1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh đồng nai

128 576 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 675,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôn giáo là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh liên quan đến một bộ phận không nhỏ dân cư trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các thế lực thù địch coi đây là một trong những mũi nhọn xung kích trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chế độ XHCN ở nước ta. Cho nên, tôn giáo là một trong những vấn đề khá nhạy cảm và phức tạp, đang có ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của một bộ phận nhân dân và xã hội.Đồng Nai là một tỉnh có nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, đạo Hồi, đạo Hòa Hảo. Tín đồ các tôn giáo chiếm tới 63,34% dân số toàn tỉnh, cá biệt có một số xã, phường, thị trấn tôn giáo toàn tòng

Trang 2

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh liên quan đến một bộ phận không nhỏdân cư trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các thế lực thù địch coi đây là một trongnhững mũi nhọn xung kích trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chế độXHCN ở nước ta Cho nên, tôn giáo là một trong những vấn đề khá nhạy cảm và phứctạp, đang có ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của một bộ phận nhân dân và xã hội.Đồng Nai là một tỉnh có nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, đạo Tin Lành, đạoCao Đài, đạo Hồi, đạo Hòa Hảo Tín đồ các tôn giáo chiếm tới 63,34% dân số toàn tỉnh,

cá biệt có một số xã, phường, thị trấn tôn giáo toàn tòng Mấy năm gần đây, các tôn giáo

ở địa bàn tỉnh hoạt động có phần sôi nổi hơn, tình trạng phát triển tín đồ không bìnhthường ở Công giáo, Tin Lành; hiện tượng đòi lại đất đai cùng những cơ sở vật chất nơithờ tự, cùng với các hoạt động lễ hội, từ thiện xã hội đang gia tăng… ảnh hưởng nhấtđịnh đến mọi mặt của đời sống xã hội; các thế lực thù địch luôn lợi dụng tôn giáo chốngphá cách mạng đã làm cho vấn đề tôn giáo càng thêm phức tạp

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm,chính sách giải quyết vấn đề tôn giáo đúng đắn: thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôngiáo của nhân dân, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào tín đồcác tôn giáo, thực hiện đoàn kết lương - giáo, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kếttoàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Trong công cuộc đổi mới đất nước, trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới của sựnghiệp cách mạng, đòi hỏi phát huy hơn nữa sức mạnh của cả cộng đồng quốc gia dântộc, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong đó có đoàn kết lương - giáo và đoànkết giữa các tôn giáo

Trang 3

Đảng ta xác định cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; làm tốtcông tác tôn giáo là trách nhiệm của cả HTCT dưới sự lãnh đạo của Đảng HTCTCS làcấp thấp nhất, cấp gần dân nhất trong HTCT nước ta, có một vị trí vai trò quan trọngtrong tổ chức thực thi quan điểm, chính sách chung, trong đó có CSTG

Nhận rõ vai trò và tầm quan trọng đó, thời gian qua HTCTCS tỉnh Đồng Nai đã triểnkhai và thực hiện khá tốt CSTG của Đảng và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định tìnhhình chính trị - xã hội trên địa bàn, tạo bước phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần của nhân dân cũng như đồng bào tín đồ các tôn giáo

Tuy nhiên, ở một số nơi trên địa bàn, HTCTCS chưa phát huy tốt vai trò của mìnhtrong thực hiện CSTG Công tác tôn giáo còn bộc lộ những yếu kém nhất định, nhữngmâu thuẫn, những bất đồng trong nhân dân, trong đồng bào tín đồ các tôn giáo vẫn có lúcbộc lộ rõ Thậm chí có những địa phương còn để sảy ra những điểm nóng vì lý do tôngiáo, gây ra những hậu quả xấu, tạo ra những kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng kíchđộng, vu khống

Vì vậy, nghiên cứu việc “phát huy vai trò HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong thực hiệnCSTG của Đảng và Nhà nước ta hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vừa cấp bách,vừa lâu dài Đó là lý do tác giả chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

HTCT nói chung, HTCTCS nói riêng và vai trò của nó là vấn đề đã được Đảng, Nhànước và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đảng ta đã đề cập vấn đề này trong cácvăn kiện Đại hội Đảng Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa

IX, (2002), lần đầu tiên Đảng ta đã ra một nghị quyết chuyên đề về HTCTCS Các nhàkhoa học đã đề cập tới những vấn đề này ở các góc độ khác nhau như: Bộ Nội vụ, Viện

Trang 4

Nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước, Hệ thống chính trị cơ sở thực trạng và một số

giải pháp đổi mới, do tiến sỹ Chu Văn Thành (chủ biên), Nxb CTQG, Hà Nội 2004; Vũ

Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb CTQG, Hà Nội; Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ

hóa đời sống xã hội nông dân miền núi vùng dân tộc thiểu số, của Nxb CTQG, Hà Nội.

2002

Chính sách tôn giáo cũng luôn được Đảng, Nhà nước ta xác định rõ và ngày càng hoàn

thiện, thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đảng Trong thời kỳ đổi mới, Bộ Chính

trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (1990) đã ra nghị quyết chuyên đề: Nghị

quyết về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Số 24 - NQ/TW, ngày

16/10/1990 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI (1990), đã cụ thể hoá bằng Chỉ thị về

tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Số 66 CT/TW ngày 26/10/1990 Bộ

Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình

mới, Số 37 - CTTW, Hà Nội 1998; Các quan điểm cơ bản đó được pháp luật hóa trong

“Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo”, năm 2004

Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý xã hội cũng đã quan tâm đến lĩnh vực này: “Thựchiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng nhằm củng cố tăng cường khối đại đoàn kết toàndân” của Nguyễn Văn Ngọc, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 9 năm 2001; “Nghiên cứutôn giáo trong bối cảnh thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân và công tác tôn giáo ởthời kỳ mới” của Trịnh Xuân Giới, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 năm 2004;

“Những âm mưu lợi dụng tôn giáo và vấn đề dân tộc chống lại sự nghiệp cách mạng nước

ta hiện nay” của Lê Bỉnh, Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng 5 năm 2004

Trang 5

Những công trình khoa học trên đã phân tích khá sâu sắc về đặc điểm, cấu trúc, vai tròcủa từng thành tố trong HTCTCS; xu hướng vận động, giải pháp xây dựng HTCTCS; đềcập dưới nhiều góc độ khác nhau tới việc thực hiện CSTG của Đảng và Nhà nước ta, xâydựng khối đoàn kết lương - giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân, khơi dậy và phát huyvai trò của đồng bào tín đồ các tôn giáo, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐHđất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Nhưng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệthống về phát huy vai trò của HTCTCS trong việc thực hiện CSTG của Đảng và Nhànước ở tỉnh Đồng Nai hiện nay Vì vậy, đề tài luận văn không trùng lặp với các côngtrình khoa học đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của HTCTCS trong thựchiện CSTG của Đảng và Nhà nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm pháthuy vai trò đó trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay

Trang 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Vai trò và phát huy vai trò HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện CSTG củaĐảng, Nhà nước hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu khảo sát thực trạng vai trò HTCTCS trong thực hiện CSTG của Đảng vàNhà nước ở một số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ khi bắt đầu sựnghiệp đổi mới đất nước của Đảng ta (năm 1986) đến nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về HTCT; vai trò của HTCTCS; về tôn giáo;vai trò của HTCTCS đối với việc thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước

* Cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn thực hiện CSTG của HTCTCS tỉnh Đồng Nai từ 1986 đến nay qua nghiêncứu, điều tra của tác giả và qua kế thừa các tư liệu, kết quả khảo sát, điều tra của các tácgiả khác liên quan đến vấn đề này

* Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp hệ thống,phân tích, tổng hợp, lôgíc kết hợp với lịch sử, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn, vàphương pháp chuyên gia

Trang 7

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về vai trò của HTCTCS tỉnhĐồng Nai trong thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước nhằm phát huy vai trò đó trong giaiđoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,giảng dạy ở các trường trong và ngoài quân đội; làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán

bộ cơ sở hiện nay

7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm: phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục

Chương 1 CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ

SỞ TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA

ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1 Chính sách tôn giáo và thực chất thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

1.1.1 Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

CSTG của Đảng, Nhà nước ta là một hệ thống các chủ trương, sách lược, kế hoạch vàbiện pháp cụ thể của Đảng và Nhà nước nhằm chỉ đạo toàn bộ HTCT, cũng như mỗi côngdân trong giải quyết, xử lý vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ cho sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN một cách khoa học, đạt hiệu quả cao

Trang 8

CSTG của Đảng, Nhà nước ta là kết quả của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo, phùhợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta.

