc về nănglực tinh thần, được đề cao và chiếm vị trí quan trọng bậc nhất trong nội dung đào tạo vàphát triển con người của cha ông ta Cũng do nằm ở vị trí gặp gỡ, giao thoa của các nềnvăn hóa lớn: Văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa và sau này là văn hóa Pháp, nên về đờisống tinh thần, tư tưởng chịu ảnh lớn của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Ki-tô giáo.Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển con người cho chế độ phong kiến Việt Nam, Nho giáo
có ưu thế hơn các tôn giáo khác bởi nó có một hệ thống phạm trù, khái niệm khá hoànchỉnh để giáo dục, đào tạo, phát triển con người với nội dung khá sâu sắc Hơn nữa, Nhogiáo còn xây dựng được mẫu người lý tưởng cho xã hội phong kiến đó là những người
“quân tử”, những “kẻ sĩ”, những “đại trượng phu mà ở họ các năng lực, phẩm chất về mặttinh thần được coi trọng và đề cao Điều này khá phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hộicũng như tư tưởng, tâm lý của dân tộc Việt Nam vấn đề cao đạo làm người, tôn vinh tinhthần xả thân vì Tổ quốc và nhân dân của các thành viên trong cộng đồng Nho giáo còn
đề ra những phương sách cụ thể để đào tạo phát triển con người, trong đó nhấn mạnh yếu
tố tự giác “tu thân” của các cá nhân - có ý nghĩa quyết định - đó là điều đáng ghi nhận
Trang 9trong lý luận giáo dục, đào tạo, phát triển con người bởi nó đề cao tính chủ động của conngười trước hoàn cảnh.
Nảy sinh và phát triển trên mảnh đất hiện thực đó, đồng thời bị qui định bởi những điềukiện mang tính khách quan của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tưtưởng đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam đã góp phần quan trọng đào tạocho đất nước, cho các triều đại phong kiến Việt Nam không ít những người “văn võ songtoàn” những người “hiền tài” những anh hùng dân tộc, có đóng góp lớn cho sự nghiệpbảo vệ và phát triển đất nước, làm rạng danh dân tộc, dòng họ và gia đình, để lại tấmgương muôn đời về lòng yêu nước, thương người, về tinh thần kiên cường, bất khuất, sựmưu trí dũng cảm, tinh thần quên mình vì dân vì nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, NgôQuyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn,Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Trung Trực, Phan ĐìnhPhùng, Phan Bội Châu Họ là niềm tự hào của dân tộc
Nghiên cứu triết lý, nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con người của ông cha tatrong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta thấy những điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất: Tuy sống trong chế độ phong kiến, bị giới hạn bởi điều kiện kinh tế - xã hội
của một nước phương Đông, của phương thức sản xuất châu Á đồng thời lại chịu ảnhhưởng của thế giới quan Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Song, cha ông ta cũng đã cócách nhìn biện chứng - dù còn ở trình độ chất phát, thô sơ, cảm tính về nguồn gốc, bảnchất con người cũng như quá trình vận động và phát triển của nó Trong “Khóa hư lục”,Trần Thái Tông cho rằng mọi người đều do tạo hóa sinh thành cũng như muôn vật conngười có nguồn gốc từ tự nhiên do mặt trời chiếu mà thánh chúa giáng sinh, hoặc từ saovương mà hiền thần xuất hiện” Hải thượng Lãn ông Lê Hữu Trác cũng nêu rõ: nguồn gốc
Trang 10con người không phải từ thế giới bên ngoài chúng ta, mà chính là bên trong thế giới, conngười là một bộ phận của giới tự nhiên Cũng giống như các sinh vật khác, con ngườixuất hiện không phải do thần thánh, thượng đế sáng tạo ra Nó là kết quả tiến hóa tấtnhiên từ thế giới của những “loài vô tình” sang thế giới của những “loài hữu tình”; “cái
vô tình nảy ra cái hữu tình”
Khi bàn về vấn đề nguồn gốc, bản chất con người cha ông ta thường hay dùng kháiniệm “tính người”, “bản tính con người” và nhấn mạnh vai trò chủ thể quyết định của conngười trong quan hệ với tự nhiên “người ta là hoa của đất”; “một mặt người bằng mườimặt của”, “nhân định thắng thiên”; “đức năng thắng số”
Nhìn chung, do chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống văn hóa dân tộc, do gắn chặtvới thực tiễn chiến đấu, sản xuất hàng ngày của nhân dân lao động nên khi nhìn nhậnnguồn gốc, bản chất con người, tư duy của cha ông ta trong vấn đề này ít duy tâm, thần
bí, các yếu tố siêu nhiên cũng không sâu đậm như trong Nho, Phật, Lão
Việc nhận thức đúng đắn nguồn gốc và bản chất con người là điều kiện, là tiền đề hếtsức quan trọng để đề ra những nội dung và phương sách thích hợp, giáo dục, đào tạo pháttriển con người có hiệu quả nhằm hoàn thiện và nâng cao phẩm chất, năng lực về mọimặt của mỗi cá nhân, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước
Thứ hai: Lý luận về giáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam được
thể hiện qua triết lý và nội dung giáo dục, đào tạo cũng như mẫu người lý tưởng mà giaicấp phong kiến Việt Nam nêu lên, định hướng cho việc xây dựng và phát triển con người
ở nước ta trong suốt một ngàn năm qua Một trong những nội dung quan trọng của tưtưởng giáo dục, đào tạo phát triển con người mà cha ông ta hết sức chú trọng đó là giáodục, bồi dưỡng đạo lý làm người Con người với tư cách là chủ thế của xã hội bao giờ
Trang 11cũng là tác nhân quan trọng nhất của mọi sự vận động và biến đổi xã hội Hành động củacon người trong xã hội không những bị chi phối bởi điều kiện khách quan mà còn chịu sựtác động rất lớn của nhân tố chủ quan như lý tưởng, quan điểm sống, trình độ hiểu biết,năng lực thực tiễn, nhu cầu lợi ích Vì vậy, để có những con người sẵn sàng xả thân vìquê hương, đất nước, vì cuộc sống yên lành của nhân dân, vì tương lai tươi sáng của dântộc, sống trung thực, nhân nghĩa, thủy chung, có ý chí, năng lực làm những việc “íchquốc, lợi dân” thì gia đình, nhà trường và xã hội phải quan tâm giáo dục con người vềmọi mặt Con người khi đã ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với cộng đồng,gia đình, anh em, bè bạn thì họ sẽ tự nguyện, tự giác đứng ra gánh vác những nhiệm vụkhó khăn, gian khổ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, không tính toán “được”, “mất”,
“thiệt”, “hơn” thậm chí cả sự hy sinh của bản thân
Nội dung giáo dục, bồi dưỡng đạo lý làm người của ông cha ta là sự kết hợp những giátrị văn hóa, văn hiến dân tộc như “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thươnglấy bí cùng”, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồngcây”; là nhân nghĩa, thủy chung, sắt son; là tinh thần đoàn kết để vượt qua những khókhăn, thử thách “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; là tinhthần kiên cường, bất khuất “chết vinh còn hơn sống nhục” với những tư tưởng, “từ bi,
hỷ xả”, “cứu khổ, cứu nạn” của Phật giáo; “vô vi: của Lão giáo; “tam cương, ngũthường”,”nhân nghĩa”, “cần, kiệm, liêm, chính”, “tứ đức” của Nho giáo Tất cả hợpquyện lại tạo thành những nội dung cơ bản để giáo dục, bồi dưỡng lẽ sống, niềm tin, cách
xử thế cho các thế hệ người Việt Nam
Trong nội dung giáo dục đạo làm người, cái mà cha ông ta hết sức coi trọng đó là “giáo dục con người giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề trung”, “hiếu”, với “ái quốc”,.
