1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự

81 464 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 PHAN TẤT ĐẠT NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA KHÁNG NGUYÊN VÀ KHÁNG THỂ NHÓM MÁU HỆ ABO TRONG MÔI TRƯỜNG NGOÀI CƠ THỂ PHỤC VỤ CÔNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHAN TẤT ĐẠT

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA

KHÁNG NGUYÊN VÀ KHÁNG THỂ NHÓM MÁU HỆ ABO TRONG MÔI TRƯỜNG NGOÀI CƠ THỂ PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH SINH HỌC HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHAN TẤT ĐẠT

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA

KHÁNG NGUYÊN VÀ KHÁNG THỂ NHÓM MÁU HỆ ABO TRONG MÔI TRƯỜNG NGOÀI CƠ THỂ PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH SINH HỌC HÌNH SỰ

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 60 42 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Tạ Thúy Lan

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

đã tạo mọi điều kiện trong thời gian tôi học tập chương trình thạc sĩ

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài tôi cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình của Trung tâm giám định sinh học pháp lý – Viện Khoa học hình sự, nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Tập thể cán bộ Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi về thiết bị, phương tiện

để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè những người đã luôn động viên, góp ý cho tôi trong thời gian qua

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Học viên

PHAN TẤT ĐẠT

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Học viên

PHAN TẤT ĐẠT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp của đề tài 4

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ DẤU VẾT MÁU 5

1.1.1 Khái niệm chung về máu 5

1.1.2 Nhóm máu hệ ABO 8

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁM ĐỊNH DẤU VẾT MÁU 12

1.2.1.Khái niệm về dấu vết máu 12

1.2.2 Phương pháp phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết máu tại hiện trường 13

1.2.3 Cơ sở khoa học của giám định dấu vết máu 14

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẤU VẾT MÁU 16

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 16

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH CHỌN MẪU 23

2.1.1 Cách chọn mẫu 23

2.1.2 Các vật liệu sử dụng để thử định hướng, xác định protein đặc hiệu loài và xác định nhóm máu 23

2.1.3 Thời gian và địa điểm thực hiện 24

Trang 6

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.2.1 Bố trí thí nghiệm 24 2.2.2 Phương pháp giám định định hướng dấu vết máu 27 2.2.3 Phương pháp xác định protein đặc hiệu loài theo Ochternoly……… 28 2.2.4 Phương pháp xác định thành phần kháng thể trong dấu vết máu khô bằng phương pháp Lattes 29 2.2.5 Phương pháp xác định thành phần kháng nguyên trong dấu vết máu khô bằng phương pháp hấp phụ - tách 31 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 35 3.1 Kết quả xác định định hướng dấu vết máu thu từ các vụ án với dung dịch phenolphthalein 35 3.2 Kết quả xác định protein loài sự dụng kỹ thuật khuếch tán miễn dịch kép theo Ochternoly 36 3.3 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên và kháng thể với các mẫu thu

từ các vụ án ……….37 3.4 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên và kháng thể với các mẫu khảo nghiệm được tạo ra …….……… 44 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ABO Ký hiệu hệ nhóm máu

NaOH Natri hydroxit

NaCl Natri Clorua

CaCl2 Canxi Clorua

CaSO4 Canxi sunfat

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các tế bào hồng cầu và limpho bào 5

Hình 1.2 Phân bố máu trong cơ thể 6

Hình 1.3 Các nhiệm vụ cơ bản của máu trong cơ thể 7

Hình 1.4 Các thành phần của máu 7

Hình 1.5 Các loại tế bào máu khác nhau có màu sắc và cấu tạo không giống nhau 8

Hình 1.6 Cách kết dính của kháng nguyên trên màng hồng cầu 9

Hình 1.7 Phân bố kháng nguyên, kháng thể của nhóm máu hệ ABO 9

Hình 1.8 Hồng cầu và kháng nguyên trên bề mặt của các nhóm máu 10

Hình 1.9 Nhóm máu và hiện tượng kết tủa 11

Hình 1.10 Hồng cầu kết dính với nhau khi bị ngưng kết 11

Hình 3.1 Phản ứng xuất hiện màu tím trong thử định hướng dấu vết máu bằng dung dịch phenolphthalein 35

Hình 3.2 Kết quả xuất hiện các vạch tủa xác định là máu người bằng huyết thanh kháng protein người, gia cầm, trâu bò, lợn 36