Nội dung cơ bản của CSTG được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, được Nhà

nước thể chế hóa trong Hiến pháp, pháp luật, mà gần đây nhất là trong Pháp lệnh tín

ngưỡng, tôn giáo, ban hành năm 2004, với các nội dung cơ bản sau:

Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín

ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng như giữa những người theo các tôn giáo khác nhau.

Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, chi phối các chủ trương, chính sách cụ thểcủa Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộnghòa năm 1946, Điều 10 năm 1959 và Điều 68 năm 1980 quy định: “Công dân có quyền tự

do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, không ai được lợi dụng tôn giáo

để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước [17, tr.10, 39]

Điều 1 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ hơn: “Công dân có quyền tự do tínngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước bảo đảm quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Các tôngiáo đều bình đẳng trước pháp luật, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôntrọng lẫn nhau” [26, tr 59]

Nội dung cơ bản của tự do tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện trên những vấn đề chủ yếu đólà:

Trang 9

- công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào

Đây là nội dung cơ bản nhất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo đó mọi ngườiđều có quyền lựa chọn theo một tôn giáo cụ thể nào đó, quyền thay đổi tôn giáo và quyềnkhông theo hoặc từ bỏ tôn giáo mà mình theo Công dân có quyền tự do hoạt động tínngưỡng, tôn giáo như thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công vớiđất nước với dân tộc, với cộng đồng, thờ cúng thần thánh, những biểu tượng có tínhtruyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác

Mọi công dân theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước phápluật, được hưởng đầy đủ các quyền công dân và phải làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc.Các tổ chức, các cơ sở tôn giáo, các tín đồ, chức sắc các tôn giáo có quyền sinh hoạt tôngiáo theo giáo lý, giáo luật và lễ nghi tôn giáo mà mình theo Công dân thực hiện quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân đối với

Tổ quốc; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải theo đúng quy định của pháp luật Khôngđược lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theođạo,

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổpháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; cũng không có nghĩa là lợidụng tôn giáo phá hoại cách mạng Đây là một quyền cơ bản của con người, cần phảiđược tôn trọng và bảo vệ không chỉ trong Hiến pháp, mà cả trong thực tiễn cuộc sống Vìvậy, trong khi thực hiện nhất quán chính sách “tự do tín ngưỡng và tự do không tínngưỡng” phải kiên quyết đấu tranh chống mọi sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo phá hoạicách mạng Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phảitôn trọng lẫn nhau, không ai được quyền xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 10

Tín đồ và các chức sắc tôn giáo không tuyên truyền lôi kéo, công kích chống đối lẫnnhau Mọi người đều phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; nghiêmcấm mọi biểu hiện lôi kéo, áp đặt, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhândân “Trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, người có tín ngưỡng, tín đồ có trách nhiệmtôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo củangười khác” [17, tr 15 - 16].

- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo Pháp luật

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân phải được Nhà nước bảo đảm bằngpháp luật Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo để gây rối làm mất ổn định xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc,chống phá cách mạng, chống đối chế độ là vi phạm pháp luật phải bị pháp luật xử lý.Điều 70 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quy định:

“Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tôn giáo đượcpháp luật bảo hộ Không ai xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật vàchính sách của Nhà nước” [17, tr 159]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nêu rõ:

“Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật nghiêmcấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tôn giáo” [14, tr 48]

Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật là một chính sách cơ bản của Đảng, Nhànước ta về tôn giáo và đối với vấn đề về tôn giáo trong một đất nước đang trong quá trìnhxây dựng CNXH, có nhiều tôn giáo và nhiều người có tín ngưỡng, tôn giáo

Hai là, đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân.

Trang 11

Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quantâm, không ngừng vun đắp, củng cố, tăng cường sự đoàn kết giữa đồng bào theo các tôngiáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau Hộinghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương khóa IX Đảng ta chỉ ra: Đảng, Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết đồng bào theo tôngiáo và đồng bào không theo tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau.Trong giai đoạn hiện nay khối đại đoàn kết ấy là động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mớiđất nước, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đoàn kết phải trên cơ sở lợi ích quốc gia dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từngnêu rõ: “Trong khi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ tìm mọi cách chia rẽ lương giáo, hòngcướp nước ta, thì việc đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo để cứu nước, cứu dân là vôcùng cần thiết” [23, tr 559] Hiện nay trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, đoàn kết lương - giáo phải lấy mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” làm điểm tương đồng

Đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáođều phải tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích củadân tộc; xóa bỏ những mặc cảm, tự ti, định kiến hoặc phân biệt đối xử; xây dựng tinhthần cởi mở, tin tưởng lẫn nhau, có trách nhiệm chung sức, chung lòng đoàn kết gắn bóvới nhau, ra sức củng cố, xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân phải đi đôi với việc đấu tranh chống nhữnghành động chia rẽ, làm suy yếu khối đoàn kết dân tộc Đây là vấn đề có tính nguyên tắctrong quan điểm CSTG của Đảng và Nhà nước ta Cần phân biệt rõ hoạt động tín ngưỡng,tôn giáo lành mạnh của nhân dân với thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống

Trang 12

phá CNXH… Mọi biểu hiện nóng vội, chủ quan hoặc giản đơn trong giải quyết vấn đề tínngưỡng, tôn giáo đều có thể dẫn đến nguy cơ chia rẽ, làm rạn nứt khối đoàn kết thốngnhất dân tộc, suy yếu sức mạnh quốc gia.

Vì vậy, phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo hiểu

rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần nâng cao cảnh giác cách mạng, tạo ra khả năng miễn dịch cho đồng bào đồng thời tích cực đấu tranh làm thất bại âmmưu phá hoại của chúng

Ba là, mọi tín đồ được tự do tham gia các hình thức sinh hoạt theo lễ nghi tôn giáo

nhưng phải làm tròn nghĩa vụ công dân

Mọi tín đồ và chức sắc tôn giáo thực hiện tốt những yêu cầu về giáo lý, giáo luật, lễnghi và những quy định của các tổ chức tôn giáo mà mình theo đã được Nhà nước côngnhận và cho phép hoạt động Người tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tôntrọng những quy định của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, của lễ hội và hương ước, quy ướccủa cộng đồng Nhưng tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng không có nghĩa là hoạt động củatôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân;không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng “Đồng bào theo đạo và các vịchức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, (sống tốtđời, đẹp đạo)” [3, tr 12]

Với tư cách là một công dân, đồng bào tín đồ, chức sắc các tôn giáo phải thực hiện tốttrách nhiệm, nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước “Tốt đời đẹp đạo” phải làphương châm cơ bản, chi phối các hoạt động của tất cả tổ chức, chức sắc và tín đồ các tôngiáo Chừng nào tín đồ các tôn giáo còn đứng ngoài cuộc, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với đấtnước, còn coi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ riêng của chính quyền,

Trang 13

của những người không tín ngưỡng, tôn giáo, thì chừng đó người có tín ngưỡng, tôn giáocòn chưa làm tròn bổn phận của một công dân đối với đất nước

Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ nhiệm vụ củacông tác tôn giáo là phải: đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống

“tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành; động viên đồng bàothực hiện tốt yêu cầu của một tín đồ đối với tôn giáo và đồng thời phải làm tròn bổn phậncủa một công dân đối với đất nước; làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước

và CNXH hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bốn là, những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân phù hợp với nguyện vọng và lợi

ích chính đáng, hợp pháp của các tín đồ được bảo đảm; những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy.