Trang 12"Trung" là khái niệm của Nho giáo, phản ánh một :trong ba mối quan hệ rường cột của
xã hội phong kiến (tam cương), đó là quan hệ vua- tôi Quan hệ vua - tôi là quan hệ cótính chất phụ thuộc, tôi phải phục tùng vua không điều kiện, thậm chí vua bảo chết cũngkhông được từ
Chữ “hiếu” đối với Nho giáo cũng rất quan trọng Nó được coi là nền tảng triết lý, làđiều bất khả xâm phạm trong quan hệ của con cái với cha mẹ Con có hiếu với cha mẹ,
em kính nể anh chị được coi là đức tính quý báu, là tình cảm tất yếu, tự nhiên của conngười Chữ hiếu đi liền với chữ trung Chữ tình phải nhẹ hơn chữ hiếu Mặc dù đạo hiếutrong xã hội phong kiến rất khắt khe, có phần độc đoán, song nó cũng có nhưng điểmđáng trân trọng, giữ gìn, kế thừa và nâng cao
Trong quá trình dùng Nho giáo để ý thức hệ hóa tư tưởng chính trị của xã hội ViệtNam, giai cấp phong kiến Việt Nam đã lấy khái niệm “trung”, “hiếu” làm trụ cột để xâydựng mối quan hệ “quân - thần”, “phụ - tử” Đây cũng là nội dung quan trọng trong giáodục, đào tạo dưới chế độ phong kiến Việt Nam Dù không còn khắc nghiệt như trong xãhội phong kiến Trung Hoa - do bị khúc xạ bởi tâm lý, tư tưởng, truyền thống chính trị củanhân dân Việt Nam - song, khái niệm “trung” “hiếu” vẫn cột chặt suy nghĩ và hành độngcủa xã hội, của con người với vua chúa, với đấng sinh thành, tạo nên một tâm lý vàphương cách xử sự có lợi cho việc duy trì, củng cố chế độ phong kiến nói chung vàquyền lực của các vị vua chúa cũng như của những người đứng đầu trong gia đình nóiriêng Vì thế, “trung”, “hiếu” là một trong nhưng tiêu chuẩn hàng đầu mà các triều đạiphong kiến nêu ra khi tuyển chọn nhân tài, tuyển chọn các tầng lớp quan lại cũng như lànội dung chủ yếu để giáo dục, đào tạo các nho sinh Hội thề đền Đồng Cổ (4/4 âm lịch)
Trang 13hàng năm của các quan lại thời Lý - Trần đã ghi: “Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, aitrái lời thề thân minh giết chết”.
Cùng với việc giáo dục “trung quân”, “hiếu nghĩa”, cha ông ta cũng hết sức coi trọnggiáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước cho mỗi người Việt Nam Có thể nói, yêu nước là giátrị hàng đầu trong bảng giá trị của truyền thống dân tộc Việt Nam Chưa bao giờ tronglịch sử Việt Nam, những kẻ phản bội Tổ quốc được coi là người sống có đạo lý, trong khi
đó, có những người dấy binh chống triều đình, chống lại vua chúa - nhất là những tên bạochúa - vẫn được nhân dân phụng thờ Nho giáo nguyên nghĩa không dạy người ta yêunước, song số đông những người Việt Nam dù xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình vẫn lànhững người có tinh thần yêu nước cao, luôn quan tâm đến vận mệnh của đất nước và lợiích của quốc gia
Trần Hưng Đạo - một hiền tài đời Trần, không vì chữ “hiếu” mà theo lời trăng trối củacha giành lại ngôi vua về tay mình, dù lúc ấy ông có tất cả điều kiện để thực đó ý tưởng
đó của cha là Trần Liễu Bởi hơn ai hết, ông hiểu trong cảnh nước sôi lửa bỏng, vận mệnhđất nước đang lâm nguy trước sự xâm lược của quân Nguyên - Mông thì cái cái chínhyếu của tất cả con dân nước Việt lúc này là phải đánh giặc cứu nước Trần Hưng Đạo đãhành động theo tiếng gọi của non sông chứ không theo lời trăng trối của người cha ích kỷ
.
Vào đầu thế kỷ 15, đất nước ta bị quân Minh đô hộ, hầu hết triều thần nhà Hồ bị bắt vàđưa về phương Bắc Trong tình cảnh đau thương đó vẫn sáng ngời lên lòng yêu nước củacon người Việt Nam Cuộc chia ly giữa Nguyễn Trãi với cha là Nguyễn Phi Khanh cùnglời nhắc nhở, dặn dò của ông với Nguyễn Trãi: Không nên đi theo cha mà cần phải quay
về lo cứu dân, cứu nước, đó mới là chữ “hiếu” lớn nhất Những lời tâm huyết đó của hiền
Trang 14nhân Nguyễn Phi Khanh đã góp phần quan trọng làm nên một anh hùng dân tộc, một nhàvăn hóa lớn của Việt Nam và thế giới: danh nhân Nguyễn Trãi.
Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích thế kỷ 18 đều là những người trưởngthành dưới triều Lê Sự mục nát của nhà Lê mà đỉnh cao của nó là việc Lê Chiêu Thống
vì lợi ích của dòng họ và bản thân đã bán rẻ đất nước cho nhà Thanh Trong bối cảnh đó,lòng yêu nước đã đưa các ông vượt qua chữ “trung” thông thường để đến với anh hùng áovải Quang Trung - người đang đại diện cho tinh thần quật cường của dân tộc - Công laocủa hiền tài Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, trong việc đại phá quân Thanh, bảo vệ nonsông, đất nước cũng như giúp Quang Trung kiến thiết lại nước nhà, đã được sử sách côngnhận nhân dân ghi nhận một cách sâu sắc
Nửa cuối thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, một mặt liên tiếp cắt đấtdâng cho thực dân Pháp xâm lược, mặt khác lại ra lệnh cho nhân dân các địa phương phảibãi binh, ngừng chiến đấu Trong bối cảnh đó, danh tướng Trương Công Định đã khẳngkhái tuyên bố: Triều đình hòa nghị thì cứ hòa nghị, việc của Định thì Định cứ làm, Địnhkhông nỡ ngồi nhìn giang sơn chìm đắm Và ông kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiếp tụckháng chiến
Điểm qua một số trường hợp cụ thể của các vị hiền nhân Việt Nam - những người đượcgiáo dục, đào tạo khá kỹ lưỡng về đạo làm người - trong việc xử lý mối quan hệ giữa
“trung”, “hiếu” với “ái quốc", chúng tôi, một mặt muốn khẳng định: yêu nước là mộttrong những phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam, mặt khác cũng muốn chứngminh rằng, nền giáo dục phong kiến Việt Nam dù chịu ảnh hưởng khá nặng nề của Nhogiáo vẫn tạo ra được lớp người biết vượt qua những quan niệm chật hẹp về “trung”, “hiếucủa Nho giáo, biết hướng tới quyền lợi chung của cả dân tộc, đem hết tài năng, sức lực để
Trang 15xây dựng và bảo vệ đất nước, đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên quyền lợi của gia đình,dòng họ.
Giáo dục nhân nghĩa, thương dân, coi trọng dân.
Nội dung kiến thức về nhân nghĩa mà hệ thống giáo dục dưới chế độ phong kiến ViệtNam trang bị cho con người là sự kết hợp những tư tưởng, quan điểm “nhân nghĩa” củaNho giáo với tư tưởng “từ bi, bác ái” của Phật giáo và lối sống nhân nghĩa, biết ơn ông
bà, cha mẹ, kính trên nhường dưới, yêu làng xóm quê hương của nhân dân ta
Nhân là lòng thương người, là tình cảm trung hậu với vạn vật, là lòng mong muốn chovạn vật bao giờ cũng có cái khoái lạc sinh sống ở trên đời
Nghĩa là điều mà con người phải làm trong bất cứ hoàn cảnh nào, không vụ lợi
Ông cha ta cho rằng, có lòng nhân nghĩa mới hợp quần với nhau, coi nhau như anh em,xem cả đoàn thể như một người, cả vũ trụ như nhất thể Đã như một người thì hễ có chỗnào đau là cả người thấy khó chịu Người bất nhân, bất nghĩa thì chẳng khác gì ngườimắc bệnh tê, thân thể đau ở đâu cũng không hay biết Người không có nhân nghĩa thì aiđau khổ thế nào, bị tai nạn ra sao cũng dửng dưng không hề có cảm động chút nào
Là một dân tộc giàu lòng nhân nghĩa, luôn đề cao và hành động theo tinh thần “kiếnnghĩa bất vi vô dõng dã”; “giữa đường thấy việc bất bằng chẳng tha”; “một miếng khi đóibằng một gói khi no” nên việc giáo dục, bồi dưỡng con người biết làm việc nghĩa,hướng tới điều nhân là vấn đề luôn được cha ông ta coi trọng trong chương trình giáodục, đào tạo phát triển con người trong suốt mấy chục thế kỷ qua
Một trong những nội dung chủ yếu và chiếm vị trí quan trọng trong tư tưởng giáo dục,đào tạo con người của cha ông ta đó là giáo dục tình thương yêu đồng loại, thương yêu
Trang 16nhân dân, những “dân đen”, “con đỏ" Trong cách nhìn của cha ông về nhân cách conngười, cái nổi bật đầu tiên chưa phải là tài năng mà là đạo đức, thái độ với đồng bào Đạođức của con người được biểu hiện qua nhiều khía cạnh, hành vi cụ thể, nhưng trước hết(và là cái quan trọng bậc nhất) đó là thái độ và hành vi với đồng loại, với những ngườicùng mẹ Âu Cơ sinh ra Nói thương dân, thương đồng bào mà chỉ dừng lại ở khâu đàmthì chưa đủ, thậm chí còn vô nghĩa Cứ chính là phải biết hiện thực hóa lòng yêu thươngnhân dân bằng những việc làm cụ thể trong thực tiễn Cha ông ta đã rất có lý khi cho rằngcần phải kiểm chứng, đánh giá con người qua hành động thực tiễn của họ Một người chỉđược coi sống có đạo lý khi việc làm của người đó giúp ích cho nước, cho dân, biết coitrọng nhân dân, luôn ra sức phấn đấu đem lại cho nhân dân một cuộc sống ngày càng nođủ.
