1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sỹ tư TƯỞNG NHÂN văn TRONG DI sản QUÂN sự hồ CHÍ MINH

94 458 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 507 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, nhằm giải phóng triệt để và vĩnh viễn con người Việt Nam và trên thế giới thoát khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, là một tư tưởng nổi bật. Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh là tư tưởng hạt nhân chỉ đạo quá trình khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh yêu nước, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội nhân dân nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chế độ phong kiến phản động, giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội,nhằm giải phóng triệt để và vĩnh viễn con người Việt Nam và trên thế giới thoát khỏi mọi

sự áp bức, bóc lột, là một tư tưởng nổi bật Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của

Hồ Chí Minh là tư tưởng hạt nhân chỉ đạo quá trình khởi nghĩa vũ trang và chiến tranhyêu nước, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội nhân dân nhằm lật đổ áchthống trị của chủ nghĩa thực dân, chế độ phong kiến phản động, giành độc lập cho Tổquốc Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúccho đồng bào Tư tưởng đó phản ánh khát vọng độc lập, tự đo, hoà bình của dân tộc ViệtNam, nâng cao lên một chất lượng mới tư tưởng lấy đại nghĩa để thắng hung tàn của dântộc ta, thực sự động viên, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của nhân dân vào cuộc giảiphóng dân tộc, xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc Việt Nam

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh phù hợp với tư tưởng nhân văn thời đại là độc lập dântộc, chủ nghĩa xã hội, hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, đã thu hút các lực lượng tiến

bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh, cũng như các cuộc chiến tranh yêu nước nhằmgiải phóng dân tộc, giành độc lập tự do của nhân dân ta, chống các đế quốc to xâm lược.Chính tư tưởng nhân văn của Người đã phân hoá, cô lập cao độ kẻ thù, làm suy yếu chủnghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, làm cho nhân dân ta thêm bạn bớt thù

Thắng lợi của các cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta mang đậm tư tưởng nhânvăn Hồ Chí Minh đã có những cống hiến lớn lao, góp phần phát triển phong trào đấutranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cho hoà bình và hữu nghị giữa cácdân tộc, cho quyền được sống và mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mỗi dân tộc và mỗi conngười

Đề tài "Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh" góp phần nhỏ vàocông tác lý luận nhằm quán triệt Nghị quyết Đại hội 7 của Đảng ta, nghiên cứu, phát triển

tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ ý nghĩa thực tiễn và cấp bách trong việc khẳng định tínhchân lý và tất thắng của con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn cho dân tộc ta, vạch trần sựxuyên tạc, bóp méo tính nhân văn cao cả của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân ta

do Người và Đảng ta lãnh đạo, đập tan sự nghi ngờ về tính nhân văn đích thực của chủ

Trang 2

nghĩa xã hội Mặt khác, góp phần vào sự nghiệp củng cố nền quốc phòng toàn dân, xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân ta về mọi mặt trong những điềukiện lịch sử của chủ nghĩa xã hội đổi mới.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở trong nước cũng như ở nước ngoài đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhàchính trị, nhà văn, nhà báo viết những bài và công trình khoa học, nhiều tác phẩm vềcuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh ở các góc độ, các mặt khác nhau.Những năm gần đây, đặc biệt là dịp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Hồ Chí Minh,nhiều tác phẩm của các học giả ngoài nước và trong nước đã ca ngợi những đóng góp tolớn của Người đối với phong trào giải phóng dân tộc và với nền văn hoá thế giới (xem/52, 60,49/)

Những công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh mới được một số tácgiả nghiên cứu và công bố dưới dạng bài tham luận khoa học Ví dụ bài "Chủ nghĩa nhânvăn Hồ Chí Minh - đặc điểm và cội nguồn"cua giáo sự Trần Văn Giàu, xem /52, tr.237/,bài "Một số suy nghĩ về việc vận dụng và phát triển tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vào

sự nghiệp đổi mới hiện nay"của phó giáo sư Hải Sâm, (xem /58, tr.123/) và bài "Tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh" của giáo sư Phan Văn Các, )xem/ 27, tr.3/)

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản ViệtNam, chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh đã công bố nhiềutác phẩm (xem/57,58,59/)

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực quân sự cũng là mảng đề tài thu hútnhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đặc biệt, nhiều nhà khoa học, nhiều tướng lĩnh trongQuân đội nhân dân Việt Nam đã tích cực giành thời gian và công sức tìm hiểu sự nghiệpquân sự của Người và đã có một số công trình khoa học có giá trị (xem /42,32,62/).Tuy nhiên, tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh thì chưa được ainghiên cứu

Đề tài này, bước đầu nêu ra tương đối đầy đủ có hệ thống tư tưởng nhân văn Hồ Chí

Minh và sự thể hiện của nó trong di sản quân sự của Người, chủ yếu trong khởi nghĩa,

chiến tranh và xây dựng các lực lượng vũ trang, quân đội nhân dân ở nước ta.

Trang 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Trên cơ sở phân tích có hệ thống tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, luận án làm rõ sựbiểu hiện của nó trong di sản tư tưởng lý luận và hoạt động thực tiễn quân sự của Người.Với mục đích như vậy, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

Một là, làm rõ tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của dân tộc

ta, được kết tinh từ những giá trị tốt đẹp nhất của tư tưởng nhân văn của nhân dân ViệtNam và của nhân loại và được Người phát triển sáng tạo trong điều kiện mới của cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người

Hai là, phân tích những nội dung chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

Ba là, chứng minh và khẳng định sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng nhân văn Hồ

Chí Minh và tư tưởng bạo lực cách mạng của Người trong khởi nghĩa và chiến tranh

Bốn là, luận giải và làm rõ sự biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong hệ

thống quan điểm lý luận và hoạt động thực tiễn quân sự của Người, cụ thể là trong mụcđích chính trị của khởi nghĩa và chiến tranh, trong chức năng chính trị - xã hội của lựclượng vũ trang cách mạng và trong phương pháp khởi nghĩa vũ trang và tiến hành chiếntranh nhân dân

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

Cơ sở lý luận chủ yếu của luận án là hệ thống các tác phẩm kinh điểm của chủ nghĩaMác- Lênin, những tác phẩm của Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản ViệtNam, các tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng ,Nhà nước và Quân đội

Tác giả có sử dụng nhiều tài liệu trong chưong trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh,của các học giả trong nước và ngoài nước viết về Người Ngoài ra, trong luận án cũng đãtận dụng các kết quả nghiên cứu được tiến hành tại các cuộc hội thảo khoa học về tưtưởng Hồ Chí Minh, các sách báo tạp chí và tài liệu lưu trữ ở Trung ương và các địaphương

Luận án vận dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản, cổ truyền của chủ nghĩa Lênin, cố gắng kết hợp phương pháp lô gíc và lịch sử, đặc biệt là sự thống nhất giữa tưtưởng nhân văn và tư tưởng bạo lực cách mạng, bạo lực vũ trang trong các quan điểm lý

Trang 4

Mác-luận quân sự của Hồ Chí Minh Luận án cũng sử dụng phương pháp phân tích, so sánh,chứng minh để làm nổi rõ tư tưởng chủ đạo của đề tài.

5 Những điểm mới về mặt khoa học của luận án

Một là, làm sáng tỏ sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với

tư tưởng bạo lực cách mạng của Người

Hai là, phân tích làm nổi bật những biểu hiện tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong hệ

thống quan điểm lý luận và hoạt động quân sự của Ngươì khi lãnh đạo khởi nghĩa vũtrang và chiến tranh nhân dân yêu nước cũng như trong xây dựng các lực lượng vũ trangcách mạng ở Việt Nam

6 Giá trị thực tiễn của luận án

Tác giả luận án mong muốn rằng những kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng làm côngtác giảng đạy trong các trường quân sự, trong việc giáo dục cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũtrang ta thực hiện tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, sự nghiệp củng cố nền quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trangnhân dân hiện nay

7 Kết cầu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm 2 chương với 6 tiết

Chương I

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

Tiết 1: Nguồn gốc tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Tư tưởng nhân văn (hay chủ nghĩa nhân văn) là một khái nạm để chỉ giá trị, tinh thầnchung của nhân loại Trong cuộc sống, con người luôn có khát vọng vươn tới cái đẹp,muốn được tự do và hạnh phúc Song điều đó lại bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, chínhtrị - xã hội của ừng quốc gia (dân tộc), của từng thời đại Hơn nữa, tư tưởng nhân văn làvấn đề về con ngườì, mà con người lại là trung tâm của mọi thời đại Các giai cấp khácnhau giải quyết về vấn đề con người khác nhau Tuy nhiên, tựu trung lại, tư tưởng nhânvăn là hệ thống quan điểm lý luận về con người theo nghĩa rộng Xuất phát từ sự tôn

Trang 5

trọng giá trị nhân phẩm con người, thương yêu con người, tin vào sức sáng tạo vô biêncủa con người, coi quyền của con người được phát triển tự do, hạnh phúc và lợi ích của

con người là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội, tư tưởng nhân văn, nhất là tư tưởng

nhân văn cộng sản, chủ trương phát triển mọi khả năng của con người và xã hội, thừa

nhận các nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo trong quan hệ giữa con người vớinhau

Thực ra, khái niệm tư tưởng nhân văn không phải đã có ngay từ buổi bình minh củaloài người Lúc bấy giờ, con người còn sống thành bầy đàn rồi sau đó thành thị tộc, bộtộc, bộ lạc Mọi người sống, lao động tự nguyện theo chế độ tập thể Mọi thành viên gáicũng như trai đều có quyền bình đẳng như nhau Xã hội càng phát triển, con người càng

bị phân hoá thành kẻ giàu người nghèo Đời sống vật chất - tinh thần giữa các tầng lớpdân cư càng cách xa nhau, giai cấp ra đời: kẻ đi áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột

"Xã hội văn minh" đã xuất hiện với những nghịch cảnh, kể thì hưởng thụ phè phỡn,người thị quằn quại trong đói rét, chết chóc

Cùng với cuộc đấu tranh để chinh phục tự nhiên trong lao động sản xuất, con người lạiphải đương đầu với các cuộc xung đột xã hội giữa kẻ đi áp bức, bóc lột với người bị áp

ức, bóc lột Tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người đối với cuộc sống và xã hội in đậmdấu ấn giai cấp (địa vị xã hội) và biến đổi không ngừng trong cuộc đấu tranh giai cấptriền miên đó Cũng từ đây trong nhân dân lao động thưòng nảy sinh những ước muốngiải phóng mọi nỗi khổ đau đè nặng lên mình, cùng những ước mơ về một xã hội lýtưởng, vua thánh tôi hiền, mọi người sống với nhau hoà thuận, gần gũi thương yêu, đoànkết giúp đỡ nhau

Những khát vọng về cuộc sống tự do và hạnh phúc như vậy của con người, khi conngười đã đạt đến một cuộc sống vật chất nhất định, có một trình độ tư duy nào đó đủ

nhận thức về vai trò và giá trị của con người, trở thành những giá trị nhân văn Và như

chúng ta đều biết, kể từ khi xã hội có giai cấp, các giá trị nhân văn ấy trước hết và cơ bản

là của nhân dân lao động, của tầng lớp người bị áp bức, bóc lột

Tuy nhiên, chúng ta không hoàn toàn phủ nhận những nhân vật cá biệt trong các giaicấp bóc lột cũng biểu thị lòng thương yêu con người, nhiều khi rất sâu đậm và nồng hậu,

tố cáo mãnh liệt xã hội đương thời và bệnh vực nhân dân lao động và những người bị áp

Trang 6

bức bóc lột, cùng tiếng nói với nhân dân lao động Nhưng đó chỉ là sự đồng cảm cảnhngộ với người bị thống trị, bóc lột người nghèo, là thái độ đồng tình của kể đứng trên ngóxuống và mong ước cải thiện chính sách thống trị hà khắc của chế độ xã hội, chữ ít khiđòi lật đổi chế độ đương thời.