Đó là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta Xét về mặt lịch sử, các đức tin tôngiáo xuất hiện đều có mục tiêu hướng tới những mong muốn tốt đẹp về con người có thểsống hòa đồng với nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc Trong giáo lý, giáoluật của các tôn giáo đều có những nội dung giới răn hướng thiện, trị ác có những giá trịnhân văn vì cuộc sống của cá nhân, của cộng đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét:Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo của chúaGiêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biệnchứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiệnnước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những ưu điểm chung đósao Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội, nếu hômnay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin chắc rằng nhất định họ sẽchung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết

Trang 14

Thực tế trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấyđồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Nhìn chung, các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hoạt động theopháp luật, xây dựng được đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, “sống phúc âm giữalòng dân tộc”; “đạo pháp, dân tộc và CNXH”, tập hợp được đông đảo tín đồ, chức sắc cáctôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân

Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách giữ gìn và phát huy những giá trịtích cực về đạo đức, văn hóa của tôn giáo; khuyến khích những hoạt động xã hội - từthiện của tín đồ, chức sắc và các tổ chức tôn giáo như các hoạt động: xóa đói, giảmnghèo, đền ơn đáp nghĩa, cứu trợ cứu hộ thiên tai, khám, chữa bệnh miễn phí, mở các lớphọc tình thương là đúng đắn, hợp lòng dân, đem lại sự đồng thuận trong xã hội

Năm là, chống mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại chính sách đại đoàn kết dân

tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân

Đi đôi với tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng và Nhà nước takhẳng định: Nghiêm cấm những hoạt động “lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đểphá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực, hoặc tuyên truyền tráivới pháp luật, chủ trương chính sách của Nhà nước, chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gâyrối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe nhân dân, danh dự, tài sản củangười khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, hoạt động mê tín dịđoan” [26, tr 9,10]

Thực tế vẫn còn một số tín đồ, chức sắc các tôn giáo, do nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giácnên bị các thế lực thù địch lợi dụng hòng gây chia rẽ, làm mất đoàn kết; ở một số nơi,nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để

Trang 15

tiến hành những hoạt động chống đối, kích động tín đồ, chức sắc nhằm phá hoại khối đạiđoàn kết toàn dân, gây mất ổn định chính trị Tình hình đó không những ảnh hưởng tiêucực đến sự nghiệp cách mạng, đến sinh hoạt tôn giáo lành mạnh của nhân dân.

Vì vậy, đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, chống phácách mạng là một nhiệm vụ thường xuyên không thể coi thường của cả HTCT và củađồng bào tín đồ các tôn giáo

1.1.2 Thực chất thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

Thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước là quá trình hiện thực hoá chính sách đó vàotrong mọi lĩnh vực đời sống xã hội; trong đó HTCT có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chứcnhân dân thực hiện Như vậy, thực hiện CSTG của Đảng và Nhà nước là toàn bộ hoạtđộng của HTCT lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân quán triệt và thực thi quan điểm,chính sách tôn giáo nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo góp phần tăngcường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiệnthắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ nhất, thực chất thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước ta được thể hiện thông qua

vai trò chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhân dân thực hiện CSTG đó là toàn bộ HTCT.

“Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả HTCT do Đảng lãnh đạo” [3, tr 123]

Tổ chức Đảng các cấp: thường xuyên có những chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn

giáo và công tác tôn giáo, đồng thời phải xác định rõ những giải pháp khả thi để giảiquyết phù hợp những nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận quần chúngnhân dân, lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách đó đạthiệu quả

Trang 16

Có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra các quan điểm, chủ trương, biện pháp cụ thể, thíchhợp và đồng thời tổ chức tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, liên tục trong toàn Đảng, toàndân và toàn quân, nhất là những cơ quan, những cán bộ chuyên trách làm công tác tôngiáo và đồng bào tín đồ, chức sắc các tôn giáo về những chủ trương chính sách của Đảng,Nhà nước ta Làm cho mọi người có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về CSTG của Đảng,Nhà nước.

Chính quyền các cấp: cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng

thành hệ thống pháp luật nhằm tổ chức thực hiện đạt hiệu quả những quan điểm, chủtrương, chính sách đó, và đồng thời quản lý tốt mọi hoạt động của tôn giáo trên địa bàntheo pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho tín đồ, chức sắc các tôn giáo hoạt động; kiênquyết xử lý mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội,làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống lạiNhà nước, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa của dân tộc, ngăn cảntín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trực tiếp tuyên truyền vận động quần

chúng nhân dân, cũng như đồng bào tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện đúng đườnglối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàndân, trong đó có đoàn kết lương - giáo, và đoàn kết giữa các tôn giáo Động viên tinh thầnyêu nước, lòng tự hào dân tộc, phát huy những mặt tương đồng, những truyền thống tốtđẹp của các tôn giáo, cùng toàn dân phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh

Thứ hai, thực chất thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là nhằm đạt tới

mục tiêu: tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân

Trang 17

tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

Đoàn kết là truyền thống quý báu, là động lực chủ yếu sự phát triển của dân tộc ta.Đồng bào có tôn giáo trước hết là người Việt Nam, ở họ có tình yêu quê hương, yêu đấtnước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc Đó là nền tảng để tập hợp lực lượng, xâydựng khối đại đoàn kết toàn dân Vì thế, tăng cường đoàn kết và phát huy vai trò củađồng bào các tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mục tiêu xuyên suốt của việcthực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta hện nay

Thứ ba, Thực chất thiện hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta tuân thủ

những quan điểm cơ bản là: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và

quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầutín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, kịp thời đấu tranh chống lại sự lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tạilâu dài trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta Nhu cầu đó phải được bảo đảm.Nhưng các thế lực thù địch lại luôn tìm cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phácách mạng, vì vậy đi đôi với việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải thườngxuyên nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụngtôn giáo của các thế lực thù địch

Thứ tư, thực chất thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là phải thực hiện

tốt nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo.

Trang 18

Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, công tác đối với con người, thựcchất đây là công tác vận động quần chúng cách mạng của Đảng, công tác đối với đồngbào có tín ngưỡng, tôn giáo, là sự thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với một bộ phận quầnchúng trong tiến trình cách mạng XHCN Mọi hoạt động quản lý nhà nước đối với tôngiáo và công tác đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo chỉ thành công nếu thực hiện tốt côngtác vận động quần chúng

Công tác tôn giáo nhằm bảo đảm vận động đồng bào theo đạo thực hiện tốt nghĩa vụ vàquyền lợi công dân, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần tăng cường và phát huy sức mạnhđại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng Chỉ

có làm tốt công tác vận động quần chúng mới tập hợp và khai thác được tiềm năng, thếmạnh trong đồng bào các tôn giáo để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm thất bại mọi âmmưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch

Thứ năm, thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là thực hiện tốt 6 nhiệm vụ

cơ bản mà Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã đề ra:

Một, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách, và các chương trình phát triển kinh

tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào tín

đồ các tôn giáo.

Đây là nhiệm vụ cơ bản nhất, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nhândân, trong đó có đồng bào theo tôn giáo Lợi ích chính đáng của đồng bào các tôn giáođược bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được cải thiện và nâng cao làđiều kiện căn bản để thực hiện tốt tôn giáo và đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo.Thực tế sau gần 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu quantrọng, tạo cơ sở để cải thiện và nâng cao một bước đời sống vật chất và tinh thần của các

Trang 19

tầng lớp nhân dân Tuy nhiên, ở nhiều địa phương nhất là ở những vùng sâu, vùng xa đời sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có đồng bào làtín đồ các tôn giáo Vì vậy, cần phải tạo ra những điều kiện thuận lợi để giúp cho đồngbào nâng cao đời sống vừa làm tốt việc đời, vừa chăm lo việc đạo là nội dung quan trọngcủa công tác tôn giáo hiện nay.

Hai, tạo điều kiện cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo được hoạt động bình thường

theo đúng chính sách và luật pháp của Nhà nước.

Nhiệm vụ này thể hiện chính sách tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo.Trên cơ sở coi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhândân, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tạo điềukiện cho các tôn giáo hoạt động trên cơ sở các quy định của pháp luật, để đồng bào vừa

tự do chăm lo phần hồn theo lễ nghi tôn giáo, vừa làm tròn nghĩa vụ của công dân Đây làtrách nhiệm của chính quyền các địa phương nơi có đồng bào tín ngưỡng, tôn giáo sinhsống

Tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo, đảm bảo cho tôn giáo được hoạt bìnhthường theo đúng pháp luật, chính là Nhà nước bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,đồng thời thực hiện tốt sự bảo trợ của mình đối với các hoạt động tôn giáo đúng phápluật, ngăn chặn các hành động lợi dụng tôn giáo, vi phạm pháp luật chống phá cách mạngcủa các thế lực thù địch

Ba, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trang 20

Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hầu hết lànhững người lao động, cần cù, chất phác có lòng yêu nước và ý thức tự hào, tự tôn dântộc Phát huy tinh thần yêu nước của họ, động viên họ sống “tốt đời, đẹp đạo”, gắn bó vớidân tộc là một nhiệm vụ cơ bản trong thực hiện CSTG Nhiệm vụ này đòi hỏi quá trìnhthực hiện CSTG phải có chủ trương, giải pháp để tập hợp, khai thác tiềm năng sáng tạocủa đồng bào tôn giáo thực hiện thắng lợi các phong trào hành động cách mạng ở địaphương, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctheo định hướng XHCN

Bốn, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo là một hoạt động đặc biệt, chỉ thắng lợi khi quầnchúng nhận thức rõ được bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch, tự giác ủng hộ và cùngtham gia với các cơ quan Nhà nước để đấu tranh Bởi vậy, cần phải phát huy tinh thầnyêu nước của đồng bào, làm cho đồng bào nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụngtôn giáo của các thế lực thù địch để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ

Năm, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về CSTG, đấu tranh làm thất bại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch đối với CSTG ở nước ta.