Lịch sử Việt Nam đã ghi lại vô vàn những tấm gương về lòng yêu thương nhân dân củanhững bậc "vua sáng", "tôi hiền","sĩ tốt", như Lê Hoàn, Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt,Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Quang Trung, PhanBội Châu Họ là những người luôn quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, chú trọngthực thi các chính sách “thân dân”, "khoan thư sức dân", nhằm tạo lập cho nhân dân mộtcuộc sống ngày càng tốt đẹp để “khắp thôn cùng xóm vắng không còn tiếng oán sầu” Đểkiểm chứng, đánh giá thái độ, quan điểm, lòng yêu thương nhân dân của các vị quan lại,cha ông ta đã thực thi nhiều chính sách biện pháp, rất cụ thể Ví dụ, Lê Thánh Tông vịvua anh minh của dân tộc trong thời gian trị vì của mình đã định lệ ba năm khảo hạch các
vị quan lại - những kẻ “chăn dân” thay triều đình - một lần, với ba tiêu chí:
Có được nhân dân yêu mến không
Có lòng yêu nhân dân không
Trang 17Trong hạt có dân trốn đi nơi khác không ?
Nếu vị quan nào lười biếng, yếu hèn, đê tiện, không quan tâm đến đời sống nhân dân,
ăn hối lộ, ức hiếp nhân dân thì bị xử phạt nặng, những ai được dân yêu mến sẽ trọngthưởng [123, tr 63-64]
Giáo dục đức dũng, sống ngay thẳng, trong sạch, tôn trọng lẽ phải.
Sống trong sạch, ngay thẳng, dám đương đầu chống lại cái sai, bảo vệ cái đúng là phẩmchất quan trọng của những con người mà cha ông ta mong muốn đào tạo Đây cũng làyêu cầu, tiêu chuẩn đặt ra của xã hội, của thể chế chính trị đối với hệ thống giáo dụctrong chế độ phong kiến Việt Nam Không thể có một xã hội "thái bình, thịnh trị” nếutrong xã hội đó những người cầm quyền, những người "chăn dân" rặt những kẻ bất tài, vôđạo đức, tham lam, xu nịnh, nhu nhược Vì vậy, trong lịch sử chế độ phong kiến ViệtNam, các triều đại đều coi trọng sự trong sạch, trung thực, ngay thẳng của tầng lớp quanlại và có nhiều biện pháp để kiểm tra, giám sát, cổ xúy cho sự liêm khiết của những phụmẫu chi dân” Để làm được “tôi hiền" trước hết phải sống trong sạch, không tham lam,
vơ vét nhũng nhiễu nhân dân Trong bối cảnh chế độ phong kiến, khi tầng lớp tham gia
bộ máy thống trị nắm trong tay nhiều quyền lực thì giữ được sự thanh liêm không phải
dễ Tầm cao, sự hơn, sự hơn người “tôi hiền”, “sĩ tốt” là tự mình biết vượt qua nhữngcám dỗ đời thường đó để sống trong sạch, chính trực Hơn thế nữa, bản thân sự trong sángtrong đời sống cá nhân, cho phép người ta dám nói lên sự thật, dám đấu tranh cho cáiđúng, cái thiện, chung lại cái sai, cái xấu xa vốn tồn tại phổ biến trong chế độ phong kiến.Lịch sử Việt Nam còn ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của các bậc hiền tài nổi tiếngcương trực, có tiết tháo, không khuất phục trước cường quyền, dám lên tiếng can ngăn,phản đối sự tàn ác của những kẻ cầm quyền, những thói hư tật xấu trong xã hội, dũng
Trang 18cảm bảo vệ công bằng và lẽ phải như: Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ Các vị đó là sản phẩm tiêu biểu của một nền giáodục luôn coi trọng và đề cao việc bồi dưỡng đức dũng, lối sống ngay thẳng, liêm chính,trung thực của dân tộc Việt Nam.
Giáo dục trí dục, đề cao tinh thần hiếu học là một trong những nội dung quan trọng của tư tưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam.
Cha ông ta cho rằng con người muốn đạt tới những đức tính cao đẹp muốn hiểu thấuđáo đạo lý làm người thì cần phải học, bởi “nhân bất học bất tri lý” Những đức tính đó làNhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương, song nếu không học để hiểu rõ lẽ phải trái thì kết quảđạt được sẽ có thể ngược lại Theo quan điểm của cha ông ta, "nhân" mà không học thành
ngu; "trí" mà không học thành phóng đãng; "tín" mà không học thành hẹp hòi, cố chấp;
"trực" mà không học thành ngang ngạnh; "dũng" và "cương" mà không học thành loạn
Vì vậy, việc giáo dục kiến thức về mọi mặt, nâng cao sự hiểu biết cho mọi người để họnhận thức được lẽ phải, trái, hiểu thấu đáo làm người là vấn đề vô cùng quan trọng để conngười nhận thức đúng đắn, hành động tích cực, phấn đấu hết sức mình cho sự phồn vinhcủa đất nước và hạnh phúc của nhân dân
Hiếu học là truyền thống lâu đời của nhân dân ta Truyền thống đó được cha ông ta hếtsức coi trọng Vì vậy, trong nội dung giáo dục đạo làm người, cha ông ta rất chú ý giáodục, bồi dưỡng lòng hiếu học, tinh thần vượt mọi khó khăn để học tập của con người ViệtNam Nhằm động viên, khuyến khích mọi người hăng hái học tập, cha ông ta đã sáng tạo
ra nhiều hình thức biểu dương, cổ vũ như: Vào những ngày sóc, vọng hàng tháng (mùng
1 và ngày rằm) trường Quốc Tử Giảm và các trường học ở huyện, tỉnh thường tổ chứccác cuộc khảo khóa, bình văn Những văn bài hay của các nho sĩ được đem đọc và bình
Trang 19luận, khen chê Điều này có tác dụng to lớn cổ vũ học trò, sĩ tử say mê, cố gắng học tậpđồng thời lôi cuốn mọi người hăng hái tham gia học tập, rèn luyện văn chương, võ nghệ.Các hình thức nêu danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ, việc khắc tên vào bảng vàng, bia đá,việc tổ chức lễ vinh quy bái tổ cho các ông nghè về làng cùng với sự ban thưởng ân tứcủa vua đã cổ vũ lớn lao cho việc học.
Giáo dục nền nếp, trật tự, kỷ cương, gia phong.