Khi xã hội tư bản ra đời, khái niệm tư tưởng nhân văn với tư cách là một trào lưu tưtưởng xã hội mới hoàn chỉnh những quan điểm triết học, chính trị, đạo đức lấy con ngườilàm trung tâm

Khác với chế độ phong kiến, khi thế giới tinh thần do tôn giáo thống trị coi con ngườitrước hết là một sinh vật tinh thần, khuyên con người cam chịu mọi thiếu thốn và đau khổ

về thể xác ở trần thế để hy vọng một tương lai thanh thản, hạnh phúc ở thiên đường hư ảo

- thì khuynh hướng mới của xã hội tư bản chủ nghĩa đòi phải trả lại con người cho tựnhiên để tự do phát triển, coi việc tận hưởng mọi hạnh phúc trần tục là sự phát triển toàndiện của tính người

Biểu thị ý muốn hiểu biết và sáng tạo; khát vọng chân lý và tự do; sự công bằng, bìnhđẳng và bác ái; lòng tin ở con người, tư tưởng nhân văn tư sản buổi hưng thịnh phù hợpvới nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động đã góp phần giải phóng sức sản xuất,phát triển văn hoá, khoa học, tạo điều kiện cho sự tiến bộ xã hội

Nhưng tư tưởng nhân văn tư sản dần dần bị bộc lộ những hạn chế không thể khắc phụcbởi quan hệ sản xuất tư hữu tư bản và chủ nghĩa cá nhân tư sản Con người mà tư tưởngnhân văn tư sản tôn thờ, đặt vào vị trí trung tâm chính là con người tư sản Đó là conngười ích kỷ, ngày càng thoái hoá sa đoạ trong cái xã hội mà mọi giá trị đều đo bằng lợinhuận và tiền bạc

Tư tưởng nhân văn tư sản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủnghĩa đế quốc chủ yếu là phản ánh sự bóc lột nhân dân lao động, cá lớn nuốt cá bé, cướpbóc, thôn tính xâm lược các quốc gia dân tộc khác Nó sản sinh ra nhiều thứ "lý luận vềcon người" chống lại con người hoặc làm cho con người càng mất tin tưởng ở con người,chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc là thủ đoạn chính của những tội ác vô nhân đạo,phản nhân văn trên quy mô ngày càng lớn đối với các dân tộc, con người và loài ngườitiến bộ mà ai cũng biết; là kẻ gây ra các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia dân tộc phụcthuộc, là hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm chia lại quyền lợi của chúng Tư tưởng nhân

Trang 7

văn tư sản thực chất chỉ là chủ nghĩa cá nhân tư sản, là cái "đạo làm người" của giai cấp

tư sản chà đạp lên quyền sống của đông đảo nhân dân lao động

Đối lập với tư tưởng nhân văn tư sản (phản nhân văn) là tư tưởng nhân văn cộng sản

Từ khi những "bóng ma cộng sản" ra đời, nhất là từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đạigiành được thắng lợi, tạo nên bước ngoặt lịch sử đối với loài người, tư tưởng nhân văncộng sản xuất hiện và phát triển, phản ánh quyền lợi và những giá trị tinh thần của giaicấp công nhân và nhân dân lao động Trên cơ sở quan điểm cho rằng, bản chất của conngười là tổng hoà các quan hệ xã hội, do vậy, muốn giải phóng con người và tạo điềukiện cho con người phát triển hoàn mỹ phải thay đổi những quan hệ kìm hãm, trói buộccon người Nghĩa là xoá bỏ quan hệ bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, xoá bỏ quan

hệ người bóc lột người, thiểu số thống trị đa số; tạo lập quan hệ bình đẳng, tự do giữa conngười với con người, tạo lập hệ thống những quan hệ xã hội mới tốt đẹp Trong toàn bộcác quan hệ xã hội ấy, quan hệ sản xuất giữ vị trí chi phối Nó là quan hệ kinh tế cơ bảncủa hình thái xã hội Muốn xoá bỏ quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, những điều kiệnkinh tế - xã hội của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trói buộc, kìm hãm sự pháttriển của con người thì phải làm cách mạng, phải có cương lĩnh cách mạng và khoa họcnhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế bóc lột, thống trị của thiểu số tư sản đểgiải phóng con người, thật sự làm cho hoàn cảnh hợp với tính người

Trong xã hội tư sản, lực lượng xã hội có khả năng xóa bỏ quan hệ sản xuất tư hữu tưbản chủ nghĩa - nguồn gốc của mọi sự đau khổ của người lao động - là giai cấp công nhâncách mạng Chỉ có họ mới làm được cuộc cách mạng vì lợi ích của chính mình và cũng vìlợi ích của tất cả mọi người lao động trong xã hội, của toàn nhân loại và xây dựng một xãhội mới, trong đó sự tự do phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự tự do phát triểncủa tất cả mọi người Đó chính là tư tưởng nhân văn cách mạng, tư tưởng nhân văn chiếnđấu của giai cấp công nhân của những người cộng sản, là đỉnh cao của tư tưởng nhân vănhiện nay trong xã hội hiện đại

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân văn cộng sản được vận dụng vàođiều kiện của dân tộc Việt Nam: một dân tộc bị thực dân, đế quốc đô hộ phải đứng lên để

tự giải phóng mình không thể không kế thừa những giá trị đó

Trang 8

Để xác định bản chất, nội dung của một tư tưởng, một sự vật hay hiện tượng nào đó của

tự nhiên hay xã hội, cần nắm vững nguồn gốc của nó Trên đây chúng tôi đã phác hoạmột số điểm chính của quá trình phát triển tư tưởng nhân văn trong lịch sử mà tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh thạc dòng tư tưởng nhân văn cách mạng, tư tưởng nhân văn cộngsản nhằm làm sáng tỏ phần nào nguồn gốc tư tưởng nhân văn của Người

Tuynhiên, sẽ không đầy đủ nếu không kể đến những yếu tố sau đây trong nguồn tốc tưtưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Một là, lòng nhân ái trong đời sống của gia đình và quê hương.

Từ buổi đầu thiếu thời, Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí Minh đã sống trong một gia đìnhnhà nho nghèo, mọi người đều có lòng nhân ái, thương người, thương dân, yêu nước, cótâm huyết với nền độc lập, tự do của dân tộc, không chịu khuất phục chế độ thống trị bóclột, áp bức của bọn phong kiến và thực dân

Đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với Người là thân mẫu và thân phụ

Bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Hồ Chí Minh là người phụ nữ nông thôn cần mẫn, đảmđang, thương yêu chồng con vô hạn, nhân hậu với bà con làng xóm Những đức tính quýbáu đó của bà đã có tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng quyết định đến tâm hồn đa cảm, giàutình thương người của Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh), có thể nói đó là những sợi tơdệt nên nhân cách của Người thời thơ ấu

Ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ Hồ Chí Minh đã thể hiện một quan diểm yêu nước,thương dân sâu sắc Tuy học rộng, hiểu biết nhiều, đã đỗ đạt cao (phó bảng) nhưng ông

từ chối ra làm quan vì triều đình phong kiến làm tay sai cho giặc Khi bị thực dân thúc épnhiều lần buộc phải ra làm quan ông tìm cách không hợp tác với bọn họ Ông thường nói:quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn Cũng như một số nhànho tiến bộ, quan điểm "trung quân ái quốc" của ông đã đổi khác Ông phủ nhận thuyếttrung quân của nhà nho và cho rằng trung quân bây giờ không phải mù quáng phục tùngtriều đình phong kiến mà phải thương dân, ái quốc là ái dân, ông hô hào cải cách duy tân,chủ trương lấy dân chúng làm hậu thuẫn cho các phong trào cải cách chính trị xã hội Và

có lòng nhân ái, thương dân thực sự, khi ra làm quan ông luôn đứng về phía nhân dân,che chở người nghèo, trừng trị bọn hách dịch và nhữhg tên sâu mọt áp bức dân lành

Trang 9

Dù ở đâu, bất cứ ở cương vị nào, ông vẫn thông cảm với dân nghèo, luôn giành nhữngtình cảm ưu ái nhất cho những trẻ mồ côi, cho những gia đình gặp cảnh éo le, neo đơn,góa bụa, cho những người bị bọn địa chủ, phong kiến và thực dân, đế quốc đẩy vào điêuđứng, khổ ải, lầm than.

Chính tấm lòng thương dân, thương người nghèo khổ và thái độ căm ghét thực dânphong kiến của ông đã nhen nhóm ngọn lửa yêu nước, tình thương đồng bào bị đọa đàytrong tâm hồn trẻ tuổi của Nguyễn Tất Thành

ảnh hưởng của ông đối với Hồ Chí Minh không chỉ ở tầm lòng thương dân, yêu nước

mà điều quan trọng hơn là ông đã hướng cho các con mình trong đó có Người vào conđường lao động và học tập để biết "đạo lý làm người"

Điều thức thời nhất của ông Nguyễn Sinh Sắc là đã hướng cho các con mình chuyển từhọc Hán văn sang học Pháp văn và tạo những điều kiện cần thiết để Nguyễn Tất Thành đitheo con đường, tiếp xúc với nền văn minh mới trên con đường cứu nước, cứu dân saunay

Quê hương Nghệ Tĩnh là một vùng quê nghèo khổ vì thiên tai khắc nghiệt đối với conngười Đây là cái túi của lụt lội, bão tố và gió Lào của miền Trung bộ Việt Nam Ngườidân xứ Nghệ luôn phải vật lộn, chiến đấu gian khổ với thiên nhiên Họ cần cù lao động,thức khuya dậy sớm, một nắng hai sương mới biến sỏi đá thành cơm Từ xa xưa tronglịch sử, Nghệ Tĩnh đã từng là chiến trường chống các loại giặc ngoại xâm và các cuộc nộichiến do các tập đoàn phong kiến gây ra Vào đầu thế kỷ này, cũng như nhiều vùng nôngthôn khác trên đất nước ta, Nghệ Tĩnh chịu sự áp bức, bóc lột rất hà khắc của bọn thựcdân phong kiến Đời sống kinh tế - xã hội càng trở nên cực khổ hơn

Trong cuộc vật lộn với thiên tai và địch hoạ người dân xứ Nghệ sớm biết yêu thương,đùm bọc, hợp quần, cấu kết với nhau và kiên cường đấu tranh để giữ vững sự tồn tại củamình Tình thương yêu, lòng vị tha, sẵn sàng hy sinh cho người khác, cho gia đình, làngxóm, phản ánh mối quan hệ đời sống cộng đồng đó của quê hương đã góp phần tạo nêntrong con người Bác tình cảm yêu người lao động, coi trọng tình làng nghĩa xóm, sốngvới nhau có tình có nghĩa và những đức tính tốt đẹp khác

Quê Bác còn là nơi nhà yêu nước Vương Thúc Mậu phất cao cờ Cần Vương lập độiTrung nghĩa binh đánh Tây Hồ Chí Minh thời niên thiếu đã khâm phục tinh thần chống

Trang 10

giặc Pháp của các khởi nghĩa Phan Đình Phùng - Cao Thắng, đã thấm thía nỗi lo nướcthương dân của các bậc cha chú như Vương thúc Quí, Phan Bội Châu Những tầmgương nghĩa liệt của họ đã hun đúc từ buổi bình minh của Bác Hồ lòng yêu nước thiết tha

và chí hướng đi tìm con đường cứu dân, cứu nước sau này

Nghệ Tính xòn là một vùng có nhiều di tích lịch sử và nhân vật lịch sử của hầu hết cáctriều đại Đây cũng là xứ sở của nền văn hoá độc đáo, là đất khoa bảng, sĩ phu, là quêhương của hát dặm, hát phường vải, phường nón và thơ ca, từ ca vè dân gian đến nhữngvần thơ mang nặng tình người của Nguyễn Du, những câu thơ "dậy sóng" của Phan BộiChâu phản ánh khát vọng độc lập tự do và ý chí đấu tranh chống cường bạo của quầnchúng nhân dân Môi trường lịch sử văn hoá đó đã nuôi dưỡng tâm hồn Ngiyễn SinhCung càng giàu thêm tình người, tình thân ái và lòng yêu quê hương đất nước

Cần khẳng định rằng, đời sống đầy lòng nhân ái của gia đình và quê hương xứ Nghệ đãnhen nhóm trong Nguyễn Tất Thành những tình cảm thương người, thương dân, yênnước để sau này rực sáng thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Hai là, truyền thống nhân ái

Đến tuổi trưởng thành, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh vượt lũy tre làng, ra bắc vàonam, mở rộng tầm nhìn, tiếp nhận nhiều giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, tiêu biểu làlòng yên nước, tinh thần quật cường của nhân dân ta và truyền thống nhân ái sâu bền củadân tộc Việt Nam được kết tinh từ hàng nghìn năm nay

Tư tưởng nhân văn Việt Nam, tiêu biểu là lòng nhân ái, là giá trị tinh thần cao quý của

con người Việt Nam; lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân, coi người ta

là hoa của đất truyền thống nhân ái đó được nảy sinh từ đời sống cố kết cộng đồng lâuđời của dân tộc ta trong lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên tai địch hoạ Từ xa xưa,dân tộc ta chủ yếu sống trên các lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sôngLam Đây là vùng đất phì nhiêu, màu mỡ, nhưng là vùng nhiều bão lụt dữ dội Các trậnlụt lớn làm chết người, xóm làng xơ xác tiêu điều Còn bão thì phá hoại mùa màng, đưanước mặn vào ruộng, làm sập nhà đổ cây Đó là mối đe doạ thường xuyên đối với nhândân ta Mặt khác, để phát triển sản xuất, khắc phục thiên tai, công tác trị thuỷ đóng vai tròhết sức quan trọng Muốn vậy, con người Việt Nam từ xa xưa đã hiệp tác rộng rãi và lâu

Trang 11

dài không chỉ trong một làng mà nhiều làng, không chỉ một vùng mà nhiều vùng để đắp

đê chống lũ, ngăn nước mặn vào ruộng

Lịch sử mở nước của dân tộc ta gắn với công cuộc khai hoang lấn biển, lập làng, cải tạođất thau chua rửa mặn Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và những thử thách ngặt nghèocủa cuộc sống đã làm nảy sinh trong mỗi người dân Việt Nam ý thức thương yêu, đùmbọc, liên kết hiệp đoàn, chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ để duy trì sự tồn tại vàphát triển đất nước, xóm làng quê hương Tình cảm tốt đẹp đó ngày càng phát triển, trởthành một lối sống vị tha, nhân ái của dân tộc, lối sống "nhiễu điều phủ lấy giá gương,người trong một nước phải thương nhau cùng"

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam ta đã phải liên tiếp đương đầu trực diện nhiều đội quânxâm lược Nhân dân ta đã sống trong kiếp nô lệ dưới ách thống trị nghìn năm của phongkiến phương bắc và gần trăm năm của thực dân, đế quốc Chính sách bóc lột, thống trị tànbạo và hung ác của quân xâm lược, sự bóc lột thậm tệ của bọn vua, quan phong kiến, địachủ và cảnh nội chiến "nồi da nấu thịt" của các tập đoàn phong kiến giành quyền bính đãđẩy nhân dân ta, dân tộc ta đến bờ vực của sự diệt vong Có áp bức thì có đấu tranh Khi

bị tước hết mọi quyền sống, bị đẩy vào cảnh đói nghèo, lầm than, bị chà đạp thể xác, bịvùi dập về tinh thần nhân dân lao động nước ta từ xưa đến nay đã không chỉ than thântrách phận mà đã đoàn kết đứng lên đấu tranh giành quyền sống, quyền độc lập, tự do chodân tộc và đất nước mình Nhân dân ta hiểu rất rõ rằng quyền sống của mình trước hết là

sự mất còn của cộng đồng dân tộc, của mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên Vì thế đốivới dân tộc ta, đạo lý làm người là phải xả thân vì tình làng nghĩa nước Yêu nước là phảicứu nước, là nhân đạo, thương người và muốn nhân đạo, thương người phải yêu nước và

cứu nước Yêu nước, thưong nòi gắn bó chặt chẽ không thể cắt rời trong khái niệm

nhân ái của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Một nét đặc trưng của lòng nhân ái Việt Nam là lấy thiện trị ác, lấy đại nghĩa thắnghung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo, là đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại.Nét đặc trưng đó chứa đựng lòng khoan dung độ lượng, một nội dung nhân văn cao cảcủa dân tộc ta Rất đáng tự hào, một dân tộc chịu nhiều đau khổ, mất mát do chiến tranhgây ra, một dân tộc đã lập nhiều chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm, dậptắt nhiều cuồng vọng của những tên đế quốc hùng mạnh nhưng lại là một dân tộc rất yêu