Các tôn giáo ngoại nhập như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo có quan hệ kháchặt chẽ với các tổ chức cùng tôn giáo ở bên ngoài Bởi vậy, công tác tôn giáo có nhiệm

vụ hướng dẫn hoạt động đối ngoại của các tôn giáo phù hợp với chủ trương, CSTG không

Trang 21

làm ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, không làmtổn hại đến quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với việc bảo đảm cho quan hệ đối ngoại tôn giáo thực hiện đúng pháp luật, tônchỉ, đường hướng của các tôn giáo, cần đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, đấu tranh làmthất bại các luận điệu xuyên tạc, vu khống của kẻ địch về vấn đề tôn giáo và CSTG ởnước ta

Sáu, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo Tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, CSTG trước mắt và lâu dài.

Thực tiễn luôn biến đổi, việc quán triệt và thực hiện quan điểm, chính sách về tínngưỡng, tôn giáo đạt hiệu quả ngày càng cao, nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót,khuyết điểm Do vậy, kịp thời sơ, tổng kết rút kinh nghiệm để phát huy ưu điểm, khắcphục hạn chế, điều chỉnh, bổ sung các chủ trương, giải pháp là một yêu cầu khách quantrong thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước

Sáu nhiệm vụ đó quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện tốt sáu nhiệm vụ là trách nhiệmcủa cả HTCT, của mọi cấp, mọi ngành, trong mọi lĩnh vực, của mọi cán bộ, đảng viên vàcủa toàn dân Trong đó, tổ chức và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo cóvai trò trực tiếp đề xuất, tham mưu để toàn bộ HTCT tổ chức nhân dân thực hiện

1.2 Vai trò hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

1.2.1 Khái niệm, chức năng của hệ thống chính tri cơ sở

Thứ nhất, Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở

Trang 22

Để có khái niệm HTCTCS một cách hoàn chỉnh cần nghiên cứu khái niệm HTCT:

HTCT là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị

HTCT là tổ chức và thiết chế tồn tại dưới hình thức vật chất, có bộ máy, có tính hợppháp Tuy nhiên có những tổ chức không được hiến định, pháp định nhưng được xã hộithừa nhận, và không đối lập với chế độ Nhà nước - pháp luật hiện hành vẫn được coi làthành tố của HTCT HTCT có mục đích, chức năng thực hiện hoặc trực tiếp tham giathực hiện quyền lực chính trị, nghĩa là thường xuyên hoặc tham gia lãnh đạo, điều hànhđất nước

Với cách hiểu đó, có thể thấy thành phần của HTCT không chỉ bao gồm các bộ phận cơbản là nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, mà có cả các tổchức khác tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia [12, tr 9-10]

Từ quan niệm HTCT chung, với phương pháp hạn định khái niệm có thể quan niệm:

HTCTCS là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội ở cơ sở, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị ở cơ sở

Hiện nay bộ máy hành chính nước ta có 4 cấp Trong đó, cấp xã (phường, thị trấn) làcấp cơ sở, gồm các tổ chức thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắcnhất định và gắn bó hữu cơ với nhau Mỗi bộ phận hợp thành trong HTCTCS có vị trí,vai trò, chức năng khác nhau, song đều vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, nhân dân lao động làm chủ

Trang 23

Thứ hai, Chức năng của hệ thống chính trị cơ sở

Chức năng của HTCTCS được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ của các thành tố cấuthành HTCTCS đó là:

* Tổ chức cơ sở đảng

Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhânchính trị ở cơ sở Đảng bộ xã bao gồm nhiều chi bộ; thông thường mỗi thôn, xóm, ấp cómột chi bộ Tổ chức cơ sở Đảng có các chức năng chủ yếu sau:

- Chức năng lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước ở cơ sở, trong đó có CSTG

- Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, và tổ chức;thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thựchiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trongĐảng, thường xuyên giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên không ngừng nângcao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác,làm công tác phát triển đảng viên

- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốcphòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hànhnghiêm pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng, thực hiện đườnglối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Trang 24

- Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng

* Chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn)

Chính quyền cơ sở bao gồm Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân xã, phường, thịtrấn

Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu tráchnhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân thựchiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sựlãnh đạo thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của địaphương

Hội đồng nhân dân xã có hai chức năng cơ bản là quyết định và giám sát trên mọi lĩnh

vực của đời sống xã hội ở cơ sở Trong thực hiện CSTG, hội đồng nhân dân quyết địnhcác chủ trương, biện pháp chủ yếu thực hiện CSTG theo quy định của pháp luật

Uỷ ban nhân dân xã là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chínhnhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bảncủa cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp ủy ban nhândân có chức năng nhiệm vụ là thực hiện quản lý Nhà nước toàn diện trên địa bàn xã, tổchức thực hiện những nghị quyết và quyết định của hội đồng nhân dân cùng cấp

Trong thực hiện CSTG, Uỷ ban nhân dân dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng cónhiệm vụ tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp chủ yếu do hội đồng nhân dân đề

Trang 25

ra nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của phápluật; quản lý mọi hoạt động của tôn giáo theo pháp luật

Về cơ bản tổ chức hoạt động, chức năng, nhiệm vụ chính quyền phường, thị trấn cơ bảnnhư chính quyền cấp xã, chỉ khác một số nhiệm vụ cụ thể như Nghị quyết Trung ương 5khóa IX quy định

* Các tổ chức chính trị - xã hội:

Các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCTCS bao gồm: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc,Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh ở cơ sở, có chứcnăng chủ yếu là:

Tập hợp, củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự nhất trí về chính trị, tinhthần của nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên địabàn; giám sát mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước ở cơ sở, các đại biểu dân cử, và cán

bộ công chức; tập hợp những ý kiến và kiến nghị của nhân dân để phản ánh với Đảng vàNhà nước cấp trên; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở địa phương;chăm lo bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng của nhân dân

Trong thực hiện CSTG, chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể nhân dân là: tập hợp đồng bào các tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng,tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phản ánhkịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề liện quan đến tínngưỡng, tôn giáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; tham gia tuyên truyền vận độngchức sắc, nhà tu hành, tín đồ, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện CSTG, tham giaxây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo [26]

Trang 26

1.2.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở ở Đồng Nai

Thứ nhất, vài nét về điều kiện tự nhiên của tỉnh Đồng Nai

Tỉnh Đồng Nai thuộc địa bàn miền Đông Nam bộ có diện tích là 5.864,77 km2, chiếm1,76% tổng diện tích cả nước và 26% diện tích tự nhiên của miền Đông Nam bộ Dân sốtoàn Tỉnh hơn 2,3 triệu người, mật độ trung bình là 353 người / km2 Địa bàn tỉnh có 38dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh chiếm 94% Đây là vùng đất chuyển tiếpgiữa cực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và vùng đồng bằng Nam bộ, phía đông tiếp giápvới Tỉnh Bình Thuận; Đông Nam tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh; Đông Bắc giápTỉnh Lâm Đồng; Tây Bắc giáp Tỉnh Bình Dương, Bình Phước; phía Nam giáp Tỉnh BàRịa - Vũng Tàu

Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai hợpthành một tứ giác kinh tế trọng điểm ở phía nam của đất nước, hàng năm thu hút mộtnguồn ngoại tệ khá lớn từ bên ngoài đầu tư vào, và cùng với nó là một lực lượng lao độngdồi dào từ khắp mọi miền đất nước tập trung về làm ăn sinh sống

Đồng Nai là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông quan trọng, có cả đường không,đường thủy, đường biển, đường bộ, đường sắt giao lưu thuận lợi với tất cả các khu vựctrong nước và quốc tế

Biên Hòa - Đồng Nai là vùng đất có bề dầy truyền thống lịch sử, văn hóa và truyềnthống cách mạng Nhân dân các dân tộc, các tôn giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai luôn pháthuy tinh thần đấu tranh kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tự lực, tự cường, lập nên nhữngchiến công vang dội Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với chiến thắng sânbay Biên Hòa, Bình Giã, tổng kho Long Bình, Rừng Sác… Đặc biệt trong giải phóngXuân Lộc, thị xã Long Khánh, nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai đã góp phần quan trọng

Trang 27

cùng bộ đội chủ lực đập tan tuyến phòng thủ của Mỹ, Ngụy ở hướng Tây Bắc Sài Gòn,tạo điều kiện cho chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miềnNam, thống nhất Tổ quốc.