Chính danh định phận là một trong những tư tưởng quan trọng của học thuyết Nho giáo
và đây cũng là cơ sở của nội dung giáo dục trật tự, kỷ cương, gia phong cho con ngườicủa giai cấp phong kiến Việt Nam Danh phận đã định rõ thì người nào có vị thế củangười đó, trên ra trên, dưới ra dưới, theo trật tự phân minh, "vua ra vua, tôi ra tôi, cha racha, con ra con", đó là nguyên tắc, là tôn ti trật tự trong mỗi gia đình cũng như ngoài xãhội Vì vậy, giáo dục tôn ti, trật tự, kỷ cương, gia phong là nội dung quan trọng mà chaông ta rất quan tâm khi xây dựng những nhận thức về đạo lý làm người cho các thế hệngười Việt Nam Điều này có tác dụng không nhỏ trong việc giữ gìn sự ổn định của xãhội, làng xóm, gia đình
Thứ ba: Trong quá trình thực thi việc đào tạo, phát triển con người, cha ông ta đã sử
dụng một hệ thống phương pháp giáo dục, đào tạo khá phong phú
Qua các tài liệu sử học và giáo dục học đã được công bố, chúng ta có thể khái quát lạimột số nội dung chủ yếu trong phương pháp giáo dục, đào tạo con người dưới chế độphong kiến nước ta Điều này được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Về phương pháp trí dục
Trang 20+ Thực hiện việc kết hợp học tập với độc lập suy nghĩ “Học mà không nghĩ thì mờ tối,
chẳng hiểu gì, nghĩ mà không học thì khó nhọc mất công không” (Luận ngữ)
+ Dạy học dùng cách ví von, hỏi han, hướng dẫn, khêu gợi, mở mang để người học tìm
ra chân lý, giáo dục cho người học không chịu ảnh hưởng của dư luận mà tự mình suy xét
ra kết luận
+ Dạy học tùy theo đối tượng Tùy trình độ môn sinh, dạy mỗi người một khác, không
đồng loạt Do vậy, dù ở trình độ nào, học trò cũng có thể tiếp thu được
+ Học đi đôi với thực hành Con người phải giữ tâm trạng chính, việc làm thành thực,
để sự biết và việc làm hợp làm một Đó là trí mà hành, hành mà trí vậy Học phải chuyêntâm trí, không hời hợt Học điều thiện để thực hành chứ không chỉ nói ra miếng mà thôi
Ở nhà trường cũ, hành ở đây chủ yếu là về đạo đức, tư cách
+ Hiếu học, lạc học: Người đi học phải có chí, chí đã lập thì phải kiên định, không thấy
khó mà sợ, không thấy lâu mà nản Phải bồi dưỡng ý chí, niềm tin, lòng say mê, tinh thầnham học, yêu thích học tập cho con người theo tinh thần mà Khổng tử dạy: biết mà họckhông bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học” (Luận ngữ - Unggiã)
Trang 21- Thường xuyên tự biện luận với mình về tri thức và hành vi đạo đức dựa trênchuẩn mực của các sách kinh điển, của xã hội, từ đó ngày càng tiếp cận không chỉ vớinhững nguyên lý của học thuyết mà còn với hiện thực đời sống xã hội,
-Tự kiểm điểm khi chỉ có riêng mình để thử thách mình về sự thành ý, chínhtâm Rèn luyện không để sự tức giận, sợ hãi, vui mừng lấn át khiến cho không nhận ra lẽphải trái
- Tự đòi hỏi mình với yêu cầu ngày càng cao mỗi khi gặp thất bại, bao giờ cũng tìmnguyên nhân tự bản thân chứ không tìm lý do khách quan (Tiên trách kỷ, hậu trách nhân)
+ Người học phải quan sát người để xét mình, chú trọng học gương tốt của thánh hiền,
của người xưa để rút ra bài học cho bản thân
+ Chọn bạn tốt để cùng nhau học tập, ông cha ta đã dạy lớp lớp con cháu rằng: bạn với
người trung chính thì sẽ học được điều hay, bạn với kẻ gian tà thì sẽ nhiễm điều dở Bởi
thế phải "chọn bạn mà chơi"
+ Đề cao sự làm gương của người thầy Muốn vậy, người thầy cũng phải luôn luôn tu
dưỡng, học hỏi để có tri thức uyên bác Thầy biết mười chỉ để dạy một
Kết hợp chặt chẽ đức dục với trí dục
Trẻ cắp sách đến trường là tiếp thu chữ nghĩa của thánh hiền Bởi vậy việc họcđược coi là điều rất quan trọng Xin học cho con, cha mẹ phải lễ gia tiên ở nhà, chọnngày lạnh tháng tốt sửa lễ đến nhà thầy xin học Thầy đồ trước khi nhận học trò mới, lạiphải cáo gia tiên và đức Khổng Tử, có khi lễ tại văn chỉ làng Sau buổi lễ khai tâm, đứatrẻ từ nay phải sống và học tập theo nề nếp Một thời gian đài, trước khi học chữ, đứa trẻphải học cách khoanh tay chào hỏi, cách đi đứng, nói năng lễ độ đối với thầy với bạn, với
Trang 22cha mẹ, ông bà, anh chị ở nhà, với mọi người trong làng xóm Đi học phải có thái độchăm chỉ, cần mẫn, bài học phải thuộc, bài làm phải đủ Lười biếng là bị phạt bằng đònroi, quỳ ở góc nhà hoặc chui qua háng của trưởng tràng Lại phải hết sức coi trọng sách
vở, chữ nghĩa của thánh hiền Nhặt được tờ giấy có chữ phải đốt đi
Khi đã qua tiểu học trở thành một nho sĩ, phải chú ý từ cách ăn mặc quần áo, khăn,giầy, đi đứng khoan thai, nói năng lễ độ, cư xử nho nhã, đúng mực Vậy là phải học lễ rồimới học văn Đức và trí kết hợp chặt chẽ, tri và hành đi đôi vời nhau Quá trình tu dưỡng,học tập đó có sự giám sát của thầy, của bạn, của hội đồng môn ở trường, có sự chỉ bảocủa cha mẹ, ông bà, anh chị, của họ tộc, của gia pháp, gia phong ở nhà, ở làng xã thì cóhương ước, hội tư văn, và có dư luận khen chê của xã hội Có thể nói, việc giáo dục, đàotạo, phát triển con người dưới chế độ phong kiến Việt Nam bước đầu cũng đã có sự kếthợp của gia đình, nhà trường và xã hội
Gạt bỏ những mặt hạn chế, khiếm khuyết, tiêu cực, nhìn nhận và đánh giá một cáchkhách quan, có thể nói, nội dung và phương pháp giáo dục, đào tạo, phát triển con ngườicủa cha ông ta đã góp phần vô cùng quan trọng đào tạo ra biết bao người con ưu tú,những "hiền tài", có đóng góp hết sức to lớn vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triểnđất nước của dân tộc Việt Nam trong suốt hơn một ngàn năm qua
Sinh trưởng trong một gia đình Nho học (ông ngoại là thầy dạy chữ Hán, bố là một vịđại khoa), ở một vùng quê nổi tiếng với truyền thống hiếu học, cần học Bản thân Hồ ChíMinh đã có nhiều năm đèn sách dưới sự dạy dỗ của các vị túc nho uyên thâm nhưng sốnggần gũi với đời sống thường nhật của người dân thôn quê Hơn nữa, với tư chất thôngminh, tinh thần ham học, đặc biệt là sự yêu thích môn văn học và lịch sử dân tộc đã giúpcho Hồ Chí Minh hiểu biết sâu sắc truyền thống lịch sử của đất nước và con người nói
Trang 23chung cũng như những tư tưởng, lý luận, nội dung giáo dục, đào tạo phát triển con ngườicủa cha ông ta nói riêng Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc những giá trị tốt đẹp trong tư tưởnggiáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam cũng như những hạn chế,khiếm khuyết của nó, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa tư tưởng đó trên tinh thần “cáigì mà xấu, thì phải bỏ Cái gì mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại chohợp lý Cái gì tốt, thì phải phát triển thêm lên" [84, tr 94-95].
Nhìn một cách tổng quát, Hồ Chí Minh đã kế thừa những giá trị của tư tưởng, giáo dục,đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam ở những điểm chủ yếu sau:
Một là: Kế thừa một số khái niệm, phạm trù.