Trang 12

hoà bình, nhân ái, một dân tộc rất đỗi nhân hậu, khoan hoà, không hề say máu, khôngnuôi hận thù

Điều đó được thể hiện ở ý chí hoà bình mãnh liệt vang lên từ rất lớn trong đời sống củadân tộc ta Nhiều người Việt Nam biết chuyện Thạch Sanh tài trí và nhân hậu xua tanquân xâm lược chỉ bằng tiếng đàn thần và khi chúng chịu lui quân đã sẵn lòng đãi chúngmột bữa cơm no nê bằng chiếc niêu kỳ diệu đã phản ánh tinh thần yêu chuộng hoà bình,truyền thống nhân ái, nhân văn của dân tộc Việt Nam Các vị chiến tướng đời Lý từngnói: "Chỉ có cái ý chí phân biệt quốc thổ chứ không phân biệt chúng dân, phải quét sạchcái bản thỉu, hôi tanh để ca thuở đẹp, hướng hội lành Nay ta ra quân cốt cứu vớt muôndân Chớ có mang lòng sợ hãi" (xem /27/) Vua tôi nhà Trần, nhà Lê đánh thắng giặcvẫn mở lượng hiếu sinh, chẳng những để cho địch rút lui an toàn về nước mà còn cấp chochúng lương thực, thuyền và ngựa, một cử chỉ cao thượng tuyệt vời Sau đó ba thế kỷ ýchí ấy lại một lần nữa vang vọng trong lời hịch của Tây Sơn: "Một dải tăm kình phẳnglặng, cơ thái bình đứng đợi đá gần" (xem /27/)

Lòng nhân ái Việt Nam, bên cạnh sự yêu mến nhân dân mình, Tổ quốc mình, nhân dân

ta cũng rất tôn trọng độc lập, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc kháh Chúng ta không đixâm lược ai nhưng cũng đồng thời rất kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộcmình

Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh đã nâng cao và phát triển truyền thống nhân

ái ấy thành tình đồng chí, nghĩa đồng bào, tình nghĩa năm châu bốn bốn biển một nhà, HồChí Minh rất trân trọng truyền thống nhân ái đó và thường xuyên bồi dưỡng lòng yêunước, thương nòi theo tinh thần mới, "ái quốc là ái dân", yêu nước và yêu chủ nghĩa xãhội là một ; chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản Người nói: "nhândân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế Từ khi có Đảng lãnh đạo và giáodục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩanăm châu bốn biển một nhà Hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là phải sống với nhau có tình cónghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là chủ nghĩaMác- Lênin được" /17, tr.661-662

Ba là, truyền thống nhân ái trong nền văn minh phương Đông và phương Tây chính

là yếu tố làm cho tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có tính quốc tế, tính thời đại Đúng

Trang 13

như V.I.Lênin nói: "Người cộng sản phải làm giàu cho mình bằng mọi tinh hoa kiến thứcnhân loại" /57, tr.21.

Ở đây cần phân tích ảnh hưởng Nho giáo đối với tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

Nho giáo là vốn tri thức Người tiếp nhận từ thời thơ ấu cho đến năm 13, 14 tuổi, thời kỳquyết định sự hình thành nhân cách con người Nhưng Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh)

đã tiếp nhận Nho giáo qua các nhà nho yêu nước, trong diện mạo hoàn chỉnh của một hệthống tư tưởng chính trị - đạo đức đã được Việt hoá Đạo đức Nho giáo thấm vào tưtưởng, tình cảm của Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành) không còn là một lý thuyếtkhô khan về tôn ti đẳng cấp mà là nỗi canh cánh "quốc gia hưng vong thất phu hữutrách", biểu hiện sinh động qua tấm lòng trăn trở của các sĩ phu trong vùng, những bạnhữu cùng chí hướng thường đàm đạo với thân phụ Người về lòng dân, vận nước (xem/27/)

Sự tiếp thu Nho giáo của Hồ Chí Minh là nhằm vào mục đích phục vụ cách mạng, phục

vụ công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào Người rất trân trọng các giá trịtích cực trong học thuyết Nho giáo, gạn lọc lấy những yếu tố phù hợp với thực tiễn ViệtNam Chẳng hạn như Người đánh giá cao ý tưởng về xây dựng một xã hội lý tưởng, xãhội đại đồng trong Khổng Mạnh Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng khái niệm "Nhân" củaNho giáo Người chỉ rõ "Nhân" là cốt lõi của tất cả Nhân vừa có nghĩa là "ái nhân" tứcyêu thương con người, vừa có nghĩa "thương dân" tức yêu thương nhân dân" Hồ ChíMinh giải thích "Nhân là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào", và

đã mở rộng khái niệm đó như Người nói: "Chữ người (nhân- TĐC giải thích) nghĩa hẹp

là gia đình, anh em, họ hàng bầu bạn; nghĩa là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là cả loàingười" /60, tr.223 Trong đức "Nhân" lấy dân làm gốc còn có cả "Hoà" như Hồ Chí Minhthường nói "Nhân hoà" trong đạo "Hiếu hoà" mà nói chung trên cả thế giới là yêu hoàbình, hoặc là sự hoà thuận trong gia đình và sự hoà hảo giữa các dân tộc Đó là nền tảngđạo đức của khối đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết quốc tế mà Hồ Chí Minh đã nêu lêntrong chiến lược cách mạng của mình

Chữ "Nhân" trong Nho giáo được phát triển thành từ nhân chính tức là chính trị nhân

nghĩa Tư tưởng này nhấn mạnh pháp trị, là "chế dân chi sản" (dạy dân làm ăn no ấm đểdân không làm loạn) và "Vương hà tất viết lợi hữu nhân nghĩa như dĩ hỉ" (Nhà vua cần gì

Trang 14

nói đến lợi, có nhân nghĩa là đủ rồi) Như vậy, tư tưởng nhân chính và nhân nghĩa đã cómặt tích cực và phát triển Theo tư tưởng đó là phải quan tâm đến người dân, tạo điềukiện cho người dân có sự ổn định về kinh tế và chính trị; trong quản lý xã hội coi trọngdân.

Hồ Chí Minh đã phát triển nội dung của "nhân chính" xưa kia là đặt chính trị trên mộtnềng tảng triết học nhân nghĩa Cho nên, ngay sau khi vừa mới nhận trọng trách Nhànước do Quốc dân trao phó, Người đã nêu bật phương châm đó của "nhân chính" là làmsao để "đồng bào ai cũng có cơm ăn - áo mặc, ai cũng được học hành" Đến lúc đã dựthảo sẵn bản Di chúc gửi lại mai sau, Người vẫn khẳng định với đời những điều hết sứcgiản dị rằng: "Đánh thắng giặc Mỹ rồi thì những việc chính của cách mạng là làm thế nàogiải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề ăn, mặc, ở đi lại, học hành, phòng và chữa bệnh Tóm lại là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân /60,tr.45/.Trong các bài nói, bài viết nhằm giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về đạođức cách mạng, nói rộng ra trong 60 năm hoạt động cách mạng phong phú và sôi nổi củamình, Hồ Chí Minh đã nhiều lần vận dụng những câu chữ có liên quan đến những kháiniệm và mệnh đề Nho giáo với một ý nghĩa mới Ví như các câu "dân vi quý, xã tắc thứchi, luân vi khinh" được Người nâng lên và lấy làm quan điểm "dân là gốc" Lợi ích củanhân dân là trước hết, thứ đến là lợi ích của quốc gia, cái lợi của vua là không đáng kể/53, tr.48 Hồ Chí Minh thường nói nhiều đến Khổng Tử, bởi vì Khổng Tử đã đóng gópcho loài người không ít giá trị mà ngày nay không thể đánh giá cách nào hơn cách màNguyễn ái Quốc đánh giá từ những năm 20 của thế kỷ này "Đức Khổng Tử vĩ đại đã khởixướng nền đại đồng và thuyết giáo bình đẳng về của cải Ngài nói tóm lại là nền hoà bìnhtrên thế giới chỉ nảy nở với một nền đại đồng trong thiên hạ Người ta không sợ thiếu màchỉ sợ không công bằng Sự công bằng sẽ xoá bỏ nạn nghèo khổ"/ 60,tr.211/ Có thể nói,

Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển những giá trị tinh thần tinh túy của Nho giáo nóichung và của Khổng Tử nói riêng, để giáo dục cán bộ, nhân dân ta phải có lòng khoandung, có tính chân thành, có tình tương ái và tương trợ

Còn ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng

nhân văn của Người đến mức nào, đây là vấn đề khó bởi thành tựu nghiên cứu về điềunày còn ít Nhưng sự thật hiển nhiên là dân ta và cả dân ấn Độ nữa coi Hồ Chí Minh như

Trang 15

một đức Phật bởi tình thương bao la tha thiết của Bác đối với con người Tình cảm đókhông phải ngẫu nhiên.

Phật giáo được truyền bá vào nước ta rất sớm Giáo lý của đạo Phật nêu cao đức từ bi

A Di Đà, Quan âm và các nhà sáng lập khác của đạo Phật là những Đức Phật đại từ đại

bi, cứu khổ cứu nạn (Xem thêm /48, tr.250/) Các vị có biểu thị lòng cảm thông sâu sắcđối với số phậm của chúng sinh và có thiện ý muốn giảm nhẹ hoặc xoá bỏ những nỗi đaukhổ của con người trên trái đất này Nhưng từ bi Phật giáo thì khuyên con người chịu khó

tu hành, mong sự cứu vớt đau khổ ở một đời sống tưởng tượng trên niết bàn

Nhân dân ta tiếp thu những giá trị của đạo Phật: từ bi bác ái, làm điều thiện tránh điều

ác nhưng không phải theo nghĩa thụ động mà phải đoàn kết đấu tranh trực diện nhằmhưng lợi, trừ hại, lo lợi ích thiết thực cho dân, cho nước chứ không phải cầu mong Chính

vì vậy các khái niệm đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo khi vào Việt Nam đượclàm giàu thêm, sự thương người vốn có của người Việt Nam cũng được phát triển hơnbởi tinh thần đấu tranh chống lại những cái ác Muốn có điều thiện không chỉ tránh cái ác

mà quan trọng hơn là phải làm mất chỗ dựa của cái ác, tiêu diệt nguồn gốc sản sinh ra cáiác

Hồ Chí Minh hết sức trân trọng những giá trị nhân văn trong đạo Phật Người đã biểu

lộ điều đó trong bức thư gửi các Phật tử Việt Nam nhân ngày lễ Phật rằm tháng bảy năm1947: "Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn Muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn,Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma

Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, đểđánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất

và độ clập cho Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích

Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ"/11, tr.408

Như vậy, những giá trị nhân văn trong nền văn hoá phương Đông kết hợp hài hoà, hữu

cơ với văn hoá bản địa Những khái niệm nhân và nghĩa, thiện và mỹ cũng như nhiềuthành phần khác trong nền văn hoá Việt Nam đã dung hòa cả nền giáo hoá của Phật giáo

và đạo Nho trở thành văn hoá truyền thống của dân tộc

Những tinh hoa triết học, văn hoá xã hội phương Tây cũng góp phần làm phong phú

tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Trang 16

Từ trong nền văn minh phương Tây, Hồ Chí Minh cảm nhận sâu sắc vai trò tiến bộ củavăn hoá phục hưng ở I-ta-li-a trong thời gian đi qua Thuỵ sĩ và I-ta-li-a Người rất trântrọng cuộc Đại cách mạng Pháp 1789 với khẩu hiệu bất hủ tự do- bình đẳng- bác ái với "không khí dân chủ và thân mật của các câu lạc bộ Gia-cô-banh" mà Người nhắc tới nhưmột nét đậm đà trong ký ức /27/ Ra đi từ một nước thuộc địa, phong kiến sang phươngTây với ý thức tìm đường cứu nước, cứu dân, Người đã tìm hiểu và tiếp nhận các giá trịnhân văn ấy để làm công cụ, phương tiện giáo dục, giác ngộ quần chúng nhân dân, đểtiến công kẻ thù coi đó như là hạt nhân của công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng conngười ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh nghiên cứu kỹ Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyênngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1789 Người rất coi trọng lý tưởngđộc lập, tự do của các văn kiện bất hủ đó Việc trích dẫn văn bản của hai cuộc Cách mạng

tư sản Pháp và Mỹ trong Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) không phải là sự ngẫu nhiên.Chúng tôi đồng tình với nhận định của một nhà nghiên cứu cho rằng, đây chính là sựthống nhất giữa giá trị chủ yếu của các dân tộc trên thế giới, là thành quả chung của nhânloại trong cuộc đấu tranh vì quyền của các dân tộc và quyền của con người chống lại cáclực lượng áp bức dân tộc nhằm giải phóng con người /65, tr.56/

Tinh hoa văn học phương Tây, đặc biệt là trong kho tàng văn học Pháp lúc bấy giờđược Hồ Chí Minh nghiên cứu và khai thác khá kỹ, như các tác phẩm của W.Sếch-pia,Ch.Đích-ken, V.Huy-gô, E.Dô-la Điều quan trọng là thông qua các tác phẩm văn họcnày, Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy một chủ nghĩa nhân văn, một khát vọng tự do và mộttinh thần chiến đấu không khoan nhượng chống chế độ nô dịch và sự áp bức bóc lột.Nhưng còn quan trọng hơn là từ sự tiếp nhận các tri thức đó, Người đã sáng tạo ra nhữngsản phẩm có giá trị nhân văn mới nhằm mục đích giải phóng con người như những bàiđăng trên báo Người cùng khổ, sách " Bản án chế độ thực dân Pháp" (xem /65, tr.23/).Một điều cần nhấn mạnh rằng, trên cơ sở những nhân tố tư tưởng trên, Hồ Chí Minh đãđến với chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác-Lênin mà tư tưởng nhân văn mác- xít là sợi chỉ

đỏ xuyên suốt hệ tư tưởng đó Đây là bước ngoặt cơ bản đối với sự hình thành và pháttriển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng nhân văn của Người nói riêng Truyềnthống nhân ái Việt Nam và nhân loại được lý luận Mác- Lênin soi sáng, phong trào đấu

Trang 17

tranh giải phóng dân tộc và con người Việt Nam được gắn bó chặt chẽ với phong tràocách mạng vô sản thế giới đó là cơ sở làm cho tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đượcđịnh hình, quyết định bản chất tư tưởng nhân văn của Người thuộc hệ tư tưởng nhân văncách mạng, tư tưởng nhân văn chiến đấu của giai cấp vô sản.

Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin mà tư tưởng cốt lõi làvấn đề con người, sự tự do và phát triển toàn diện của con người, lợi ích và hành phúccủa con người gắn liền với cuộc đấu tranh và thắng lợi của giai cấp công nhân và quầnchúng lao động, sự khẳng định một chế độ xã hội tiến bộ về mặt lịch sử trong đó sự pháttriển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người đãgiúp cho Hồ Chí Minh quyết tâm tìm ra con đường cứu nước cứu dân phù hợp với quyluật lịch sử hiện đại ảnh hưởng sâu sắc và quyết định ấy thể hiện trong câu nói củaNgười: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người khôngphân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quảđất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hoà bình, hạnh phúc" /8, tr.115-116/

Tiết 2: Khái niệm và những nội dung chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Muốn chiếm lĩnh tri thức về đối tượng, cần hiểu được khái niệm của nó với tư cách như

là một phương tiện Theo phó giáo sự Song Thành/ 67/, một khái niệm đầy đủ đúng đắn

về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng chỉ cóthể hình thành trọn vẹn ở cuối chặng đường nghiên cứu Chúng tôi cho rằng, phải do mộttập thể các nhà khoa học đưa ra Tuy nhiên, để góp phần hình thành khái niệm tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh, chúng tôi mạnh dạn trình bày sơ bộ khái niệm đó

Nhiều vị lãnh đạo cách mạng ở nước ta, nhiều tác giả trong nước và ngoài nước đã nói

về chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh Đồng chí cố vấn Phạm VănĐồng viết: "Hồ Chí Minh là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn theo ý nghĩa đầy đủ Đó làmột con người yêu thương, kính trọng, tin tưởng, biết đòi hỏi và nâng đỡ con người, đốivới từng người cũng như đối với đông đảo nhân dân lao động, quan tâm đến số phận củamọi người, dù đó hôm qua là kẻ thù, hoặc là người lầm đường lạc lối nay hối cải" /38,tr.49/ Tại cuộc Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh, đồng chí cốvấn Nguyễn Văn Linh (lúc đó là Tổng bí thư Đảng ta đã phát biểu: "Được sự giáo dục

Trang 18

của Người, nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi gắn chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với chủnghĩa quốc tế chân chính và chủ nghĩa nhân văn cao cả /52, tr.10/ Đại tướng Võ NguyênGiáp, trong cuộc hội thảo quốc tế "Hồ Chí Minh - Việt Nam- hoà bình thế giới" được tổchức ở ấn Độ đã khẳng định: "Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văncủa thời đại mới".

Nhiều nhà chính trị và khoa học ở nước ngoài coi tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sảnchung của nhân loại và gọi "chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân đạo củamọi thời đại" /52, tr.37/ và khẳng định "những lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cáclĩnh vực văn hoá, giáo dục và nhân văn là một" /52, tr.38/

Có thể nêu lên nhiều ví dụ khác nữa trong việc đề cập đến tư tưởng nhân văn Hồ ChíMinh đã cố gắng tiếp cận vấn đề một cách khoa học, góp một số hạt nhân hợp lý vào quátrình hình thành một khái niệm tương đối đầy đủ và chính xác hơn tư tưởng nhân văn củaNgười

Để tiến tới một khái niệm hoàn chỉnh, phản ánh được bản chất, cốt lõi của tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy cần thống nhất một số khía cạnh

- Đối với Hồ Chí Minh vấn đề hàng đầu và vấn đề quán xuyến suốt cuộc đời hoạt động

cách mạng của mình là vấn đề yêu thương, tôn trọng, tin tưởng con người và sự nghiệp

giải phóng con người Toàn bộ sức lực, tâm tư, tình cảm, trí tuệ và cả cuộc sống của Hồ

Chí Minh đều tập trung vào mục đích đó

- Con người trong quan điểm của Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng mà

rất cụ thể Đó là toàn thể nhân loại, là số đông các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động, trước hết là những người bị bóc lột đau khổ, bị nô lệ, đoạ đày của dân tộc mình và cả nhân loại cần lao bị áp bức không phân biệt chủng tộc và màu da.

Từ đó, chúng tôi mạnh dạn nêu lên định nghĩa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh nhưsau:

"Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là sự kế thừa xuất sắc truyền thống nhân ái của dântộc, của nền văn minh phương Đông và phương Tây, những giá trị nhân văn của nhânloại mà đỉnh cao là tư tưởng nhân văn cộng sản của học thuyết Mác- Lênin, là sự vậndụng và phát triển sáng tạo tư tưởng nhân văn cộng sản với nội dung chủ yếu tất cả từ

Trang 19

con người và vì con người vào điều kiện Việt Nam, một dân tộc bị thực dân đế quốc đô

hộ phải đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, giải phóng xã hội, nhằm giải phóng triệt để

và vĩnh viễn con người bởi chính con người lao động, đặt niềm tin mãnh liệt vào sứcmạnh và phẩm giá của con người, của nhân dân lao động"

Nội dung tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có thể khái quát thành mấy điểm chủ yếusau:

Một là, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là lòng yêu thương và quý trọng con người

gắn với lòng yêu dân, yêu nước nồng nàn Đó là biểu hiện nổi bật trong tư tưởng của

Người về sự kế thừa "đạo lý làm người" của dân tộc Việt Nam Từ xưa tới nay, khi xử thếvới đời, những con người có đạo đức cao cả trong nhân dân ta thường hay lấy chữ

"Nhân" làm gốc Chữ nhân ở đây được hiểu theo nghĩa thương yêu người Ông vua cónhân là ông vua biết thương yêu dân như con, kính trọng dân như trời, coi dân là ý trời.Ông quan có nhân là ông quan chẳng những không ép nạt dân mà trái lại còn bênh vựcdân Người dân có nhân là người sẵn lòng cứu nghèo, giúp khổ, giải hoạn nạn cho ngườikhác mà không tiêc công, tiếc của, không cần trả ơn Người ta thường nói: tu nhân tíchđức là theo nghĩa như vậy (xem /48, tr.252/)

Trong xã hội phong kiến ở nước ta, các sĩ phu tiến bộ cũng rất coi trọng chữ "nhân".Khi giặc Nguyên xâm chiếm nước ta (năm 1285), Trần Quốc Tuấn đã nói với binh sĩ "ainấy cần giữ phép tắc, đi đến đâu không được nhiễu dân mà phải đồng lòng hết sức đánhgiặc Ông bộc lộ lòng yêu nước, thương dân của mình "Ngày thì quên ăn, đêm thì quênngủ, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xé thịt, lột da quân giặc" Còn NguyễnTrãi, trong một bức thư kêu gọi tướng giặc Vương Thông đầu hàng đã viết: "Nước ViệtNam, tuy xa xăm ở cõi lĩnh ngoại, nhưng vẫn có tiếng là một nước thi thư, những bậc tàitrí đời nào cũng sẵn có Bởi vậy, phàm những việc ta làm, hết thảy đều theo lễ nghĩa, trênứng với trời, dưới thuận lòng người" Nguyễn Du đã bày tỏ lòng thương mười loại ngườixấu số của xã hội phong kiến thối nát trong bài Văn tế thập loại chúng sinh và xót xa chothân phận con người bị vùi dập trong kiệt tác truyện Kiều

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu bật lý tưởng nhânđạo, có lòng tin và lòng ưu ái đặc biệt với những người nông dân Nam Bộ Thông cảmnỗi tủi nhục của những người bị mất nước, cụ Phan Bội Châu đã bôn ba nhiều năm trời

Trang 20

nơi hải ngoại để tìm một con đường cứu nước và biểu thị tấm lòng thương dân tha thiếttrong các vần thơ gửi về nước kêu gọi các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh với giặc.Tình thương yêu những người bị chà đạp, bị đối xử tàn tệ trong xã hội phong kiến ácnghiệt, trong chế độ thực dân tàn bạo là yếu tố quan trọng làm cho họ có tấm lòng yêuquê hương đất nước Tuy nhiên, do thế giới quan và nhân sinh quan bị hạn chế của thờiđại lúc bấy giờ, lý tưởng nhân đạo, tư tưởng nhân văn của những sĩ phu yêu nước nói trênthiếu một cơ sở dân chủ vững chắc, phạm những thiếu sót rất cơ bản mà chúng tôi sẽ nói

kỹ ở phần sau

Lần đầu tiên trong lịch sử ở nước ta, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc vàxây dựng CNXH, Hồ Chí Minh đã tỏ rõ là một nhà nhân văn vĩ đại đã có một lý tưởng rõrệt về lòng nhân ái cộng sản

Lòng nhân ái, sự thương người, thương dân của Hồ Chí Minh đã đặt đúng vào những " người cùng khổ" nhất, xấu số nhất trong xã hội Đó là những công nhân, những

người nông dân và các tầng lớp lao động khác bị áp bức, bị bóc lột tận xương tuỷ ở nước

ta và trên thế giới, không phân biệt chủng tộc màu da Hễ ai bị khổ là Người thương.Tình thương đó của Hồ Chí Minh được biểu lộ từ những năm tháng nhỏ tuổi sống ởquê hương đất nước bị đô hộ bởi chính sách thực dân, trước cảnh đói nghèo, lầm than cơcực, lam lũ, bị ức hiếp, bắn giết, tù đày của nhân dân ta Những năm tháng ra nước ngoàihoạt động, Người đã từng chứng kiến cảnh người lao động bị bóc lột, bị đàn áp dã man.Tình thương của Người đối với những người lao động bao giờ cũng gắn liền với sự cănthù bọn thực dân, đế quốc tàn bạo, kẻ gây nên bao cảnh thống khổ đối với dân lành Đến

Mỹ, Hồ Chí Minh không bị choáng ngợp bởi tượng Thần Tự do đồ sộ và nhiều nhà chọctrời, mà lại rất chú ý đến nỗi cơ cực của người dân lao động da đen và da trắng, căm phẫnthủ đoạn tra tấn dã man của đảng 3K đối với người lao động da đen Mỹ theo kiều hànhhình Lin- sơ Ở giữa Pari tráng lệ, Người không ca ngợi sự giàu sang của nó mà lại viếtbài đăng báo Nhân đạo mô tả về cuộc sống điêu đứng của xóm nghèo, người nghèo Đó

là một biểu hiện tình thương yêu con người bao la của Hồ Chí Minh

Những năm sau chiến tranh của thế giới lần thứ nhất, Nguyễn ái Quốc là cây bút tố cáomạnh mẽ tội ác chế độ thực dân và bênh vực quyền của các dân tộc bị áp bức giành lạinhân phẩm và tự do Người nói nhiều đến cảnh khổ sở, bị bóc lột thậm tệ của người công

Trang 21

nhân Ô- da- ca, một trong những trung tâm công nghiệp của nước Nhật Người vạch rõ

âm mưu và thủ đoạn dã man của CNĐQ và CNTD đối với nhân dân lao động ở các nướcthuộc địa Hình thù của nó là con đỉa hai vòi, một vòi hút máu của giai cấp vô sản vànhân dân lao động ở chính quốc, một vòi hút máu giai cấp công nhân và nhân dân laođộng ở các nước thuộc địa Sự có mặt và sự tác oai tác quái của nó trên trái đất này là cộinguồn của mọi thảm hoạ, mọi nỗi đau khổ đã trút lên đầu lên cổ nhân dân lao động ở cácnước thuộc địa từ mấy thế kỷ nay

Hồ Chí Minh vạch trần tội ác của thực dân Pháp bóc lột nặng nền và tàn tệ người nôngdân, người công nhân và nói chung là toàn thể dân tộc Việt Nam Chúng bóc lột bằng

"thuế máu", sưu cao, thuế nặng, bằng chính sách ngu dân và đặt ra bao nhiêu luật lệ vôtội vạ, rất khắc nghiệt cho phép các nhà cầm quyền hễ ngứa tay thì phạt vạ, tống tù vàthảm sát đẫm máu người dân bản xứ Người thông cảm tình cảnh đau khổ của nhữngngười nông dân Nam bộ, bị bọn thực dân và địa chủ cướp đoạt ruộng đất, bị thuế mánặng nề Người tỏ lòng thương tiếc những gia đình có con em bị thực dân giết hại và viết:

"Dù máu người Việt Nam nhuộn đỏ "đồng Mả- ngụy" có phai đi với thời gian đi chăngnữa, thì vết thương lòng của những bà mẹ già, những người vợ goá, những đứa con côikhông bao giờ hàn gắn được" /8, tr.377-378/

Hồ Chí Minh rất lo lắng đến cảnh ngộ của những người phụ nữ và những em thiếu nhi.Người đã từng lên tiếng vạch trần hành động dã man của bọn thống trị đối với phụ nữ ởcác nước thuộc địa: "Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạongược" /8, tr.435/ của bọn người xâm lược Người xót xa khi nhìn thấy các cháu bé dântộc thiểu số ốm yếu xanh xao theo ngườì lớn vào chào Đại hội Quốc dân Tân Trào và nóivới các đại biểu : Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm cho các cháu bé có cơm no, có áo

ấm, được đi học, không lam lũ mãi thế này

Trong cuộc đời Hồ Chí Minh, tình thương yêu của Người giành cho đồng bào đồng chíthật mênh mông Người quan tâm không sót một ai với thái độ chân tình, cởi mở, gần gũivới mọi người và mọi người cũng dễ gần gũi với Người Người sắp xếp cho mỗi người vịtrí xứng đáng, phù hợp với khả năng của mình, lo lắng chu đáo cho mọi người về việclàm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi vừa thương yêu, dìu dắt, thắm tìnhđồng bào, nghĩa đồng chí

Trang 22

Đối với những kẻ lầm đường lạc lối, Người cũng giành những tình thương Người dạyphải khoan hồng, vui mừng đón những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy nay biết hối cải.Người tỏ lòng bao dung độ lượng đối với tù binh bị bắt.