Hiện nay Đồng Nai có 1 thành phố, 1 thị xã, 9 huyện với 171 đơn vị hành chính cơ sởgồm: 29 phường, 6 thị trấn và 136 xã

Thứ hai, một số đặc diểm cơ bản về HTCTCS tỉnh Đồng Nai

Một, là cấp thấp nhất, bộ máy đơn giản nhất, chi phí của Nhà nước tính trên mỗi cán

bộ cũng thấp nhất trong HTCT ở nước ta hiện nay.

Xét theo khía cạnh thứ bậc có tính pháp lý, cấp xã, phường, thị trấn là cấp thấp nhấttrong HTCT ở nước ta hiện nay với cơ cấu tổ chức bao gồm:

Hội đồng nhân dân tối đa có 25 người, ủy ban nhân dân chỉ có 5 người (kể cả chủ tịch

và phó chủ tịch) Số người được hưởng sinh hoạt phí theo quy định kể cả tổ chức đảng,các đoàn thể không quá 25 người Do quan niệm công việc ở cấp cơ sở đơn giản, ít phứctạp, cán bộ không cần chuyên môn cao nên chi phí của Nhà nước cho bộ máy và hoạtđộng tính trên mỗi cán bộ ở mức thấp nhất HTCTCS tỉnh Đồng Nai cũng không nằmngoài đặc điểm chung đó

Hai, là cấp gần dân nhất, cán bộ chủ chốt phụ thuộc rất lớn vào sự tín nhiệm của nhân

dân trong các kỳ bầu cử, có nhiều cán bộ không chuyên nghiệp và ít được đào tạo, trình

độ văn hoá, lý luận và chuyên môn thấp

Cấp xã, phường, thị trấn là cấp gần dân nhất và thể hiện rõ nhất tính nhân dân do Nhànước cho phép nhân dân trong xã, phường, thị trấn tự lựa chọn những người xứng đáng

để lãnh đạo chính quyền thông qua bầu cử Nếu trúng cử thì trở thành cán bộ cơ sở,

Trang 28

không được tái cử, thì trở lại làm công dân bình thường Nhà nước không bảo đảm côngviệc cho người thất cử Vì vậy, cấp xã, phường, thị trấn là mắt khâu trung gian, là bướcchuyển tiếp giữa chế độ tự quản làng xã sang chế độ Nhà nước đầy đủ

Vì tính không chuyên nghiệp đó nên đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo Cho đến nayrất ít địa phương tổ chức được lớp đào tạo cơ bản cho đội ngũ cán bộ cơ sở, kể cả đội ngũcán bộ chuyên môn

Do không được coi là cán bộ chuyên nghiệp, tính bấp bênh cao nên không thu hút đượcnhững người có học vấn cao ở lại hoặc trở về làm cán bộ cấp xã Trong khi đó chínhquyền cấp trên rất khó bổ nhiệm, điều động cán bộ chủ chốt ở cơ sở được Thực tế, nhiềungười đã trở thành cán bộ xã vì trước đó đã ở lại quê hương với những lý do: gia cảnhkhó khăn; sức khỏe kém; thanh niên không thi đỗ đại học, cao đẳng; thương binh, bộ độixuất ngũ; cán bộ về hưu, về mất sức Trong đó đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là bộ độixuất ngũ, người về hưu Thực tế đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn vẫn còn có nhữngngười chưa biết chữ, trình độ văn hóa cấp I, cấp II chiếm tỷ lệ khá cao đặc biệt nhữngvùng sâu, vùng xa Theo phụ lục 2 cho thấy: Trình độ văn hoá, trình độ chuyên mônnghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở còn thấp, Bí thư đang uỷ, tiểu học0,62%, trung học cơ sở 19,75%, trung học phổ thông 79,63% Phó bí thư, thường trựcđảng uỷ, tiểu học 0,64%, trung học cơ sở 20,26%, trung học phô thông 79,74% Chủ tịchhội đồng nhân dân, tiểu học có 0,65%, trung học cơ sở có 20,26%, trung học phổ thông

có 79,08% Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, Bí thư đảng uỷ trung cấp có 16,05%, đạihọc có 7,41%, không có chuyên môn nghiệp vụ 76,54% Phó bí thư, thường trực đảng uỷ,

sơ cấp 1,31%, trung cấp 9,15%, đại học chỉ có 5,48%, không có chuyên môn nghiệp vụ84,97% Chủ tịch hội đồng nhân dân; sơ cấp 0,65%, trung cấp 17,65%, đại học có 5,23%,

Trang 29

không có chuyên môn nghiệp vụ 76,47% Như vậy, trình độ chung của đội ngũ cán bộ cơ

sở tỉnh Đồng Nai là thấp, xét về chất lượng, số lượng, cơ cấu tổ chức có nhiều mặt chưangang tầm với nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, chưa đáp ứngđược yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đội ngũ cán bộ cơ sở còn thiếu

ổn định, chưa được qui hoạch đào tạo bồi dưỡng để thực hiện được nhiệm vụ đề ra, Bêncạnh đó bộ phận cán bộ thoái hoá biến chất không giảm mà có chiều hướng ngày cànggia tăng Trong đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở Đồng Nai hiện nay có 7,41% Bí thư

và 8,5% Phó Bí thư Đảng ủy, 8,5% Chủ tịch và 28,1% Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân,7,95% Chủ tịch và 16,67% Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân chưa qua đào tạo các lớp lýluận chính trị; 44,44% Bí thư và 35,29% Phó bí thư, 41,83% Chủ tịch và 52,56% Phó chủtịch Hội đồng nhân dân, 23,18% Chủ tịch và 32,05% Phó chủ tịch ủy ban nhân dân chưaqua đào tạo về quản lý nhà nước

Ba, cũng như HTCTCS chung trong cả nước hiệu quả hoạt động của HTCTCS tỉnh

Đồng Nai phụ thuộc rất lớn vào cá nhân người lãnh đạo.

Đây là đặc điểm xét trên khía cạnh hiệu quả hoạt động của HTCTCS Khác với các cấptrên, ở cấp xã, mức độ phụ thuộc của HTCTCS vào cá nhân người lãnh đạo rất nhiều Bởi

lẽ quần chúng ở nông thôn, trong phạm vi làng xã trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế.Các đoàn viên, hội viên của các đoàn thể vì nhiều lý do, thường không chủ động đề xuất

ý kiến với tổ chức mà phải chờ đợi sự chỉ đạo, gợi mở, tác động của lãnh đạo Từ đó,người lãnh đạo trở thành linh hồn, đầu tầu, đầu nghĩ, miệng nói, tay làm, chân đi, tai lắngnghe Nếu người lãnh đạo nào làm được điều đó thì phong trào khá, ngược lại thì phongtrào trì trệ Không ở cấp nào khẳng định đúng hơn kết luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh:Cán bộ là gốc của công việc, còn gốc tốt hay xấu phụ thuộc vào cán bộ giỏi hay kém

Trang 30

Điều đó còn đúng với người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chung trong cả nước, trong đó cócán bộ cơ sở tỉnh Đồng Nai

Bốn, hiệu quả hoạt động của HTCTCS tỉnh Đồng Nai chịu ảnh hưởng và chi phối bởi

quan hệ dòng họ, lối ứng xử truyền thống.

Ở phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng thường có tình trạng “chi bộ họta”, thành viên cấp ủy được phân bổ theo dòng họ, theo cánh, theo làng Quan hệ anh em,

họ hàng, chú, bác trong đảng ủy, giữa các cán bộ xã không phải hiếm Điều đó ảnhhưởng đáng kể đến quan hệ trong nội bộ tổ chức Có khi vì quan hệ thân tộc mà nể nang,

né tránh đấu tranh hoặc ngược lại đấu tranh phe cánh kịch liệt, vượt qua mức cần thiếtdẫn đến làm tê liệt cả tổ chức đảng và chính quyền

Những đặc điểm trên quy định hiệu quả thực hiện vai trò của HTCTCS trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có việc thực hiện CSTG Vì thế, việc thực hiệnCSTG ở Đồng Nai, không thể không tính đến sự tác động, chi phối của những đặc điểmtrên

1.2.3 Vai trò hệ thống chính trị cơ sở của Tỉnh Đồng Nai trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

Thứ nhất, vài nét về tình hình và hoạt động của tôn giáo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

hiện nay.