Chúng ta biết rằng, nền giáo dục đào tạo Việt Nam trước đây dã sử dụng một hệ thốngkhái niệm, phạm trù khá phong phú, phần lớn có nguồn gốc từ Nho giáo như: Nhân,
Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Chính, Cần, Kiệm, Trung, Hiếu, Tài, Đức
Có thể nói, trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo,phát triển con người, Nho giáo có ưu thếhơn các tôn giáo khác ở chỗ nó có một hệ thống phạm trù khá chặt chẽ và hoàn chỉnh vớinội dung rất phong phú, chuyển tải được nhiều vấn đề thuộc về triết lý nhân sinh, về đạo
lý và tri thức để làm người Trong lịch sử, dân tộc ta đã từng mượn chữ Hán làm chữ viếtcủa mình, mượn một số khái niệm phạm trù của văn hóa Hán, nhất là của Nho giáo đểchuyển tải, biểu đạt những tư tưởng, quan điểm, nhận thức của mình Nhưng tổ tiênchúng ta đã biết phiên âm chữ viết phải vay mượn ấy bằng âm Hán Việt và đã phát âmchữ Hán không giống người Hán, diễn đạt nội dung các khái niệm đó cũng không hoàntoàn giống nghĩa nguyên thủy của nó Trải qua quá trình lịch sử lâu đời, những âm HánViệt đã trở thành ngôn ngữ đại chúng của toàn dân tộc và trong phạm vi tiếng nói thì các
từ ngữ ấy ngày càng trở nên thông dụng Trong lịch sử, tổ tiên chúng ta cũng đã có sự nỗ
Trang 24lực để sáng tạo ra chữ viết cho riêng mình, đó là chữ Nôm Với chữ Nôm, các khái niệmvốn được vay mượn từ chữ Nho đã được Việt hóa một bước cả ở tiếng nói lẫn chữ viết.Nói như vậy để thấy rằng, trong quá trình kế thừa những khái niệm của Nho giáo, hệthống giáo dục, đào tạo Việt Nam - nhất là ở các trường dân lập, khi sử dụng các kháiniệm của Nho giáo cũng đã có sự "Việt Nam hóa" một bước nội hàm của các khái niệm
đó, phục vụ cho việc đào tạo, phát triển con người trên đất nước Việt Nam vốn có điềukiện kinh tế chính trị, xã hội không tương đồng với Trung Hoa Tuy nhiên, khi trình bàynhững điều trên, chúng tôi không có ý phủ nhận ảnh hưởng của các yếu tố tích cực củaNho giáo đối với nội dung cũng như cách biểu đạt và hệ thống khái niệm, phạm trù củanền giáo dục, đào tạo Việt Nam hơn một ngàn năm qua Trong điều kiện lịch sử cụ thểcủa nước ta, điều này là rất cần thiết nhằm làm phong phú thêm ngôn ngữ của dân tộcViệt Nam đồng thời cũng giúp ích nhiều cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, phát triển conngười của nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử
Đối với Hồ Chí Minh, những khái niệm phạm trù của văn hóa Hán, nhất là của Nhogiáo mà cha ông ta tiếp thu và vận dụng vào việc giáo dục, đào tạo, phát triển con người
có hiệu quả, có tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của ngườiViệt Nam trong lịch sử đã được Người kế thừa một cách sáng tạo Hơn nữa, theo giáo sưTrần Văn Giàu:
Cụ Hồ Chí Minh là một người hiểu biết Nho giáo rất sâu, rất rộng nữa Nhưng cụkhông phải là một nhà Nho mà là một người biết rõ những nhược điểm, những sai lầmnữa của Nho giáo mà tránh, lại thấm nhuần mấy ưu điểm của nó mà ứng dụng theo lợi íchcủa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã nhiều trăm năm chịuảnh hưởng của Nho giáo [40, tr 36]
Trang 25Vì vậy việc Hồ Chí Minh sử dụng một số khái niệm, phạm trù mà hệ thống giáo dụcViệt Nam kế thừa từ văn hóa Trung Hoa, từ Nho giáo là có chủ đích, trên cơ sở hiểu biếtsâu sắc không chỉ tư tưởng, nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộcViệt Nam mà còn trên sự hiểu biết sâu rộng những mặt tích cực của Nho giáo trong sựnghiệp "trồng người".
Trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Ngườirất hay sử dụng các khái niệm như: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, khi đề cập đến phẩm chấtcủa con người Việt Nam trong thời đại mới nhất là đối với cán bộ đảng viên Hồ ChíMinh cho rằng, cũng như trời có bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông; đất có bốn phương đông,tây, nam, bắc; con người có bốn đức cơ bản là Cần, Kiệm, liêm, Chính, "thiếu một đứckhông thành người"; "tự mình phải cần, tiệm, liêm, chính" [85, tr 406], đối với cán bộđảng viên người yêu cầu "ai cũng phải thực hành bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính": [85,
tr 622];"đạo đức cách mạng của ta là Cần, Kiệm, Liêm, Chính"[86-tr 490 ];"phải thi đuathực hành cần, kiệm, liêm, chính"; "cố gắng làm đúng bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính"[85, tr 203]; mở một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm,liêm, chính" [84, tr 8] Có thể nói, tần số xuất hiện của các khái niệm: Cần, Kiệm, Liêm,Chính trong tư tưởng phát triển con người toàn diện là nhiều nhất trong các khái niệm,phạm trù mà Hồ Chí Minh kế thừa từ tư tưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người củacha ông ta
Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm cũng là những khái niệm mà Hồ Chí Minh hay dùng, nhất
là khi nói về phẩm chất, năng lực của người quân nhân cách mạng, của người làm tướng
"tướng giỏi (đủ cả trí, nhân, dũng, liêm) thì nước mạnh" [83, tr 519]; "nhiệm vụ củangười làm tướng là phải trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung" [85, tr 479]; "Quân sự giỏi
Trang 26song nếu không có đạo đức cách mạng thì cũng khó thành công Muốn có đạo đức cáchmạng phải có năm điều sau đây: Tư, tín, nhân, dũng, liêm” [95, tr 223]
Khái niệm Trung, hiếu đã được Hồ Chí Minh sử dụng rất nhiều để giáo dục các thế hệcách mạng Việt Nam Từ tác phẩm "Đường cách mệnh", cuốn sách giáo khoa cách mạngđầu tiên (1927) cho đến Di chúc thiêng liêng (1969), Người luôn nhắc nhở mỗi ngườiViệt Nam, mỗi chiến sĩ cách mạng cũng như cán bộ, Đảng viên phải trung với nước, hiếuvới dân "[84, tr 239]; "quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân [91, tr 349]; "đối vớichính phủ phải tuyệt đối trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép, [85, tr.406]; "trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giaicấp" [90, tr 621]; "Người kiên quyết cách mạng nhất, lại là người đa tình chí hiếu nhất"[87, tr 60]; "phải hiểu chữ hiếu của cách mạng [87, tr 60]; "chữ tình, chữ hiếu cũng phảihiểu một cách rộng" [87, tr 61]; "phải nâng cao chí khí cách mạng, trung với nước, hiếuvới dân" [91, tr 504]
Yêu nước, thương dân là những khái niệm, phạm trù hết sức quan trọng trong nội dunggiáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam Nó luôn được sử dụng đểgiáo dục nhân cách, đạo đức, ý chí, tình cảm cho các thế hệ người Việt Nam trong lịchsử
Các khái niệm này cũng giữ vị trí hàng đầu trong tư tưởng phát triển con người toàndiện của Hồ Chí Minh Vì vậy, nó thường xuyên xuất hiện trong các bài nói, bài viết củaNgười, khi thì trong những bài báo sục sôi căm giận tố cáo tội ác man rợ của bọn thựcdân, phong kiến; khi thì ở những lời kêu gọi hừng hực khí thế cách mạng như; Tổng khởinghĩa giành chính quyền (1945), Toàn quốc kháng chiến (1946), chống Mỹ, cứu nước(1966) hay trên những diễn đàn quan trọng: Lễ tuyên ngôn độc lập (9/1945 ), Đại hội
Trang 27toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951), Đại hội toàn quốc lần thứ ba của Đảng (9/1960)hoặc sâu sắc, súc tích trong Di chúc thiêng liêng (1969).
Ngay từ những bài báo, trang viết đầu tiên trong cuộc đời cách mạng vẻ vang của mình,
Hồ Chí Minh đã đề cập đến khái niệm yêu nước, thương dân và khẳng định "chính chủnghĩa yêu nước" [90, tr 128] đã thúc giục Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, tìmđến chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa cộng sản
Trong Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951) Hồ Chí Minh lại khẳng định:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta" [86, tr 171].Cho nên phát triển tinh thần yêu nước" [86, tr 171] là rất quan trọng để làm cho tinh thầnyêu nước của tất thảy mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước" [86, tir172]
Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng, khi giáo dục, đào tạo, phát triển con người, chúng ta cầnphải làm cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu sâu sắc nội dung của khái niệm yêunước, thương dân, cố gắng phấn đấu, rèn luyện, bồi dưỡng để làm cho lòng yêu nước"trong mỗi con người "ngày một nồng nàn" nhưng cũng cần phải tránh tư tưởng cực đoan
"chỉ biết yêu nước mình mà khinh ghét nước người" [85, tr l02]
Cần phải thấy rằng, trong quá trình sử dụng một số khái niệm, phạm trù của Nho giáo,của nền giáo dục, đào tạo, phát triển con người Việt Nam trước đây, Hồ Chí Minh đã loại
bỏ những mặt hạn chế trong nội hàm các khái niệm đó, đưa thêm vào những nội dungmới, mang tính cách mạng, nhằm cải biến một cách căn bản các khái niệm, phạm trù cũ,phục vụ có hiệu quả sự nghiệp đào tạo các chiến sĩ cách mạng, đào tạo những con ngườimới xã hội chủ nghĩa ở nước ta Điều này có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp cho mỗi ngườiViệt Nam (vốn đã quen với các khái niệm, thuật ngữ của Nho giáo) có thể lĩnh hội, nắm
Trang 28bắt, tiếp thu, tư tưởng, lý luận, đường lối, phương pháp cách mạng, tri thức văn hóa, khoahọc, kỹ thuật để không ngừng hoàn thiện và nâng cao phẩm chất, năng lực về mọi mặtcủa bản thân, góp phần hình thành và phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
Hai là: Kế thừa những mặt tích cực trong nội dung giáo dục đạo lý làm người của cha
ông.