Hình 3.3 Ngưng kết hồng cầu trong phương pháp Lattes 37

Hình 3.4 Ngưng kết hồng cầu trong phương pháp hấp phụ - tách 37

Trang 9

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Ngưng kết nguyên và ngưng kết tố của các nhóm máu hệ

ABO 11

Bảng 1.2 Tỷ lệ phân bố nhóm máu hệ ABO ở một số dân tộc người

của Việt Nam 12

Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm đối với mẫu thu từ hiện trường các vụ án 25

Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm đối với mẫu khảo nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ

Bảng 3.1 Kết quả xác định thành phần kháng thể từ dấu vết máu thu được từ

các vụ án ở điều kiện trong nhà bằng phương pháp Lattes 38

Bảng 3.2 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên từ dấu vết máu thu

được từ các vụ án ở điều kiện trong nhà bằng phương pháp hấp phụ

- tách 38

Bảng 3.3 Kết quả xác định thành phần kháng thể từ dấu vết máu thu được từ

các vụ án ở điều kiện ngoài trời mùa hè (tháng 4, 5, 6) bằng phương

pháp Lattes 40

Bảng 3.4 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên từ dấu vết máu thu

được từ các vụ án ở điều kiện ngoài trời mùa hè (tháng 4, 5, 6) bằng

phương pháp hấp phụ - tách 41

Trang 10

Bảng 3.5 Kết quả xác định thành phần kháng thể từ dấu vết máu thu được từ

các vụ án ở điều kiện ngoài trời mùa đông (tháng 10, 11, 12) bằng phương pháp Lattes 42 Bảng 3.6 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên từ dấu vết máu thu

được từ các vụ án ở điều kiện ngoài trời mùa đông (tháng 10, 11, 12) bằng phương pháp hấp phụ - tách 43 Bảng 3.7 Kết quả xác định thành phần kháng thể từ dấu vết máu khảo

nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 370 C và 45 0 C bằng phương pháp Lattes

44 Bảng 3.8 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên từ dấu vết máu khảo

nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 370 C và 45 0 C bằng phương pháp hấp

phụ - tách 45 Bảng 3.9 Kết quả xác định thành phần kháng thể từ dấu vết máu khảo

nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 1000 C bằng phương pháp Lattes… 47

Bảng 3.10 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên từ dấu vết máu khảo

nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 1000 C bằng phương pháp hấp phụ -

tách 47 Bảng 3.11 Kết quả xác định thành phần kháng thể từ dấu vết máu khảo

nghiệm ở điều kiện về ẩm độ khác nhau bằng phương pháp Lattes 48 Bảng 3.12 Kết quả xác định thành phần kháng nguyên từ dấu vết máu khảo

nghiệm ở điều kiện về ẩm độ khác nhau bằng phương pháp hấp phụ

- tách 50 Bảng 3.13 So sánh kết quả xác định thành phần kháng nguyên, kháng thể

mẫu dấu vết máu từ các vụ án ở các điều kiện môi trường khác nhau 53

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các vụ án hình sự, máu là loại dấu vết thường gặp nhất vì nó là

hệ quả điển hình của sự tác động qua lại trong cơ chế hình thành dấu vết của các hoạt động phạm tội hình sự Dấu vết máu cũng là dạng dấu vết vật chất

có vai trò cung cấp nhiều thông tin rất có giá trị trong công tác điều tra, xét xử các vụ án [2, 4,9,10,11,12] Dựa vào dấu vết máu, có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về tính chất vụ án, động cơ, đối tượng, thời gian gây án và củng cố chứng cứ đảm bảo khách quan, đúng pháp luật, xử lý đúng người, đúng tội Song điều kiện môi trường đa dạng ở hiện trường các vụ án thường tác động rất lớn đến chất lượng của các dấu vết sinh học nói chung, dấu vết máu nói riêng Sự phân hủy các dấu vết máu có thể do nhiều yếu tố gây ra như nhiệt độ, độ ẩm, vi sinh vật,…và tuổi của dấu vết Thực tế, trong công tác giám định sinh học ở các vụ án hình sự, các dấu vết máu được đưa đến phòng thí nghiệm với sự không đồng đều cả về chất lượng lẫn số lượng Các phòng giám định sinh học thường xuyên phải giải quyết những mẫu khó, chất lượng thấp thu thập được từ những dấu vết ở hiện trường sau khi tồn tại ở môi trường khắc nghiệt trong thời gian dài Dấu vết máu được thu lượm ở hiện trường thường ở dạng dấu vết khô, đã bị phân hủy ít hay nhiều, bị tạp nhiễm Chất lượng của dấu vết máu ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại của kháng nguyên và kháng thể Đối với những mẫu máu chất lượng kém, bị thối rữa, phân hủy hay lẫn các chất ức chế thường gây cho giám định viên không ít những khó khăn trong các công đoạn của quy trình giám định nhóm máu Vì vậy, việc phát hiện sớm dấu vết, thu, bảo quản đúng kỹ thuật là yếu tố quan trọng, mang tính quyết định đến kết quả giám định, cũng như lựa chọn phương pháp giám định sao cho hiệu quả nhất[9,12]