Đây là nhân tố, đối tượng trực tiếp, chủ yếu cần tác động trong quá trình thực hiệnCSTG của HTCTCS tỉnh Đồng Nai hiện nay Cho nên, là nhân tố trực tiếp chi phối đếnviệc thực hiện vai trò của HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong thực hiện CSTG của Đảng, Nhànước ta hiện nay Đồng Nai là tỉnh có nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Tin

Trang 31

Lành, Hồi giáo, đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo Hiện nay toàn tỉnh có 1.286.232 tín đồ các

tôn giáo lớn, chiếm tỷ lệ 63,34% dân số của toàn Tỉnh, phần lớn số tín đồ theo Phật giáo,

Công giaó, Tin Lành (phụ lục 5) Đồng Nai có 38 dân tộc ít người, chiếm 8% dân số toànTỉnh, trong đó có 17 dân tộc có số người theo các đạo chiếm đến 23% dân số toàn Tỉnh.Nhìn chung, tổ chức, hoạt động của các tôn giáo khá chặt chẽ, có ảnh hưởng không nhỏđến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng và an ninh trên địabàn tỉnh

Phật giáo được truyền vào vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai từ thế kỷ thứ XVII, theo haihướng: thứ nhất (Phật giáo Bắc tông) theo các di dân từ Thuận Quảng vào, thứ 2 theođường biển từ Trung Quốc sang Ngay từ thời xa xưa, Phật giáo ở Đồng Nai đã giữ vị tríquan trọng trong đời sống tinh thần của những cư dân đến khai khẩn sinh sống

Tính đến tháng 10 năm 2003 ở Đồng Nai, số lượng tín đồ Phật giáo là 431.280 người,chiếm 19,05% dân số toàn tỉnh, có 128 chức sắc: trong đó có 31 Hòa thượng, Thượngtọa; 15 Ni sư, Ni trưởng; 72 Đại đức Ban Trị sự Phật giáo tỉnh có 25 thành viên; có: 25chùa, 7 thiền viện, 83 tu viện, tịnh xá, 55 tịnh thất, 33 Niệm phật đường Trong đó có 3chùa: Bửu long, Long thiền, Đại giác ở thành phố Biên hoà được Nhà nước xếp hạng ditích lịch sử Quốc gia Tín đồ Phập giáo tập trung chủ yếu ở các huyện Long thành, Longkhánh, Xuân lộc và thành phố Biên hoà

Hoạt động của Phật giáo trên địa bàn Tỉnh về cơ bản là đúng đường hướng “Đạo pháp Dân tộc - CNXH” Đại đa số tăng ni, phật tử có truyền thống yêu nước, có ý thức dân tộc,gắn bó với dân tộc, tích cực, tự giác thực hiện các hoạt động xã hội, từ thiện, tích cựctham gia đóng góp sức người sức của cho công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội

Trang 32

-Tuy nhiên, hoạt động của Phật giáo trên địa bàn Tỉnh hiện đang có những diễn biến kháphức tạp Đặc biệt là vấn đề “gia đình phật tử” Ngay sau khi Nhà nước có chủ trươngmới và Giáo hội Phật giáo Việt Nam có thông bạch về hoạt động của “gia đình phật tử”,

số đại diện “gia đình phật tử” ở Long Khánh, Long Thành, Vĩnh Cửu đòi khôi phục lại

“gia đình phật tử” (cũ), thách thức Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở về vấn đề này.Hiện nay, hoạt động “gia đình Phật tử” khá phức tạp: (Long Khánh có 17 gia đình, VĩnhCửu có 6 gia đình); mỗi gia đình có từ 50 đến 60 tín đồ, duy trì sinh hoạt vào ngày chủnhật hàng tuần Đáng chú ý nhất là việc lợi dụng “gia đình Phật tử” để tập hợp lực lượng,chủ yếu là thanh niên, thiếu niên, hoạt động theo đường hướng của Giáo hội Phật giáoViệt Nam thống nhất (cũ), gây mâu thuẫn trong nội bộ giáo dân, chia rẽ giáo hội Hoạtđộng của nhóm Thích Huyền Quang và Phật giáo hải ngoại Tâm Thư ở Đồng Nai tậptrung vu cáo Đảng và Nhà nước ta đàn áp Phật giáo, vi phạm nhân quyền… Đồng thờinhững hoạt động như: xây dựng, sửa chữa, cơi nới chùa chiền, am cốc; tăng cường quan

hệ với cá nhân, tổ chức ở nước ngoài để vận động quyên góp vật chất và tiền bạc Trongcác hoạt động của một số cơ sở Phật giáo có sự đan xen hoạt động mê tín dị đoan, bóitoán, tướng số làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tâm linh của nhân dân, đến anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Chùa Phước sơn thuộc xã Phước Tânhuyện Long thành trong mấy năm gần đây đã tự ý xây dựng, chưng cất 129 am cốc, tă2ng

ni, phật tử ở các địa phương khác hàng tuần tụ tập về đây hoạt động tu hành khá phứctạp

Công giáo được truyền bá vào Đồng Nai từ nửa sau thế kỷ thứ XVII, thế lực của ChúaNguyễn ở Đồng Nai, Sài Gòn tăng lên mạnh mẽ, đã khuyến khích làn sóng di cư cdủangười Việt vào định cư ở vùng đất mới Điểm dừng chân đầu tiên của họ là Mô Xoài (hay

Trang 33

còn gọi là Mỗi Xuy – tức Bà Rịa) Tại đây những cư dân Công giáo trốn chạy việc cấmđạo đã lập ra họ đạo ở Xích Lam gần vùng đất đỏ Bà Rịa Từ Mô Xoài, Bà Rịa các cưdân tự do đi dọc theo sông Đồng Nai tiến vào các vùng: Nhơn Trạch, Lọng Thành, AnHoà, Bến Gỗ, Bầu Lâm, Cù Lao Phố, Cù Lao Ngô, Cù Lao Kinh, Cù Lao Tân Triều…cùng theo đó, các tín đồ đạo Công giáo cũng phát triển theo Tuy nhiên, số lượng tín đồtăng lên chủ yếu là do giáo dân từ miền Bắc di cư vào năm 1954, đa số từ các tỉnh: TháiBình, Hải Dương, Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hóa và giáo dân ở các tỉnh miền Tây,miền Đông Nam bộ; ngoài ra còn có một bộ phận giáo dân Việt kiều từ Campuchia trở vềsau năm 1954, đã làm cho số lượng tín đồ Công giáo trên địa bàn Tỉnh tăng lên rất nhanh.Các tín đồ Công giáo ở Đồng Nai thường sống tập trung huyện Thống Nhất có 175.698tín đồ, chiếm 62,3% dân số toàn huyện và 24,48% dân số toàn tỉnh; phường Tam Hoàthành phố Biên Hoà có 99,7% tín đồ, xã Gia Tân 3 có 98,8% tín đồ Công giáo

Hiện nay Công giáo có số lượng tín đồ đông nhất trong đồng bào theo các tôn giáo ởĐồng Nai với 824.576 giáo dân, chiếm 33,65% dân số toàn Tỉnh, chiếm 12,3% tín đồCông giáo trong cả nước, 33% số tín đồ Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, đángchú ý là giáo phận Xuân Lộc ở Đồng Nai là giáo phận lớn nhất trong 25 giáo phận Cônggiáo ở Việt Nam

Tổ chức Công giáo ở tỉnh Đồng Nai gồm: 1 giáo phận, đứng đầu là Tòa Giám mụcXuân Lộc (Long Khánh); dưới giáo phận là 12 giáo hạt và dưới đó là các giáo xứ, họ đạo,xóm và khu đạo Có 2 giám mục, 222 linh mục 1.511 tu sĩ, có 63 Ban Hành giáo với 652thành viên Đây là tổ chức chuyên làm công tác sự vụ trong các giáo xứ Dưới họ đạo còn

tổ chức thành 52 Ban Hành giáo với 212 thành viên Dòng tu, thường tổ chức thành 3cấp; bề trên dòng tu, tỉnh dòng tu và các cơ sở tu viện Hiện nay, toàn tỉnh có 46 dòng tu