Trong nền giáo dục truyền thống, cha ông ta rất quan tâm giáo dục triết lý nhân sinh,đạo lý làm người cho các thành viên cộng đồng Nội dung chủ yếu của nó là giáo dục conngười sống có lý tưởng, bản lĩnh, có ý chí vươn lên để tự hoàn thiện mình về mọi mặt,đem hết tài đức của mình xây dựng một xã hội “thái bình, thịnh trị"; "vua sáng, tôi hiền";
là yêu nước, thương dân, sống nhân nghĩa, thủy chung; là đề cao đạo đức, tình đoàn kếttrong quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người Mặc dù không tránh khỏi nhữnghạn chế, khiếm khuyết nhưng triết lý và nội dung giáo dục, đào tạo phát triển con ngườicủa cha ông ta đã góp phần quan trọng tạo ra những thế hệ người Việt Nam "giàu sangkhông thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục" [86,
tr 184], “trai thời trung hiếu làm đầu; gái thời tiết hạnh làm câu răn mình”; kiên cường,bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo cũng như không ít những người "hiền tài”-nguyên khí của quốc gia, những vị anh hùng dân tộc "văn võ song toàn” Họ đã có nhữngđóng góp hết sức to lớn cho sự trường tồn và phát triển không ngừng của dân tộc ViệtNam, làm rạng danh dân tộc, vẻ vang giống nòi Đó là niềm tự hào lớn của nhân dân ta
Hồ Chí Minh viết: "Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại BàTrưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công laocủa các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng" [86, tr
171-172] Sự đánh giá đó của Hồ Chí Minh, trên một ý nghĩa nào đó cũng là sự khẳng
Trang 29định những giá trị, những thành công trong việc giáo dục đạo lý làm người của cha ôngta.
Là người được giáo dục kỹ lưỡng về đạo lý làm người, hiểu biết sâu sắc những giá trịtốt đẹp ấy trong truyền thống văn hóa dân tộc cũng như trong tư tưởng giáo dục, đào tạo,phát triển con người của cha ông, Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải kế thừa một cách sángtạo những giá trị đó vào sự nghiệp xây dựng và phát triển con người cho cách mạng ViệtNam Trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của mình, vấn đề giáo dục đạo lýlàm người được Hồ Chí Minh rất quan tâm Theo Hồ Chí Minh, con người dù bất kỳ ởđâu cũng phải sống có đạo lý Đối với dân tộc Việt Nam vấn đề này càng có ý nghĩa quantrọng Cha ông ta cho rằng, nếu con người thiếu nhân cách, sống không có đạo lý thì dùtài giỏi đến đâu cũng không giúp ích được cho cộng đồng, xã hội thậm chí còn gây ranhững tác hại cho đất nước, cho nhân dân và tất nhiên sẽ bị xã hội lên án, từ bỏ Vì vậy,giáo dục đạo lý làm người được gia đình, trường học và xã hội rất coi trọng
Cuộc cách mạng mà nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là vìcon người, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đông đảo quần chúng, tạo ranhững điều kiện tốt nhất cho sự phát triển mọi mặt của con người Việt Nam Cho nên,những người tham gia sự nghiệp vẻ vang đó trước hết phải là những người sống có đạolý
Theo Hồ Chí Minh, đạo lý sống của người cách mạng “nghĩ cho cùng là vấn đề ở đời
và làm người Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bịđau khổ, bị áp bức" [105, tr 138]; là phải "làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được họchành" [84, tr 152] ; "đem tài dân, sức dân, làm lợi cho dân" [85, tr 65]; "Mình ăn no mặc
ấm, cũng cần làm cho tất cả mọi người được ăn no, mặc ấm" [87, tr 682]; là "sống với
Trang 30nhau có tình có nghĩa" ; "nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có
nghĩa thì sao có thể hiểu chủ nghĩa Mác - Lê nin" [92, tr 554], sao là sống có đạo lý
Sự kế thừa những giá trị tốt đẹp này còn được thể hiện trong thực tiễn giáo dục, đàotạo, phát triển con người của Hồ Chí Minh Hai mươi bốn điều trong cuốn sách giáo khoa
"Đường cách mệnh" đều đề cập đến đạo lý làm người, dạy đạo lý sống cho các chiến sĩcách mạng Việt Nam Đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương - nơi đào tạo cán
bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, dòng đầu tiên mà Người ghi vào sổ vàng truyền thốngcủa trường là "Học để làm người" trước khi làm cán bộ Trong nhiều bức thư gửi họcsinh, thầy cô giáo, cán bộ quản lý ngành giáo dục, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở phảichú ý giáo dục đạo đức, ý thức, trách nhiệm công dân, đạo lý làm người, coi đó là phẩmchất quan trọng đầu tiên của con người mới xã hội chủ nghĩa và là tiền đề cơ bản để pháttriển các phẩm chất, năng lực khác của con người
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc rằng con người nếu không có một triết lý nhânsinh đúng đắn, một quan điểm sống tích cực, sẽ sa vào lối sống tùy tiện, thực dụng, thấphèn, dễ biến thành những vật cản trên con đường phát triển của cộng đồng, xã hội Do đógiáo dục, bồi dưỡng đạo lý làm người cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, cho tầng lớp trẻ
là vấn đề được Hồ Chí Minh hết sức coi trọng
Điều này một mặt cho thấy sự hiểu biết sâu sắc quá trình phát triển nhân cách conngười của Hồ Chí Minh, mặt khác cũng phản ánh đậm nét việc Người kế thừa, tiếp, thu
và nâng cao những giá trị nhân văn trong truyền thống văn hóa dân tộc mà cha ông ta đưavào trong nội dung tư tưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Namtrong hàng ngàn năm qua
Trang 31Ba là: Kế thừa một số điểm tích cực trong phương pháp, giáo dục, đào tạo, phát triển
con người của dân tộc Việt Nam.