Lòng thương người, thương dân của Hồ Chí Minh phản ánh lập trường của giai cấp

công nhân nhằm đấu tranh xoá bỏ giai cấp, xoá bỏ hình thức người bóc lột người, đem

lại cuộc sống thật sự hạnh phúc, ấm no cho con người Do đó lòng nhân ái, sự thươngngười của Bác là một động cơ lớn trong hoạt động cách mạng Người quan tâm hết thảy,

từ những việc lớn đến việc nhỏ có quan hệ tới con người, từ công cuộc đấu tranh, chiếnđấu để giải phóng dân tộc, giải phóng con người thoát khỏi ách áp bức bóclột, xoá bỏ disản nặng nề của CNTD, đế quốc và phong kiến, biến đổi và cải tạo nền kinh tế, văn hoálạc hậu của nước ta thành nền kinh tế, văn hoá tiên tiến đến những việc có liên quan đếnđời sống thường ngày như tương cà mắm muối của nhân dân Người nói: "Dân lấy ăn làmtrời; nếu không có ăn là không có trời Vì vậy chính sách của Đảng và chính phủ phảihết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và chính phủ có lỗi;nếu dân ốm là Đảng và chính phủ có lỗi: /14, tr.260/

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh coi trọng nhân cách con người, quý trọng nhữngngười lao động, coi con người không chỉ là sản phẩm của hoạt động tự nhiên và xã hội

mà còn là sản phẩm của chính bản thân mình Đối với Hồ Chí Minh, con người không

chỉ tiếp thu mà còn sáng tạo Quần chúng nhân dân lao động đóng vai trò là động lực củacách mạng, là chủ thể của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng

cả chính mình Vì thế, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh làm cho mỗi con người Việt Namnhận thức được vait rò và sứ mệnh cao quý của mình

Hồ Chí Minh cho rằng, mọi việc đều do con người làm ra cả Người quý trọng ngườilao động chân tay và trí óc, từ nông dân, công nhân, trí thức cho đến "anh bộ đội Cụ Hồ",

từ trẻ đến già, từ đồng bào miền xuôi đến đồng bào miền núi, đồng bào trong nước vàđồng bào ngoài nước Người ân cần, chăm chút, khuyến khích, tôn trọng con người, rấtcoi trọng khả năng trí tuệ của mọi người Hồ Chí Minh đã tập hợp động đảo nhân dân laođộng, những người có tài có sức, có nhiệt tình ra gánh vác việc nước

Trang 23

Hai là, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạh và phẩm giá của con người Con người ở đây trước hết là những người lao động: công

nhân, nông dân và trí thức cách mạng và nói chung là quần chúng lao động

Niềm tin đó của Người hình thành từ những ngày niên thiếu và suốt quãng thời gianbôn ba nơi hải ngoại tìm đường cứu dân, cứu nước Chính những năm tháng hoạt động ởnước ngoài đã tạo cho Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn ái Quốc) niềm tin rằng: "Đằng sau

sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và

sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến"/8, tr.10/

Theo Hồ Chí Minh, tin vào sức mạnh quần chúng nhân dân lao động là một phẩm

chất cơ bản của người cách mạng và cũng là chỗ khác căn bản với các giai cấp bóc lột

và các sĩ phu phong kiến ở nước ta Chúng ta đều biết lịch sử xã hội loài người từ xưađến nay là do bản thân quần chúng xây dựng nên và chính họ là động lực thúc đẩy lịch sửtiến lên không ngừng Nhưng các giai cấp bóc lột vì lợi ích giai cấp của mình đã xoánhoà, làm lu mờ vai trò của quần chúng trong lịch sử Chúng coi quân chúng chỉ là mộtbầy ngu dại Kể cả những nhà hiền triết trước đây, do địa vị và quan điểm giai cấp củabản thân họ và do sự hạn chế của lịch sử nên cũng không thấy đúng vai trò quần chúng

Họ cho rằng quân chúng là những người tiêu cực, bị động, chịu sự sai khiến của nhữngnhân tài lỗi lạc Họ tuyệt đối hoá, cường điệu vai trò của các cá nhân, anh hùng hào kiệt,còn vai trò của quần chúng thì bị bỏ quên, không nói tới

Lịch sử Việt Nam mấy nghìn năm nay đã khẳng định vai trò quyết định của quần chúngnhân dân lao động Nhân dân ta đã nêu cao tinh thần đấu tranh, đoàn kết chống ngoạixâm, chống áp bức xã hội và chống thiên tai Nhân dân lao động là lực lượng quyết định

sự mất còn của Tổ quốc, sự hưng vong của các triều đại; đó là một sự thật khách quankhông phụ thuộc vào bất cứ ai Sự nghiệp vẻ vang là do Hai Bà Trưng, Bà Triệu, LýThường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung lãnh đạo chính cũng là sự nghiệpcủa quần chúng nhân dân Nhưng dưới chế độ phong kiến, vai trò quần chúng nhân dânnước ta bị lu mờ, chính bản thân họ cũng không nhận thức được sức mạnh của mình Làlực lượng có tác dụng quyết định sự biến đổi của lịch sử nhưng cuối cùng quần chúngvẫn bị áp bức, bị bóc lột, bị coi là những kẻ "ngu dân khu đen"

Trang 24

Dưới thời thực dân, đế quốc phương Tây xâm lược, nhiều nhà ái quốc có tâm huyết vớinền độc lập tự do của Tổ quốc đã kêu gọi quần chúng đứng lên chống lại chúng giành độclập nhưng họ quan niệm quần chúng chỉ là những người thụ động Họ thiếu lòng tin vàokhả năng quần chúng mình đứng lên tự giải phóng Đó là một trong những nguyên nhânthất bại của các phong trào ái quốc trước đầy.

Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác- Lênin, những người cộng sản Việt Nam và Hồ Chí

Minh nhận thức sâu sắc hơn vai trò của quần chúng, niềm tin vào sức mạnh và phẩm

giá của họ càng mãnh liệt Chẳng những Hồ Chí Minh hiểu: "Chỉ có chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao độngtrên thế giới khỏi ách nô lệ" /15, tr.701/mà còn chỉ cho Người thấy rõ cả những lực lượngcách mạng bảo đảm cho công cuộc giải phóng ấy thắng lợi

Lực lượng cách mạng ấy trên phạm vi toàn thế giới là "vô sản tất cả các nước và cácdân tộc bị áp bức đoàn kết lại" Lực lượng cách mạng ấy đối với từng nước có thể khácnhau nhưng bao giờ cũng lấy công nhân, nông dân làm lực lượng cơ bản, bao giờ cũngphải được đông đảo quần chúng tham gia Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, vai trò củaquần chúng nhân dân lao động đã được hiểu đúng Cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng tự mình giải phóng lấy mình, không có anh hùng hào kiệt nào có thể cứu vớt đượcquần chúng mà chính bản thân quần chúng được giác ngộ, được tổ chức, đoàn kết dưới sựlãnh đạo của một đảng tiên phong của giai cấp công nhân thì mới giải phóng cho mìnhđược

Tin vào quần chúng, tin vào con người, Hồ Chí Minh đã nêu cao vai trò tích cực, chủ

động sáng tạo của con người, của quần chúng Người nói, cách mệnh là việc chung của

cả dân chứ không phải của một, hai người, công nông là gốc của cách mạng Muốn giảiphóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thânmình Người tự khẳng định, có dân là có tất cả Nhưng để quần chúng có sức mạnh thực

sự, Hồ Chí Minh nói phải "đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấnluyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập" /8, tr.174/ Với những tư tưởng đó, HồChí Minh đã tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển đạo quân chính trị của cách mạng

là điều cơ bản, có ý nghĩa quyết định"/33, tr.43/ đối với cách mạng Việt Nam Trong độingũ quân chính trị ấy, quần chúng được động viên và lôi cuốn mạnh mẽ, rộng rãi vào

Trang 25

cuộc đấu tranh từ thấp lên cao, không ngừng giác ngộ chính trị, phát triển đội ngũ ngàycàng lớn mạnh Nhờ đó khi tình thế cách mạng xuất hiện, Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đãphát động quần chúng đứng lên đánh đổ ách thống trị của thực dân và phong kiến, chống

đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến lên xây dựng chế độ mới Trong

sự nghiệp sáng tạo xã hội mới, quần chúng nhân dân cũng đã phát huy nhiệt tình cáchmạng và tài năng sáng tạo của mình Cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo đã chứngminh sức mạnh sáng tạo vĩ đại của nhân dân và dân tộc Việt Nam bằng những thắng lợiliên tiếp trong khởi nghĩa, trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước và xây dựngchế độ xã hội tốt đẹp của dân, do dân và vì dân hiện nay, đánh thắng cả CNTD, phongkiến, đánh Pháp, đuổi Nhật, đánh CNTD cũ, đánh bại CNTD mới, từng bước chiến thắngnghèo nàn, lạc hậu

Chính vì thấy được sức mạnh dời non, lấp biển của con người, của nhân dân, Hồ ChíMinh luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên tin tưởng vào nhân dân, phát huy mọinăng lực của nhân dân Bởi vì như Người nói "Thắng lợi của cách mạng là do sức phấnđấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân, nhất là công nhân, nôngdân và những người trí thức cách mạng" /18, tr.58 Thành công của Đảng ta là ở chỗĐảng ta tin tưởng vào sức mạnh và trí tuệ của quần chúg nên đã tổ chức và phát huy đượclực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu một cách dũngcảm và thông minh dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác- Lênin Do đó, Người căn dặnphải đi sát nhân dân, dựa vào nhân dân để hoàn thành mọi nhiệm vụ của cách mạng.Người nói, phải nhớ dân là chủ, bao nhiêu lực lượng, bao nhiêu quyền hành là ở dân hết.Người cán bộ phải biết dân tốt, lúc họ hiểu thì việc gì khó mấy họ cũng làm được Dễtrăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong Nhân dân ta rất thôngminh Quần chúng lao động có rất nhiều kinh nghiệm và sáng kiến

Lòng tin vào con người của Hồ Chí Minh vô cùng mãnh liệt và rộng lớn Người tin vàobản chất tốt đẹp của mỗi con người, dù ai đó có nhất thời bị lỗi lầm, dù nhỏ nhen thấpkém Người nói, trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, đều dòng dõi của

tổ tiên ta Điều cốt yếu là phải có lòng khoan dung độ lượng Người rất quan tâm đến việcgiáo dục con người, biết khuyến khích cái tốt, khuyên con người làm điều thiện, đẩy lùicái xấu, cái ác, nâng đỡ con người lên Người từng chỉ rõ, trong con người ta bao giờcũng có phần tốt và phần xấu Người cách mạng phải giáo dục, cảm hoá họ để cho phần

Trang 26

tốt của mỗi con người nảy nở phát triển như hoa mùa xuân và đẩy lùi phần xấu của mỗicon người.

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng đất nước, Hồ Chí Minhkhông những đã tập hợp được một lực lượng cách mạng rộng lớn mà còn lôi kéo nhiềungười tiến bộ ở các tầng lớp khác trong nước và ngoài nước ủng hộ đoàn kết với nhândân chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc Người có sức thu hút và cảm hoá rấtlớn là do nhiều lẽ, chúng tôi đồng ý với luật sư Phan Anh cho rằng, "cái lẽ sâu xa nhất là

từ lòng tha thiết tin yêu nhân dân, tin yêu con người và tin yêu cả loài người" tiến bộ

Lòng nhân ái của Hồ Chí Minh vừa là chủ động đấu tranh giải phóng con người Chính

điểm này đã làm cho Hồ Chí Minh, nhà hiền triết hành động và chiến đấu Trong xã hội

có đối kháng giai cấp và dân tộc, những người lao động chỉ có hành động, hành động đấutranh cách mạng mới đem lại hạnh phúc cho mình Dân tộc Việt Nam những năm dướichế độ thực dân, đế quốc sống trong cảnh cực khổ không sao chịu đựng nổi Độc lập, tự

do, hạnh phúc và các quyền dân tộc sơ đẳng, các quyền con người tối thiểu nhất cũng bịchế độ thực dân tước đoạt Muốn sống cuộc sống của con người phải làm cách mạng, kẻthù không bao giờ để cho dân tộc ta được sống yên vui trong hoà bình C.Mác nói, hạnhphúc là đấu tranh (đấu tranh chống lại mọi thế lực áp bức mình, để giải phóng con người

và loài người - TĐC giải thích thêm), khuất phục là sự đau khổ và quỵ luỵ, là tính xấuđáng gờm nhất Ph.Ăngghen cũng nêu lên nguyên lý, giai cấp vô sản không chỉ là mộtgiai cấp chịu khổ mà trước hết là giai cấp có sứ mệnh đánh đổ chế độ áp bức bóc lột, xâydựng xã hội mới vì hạnh phúc con người V.I.Lênin đã làm sáng tỏ hơn vai trò xây dựng

xã hội mới, đó của những người vô sản và nhân dân lao động Và nói chung, các nhà lýluận của chủ nghĩa Mác- Lênin luôn đánh giá cao vai trò lịch sử của quần chúng lao động

là người sáng tạo ra xã hội mới bằng cách mạng Cách mạng là ngày hội của những người

bị áp bức, bóc lột (xem /76, tr.76-77),/ và chính trong cuộc đấu tranh tự giác cho một xãhội không có chế độ người bóc lột người, mỗi người đều có khả năng phát triển đầy đủnăng lực, phẩm chất của mình

Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, là chiến sĩ cộng sản và là một nhà nhân văn lớn Lýtưởng và quyết tâm của Người là chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giảiphóng con người Đó là điều khác cơ bản với các tư tưởng nhân văn trừu tượng, phi hiệnthực và những tư tưởng thương người theo kiểu từ bi, bác ái, cầu xin của các tôn giáo

Trang 27

Các nhà tư tưởng trước đây trong xã hội cũng xuất phát từ động cơ trong sáng là muốnđem lại cho con người tự do, hạnh phúc, xây dựng một xã hội mọi người sống bình đẳng,

no ấm, yên vui nhưng lại đứng trên quan điểm duy tâm lịch sử, thổi phồng và cườngđiệu vai trò của tư tưởng, truyền thống con người trừu tượng, siêu giai cấp Cho nên, họdừng lại ở lòng thành thật thương yêu nhân quần ở "chính nghĩa vĩnh hằng", ở "lý trímuôn thủa", ở những ước mơ tốt đẹp mà không bao giờ trở thành hiện thực

Các tôn giáo thường nói đến từ bi, bác ái nhưng cắt nghĩa rằng kẻ giàu người nghèo là

do trời, phật định đoạt thì làm sao có tư tưởng nhân văn chân chính Trong các kinh phật,kinh thánh chứa đựng nhiều nội dung về cuộc đời, về số phận và lòng mong ước của conngười về cuộc sống hạnh phúc nhưng lại khuyên con người hãy chịu đựng, hãy nhẫnnhục ở trần gian và mong siêu thoát ở nơi thiên đường hư ảo Các thứ từ bi, bác ái củatôn giáo thường bị biến thành công cụ trong tay các giai cấp bóc lột dùng để đánh lạchướng hay ru ngủ quần chúng lao động Chịu ảnh hưởng nặng tư tưởng triết học củaKhổng giáo, bên cạnh mặt tiến bộ như đã trình bày ở trên, các sĩ phu nước ta quan niệm

về chữ "nhân" theo quan điểm phong kiến Họ cũng biểu thị lòng thương dân tha thiết,đồng cam số phận người nghèo khổ, nhưng nhìn chung vẫn ở khía cạnh lòng thương hại,

sự lo lắng của họ chủ yếu là lo cho số phận những người thuộc tầng lớp phong kiến quýtộc hơn là quan tâm đến quyền lợi của những người bị đày đoạ và bị áp bức nhất Nếu cóđứng lên trị tội bọn vua quan phong kiến tàn ác, hay đấu tranh chống lại những thế lựckhắc nghiệt chà đạp quyền sống của con người , họ vẫn bảo vệ chế độ phong kiến, duy trìtrật tự xã hội ấy Các quan niệm về "trung", "hiếu", "tiết", "nghĩa" của họ tuy có biến đổitheo tư tưởng bình dân và tinh thần dân tộc, nhưng về căn bản vẫn thuộc ý thức hệ phongkiến lạc hậu Thí dụ, giá trị nhân văn trong tác phẩm Chinh phụng ngâm vẫn còn dừng lại

ở mức độ than thở hoặc bất bình với chiến tranh làm tan vỡ hạnh phúc lứa đôi của tầnglớp thành niên quý tộc chứ chưa phải là những lời kêu gọi đánh đổ chế độ phong kiếnthối nát, nguyên nhân gây ra các cuộc chiến tranh phi nghĩa (xem/47/)

Còn tư tưởng nhân văn tư sản có nói đến đấu tranh chống chế độ phong kiến và các thếlực tôn giáo khắc nghiệt, đòi giải phóng cá nhân con người nhưng thực chất cũng là bênhvực giai cấp tư sản, đề cao chủ nghĩa cá nhân, đàn áp bóc lột công nhân, nông dân vànhân dân lao động

Trang 28

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cũng khác với tư tưởng nhân văn trừu tượng của bọnxét lại, cơ hội, cải lương âm mưu đem chủ nghĩa nhân đạo tư sản hoà đồng với chủ nghĩacộng sản nhằm xoá bỏ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng

xã hội và giải phóng con người

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân văn chiến đấu của giai cấp côngnhân và những người lao động, lấy hạnh phúc của con người làm nguyên tắc cao nhất.Nhưng hạnh phúc của con người là gì nếu không phải là thoát khỏi mọi áp bức, bóc lộtcủa CNTD, CNĐQ, đem lại cho con người sự làm chủ toàn diện, mọi người cùng nhaulao động xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yên vui trong tình thương và lẽ phải; ainấy đều được phát triển đầy đủ nhân cách, sở trường và năng khiếu trong mối quan hệ hài

hoà giữa cá nhân, gia đình và xã hội Cho nên, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng

con người khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc, đấu tranh đòi tự do dân chủ, xây dựng và phát triển CNXH là tư tưởng nhân văn, là tư tưởng nhân đạo đích thực.

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vì thế nhằm vào hành động và hướng quần chúngnhân dân lao động vào cuộc đấu tranh để biến những quan niệm, lý tưởng tốt đẹp, khátvọng và ước mơ giải phóng nghìn đời của mình thành hiện thực Khát vọng giải phóngcủa dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam càng thêm nung nấu và bùng cháy bởiách đô hộ cực kỳ tàn bạo của bọn phong kiến, thực dân và đế quốc Lúc bấy giờ, nhândân Việt Nam ta điêu đứng trong cảnh ngộ mất nước, bị áp bức về chính trị, bị bóc lột vềkinh tế, bị đầu độc về văn hoá, bị đày đoạ trong đói rách và bệnh tật.Toàn xã hội ViệtNam, nhất là những người lao động, lâm vào số phận của kẻ nô lệ bi thảm, mọi quyềnsống và quyền làm người bị chà đạp Muốn sống phải đứng lên chiến đấu chống lại kẻthù đang chà đạp nhân phẩm và các quyền thiêng liêng khác của con người Lịch sử ViệtNam hơn 80 năm dưới ách ngoại xâm là lịch sử của những trận chiến đấu oai hùng chocông cuộc giải phóng dân tộc Nhưng các cuộc chiến đấu đó của nhân dân lao động nước

ta có được mục tiêu tự giải phóng rõ ràng và cao đẹp, tổ chức chặt chẽ và khoa học, biệnpháp triệt để và có hiệu quả từ khi Hồ Chí Minh tìm con đường cứu nước, cứu dân đúngđắn để biến ý chí giải phóng con người thành hiện thực

Khác với các sĩ phu yêu nước lớp trước ở chỗ Hồ Chí Minh đã gắn liền với tình cảmyêu nước, thương dân với hành động đấu tranh cứu nước, cứu dân Trong hoàn cảnh nước

Trang 29

mất, phải quyết tâm tìm đường cứu nước Mọi suy nghĩ và việc làm của Người đều thểhiện tinh thần mong muốn cứu giúp đồng bào khỏi kiếp trâu ngựa Người đã gắn ước mơ,hoài bão, khát vọng, lý tưởng giải phóng nỗi đau của con người trong cảnh sống lầm than

nô lệ với việc giải phóng non sông đất nước Nước đối với Người trước hết là dân, vìthương dân mà phải đi tìm đường cứu nước

Người đã sang Pháp và các nước phương Tây để nghiên cứu kẻ áp bức dân tộc mình, điđến nơi đang có tư tưởng tự do, dân chủ, dân quyền và khoa học kỹ thuật hiện đại đangphát triển để xem đằng sau những từ "tự do", "bình đẳng", "bác ái" của bọn thực dân có ýnghĩa gì ? Để xem nhân dân ở đó làm thế nào mà trở nên độc lập và hùng cường nhằm vềgiúp đồng bào mình Tại phương Tây, Người tham gia tích cực các hoạt động thực tiễn,

đi vào cuộc sống của những người lao khổ, tiếp đó là thực tiễn trong phong trào giảiphóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế

Các hoạt động xã hội đó từng bước đưa Người vào thế giới cách mạng của giai cấp vôsản Bên cạnh ý thức sâu sắc vốn có về thân phận người dân nô lệ mất nước do CNĐQ,Nguyễn ái Quốc đã nảy sinh ngày càng rõ nét về thân phận người nô lệ trong chế độ tưbản Từ đó, ý thức giác ngộ dân tộc, giác ngộ giai cấp đã nảy mầm và ngày càng lớn lên.Người rút ra điều quan trọng: muốn giải phóng, các dân tộc thuộc địa phải làm cáchmạng và phải trông cậy vào sức của chính mình, không ỉ lại bên ngoài

Quá trình Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng, lặn lội trong phong trào công nhân quốc

tế để cuối cùng tiếp nhận chủ nghĩa Mác- Lênin là con đường duy nhất đúng để giảiphóng dân tộc, là quá trình Người khổ công tìm kiếm, quá trình tự giác dấn mình vàocuộc đời, lối sống đầy gian nan nhưng vô cùng cao quý mà Người đã lựa chọn

Cần chú ý rằng, đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, chân lý của thời đại, Hồ Chí Minh đãvượt qua mọi sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước cũ của các sĩ phu phong kiến và các nhàcách mạng có xu hướng dân chủ tư sản và tiểu tư sản đương thời Cũng đều có tấm lòngyên nước nồng nàn, son sắt nhưng các cụ Phan Bội Châu và các nhà yêu nước lúc bấy giờchỉ nhờ sự chi viện của bên ngoài, còn Hồ Chí Minh thì đi tìm một lí luận cách mạng để

tổ chức quần chúng đấu tranh tự giải phóng

C.Mác, ph.Ăngghen, V.I.Lênin là các nhà sáng lập ra học thuyết giải phóng giai cấpcông nhân và nhân dân lao động, là những nhà nhân văn vĩ đại của giai cấp vô sản thế

Trang 30

giới Các ông chủ trương giải phóng con người trên cơ sở những điều kiện lịch sử xã hộicủa châu Âu, của những nước đã giành được độc lập dân tộc từ lâu, những nước côngnghiệp đã phát triển, ít ra cũng ở mức trung bình và ở đó chủ nghĩa tư bản đã phát triển.

Do đó, C.Mác, ph.Ăngghen cho rằng phải làm cách mạng vô sản ở tất cả các nước tư bản

đã phát triển để giải phóng giai cấp công nhân và đồng thời giải phóng luôn cả nhữngngười lao động khác Khẩu hiệu của các ông nêu ra "vô sản toàn thế giới đoàn kết lại".Còn V.I.Lênin sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đếquốc, do sự phát triển không đều của nó, xuất hiện khâu yếu nhất trong sợi dây chuyềncủa chủ nghĩa tư bản Vì vậy, V.I.Lênin chủ trương phải đoàn kết giai cấp vô sản và cácdân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa tư bản, lật đổ chính quyền của chúng ở một số nướcthậm chí ở một nước nơi tập trung nhiều mâu thuẫn nhất của chủ nghĩa tư bản, thành lậpchính phủ công nông Và nói chung, các ông đều lấy việc giải phóng giai cấp vô sản làmnhiệm vụ trung tâm và điều kiện cho giải phóng dân tộc và thuộc địa

Còn Hồ Chí Minh thì xuất phát từ yêu cầu cấp bách giải phóng dân tộc mình rồi từ đó

đi đến ý thức giải phóng tất cả các dân tộc thuộc địa, giải phóng giai cấp vô sản để đi đếnchủ nghĩa cộng sản Cần nói thêm rằng ý thức về giải phóng dân tộc mình là vấn đề lớnnhất, bao trùm nhất của Bác

Khi đã tìm đường cứu nước, cứu dân đúng đắn rồi, người lại chẳng quản gian nguy,hoạt động làm cho đường lối đó được thấm sâu vào trong toàn dân, trở thành sức mạnhvật chất như Mác nói: "vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phêphán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất" /1,tr.553/ và đưa cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường đó

Muốn vậy, phải tuyên truyền, giáo dục, tập hợp, tổ chức quần chúng nhân dân làm cáchmạng Từ những năm 1926-1927, Hồ Chí Minh đã bắt tay vào công tác tuyên truyền, tổchức đội ngũ chiến đấu để trở về nước Người mở các lớp đào tạo cán bộ cách mạng, đòihỏi các cán bộ phải thông hiểu lý luận, đưa lí luận vào quần chúng bằng cách đi vào quầnchúng, đi vào xí nghiệp, hầm mỏ, vào đồn điền, vào nông thôn, cùng lao động như nhữngngười lao động, thông cảm nỗi khốn cùng của công nông, tổ chức cơ sở cách mạng trongcông nông

Trang 31

Cuộc chiến đấu để "tự giải phóng hoàn toàn và vĩnh viễn" khỏi ách áp bức, nô lệ củaCNTD cho nhân dân ta do tự tay Hồ Chí Minh nhóm lên và lãnh đạo, đi từ thắng lợi nàyđến thắng lợi khác, trước hết vẫn là cuộc chiến đấu bằng chính trị và vũ trang (xem /76,tr.161).