Trang 34

với 1520 tu sĩ, trong đó có: 32 dòng tu nữ với 1.413 nữ tu sĩ, 14 dòng tu nam với 107 nam

tu sĩ

Giáo phận Tỉnh hiện có 244 cơ sở, trong đó có 169 nhà thờ giáo xứ, 50 nhà thờ giáo họ

và 25 nhà thờ giáo nguyện; số này chủ yếu được xây dựng trước năm 1975, nay đã đượcchính quyền cho phép trùng tu, sửa chữa hoặc xây dựng lại Tổ chức và hoạt động củaCông Giáo ở Đồng Nai rất chặt chẽ, tuân thủ sự chỉ đạo trực tiếp từ Va-ti-căn, và Giáohội Công giáo Việt Nam

Đa số đồng bào Công giáo ở tỉnh Đồng Nai đều là những tín đồ ngoan đạo, “kính chúa,yêu nước”, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.Nhiều chức sắc, tín đồ tích cực tham gia vào các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quanchính quyền cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương - giáo và đoànkết tôn giáo, tích cực hưởng ứng các phong trào xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa,phong trào KHHGĐ, thực hiện nghĩa vụ quân sự Toàn tỉnh hiện có 182 đảng viên xuấtthân từ Công giáo, đa số tham gia Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Điển hìnhnhư huyện Thống Nhất, tổng số cán bộ viên chức là 829 người, trong đó có 89 người theoCông giáo (chiếm 10,7%); lực lượng công an xã, thị trấn có 45 người (chiếm 35%)

Ủy ban Đoàn kết Công giáo Tỉnh không ngừng được củng cố và ngày càng có vai tròquan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Phong trào “kính Chúa yêu nước”,

“tốt đời đẹp đạo” ngày càng được nhiều giáo dân tham gia, góp phần tăng cường khối đạiđoàn kết toàn dân

Quan hệ quốc tế của Công giáo cũng rất sôi nổi Tính đến năm 2001, đã có: 3 lượt giámmục, 80 lượt linh mục, tu sỹ đi ra nước ngoài quan hệ với các tổ chức tôn giáo ở 14

Trang 35

nước… Số lượng các đoàn khách, các tổ chức tôn giáo nước ngoài vào thăm, đặt quan hệvới các cơ sở Công giáo cũng tăng lên

Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của Công giáo trên địa bàn Tỉnh còn có nhữngbiểu hiện tiêu cực Vẫn còn một bộ phận tín đồ có mặc cảm, tự ty, chưa thực hiện tốtCSTG, cá biệt vẫn có các vụ việc chống lại chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dântộc

Đạo Tin Lành vào Đồng Nai khoảng năm 1912, do Mục sư của Hội Liên hiệp Phúc âmtruyền giáo Mỹ (CMA), ở Quận I Thành phố Sài Gòn đến Biên Hòa rao giảng Đến năm

1924, chính quyền cũ chấp nhận cho thành lập chi hội và Hội thánh Biên Hoà, đã xâydựng 1 nhà thờ đầu tiên ở khu vực Cây Chàm, phường Quang Vinh thành phố Biên Hoà,năm 1937 phát triển chi hội nhà thờ huyện Long Thành, năm 1954 phát triển đến huyệnĐịnh Quán Từ năm 1954 đến năm 1975 đạo Tin Lành tiếp tục mở rộng địa bàn, pháttriển tín hữu, xây dựng tổ chức, đào tạo chức sắc Đạo Tin Lành ở Đồng Nai có một số hệphái như: Cơ đốc Phục lâm, Bắt tít, Ngũ tuần, Gie hô va… Hiện nay, toàn Tỉnh có 47.000tín hữu, 10 mục sư, 9 nhà truyền đạo, 12 nhà thờ hoạt động trên các địa bàn: thành phốBiên Hòa, các huyện: Long Thành, Thống Nhất, Long Khánh, Định Quán, Xuân Lộc

Từ sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng đến cuối những năm 1980 số giáo sĩ, mục

sư truyền đạo là tuyên uý của quân đội nguỵ bỏ chạy ra nước ngoài, chỉ còn lại tổng liênhội và lực; lượng truyền giáo nên chưa được Nhà nước thừa nhận tư cách pháp nhân.Song đạo Tin Lành vẫn tiếp tục hoạt động và có nhiều cải cách, thích nghi với hoàn cảnh

xã hội mới Từ khi Đảng, Nhà nước chủ trương đổi mới toàn diện, đặc biệt từ năm 1990,các giáo phái Tin Lành từng bước khôi phục lại cơ sở hội thánh Tin Lành cũ, tiếp tụctruyền đạo và phát triển đạo, nhất là từ năm 1994 đến năm 2001 Năm 1994 có 3 hệ phái:

Trang 36

Tổng liên hội, Cơ đốc Phục lâm và Ngũ tuần, với gần 10.000 tín đồ, 17 nhà thờ, nhànguyện, 8 điểm nhóm sinh hoạt, 17 mục sư, truyền đạo Năm 1997 riêng Tổng liên hội cógần 13.000 tín đò, 17 nhà thờ, 22 điểm nhóm, 5 mục sư, 11 nhà truyền đạo Đến năm

1999, toàn tỉnh đã phát triển lên 10 hệ phái Tin Lành ở 9/9 huyện, thành phồ với gần14.000 tín đồ, trong đó có 5082 tín đồ thuộc các dân tộc thiểu số và 20 chi hội có 3 chihội không hợp pháp Các nhà truyền đạo đã liên kết với nhau mở rộng phạm vi truyền đại

cà phát triển tín đồ vào các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhất làtrên các địa bàn như: Xuân Lộc, Tân Phú, Định Quán, Long Thành, Vĩnh Cửu, NhơnTrạch Đồng thời các mục sư tích cực củng cố xây dựng các chi hội, ban chấp hành cơ sở,đặc biệt ở một số khu công nghiệp có các doanh nghiệp người nước là tín đồ của đạo TinLành như: Đài Loan, Hàn Quốc… để sinh hoạt tôn giáo tạo ra nhiều vấn đề phức tạp chođịa phương

Phương thức hoạt động chủ yếu của đạo Tin Lành là thông qua hoạt động từ thiện, giúpvốn làm ăn, giải quyết việc làm kèm theo chính sách tuyên truyền vận động đồng bào vàođạo một cách bền bỉ, khôn khéo, có phần phù hợp với tâm lý đồng bào các dân tộc thiểu

số, những người buôn bán nhỏ… Đồng thời, các chức sắc trong đạo Tin Lành luôn đẩymạnh hoạt động móc nối, quan hệ với người nước ngoài Những vấn đề trên cho thấy xuhướng hoạt động của đạo Tin Lành trên địa bàn Tỉnh khá phức tạp… Hoạt động của cácchi hội ngày càng sôi nổi và có tổ chức như: củng cố ban chấp sự, duy trì sinh hoạt tôngiáo của giáo hội, xây dựng tổ chức Ca đoàn, Ban trung niên, Ban thanh niên, Ban thiếuniên nhi đồng

Đại đa số tín đồ đạo Tin Lành là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; một sốnhập đạo do tính hiếu kỳ Do vậy, có thể nói đức tin tôn giáo của tín đồ là không sâu

Trang 37

đậm Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên từ năm 2001 đến năm 2002 các giáo phái củađạo Tin Lành không những đã phát triển vào các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ítngười, vào những đối tượng có trình độ văn hoá thấp, mà còn thâm nhập vào các trungtâm thị trấn, thị tứ, các huyện lỵ và thành phố Biên Hòa.

Đạo Cao Đài ở Đồng Nai với 17.081 tín đồ, 61 chức sắc trong đó có 2 giáo xứ, 1 giáohữu, 58 lễ sanh, thuộc 3 hệ phái (Tây Ninh, Ban Chánh đạo thành, Tiên thiên truyềngiáo); với 24 thánh thất, 7 đền thờ Phật Mẫu Tín đồ đạo Cao Đài tập trung chủ yếu ở cáchuyện như: Nhơn Trạch, Long Thành, Thống Nhất, Định Quán và thành phố Biên Hòa,phần đông thờ phụng tại gia Các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường, đa số tín đồ,chức sắc đạo Cao Đài chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuynhiên, có một số vấn đề mới phức tạp đã nảy sinh như: hiện tượng khiếu kiện, hiện tượngđòi lại các cơ sở thờ tự của các tôn giáo mà Nhà nước đang quản lý, một số đối tượng cựcđoan ra sức lôi kéo, kích động các chức sắc đòi khôi phục lại hệ thống hành chánh đạocũ

Đạo Hòa Hảo ra đời ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhưng do sự di cư tự do và

quan hệ dòng họ đã du nhập vào tỉnh Đồng Nai, nên số lượng tín đồ của đạo này rất ít,chỉ có 105 tín đồ, 3 chức sắc, 1 cơ sở thờ tự ở thành phố Biên Hòa Các hoạt động tôngiáo diễn ra bình thường, chức sắc, tín đồ chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng không đáng kể trong đời sống xã hội của tỉnh ĐồngNai

Đạo Hồi ở Đồng Nai có khoảng 2.000 tín đồ, 2 thánh đường tại xã Bình Sơn (Long

Thành) và Xuân Hưng (Xuân Lộc), 1 nhà truyền đạo, 4 chức việc Các tín đồ Đạo Hồitrên địa bàn Tỉnh luôn yên tâm làm ăn sinh sống, không vi phạm đến chính sách pháp luật

Trang 38

của Nhà nước, không làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nơiđịa bàn.