Trong lịch sử, cha ông ta đã sử dụng một hệ thống phương pháp giáo dục, đào tạo, phát
triển con người khá phong phú Mặc dù còn có nhiều hạn chế song hệ thống phương pháp
ấy cũng có những mặt tích cực góp phần không nhỏ vào việc đào tạo cho dân tộc ViệtNam biết bao người con ưu tú có đủ đạo đức tài năng đưa nhân dân ta vượt qua mọi thửthách hiểm nghèo trên con đường phát triển của mình Chính vì vậy, trong quá trình kếthừa, những giá trị tốt đẹp của tư tưởng giáo dục, đào tạo phát triển con người của chaông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo những mặt tích cực của cácphương pháp ấy vào thực tiễn đào tạo, phát triển con người cho cách mạng Việt Nam.Những yếu tố, những mặt tích cực mà Hồ Chí Minh đánh giá cao và kế thừa trongphương pháp giáo dục, đào tạo, phát triển con người của cha ông Đó là:
- Sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục
- Kết hợp giữa tri và hành
- Động viên, khuyến khích, tinh thần tự giác vươn lên của mỗi con người
Trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, các phương pháp nàyđược vận dụng nhuần nhuyễn và rất sáng tạo
Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức cách mạng, lý tưởng, quan điểm sống với tríthức khoa học xã hội - nhân văn cho con người Việt Nam để không ngừng nâng caophẩm chất và năng lực về mọi mặt của họ là phương pháp mà Hồ Chí Minh luôn luôn coitrọng và thường xuyên xây dựng Theo Hồ Chí Minh, có làm tốt điều đó chứng ta mới cóthể tạo ra được những con người mới đức tài vẹn toàn cho cách mạng Trong tư tưởng
Trang 32phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, đạo đức và tài năng, lý trí và tình cảm,
là những yếu tố không thể tách rời trong nhân cách của cách mạng, nó phải được kết hợpchặt với nhau Muốn vậy, khi tiến hành giáo dục, đào tạo, phát triển con người phải kếthợp chặt chẽ giữa hai mặt đó, phải quan tâm, đến giáo dục cả tri thức đạo đức và tri thứcvăn hóa, khoa học, kỹ thuật để nâng cao phẩm chất, năng lực cho mỗi cá nhân Đó là điềuluôn luôn được Hồ Chí Minh quan tâm bởi theo Người “có tài phải có đức, có tài màkhông có đức là người vô dụng Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó"; "có tài
mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại để thụt két thìchẳng những không làm được gì ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội Nếu có đức màkhông có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loàingười” [88, tr 126]- Vì vậy kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục là phươngpháp hết sức quan trọng để đào tạo cho cách mạng những con người “vừa hồng, vừachuyên" nhằm kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta
Đó là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh mà người nêu ra trong tư tưởng phát triểncon người toàn diện của mình
"Tri và hành" phải được kết hợp chặt chẽ với nhau là một quan điểm rất đáng chú ýtrong phương pháp đào tạo, phát triển con người của nền giáo dục truyền thống ViệtNam Mặc dù trong thực tế vấn đề này chưa được hệ thống giáo dục, đào tạo trước đây ởnước ta làm tốt, các kinh nghiệm khi thực hiện phương pháp này để lại cho hậu thế cũngcòn ít, song tinh thần tiến bộ, ý nghĩa tích cực của nó trong việc xây dựng, hoàn thiện vàphát triển nhân cách con người là điều đáng ghi nhận và cần phải tiếp thu
Khi xây dựng phương pháp giáo dục, đào tạo, phát triển con người, Hồ Chí Minh hếtsức quan tâm kế thừa, nâng cao và hiện thực hóa những giá trị của nó vào thực tiễn
Trang 33“trồng người” ở nước ta Trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của mình, khi đềcập đến phương pháp giáo dục, đào tạo Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến phươngpháp này với tinh thần: Kết hợp học với hành, lý luận phải gắn với thực tế, học tập kếthợp với lao động sản xuất Hồ Chí Minh viết: "Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế Chỉhọc thuộc lòng để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích- Vì vậy chúng ta cần phải
cố gắng học, đồng thời học thì phải hành” [85, tr 263]: "Lao động trí óc mà không biếtlao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là tri thức một nửa Trong lúc học tập lý luận cũng phải kết hợp với thực hành và tất cả đều phải: lý luậnkết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất [89, tr 174]; theo Hồ ChíMinh, nếu thực hiện tốt phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa "tri và hành"; giữa nhận thứcvới hoạt động thực tiễn, làm cho mọi người biết lấy việc phục vụ sự nghiệp cách mạngcủa Đảng và dân tộc làm mục đích tối cao cho việc học tập, nâng cao trình độ mọi mặtcủa mình thì sẽ là biện pháp hữu hiệu thúc đẩy sự ra đời phát triển của con người toàndiện ở nước ta
Động viên tinh thần hiếu học, cần học là phương pháp mà cha ông ta ưa dùng Trải quachiều dài lịch sử, nó đã tỏ rõ giá trị to lớn trong việc thúc đẩy con người tự giác vươn lên
về mọi mặt để hoàn thiện và nâng cao phẩm chất, năng lực bản thân, góp phần tạo ranhững thế hệ người có những đóng góp tích cực cho sự trường tồn và phát triển khôngngừng của dân tộc Việt Nam
Nếu như trước đây, cha ông ta có những hình thức động viên có kết quả tinh thần hamhọc cho con người như: nêu danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ; khắc tên vào bảng vàng, biađá; tổ chức lễ vinh quy bái tổ một cách trịnh trọng; ban thưởng yến tiệc, mũ áo, ruộngđất, tước lộc thì sinh thời Hồ Chí Minh, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước lúc
Trang 34này cũng có những hình thức khen thưởng xứng đáng những người chăm học, học giỏi:tặng giấy khen, bằng khen; danh hiệu học sinh giỏi, danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ, ngườitốt việc tốt; gửi ra nước ngoài tiếp tục đào tạo; ưu tiên tuyển chọn vào biên chế, nânglương trước thời hạn; đề bạt vào những cương vị lãnh đạo phù hợp
Những biện pháp cụ thể, thiết thực đó đã góp phần to lớn cổ vũ tinh thần học tập củađông đảo các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, hình thành nên những phong trào thiđua sôi nổi trong ngành giáo dục như "dạy tốt học tốt"; "tiếng trống Bắc Lý";những tấmgương tiêu biểu về tinh thần vượt mọi khó khăn để học tập như Nguyễn Ngọc Ký, HoaXuân Tứ ,những đội tuyển học sinh giỏi Nga Văn, Toán, Vật lý giành được những giảicao trong các kỳ thi quốc tế đã làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam Điều này đáp ứng đượcmột phần mong ước thiết tha của Hồ Chí Minh trong bức thư Người gửi các em học sinhnhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (9/1945) "Nonsông Việt Nam có được vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quangsánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ởcông học tập của các cháu” [84, tr 32]
1.2 TƯ TUỞNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN CỦA CKỦ NGHĨA MÁC LÊNIN - TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Con người phát triển toàn diện là ước mơ cháy bỏng của nhân loại từ khi họ ý thứcđược vai trò chủ thể của mình trong quan hệ với tự nhiên, nhằm nhân sức mạnh của conngười lên một tầm cao mới, phục vụ có hiệu quả hơn cho công cuộc khai thác, chế ngự,làm giàu, làm đẹp tự nhiên
Trang 35Do trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất, do điều kiện kinh tế, chính trị
ở mỗi thời kỳ rất khác nhau, nên nội hàm và ngoại diện của khái niệm con người pháttriển toàn diện cũng khác nhau Xu hướng chung là: Nội hàm của khái niệm con ngườiphát triển toàn diện ngày càng phong phú hơn với nhiều chất mới, phù hợp yêu cầu đặt racủa thực tiễn xã hội cũng như những tri thức về đức, trí, thể, mỹ mà loài người đã tích lũyđược trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, phát triển bản thân Xã hội phát triểncàng cao thì khái niệm con người toàn diện cũng được mở rộng và bổ sung đầy đủ hơn.Nhiều mặt, nhiều khía cạnh ở giai đoạn trước chưa có (hoặc chưa được đặt ra) thì ở giaiđoạn sau đã xuất hiện như là những thành tố không thể thiếu được trong chỉnh thể của sựphát triển con người, giúp con người phát triển một cách hài hòa, cân đối và toàn diệnhơn
Tuy nhiên, khảo sát và nghiên cứu vấn đề con người phát triển toàn diện trong lịch sửnhân loại, cho phép chúng ta hiểu sâu hơn những căn cứ cũng như tính nhân văn cao cảcủa quan điểm phát triển con người toàn diện mà các kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nêulên
Thực tế cho thấy, trong xã hội có đối kháng giai cấp, có áp bức bóc lột, về mặt lý luậnviệc đào tạo những con người phát triển mọi mặt đã được nêu ra như là một yếu tố khôngthể thiếu được cho sự phát triển của xã hội, cho việc duy trì ách thống trị của giai cấp bóclột cũng như là mục tiêu tự thân trong quá trình phát triển tự nhiên của con người Song,
do điều kiện phân công lao động ngày càng ngặt nghèo; do mục đích khai thác triệt đểsức lực của người lao động nhằm thu lợi nhuận tối đa của giai cấp bóc lột, đặc biệt làtrong xã hội tư bản chủ nghĩa, cho nên con người đã bị “tha hóa” đến cùng cực, quá trìnhphát triển của con người- do bị chế ước bởi điều kiện của lao động bóc lột - bị "phiến
Trang 36diện hóa" hết sức sâu sắc Điều này dẫn đến những hậu quả nặng nề cho xã hội và cho sựphát triển lành mạnh của một con người, nhất là đối với giai cấp cần lao Mẫu người pháttriển toàn diện được đặt ra không phải cho mọi thành viên xã hội nói chung mà chỉ giànhcho một thiểu số người lắm tiền, nhiều của Cái phi nhân văn trong sự phát triển conngười dưới chế độ áp bức bóc lột là ở chỗ: sự phát triển tự do và toàn diện của người nàynhằm tước đoạt sự phát triển tự do và toàn diện của của người khác, buộc những ngườikhác trở thành nô lệ về mọi mặt cho một cá nhân hay một thiểu số bóc lột.