Nhân dân Việt Nam vốn yêu chuộng hoà bình, hữu nghị và chính Hồ Chí Minh tiêubiểu cho những khát vọng hoà bình tha thiết của dân tộc ta Nhưng chủ nghĩa đế quốc,chủ nghĩa thực dân chỉ ưa bạo lực nên bạo lực cách mạng phải giáng trả lại bạo lực phảncách mạng Chiến đấu bằng mọi hình thức bạo lực cách mạng để tự giải phóng dân tộc vàgiải phóng con người khỏi ách áp bức, đô hộ của chúng là tất yếu, là nghĩa vụ của conngười biết yêu con người, tôn trọng con người Do đó, Hồ Chí Minh có quyết tâm chiếnđấu rất lớn, có lòng dũng cảm phi thường Cuộc đấu tranh để giải phóng con người của

Hồ Chí Minh đã trở thành một niềm say mê mãnh liệt: giàu sang không thể quyến rũ,nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục Cuộc đời của Người làmột truyền thuyết về hy sinh và quyết tâm Người hoàn toàn cống hiến cho cách mạngcho nhân dân Hồ Chí Minh là tấm gương đấu tranh không mệt mỏi để vượt khó khăn.Người từng nói: người cách mạng, người cộng sản không sợ khó khăn, có khó khăn mớiphải làm cách mạng, mới cần người cách mạng Làm cách mạng là xoá bỏ cái cũ, dựngxây cái mới vì lợi ích của nhân dân, vì đời sống tự do và hạnh phúc của con người, ngườitrong nước và người ngoài nước, tức là những người lao động toàn thế giới Ý chí củaNgười về giải phóng dân tộc, giải phóng con người rất mãnh liệt Chính vì thế mà Hồ ChíMinh đã bất chấp mọi khó khăn: "Chúng ta thàn hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịumất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" /11, tr.202/ và "Hễ còn một tên xâm lược trênđất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi" /17, tr.723/

Đương đầu với những tên đế quốc tàn bạo mất hết tính người, mấy chục năm hoạt động

bí mật, biết bao gian khổ, biết bao thử thách, nhưng Người dã vượt qua và chiến thắng tất

cả cũng vì độc lập của Tổ quốc và hạnh phục của nhân dân Nhà báo Pháp Le-Cu-tuy-a(Lacouture) đã viết: "Trong ngót nửa thế kỷ, ông Hồ lãnh đạo một cuộc chiến tranh chưatừng có về chuyển biến của chiến thuật và tình huống, về tính đa dạng của cách xử trí, vềnhững hy sinh phải chấp nhận, về sức mạnh yếu khác nhau một trời một vực ở mặt vũkhí Bị toà án thực dân kết án tử hình, 10 lần thoát khỏi lưu đày và máy chém, khi thì mặc

áo vàng nhà sư Thái Lan, khi thì mặc quân phục Bát lộ quân Trung Quốc Và, giành được

Trang 32

chính quyền rồi, ông Hồ phải liên tiếp đương đầu với hai đế quốc phương Tây phát triển.Thời này, có nhà cách mạng nào đủ gan lớn mật để chống đối trật tự của liệt cường vớimột quyết tâm bền bỉ đến thế ? Ông Hồ hồi sinh một dân tộc, tái tạo một quốc gia, lãnhđạo hai cuộc chiến tranh về cơ bản là chiến tranh của người bị áp bức Cuộc chiến đấucủa ông chống Pháp đã dẫn đến sự giải tán một đế quốc thuộc địa lớn Cuộc chiến đấucủa ông chống Mỹ tỏ ra cái giới hạn của sức mạnh kỹ thuật khi đương đầu với con người"trích theo /52, tr.238.

Quyết tâm chiến đấu của Người đã trở thành tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàndân tộc, thấm vào mỗi người Việt Nam, tạo nên những chiến công rực rỡ lừng lẫy nămchâu, chấn động lòng người Cho đến khi từ giã cõi đời này, Người vẫn còn căn dặn "Dùsao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn" /17, tr.835/

Không có gì quý hơn độc lập, tự do Có độc lập tự do là có tất cả Nhưng, ham muốntột bậc của Hồ Chí Minh là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Cho nên sau khi chiếnthắng thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân "ra sứckhôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng của chúng ta về mọi mặt để thựchiện quyền dộc lập hoàn toàn của nước ta, "ra sức thực hiện những cải cách xã hội, đểnâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự" đưa miền Bắc tiến lên chủnghĩa xã hội, vì sự nghiệp thống nhất Tổ quốc

Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi người cần có ý thức làm chủ nước nhà, coi việc nước nhưviệc nhà, "tự mình lo toan gánh vác, không ỉ lại, không ngồi chờ" Mỗi người phải ra sứcgóp công, góp sức để xây dựng đất nước Ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấnđấu xây dựng chế độ mới Mọi người thực hiện "cần kiệm xây dựng nước nhà"

Vì tự do, hạnh phúc của con người, của nhân dân nên cuộc chiến đấu của Hồ Chí Minhkhông chỉ bó hẹp trong phạm vi Việt Nam Bằng việc tổ chức và lãnh đạo nhân dân đấutranh thắng lợi chống CNTD, CNĐQ, nhất là cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước vĩ đại,

Hồ Chí Minh được coi là vị lãnh tụ và người cộng sản vĩ đại đã hiến dâng cuộc đời mìnhcho công lý và nhân phẩm, mãi mãi là ánh đuốc soi đường cho các dân tộc bị áp bức điđến độc lập, tự do và hạnh phúc

Trang 33

Không chỉ trong cách mạng, ngay cả trong cuộc sống đời thường Hồ Chí Minh cũngluôn nêu tấm gương bằng hành động thiết thực như đồng chí Phạm Văn Đồng viết: "HồChí Minh là một nhà triết học hành động, nói đi đôi với làm, gắn lý luận với thực tiễn,gắn đạo đức với cuộc sống" /38, tr.32 Thực hiện nhất quán trong cuộc đời mình theophương châm "lời nói đi đối với việc làm", Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương "văn hoátrong hành động" và "văn hoá trong sinh hoạt" Hành động để nêu gương bằng nếp sốngthanh cao của mình, Hồ Chí Minh làm cho nhân dân dễ hiểu và dễ theo, chứ không phảibằng quyền uy Người kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất và chính Người cũng tăng giasản xuất rất chăm chỉ, cần cù ở mọi nơi Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân thực hành tiếtkiệm một cách gương mẫu mọi lúc Và bao trùm lên tất cả là khi Người kêu gọi đồngbào, cán bộ, chiến sĩ cả nước thực hành "cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư" thì bảnthân Người đã thực hiện suốt cả cuộc đời mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại rằng, "Các việc Hồ Chí Minh nêu lên để yêu cầuđồng bào thực hiện đều là những điều Người đã làm bền bỉ suốt cuộc đời Nếu là nhữngviệc bây giời mới đề ra thì Người gương mẫu làm trước" Hồ Chí Minh là con ngườinhư vậy đấy, con người đi thức tỉnh các tâm hồn không chỉ bằng lời nói mà còn bằnghành động gương mẫu của mình

Tiết 3: Sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và tư tưởng

bạo lực cách mạng của Người.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân văn: tư tưởng vềgiải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Với tình cảm yêu nước,thương nòi, yêu hoà bình và giàu lòng nhân ái đối với con người bị áp bức bóc lột, HồChí Minh đã đi theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tức là con đườngtất yếu phải đánh đổ bọn thực dân đế quốc và tay sai, giành độc lập cho dân tộc và tự dohạnh phúc cho nhân dân

Hơn nửa thế kỷ qua, Hồ Chí Minh và Đảng ta giành phần lớn thời gian hoạt động cáchmạng cho việc chỉ đạo nhân dân ta tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh Bởi vì các thế lựcthực dân xâm lược đã ngoan cố dùng bạo lực phản cách mạng, nhà tù, máy chém và quânđội, dùng chiến tranh xâm lược để chà đạp lên khát vọng giải phóng, độc lập, tự do, hoàbình của nhân dân ta Thà chết không chịu làm nô lệ, dân tộc ta buộc phải đấu tranh vũ

Trang 34

trang và làm chiến tranh cách mạng chống thực dân, đế quốc Chiến tranh cách mạng củanhân dân là một phương tiện quyết liệt nhất chống lại bạo lực phản cách mạng hết sức dãman, tàn bạo để giành và giữ độc lập dân tộc, hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng vàmục đích nhân văn Và các nhiệm vụ và mục đích đó cũng từng bước được thực hiệntrong quá trình đấu tranh vũ trang lâu dài.

Khởi nghĩa và chiến tranh nhân dân là nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn quân sự của tư tưởng bạo lực cách mạng Hồ Chí Minh.

Mọi người đều biết, tư tưởng quân sự thuộc phạm trù thượng tầng kiến trúc và có nhiềunguồn gốc nẩy sinh và phát triển khác nhau, thậm chí dối lập nhau Phụ thuộc vào nguồngốc chính trị - xã hội, vào chính trị mà tư tưởng quân sự, khởi nghĩa vũ trang và chiếntranh kế tục mà người ta phân định tư tưởng quân sự này, học thuyết chiến tranh kiamang tính tiến bộ hay phản động, có tính nhân văn hay phản nhân văn Như học thuyếtchiến tranh của hoàng đế Pháp Na-pô-lê-ông vĩ đại (1769-1821) có nguồn gốc chính trị -

xã hội là thiết lập sự thống trị về kinh tế của giai cấp tư sản Pháp trên lục địa châu Âu,tước bỏ ưu thế của đế quốc Anh về chính sách thực dân và kinh tế thuộc địa Hoặc họcthuyết "chiến tranh tổng lực" của người Đức ra đời năm 1935 lại có nguồn gốc từ thamvọng của tập đoàn cầm quyền nước Đức phát xít là thống trị các dân tộc quốc gia ở châu

Âu và thế giới với mục tiêu ưu tiên là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản Còn học thuyết chiếntranh "phản ứng linh hoạt" của Mác- xoen Tay-lo, danh tướng số 1 của Mỹ nhằm uy hiếp(Liên Xô cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa khác, thực hiện chính sách thực dân kiểu mớiđối với các quốc gia dân tộc đang phát triển

Đối lập với những học thuyết chiến tranh trên đây, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tưtưởng về khởi nghĩa vũ trang, về chiến tranh cách mạng, về kháng chiến toàn dân, chiếntranh nhân dân bắt nguồn từ tư tưởng cách mạng tư tưởng nhân văn, từ chính khát vọngcủa Người là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng conngười, từ "cái mà tôi cần nhất trên đời là: đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độclập"

Tư tưởng bạo lực cách mạng là điểm xuất phát của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Tưtưởng quân sự đó xuất hiện, phát triển với tư cách là công cụ, phương tiện để Người thựchiện tư tưởng nhân văn của mình trong điều kiện kẻ thù dùng bạo lực phản cách mạng

Trang 35

chống sự thực hiện tư tưởng nhân văn trong đời sống Việt Nam Do đó, nghiên cứu tư

tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong di sản quân sự của Người, cần hiểu sự thống nhất

biện chứng giữa tư tưởng nhân văn và tư tưởng bạo lực cách mạng (của Hồ Chí

Trong quá trình đấu tranh ấy phải dùng bạo lực cách mạng, bạo lực vũ trang là phương

pháp hầu như phổ biến để giành độc lập cho dân tộc, giành tự do hạnh phúc cho nhân dân, bảo vệ Tổ quốc góp phần bảo vệ hoà bình ở châu Á và thế giới.

Không phải Hồ Chí Minh, Đảng ta nhân dân ta thích bạo lực, sùng bái bạo lực, là hiếu

chiến như kẻ thù đã xuyên tạc, như phần tử cơ hội, xét lại, bóp méo

Như chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình, với mọi khả năng, bằngnhiều phương pháp phi bạo lực trước khi đi đến quyết định sử dụng bạo lực cách mạng.Điều đó nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đều hiểu rõ Hồ Chí Minh trước hết là con ngườihiện thân cho tư tưởng hoà bình nhân đạo, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam kết hợp vớicác tư tưởng lớn của thời đại, của chủ nghĩa nhân văn cộng sản "giải phóng gông cùm nô

lệ cho nhân loại", "bốn phương vô sản đều là anh em", đoàn kết nhân dân các dân tộc trênthế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì hoà bình dân tộc dân chủ và chủnghĩa xã hội Như là một trong những chiến sĩ tiên phong, Hồ Chí Minh đem tất cả sứcmình để thực hiện những tư tưởng nhân văn cao cả trên đây bằng sự thuyết phục kẻ thốngtrị, bằng những biện pháp thông thường nhất, ôn hoà nhất, những lời thỉnh cầu, nhữngkiến giải điều hơn lẽ thiệt, những áp lực trên chính trường, trên báo chí, trên văn đàn vàquá trình đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng - văn hoá của quầnchúng từ đơn giản đến phức tạp Không phải Hồ Chí Minh có ảo tưởng gì với "thiện chí"

Trang 36

của CNTD, CNĐQ Chính bản chất nhân đạo trong tư tưởng cách mạng đã thúc đẩyNgười tận dụng khả năng của các hình thức đấu tranh phi bạo lực và phi bạo lực vũ trang.Nhưng những thiện chí trên đây của Hồ Chí Minh đã bị CNTD, CNĐQ bác bỏ và trảlời bằng nhà tù, án tử hình, bằng quân đội và súng liên thanh, thậm chí bằng cả máy bay,bom, đại bác Chúng đã sử dụng một bộ máy bạo lực - phản cách mạng khổng lồ và hiệnđại nhất để thống trị, thôn tính xâm lược nước ta, dẫn dân tộc ta vào kiếp nô lệ tù đầy,bắn giết, cướp bóc, chiến tranh xâm lược là những thủ đoạn bạo lực phản cách mạng bắtnguồn từ chế độ xã hội thực dân, sự nô dịch, xâm lược, phản nhân văn của chúng Khôngphải ai khác, chính CNTD, CNĐQ đã gieo mầm và phát sinh, phát triển tư tưởng bạo lựccách mạng bằng sự sùng bái và sử dụng quá tải bạo lực phản cách mạng của chúng.