Tuy nhiên, đây là một tôn giáo ít nhiều có tư tưởng bảo thủ, chịu ảnh hưởng nhất địnhcủa phong trào Hồi giáo cực đoan trên thế giới… gần đây có một số phái đoàn Hồi giáo

từ Ma-lai-xia đến Đồng Nai nhằm tiếp cận, tìm hiểu và phát triển đạo đã làm cho tìnhhình tôn giáo trên địa bàn thêm phần phức tạp

Như vậy, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có đủ 6 tôn giáo lớn ở Việt Nam Trong đó nổi lên

và có ảnh hưởng đáng kể (cả tích cực và tiêu cực) đến đời sống chính trị - xã hội địa bàn

là Phật giáo, Công giáo và Tin Lành Đây là những tôn giáo có số lượng tín đồ khá lớn, tổchức khá chặt chẽ, cơ sở thờ tự rộng khắp Nhìn chung đa số đồng bào tín đồ các tôn giáotrên địa bàn tỉnh là nhân dân lao động, cơ bản chấp hành đúng đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựngcuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” Các hoạt động từ thiện, văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế được đại đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo quan tâm thực hiện; phong trào xóa đói, giảmnghèo, đền ơn đáp nghĩa, cứu trợ, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa cho các đối tượngchính sách; công tác xã hội hóa giáo dục… được đông đảo tín đồ, chức sắc các tôn giáoủng hộ

Tuy nhiên, hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn cũng đang có những diễn biến phứctạp, một bộ phận giáo dân còn mặc cảm, chưa thật sự hòa đồng, dễ bị các thế lực thù địchlợi dụng, lôi kéo, một số chức sắc còn có thái độ hoài nghi vào CSTG, còn ngấm ngầmhoặc công khai chống đối HTCTCS

Tình hình tôn giáo đó đòi hỏi phải thực hiện tốt hơn nữa CSTG của Đảng và Nhà nước,khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo, đấu tranh chống âm mưu, thủ

Trang 39

đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch Đó là trách nhiệm của toànĐảng, toàn dân, các cấp các nghành mà trước hết là của HTCTCS Đồng Nai Bởi vậyHTCTCS tỉnh Đồng Nai có vai trò quan trọng trong thực hiện CSTG.

Thứ hai, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện chính

sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta:

Theo từ điển Tiếng Việt, vai trò là chức năng tác dụng của cái gì hoặc của ai, trong sựvận động, phát triển của nhóm, của tập thể nói chung Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào tồntại trên thực tế đều đóng một vai trò nhất định trong mối quan hệ đối với một khách thể,một đối tượng nào đó Nhờ vậy mà sự vật bộc lộ những thuộc tính xác lập sự tồn tại củamình Theo cách hiểu trên, thì HTCTCS Đồng Nai và mỗi tổ chức, mỗi lực lượng đều cóvai trò nhất định trong thực hiện CSTG trên địa bàn

Chức năng, nhiệm vụ của HTCTCS quy định vai trò của HTCTCS trong thực hiệnchính sách kinh tế - xã hội nói chung, CSTG nói riêng Hay nói cách khác, vai trò củaHTCTCS được thể hiện qua việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nó HTCTCS xã,phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong thựchiện các chính sách kinh tế xã hội nói chung, CSTG nói riêng Bởi vì, HTCTCS là cầunối trực tiếp giữa toàn bộ HTCTCS với nhân dân, hằng ngày tiếp xúc và làm việc vớinhân dân, nắm bắt và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tổ chức và vận độngnhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường đoàn kếttoàn dân Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, lànền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [23, tr.371] HTCTCS vừa trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý mọi mặt đời sống xã hội ở cơ sở,vừa làm công tác vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà

Trang 40

nước; bảo đảm cho mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính quyền cấp trên được thực hiện một cáchđầy đủ, đúng đắn, sáng tạo ở địa phương; đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhândân lao động; thực hành chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Nghị quyết 24 NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI) đã chỉ rõ: làm tốt công tác tôn giáo

là trách nhiệm của cả HTCT, phối hợp chặt chẽ với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng.Chính quyền phải thực hiện chức năng quản lý tôn giáo bằng pháp luật; các đoàn thể vàMặt trận Tổ quốc có trách nhiệm đi sâu vận động quần chúng tín đồ và chức sắc, cửngười tham gia dưới các hình thức thích hợp vào các tổ chức và sinh hoạt của giáo hội đểhướng dẫn và lãnh đạo tín đồ

Vai trò của HTCSCS Tỉnh Đồng Nai trong thực hiện CSTG thể hiện ở những nội dungchủ yếu sau:

Một là, HTCTCS tỉnh Đồng Nai là lực lượng trực tiếp tuyên truyền, giáo dục CSTG của Đảng, Nhà nước đến quần chúng nhân dân lao động cũng như đồng bào tín đồ các tôn giáo trên địa bàn.

Công tác tuyên truyền, giáo dục có vị trí, vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhậnthức, trách nhiệm, nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng cho quần chúng nhân dân, làmcho quần chúng nhân dân có nhận thức và hành động đúng đắn theo chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước Công tác tuyên truyền, giáo dục làmcho nhân dân có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của tôn giáo đối với sự nghiệp cáchmạng; thấy được những đóng góp to lớn của đồng bào tín đồ các tôn giáo trong sự nghiệpgiải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay; thấyđược bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch luôn lợi dụng tôn giáo chống

Ngày đăng: 24/08/2016, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI (1990), Chỉ thị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Số 66 - C T/TW, Ngày 26/10/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI
Năm: 1990
[2]. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
[3]. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
[4]. Ban Tôn giáo Chính phủ, Các văn bản của nhà nước về hoạt động tôn giáo, Lưu hành nội bộ, Hà Nội. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản của nhà nước về hoạt động tôn giáo
[5]. Ban Tôn giáo Chính phủ. Phòng Thông tin tư liệu, (1993), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ. Phòng Thông tin tư liệu
Năm: 1993
[7]. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (1990), Nghị quyết về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Số 24 - NQ/TW, Ngày 16/10/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI
Năm: 1990
[8]. Bộ Chính trị BCHTW, Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Số 37 - CTTW, Hà Nội. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới
[9]. Bộ Nội vụ Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước, Hệ thống chính trị cơ sở thực trạng và một số giải pháp đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở thực trạng và một số giải pháp đổi mới
Nhà XB: Nxb CTQG
[11]. Vũ Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm, xu hướng và giải pháp
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
[12]. Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt, Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo của quân đội năm 1998, Hà Nội. 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo của quân đội năm 1998
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương (2-7-1998), Chỉ thị về công tác tôn giáo trong thời kỳ mới, (Số 37), CT/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về công tác tôn giáo trong thời kỳ mới
[16]. Đảng ủy Quân sự Trung ương (1999), Chỉ thị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới, số 36/ĐUQSTW, ngày 23-2- 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Đảng ủy Quân sự Trung ương
Năm: 1999
[18]. Học viện Chính trị quân sự, Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đề tài khoa học cấp học viện, Hà Nội. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay
[19]. Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Khiển
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
[20]. V.I.Lênin (1902), “Làm gì”, V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1979, tr. 169 - 175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì”, "V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1979
Năm: 1902
[21]. V.I.Lênin (1902), “Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo”, V.I.Lênin, Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo”, "V.I.Lênin, Toàn tập, tập 17
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1979
Năm: 1902
[22]. C. Mác và Ph Ăngghen (18 ), Toàn tập, Tập 19, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 19
Nhà XB: Nxb CTQG
[23]. Hồ Chí Minh (1948), “Thư gởi ủy ban nhân dân tỉnh và huyện 3 tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, trang 371-373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gởi ủy ban nhân dân tỉnh và huyện 3 tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn"”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1948

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT - LUẬN văn   phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh đồng nai
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w