Sự vận động và phát triển của xã hội cũng như khả năng tự vươn lên để hoànthiện, nâng cao phẩm chất, năng lực của bản thân con người là không cùng Những gìphản tiến bộ, phản nhân văn trong quá trình phát triển con người sẽ bị lịch sử đào thải,những gì tích cực, tiến bộ sẽ được nhân loại ghi nhận và kế thừa, nhằm góp phần khắcphục những thiếu sót, sai lầm và hạn chế của lý luận về phát triển con người toàn diện đãxuất hiện trong các xã hội có đối kháng giai cấp - những xã hội chà đạp thô bạo nhânphẩm con người, làm thui chội khả năng phát triển mọi mặt của con người, coi con ngườichỉ là những "công cụ biết nói", những "chiếc đinh ốc" là "bộ phận của dây chuyền sảnxuất" mà thôi
Giới hạn lịch sử mặt về lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển con người toàn diệntrong các xã hội có áp bức, bóc lột đã được khắc phục bởi sự xuất hiện chủ nghĩa Mác -Lênin Với tư cách là học thuyết về giải phóng và phát triển con người, chủ nghĩa Mác -Lênin đã đưa ra những quan điểm hết sức đúng đắn để phát triển con người một cách toàndiện, hài hòa, cân đối, nhằm đưa con người "từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tựdo"
Trang 37Trước hết, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã chỉ ra được bản chất xã hội của conngười Đó là phát hiện mang tính chất lịch sử và có ý nghĩa đột phá để có thể nhận thứcđúng đắn về con người Hơn nữa, nó cũng chỉ ra quy luật hình thành, phát triển nhân cáchcủa con người và đây cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt con người với các động vậtkhác.
Trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc, Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng: bản chất conngười không phải là cái gì trừu tượng vốn có của nó Trong tính hiện thực, bản chất conngười là tổng hòa các quan hệ xã hội [74, tr 11] Việc nhận thức đúng đắn bản chất củacon người là điều kiện hết sức quan trọng để chủ nghĩa Mác - Lênin đề ra lý luận vàphương pháp khoa học nhằm phát triển con người một cách toàn diện, mang lại cho conngười những năng lực mới để con người thực sự trở thành người chủ chân chính trong
mọi quá trình phát triển xã hội
Theo Mác, việc hình thành bản chất con người bao giờ cũng thông qua quá trình xã hộihóa, tiếp thu kinh nghiệm văn hóa vật chất và tinh thần của loài người, thông qua giaotiếp, giáo dục, đào tạo, lao động mà hình thành
Lịch sử loài người đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau mà mỗi hình tháiđều có những mối quan hệ đặc trưng chi phối nhận thức và hành động của con người.Con người vừa cất tiếng chào đời là đã phải gia nhập ngay vào những mối quan hệ xã hội
đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Mỗi người dù muốn hay không cũng sẽ trở thành
"cái giá mang những mối quan hệ đó các quan hệ xã hội đã tạo thành hoàn cảnh sống củacon người, tác động sâu sắc đến quá trình phát triển bản thân mỗi một con người cũngnhư của cả cộng đồng Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng, tồn tại xã hội quyết định
ý thức xã hội, tồn tại cá nhân quyết định ý thức cá nhân Điều này có nghĩa là thừa nhận
Trang 38hoàn cảnh, điều kiện sống là nguồn gốc trực tiếp của tư tưởng, của tri thức, kinh nghiệm
và tâm lý con người, là động cơ hoạt động của con người Bởi thế, nếu không xuất phát
từ hệ thống những quan hệ xã hội nhất định thì không hiểu được bản chất của con người
ở một thời đại, một giai cấp, một dân tộc Hơn nữa, thông qua việc nghiên cứu và nắmbắt bản chất cá nhân của một xã hội, người ta có thể hiểu được bản chất của những mốiquan hệ xã hội đang giữ vai trò chủ đạo
Vì vậy theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức đúng đắn bản chất củacon người là điều kiện hết sức quan trọng để đề ra lý luận và phương pháp khoa họcnhằm phát triển con người một cách toàn diện, mang lại cho con người những phẩm chất,năng lực mới để con người làm chủ ngày càng tốt hơn các quá trình phát triển xã hội Một điều cần lưu ý là, trong khi nhấn mạnh mặt xã hội của con người, các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác không hề phủ nhận hoặc xem nhẹ mặt tự nhiên, mặt sinh vật củacon người Các ông khẳng định, vấn đề con người chỉ được giải đáp một cách đầy đủ,đúng đắn nhất khi chúng ta xuất phát từ quan niệm về sự thống nhất biện chứng giữa hainhân tố tự nhiên và xã hội trong con người để hình thành nên một thực thể sinh vật - xãhội mang tính chất vẹn toàn, trong đó xã hội là cái qui định, chi phối cái sinh vật còn cáisinh vật là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển của xã hội
Thực tiễn cho thấy, con người không thể xuất hiện nếu không có mặt sinh vật Xét theothời gian, cái sinh vật là cái có trước để hình thành nên cái xã hội Mác viết: "Cũng như
sự tồn tại của con người là kết quả của một quá trình trước đó mà cuộc sống hữu cơ đã điqua - chỉ đến một giai đoạn nào đó của quá trình này, con người mới trở thành người"[80, tr 690]
Trang 39Bởi vậy, nó là điều kiện, tiền đề cần thiết và rất quan trọng cho sự hình thành và pháttriển cái xã hội Mặt sinh vật trong con người là những quá trình và quy luật sinh lý xảy
ra giống như ở một số sinh vật có tổ chức cơ thể tiến hóa cao Chẳng hạn, quy luật traođổi chất, quy luật biến dị - di truyền
Quá trình tồn tại và phát triển của nhân loại đã chứng minh: Những người bị rối loạn cơchế di truyền hay hệ thần kinh bị tổn thương - tức là phát triển không bình thường về mặtsinh vật - sẽ không phát triển bình thường về mặt xã hội Do đó, theo Mác để con ngườiphát triển một cách toàn diện, hài hòa cân đối không thể xem nhẹ mặt thể lực, sức khỏecủa con người
Sự xuất hiện của triết học Mác- Lênin đã làm sáng tỏ vấn đề trên một cách khoa học.Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội
đã được các nhà duy vật biện chứng giải quyết một cách thấu đáo, đúng đắn, trong đó cácông khẳng định: Cái xã hội đóng vai trò quyết định thể hiện ở chỗ, một mặt, nó hạn chếcái sinh vật, “lọc bỏ” dần cái sinh vật, làm cho cái sinh vật có tính xã hội, không còn làcái sinh vật thuần túy; mặt khác, nó tạo ra một không gian rộng lớn làm cho cái sinh vậtphát triển hơn, theo hướng nhân văn
Có thể nói, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất xã hội của conngười, về mối quan hệ biện chứng giữa cái sinh vật và cái xã hội trong con, người đã bác
bỏ hoàn toàn những nhận định của các nhà tư tưởng thù nghịch với chủ nghĩa Mác Lênin rằng, chủ nghĩa Mác không chú ý đến tính tự nhiên của con người, đồng thời đặt cơ
-sở khoa học mới cho việc đào tạo và phát triển con người một cách toàn diện, hài hòa,cân đối, để con người có đủ năng lực làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ quá trìnhphát triển của mỗi cá nhân, trên cơ sở đó thúc đẩy cả cộng đồng cùng phát triển
Trang 40Sự phát triển đầy đủ, toàn diện các phẩm chất năng lực của con người là mong muốn đãxuất hiện từ rất sớm trong tâm thức và tư tưởng nhân loại Nhưng do điều kiện thấp kém
về trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất và nhất là do sống trong chế độ
áp bức, bóc lột của giai cấp chủ nô, giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản nênkhát vọng đó của con người đã không thực hiện được cùng với sự ra đời của chủ nghĩaMác - Lênin, mô hình về xã hội tương lai, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩagiàu tính nhân văn cũng xuất hiện Điều này đã được Mác và Ăngghen xác định một cách
rõ ràng trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản; Thay cho xã hội Tư bản cũ, với những giai
cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do củamỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người
Đó là bản chất tốt đẹp, là mục đích cao cả của xã hội mới, biểu hiện tính vượt trội vềmặt nhân văn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tiến trình phát triểncủa nhân loại
Trên cơ sở phân tích quy luật phát triển của xã hội mới, Mác đã vạch ra tính tất yếu của
xã hội tương lai - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa - là phải hình thành nên
những con người phát triển toàn diện và ông coi đó là nấc thang tất yếu, là kết quả hiểnnhiên của sự nghiệp giải phóng và phát triển con người do giai cấp công nhân khởi xướng
và lãnh đạo sự nghiệp cao cả này nhằm khắc phục triệt để tình trạng phát triển què quặt,phiến diện của con người do chịu tác động của tha hóa lao động trong chủ nghĩa tư bản
"Quy luật” phi nhân tính này đã chà đạp thô bạo nhân cách con người thể hiện ở chỗ sựthống trị tuyệt đối của lao động vật hóa đối với lao động sống; ở sự gạt bỏ người sản xuấttrực tiếp ra khỏi việc kiểm soát các điều kiện, tư liệu và sản phẩm của người lao động; ở