Hồ Chí Minh đã thể nghiệm mình trong cuộc chiến đấu quyết liệt của dân tộc ta cũngnhư của các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống CNTD Người đã nhìn thấytrước bản chất của CNTD và chỉ rõ rằng "Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hànhđộng bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi" /8, tr.65 Trên bình diện chính trị - xã hộicủa nước ta, bạo lực của CNTD luôn lách vào mọi ngõ ngách của cuộc sống Tiêu diệtlòng yên nước, nuôi dưỡng tư tưởng nô lệ; làm thui chột những giá trị nhân văn cao đẹpcủa dân tộc, gieo mầm những tật xấu của xã hội phương Tây bị tha hoá; phá huỷ mốiquan hệ cộng đồng dân tộc - nghĩa xóm tình làng, áp đặt quan hệ chủ tớ, giầu nghèo làmmai một bản sắc văn hoá dân tộc, cấy mầm văn hoá ngoại lai; làm suy giảm tinh thần quậtkhởi bất khuất của dân tộc, tạo môi trường làm nẩy nở tư tưởng an phận, cầu an Vềkinh tế, bọn thực dân cầm quyền tập trung khai thác cướp bóc tài nguyên của ta màkhông phát triển nền kinh tế hoàn chỉnh, độc lập của dân tộc ta Còn khát vọng độc lập tự

do lâu đời của nhân dân ta thì chúng trả lời thẳng thừng bằng nhà tù, máy chém, súngđạn Vì thế, Người đã khẳng định từ rất sớm rằng "Nếu chúng ta không đạt được (việc tựgiải phóng) bằng phương pháp ôn hoà thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt

để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với năm châu" /9.154/

Trang 37

hiện và khái quát thành tư tưởng quân sự của Người Và ở đây tư tưởng bạo lực cáchmạng là phương tiện phổ biến được Hồ Chí Minh sử dụng trong cuộc đấu tranh cáchmạng khi các phương tiện phi bạo lực tỏ ra không có tác dụng.

Cần chú ý rằng, tư tưởng bạo lực cách mạng trong khởi nghĩa và chiến tranh của HồChí Minh hoàn toàn phù hợp với tư tưởng bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin

và kế thừa cả những truyền thống của ông cha ta về sử dụng bạo lực trước khi Đảng rađời Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng "Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đềchính quyền" cách mạng là bước phát triển cao nhất của đấu tranh dân tộc và đấu tranhgiai cấp và thường được thực hiện bằng bạo lực của giai cấp bị trị chống lại giai cấpthống trị để giải quyết vấn đề chính quyền Vì giai cấp thống trị không bao giờ tự nguyện

từ bỏ chính quyền, rút lui khỏi vũ đài chính trị, từ bỏ việc áp bức, bóc lột nhân dân laođộng Hơn nữa, giai cấp thống trị thẳng tay dùng bạo lực phản cách mạng tối đa để bảo

vệ địa vị thống trị của mình, kể cả chiến tranh phản cách mạng CNĐQ cũng vậy, khôngngần ngại dùng chiến tranh để thực hiện mục đích xâm lược, thống trị các dân tộc khác

Tư tưởng bạo lực cách mạng là một nội dung rất cơ bản của toàn bộ học thuyết Lênin vào những thời điểm đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng, giữagiai cấp thống trị, bóc lột và quần chúng cần lao bị áp bức bóc lột, giữa các dân tộc bị nôdịch và CNTD, CNĐQ Tư tưởng bạo lực cách mạng vào những thời điểm một mất mộtcòn của cuộc đấu tranh còn là một tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt người mác- xít với bọn

Mác-cơ hội cải lương, phân biệt người cách mạng với bọn đầu hàng xét lại

Trung thành với chủ nghĩa nhân văn cao cả - giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam, giảiphóng dân tộc, giải phóng con người, đánh giá đúng đắn bản chất cực kỳ phản động củabọn đế quốc, thực dân, tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết đấu tranh của nhân dân lao động,

Hồ Chí Minh nói: "Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kể thù của giai cấp của dân tộc,cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền vàbảo vệ chính quyền" /17 Tr.598 Đảng ta cũng xác định "con đường cách mạng bạo lực

là con đường duy nhất đúng đắn để đánh đổ kẻ thù của giai cấp của dân tộc, giành chínhquyền về tay nhân dân, bảo vệ chính quyền cách mạng, đưa cách mạng nước ta đến thắnglợi" /29, tr.149

Trang 38

Tư tưởng cách mạng bạo lực trong đấu tranh cách mạng của Đảng có kế thừa cả những

tư tưởng bạo lực của ông cha ta Trước khi Đảng ra đời lĩnh sứ mạng lãnh đạo cách mạngViệt Nam, nhân dân ta đã vận dụng tư tưởng bạo lực, sáng tạo ra các hình thức bạo lựcchống chế độ thực dân - phong kiiến phản động Nhà vua Hàm nghi rời bỏ ngai vàng,xuống chiếu "Cần vương" Các đại thần như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương,Hoàng Diệu; các cử nhân Trần Xuân Hoà, Trịnh Văn Đạt; nhiều bố chánh, án sát, lãnhbinh, đốc học đã cầm gươm, vác súng xung trận đánh quân thực dân Pháp xâm lược,chống bọn vua quan đầu hàng đế quốc Còn nhân dân thì: "Dập dìu trống đánh cờ xiêu.Phen này quyết chống cả Triều lẫn Tây"

Như vậy, xuất phát từ tình hình cụ thể của cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Hồ ChíMinh đã vận dụng quan điểm bạo lực của chủ nghĩa Mác- Lênin và kinh nghiệm tiếnhành khởi nghĩa, nổi dậy lâu dài của nhân dân ta vào điều kiện lịch sử hiện đại nước ta

Đó là thể hiện sự kiên định lập trường có tính nguyên tắc, tính sáng tạo trong đấu tranhcách mạng ở một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, bị CNTD, CNĐQ áp bức, bóclột nặng nề, vươn lên tự giải phóng giành tự do độc lập cho chính mình

Cuộc đấu tranh cự kỳ quyết liệt đó của giai cấp công nhân và nhân dân ta là nhằmgiành độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Trên conđường dẫn tới mục đích ấy, không thể không chú ý đến những điều kiện cụ thể của cuộcđấu tranh trong mỗi thời kỳ nhất định, không thể không chú ý đến tình hình về phía cáchmạng: quần chúng nhân dân sẵn sàng chiến đấu ở mức nào, hoàn cảnh ra sao, tình hìnhsắp xếp các lực lượng xã hội như thế nào; và phía địch thì chúng có mạnh yếu gì, đang cóthủ đoạn và ý đồ ra sao Không chú ý toàn bộ đến đến các nhân tố ấy của sự vận độngthực tế của tình hình thì người cách mạng không nắm được phương tiện để thực hiện mụcđích, không tìm ra những hình thức và phương pháp thực tế để đạt mục đích

Nên nhớ việc sử dụng hình thức và thủ đoạn bạo lực cách mạng nào đó được coi làđúng nhất, là tốt nhất phải thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của tình hình cụ thể, phù hợp về

cơ bản với những điều kiện trong đó nó được sử dụng, cho phép huy động tối đa mọi lựclượng cách mạng của quần chúng và các lực lượng tiến bộ khác xông lên trận tuyến chiếnđấu với kẻ thù, cho phép khai thác triệt để mọi sơ hở, yếu kém của địch để giành thắnglợi lớn nhất mà mục đích cách mạng đã đặt ra Do đó, trong chỉ đạo cách mạng, việc nắm

Trang 39

vững và quán triệt đầy đủ quan điểm lịch sử cụ thể của từng giai đoạn cách mạng đểquyết định sử dụng hình thức đấu tranh thích hợp là vấn đề cực kỳ quan trọng Xưa naykhông có và sẽ không bao giờ có một công thức có sẵn về cách tiến hành đấu tranh phùhợp với mọi hoàn cảnh, mọi thời gian Ở đây cần thấm thía lời chỉ giáo của V.I.Lênin:

"Chủ nghĩa Mác đòi hỏi nhất định phải có quan điểm lịch sử khi xét vấn đề hình thức đấu

tranh" "Không xem xét tỉ mỉ hoàn cảnh cụ thể của một phong trào nhất định, trong giaiđoạn phát triển nhất định của nó, mà cứ muốn thừa nhận hoặc phủ nhận một phương thứcđấu tranh nhất định, như vậy là hoàn toàn rời bỏ lập trường mác- xít" /2, tr.2/

Trải qua hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã tích luỹđược nhiều kinh nghiệm quý giá về sử dụng bạo lực cách mạng

Trong giai đoạn từ 1930-1945, nhiệm vụ của cách mạng là giành chính quyền Đặcđiểm cuộc đấu tranh giai đoạn này là đi từ nổi dậy của quần chúng, từ khởi nghĩa từngphần đến tổng khởi nghĩa Cuộc kháng chiến thần thánh lần thứ nhất (1946-1954) là tiếptục sự nghiệp của cách mạng tháng Tám, là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ

Tổ quốc, bảo vệ nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Hình thức bạo lực chủyếu là chiến tranh toàn dân, toàn diện lấy đấu tranh vũ trang là chính có kết hợp trongmột mức độ nhất định với đấu tranh chính trị

Rõ ràng, trong thời kỳ thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, khởi nghĩa và

chiến tranh cách mạng, chiến tranh yêu nước đã nổi lên như các hình thức bạo lực chủ yếu.

Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ năm 1954 trở về sau có hai nhiệm vụchiến lược chủ yếu là tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong

cả nước và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Nhiệm

vụ chiến lược đó quy định hình thức đấu tranh ở hai miền có khách nhau nhưng đều cómối quan hệ hữu cơ và cùng mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủnhân dân trên cả nước, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xãhội

Nhân dân miền Nam trực tiếp đấu tranh chống Mỹ và tay sai Đó là một cuộc chiếntranh cách mạng, chiến tranh giải phóng chống lại cuộc chiến tranh đặc biệt có tính chấtđiển hình và chống lại cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, tàn bạo nhất của đế quốc Mỹ

Trang 40

Hình thức bạo lực cách mạng phổ biến và nổi bật nhất trong cuộc chiến tranh này là khởi

nghĩa từng phần, đấu tranh quân sự và chính trị song song, kết hợp khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng Đây không phải là công thức cứng nhắc, tách rời nhau mà là

những hình thức biện pháp đấu tranh rất linh hoạt, sinh động, có mối quan hệ hữu cơ vớinhau Tiếp theo cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc chống Mỹ cứu nước là một cuộcchiến tranh nhân dân phát triển tới đỉnh cao

Tiếp theo cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc chống Mỹ cứu nước là một cuộc chiếntranh nhân dân phát triển tới đỉnh cao

Từ năm 1964, trên miền Bắc vừa tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủnghĩa xã hội, lại phải tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằngkhông quân và hải quân của đế quốc Mỹ với quy mô chưa từng thấy Một lần nữa nhândân miền Bắc đã sáng tạo nhiều hình thức và biện pháp đấu tranh mới hết sức phong phú

và kỳ lạ làm thất bại đau đớn cuộc chiến tranh phá hoại của chúng

Như vậy sự phát triển các hình thức và thủ đoạn bạo lực cách mạng từ thấp lên cao, từ

ít quyết liệt đến quyết liệt nhất phụ thuộc vào nhiệm vụ mà cách mạng phải giải quyết,vào so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng và tính chất triệt để của cuộcđấu tranh đó Biết vận dụng đúng hình thức bạo lực phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thểtừng giai đoạn, từng thời kỷ của cuộc đấu tranh cách mạng thể hiện sự thống nhất giữatính kiên định với mục tiêu cụ thể, là nghệ thuật kết hợp một cách biện chứng tínhnguyên tắc với tính linh hoạt trong biện pháp, trong sử dụng phương tiện để đạt đượcmục tiêu Đó chính là quan điểm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Hồ Chí Minh

Ở đây mục đích nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh quy định phương tiện bạo lựccách mạng của Người Sự quy định đó không phải thụ động một chiều mà là quá trình tácđộng biện chứng

Tư tưởng bạo lực trong tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có vaitrò tích cực, tác động trở lại làm cho tư tưởng nhân văn của Người càng sâu sắc hơn,mang ý nghĩa to lớn hơn Bởi vì tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh, của Đảng

ta có tính nhân dân, tính quần chúng sâu rộng Điều đó có nghĩa là tư tưởng bạo lực cáchmạng của Người chứa đựng những yếu tố dân chủ cả trong quan điểm, nội dung và hìnhthức sử dụng Đây là điểm khác hẳn về chất so với tư tưởng bạo lực phản cách mạng mà

Ngày đăng: 24/08/2016, 10:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 3, Nxb Sự thật, H. 1983 Khác
11. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 4, Nxb Sự thật, H. 1984 Khác
12. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 5, Nxb Sự thật, H. 1985 Khác
13. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 6, Nxb Sự thật, H. 1986 Khác
14. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 7, Nxb Sự thật, H. 1987 Khác
15. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 8, Nxb Sự thật, H. 1988 16. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập 9, Nxb Sự thật, H. 1989 Khác
17. HỒ CHÍ MINH . Toàn tập , tập I, Nxb Sự thật, H. 1989 Khác
18. Hồ Chủ tịch nói về dân chủ kỷ luật và đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật, H. 1969 Khác
19. HỒ CHÍ MINH . Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, H. 1975 Khác
20. HỒ CHÍ MINH . Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, Nxb QĐND, H.1975 Khác
21. HỒ CHÍ MINH . Những bài viết và nói về quân sự, tập 2, Nxb QĐND, H.1975 Khác
22. HỒ CHÍ MINH . Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb QĐNN, H.1990 Khác
23. Bác Hồ với quê hương Nghệ tĩnh, Nxb NghệTĩnh, 1990 Khác
24. BAN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG TỈNH UỶ NGHỆ TĨNH . Bác Hồ thời niên thiếu, Nxb Sự thật, H. 1989 Khác
25. LÊ BẰNG . Chủ nghĩa nhân đạo trong di sản quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 9-1990 Khác
26. LÊ BẰNG . Hồ Chí Minh từ tư tưởng cách mạng đến tư tưởng quân sự, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3-1992 Khác
27. PHAN VĂN CÁC . Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, Báo Nhân đân chủ nhật, số 21, ngày 22-5-1994 Khác
28. CAY XỎN PHÔM-VI-HẢN . Xây dựng một nước Lào hoà bình độc lập và chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H. 1978 Khác
29. TRƯỜNG CHINH . Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND, H.1983 Khác
30. Chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về chiến tranh và quân đội, Nxb QĐND, H. 1976 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w