Trang 13

Về mặt lý luận, trên thế giới, đã có số lượng nhất định những công trình nghiên cứu về chất lượng của một số dấu vết sinh vật nhưng chưa có nghiên cứu nào cụ thể về chất lượng dấu vết máu phục vụ điều tra hình sự trong điều kiện Việt Nam Ở Việt Nam, đã có nghiên cứu về yếu tố tác động của môi trường lên chất lượng và số lượng ADN tách chiết được từ dầu vết máu, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu đánh giá yếu tố tác động của môi trường lên

sự tồn tại của kháng nguyên và kháng thể từ dấu vết máu Trên thực tế, công tác phát hiện, thu lượm, bảo quản, giám định dấu vết sinh học nói chung và dấu vết máu nói riêng còn nhiều thiếu sót, nhất là ở cấp huyện và tỉnh

Việc nghiên cứu đánh giá khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể của hệ thống nhóm máu ABO trong điều kiện ngoài cơ thể ở dạng máu khô là cách tốt nhất để cải tiến các kỹ thuật, công đoạn trong công tác khám nghiệm hiện trường, đánh giá, thu thập và bảo quản dấu vết máu, cũng như giám định dấu vết máu tại phòng thí nghiệm, đặc biệt là phòng thí nghiệm của các Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Nó giúp cho công tác điều tra, khám nghiệm hiện trường và giám định đạt hiệu quả cao

Vì vậy, cần phải được nghiên cứu kỹ để có thể rút ra những kết luận

mang tính chất khoa học, chính xác Vì lý do này, chúng tôi chọn đề tài:

“Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu

hệ ABO trong điều kiện môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự” Chúng tôi hy vọng, kết quả nghiên cứu sẽ phục vụ

hiệu quả công tác giám định sinh học hình sự trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích và đánh giá được sự tồn tại của kháng nguyên và kháng thể thuộc nhóm máu ABO trong các dấu vết máu thụ được tại hiện trường vụ án

và các mẫu khảo nghiệm

- Xác định được mốc thời gian tồn tại của kháng nguyên và kháng thể trong các điều kiện môi trường khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu theo mùa, theo phương pháp thu thập, bảo quản…

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua đánh giá sự tồn tại của kháng nguyên, kháng thể nhóm máu

hệ ABO để khảo sát chất lượng dấu về máu trong các vụ án xảy ra tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vào hai mùa trong năm 2015 với mốc thời gian 3 ngày, 10 ngày và 5 tuần

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối với các mẫu án: Đối tượng nghiên cứu là các dấu vết máu trong các vụ án được gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh gửi kèm theo các quyết định trưng cầu giám định của các cơ quan điều tra

Chỉ nghiên cứu tác động tổng hợp của các yếu tố khách quan về mặt khí hậu trong nhà và ngoài trời vào hai mùa trong năm Các dấu vết máu được chọn được thu thập trên một loại vật mang là vải cotton

- Đối với mẫu khảo nghiệm: Chỉ nghiên cứu tác động của yếu tố môi trường giả định là nhiệt độ và độ ẩm Sử dụng trên một loại vật mang là vải cotton

- Trong nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháng xác định mức độ ngưng kết tế bào hồng cầu là một khâu trong quy trình giám định sinh học

Trang 15

Ngoài ra, để đánh giá chất lượng máu còn kết hợp 4 công đoạn của quy trình giám định

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ DẤU VẾT MÁU

1.1.1 Khái niệm chung về máu

Máu là một mô lỏng có màu đỏ, vị mặn và được tạo thành trong quá trình phát triển cá thể Cũng giống như các loại mô khác, máu được tạo thành

từ các tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và chất dịch là huyết tương Huyết tương lỏng và chiếm tỷ lệ cao hơn [1,3,7,8]

Hình 1.1.Các tế bào hồng cầu và limpho bào

Tổng số máu trong cơ thể khoảng 4 - 5 lít Khối lượng máu có thể thay đổi tuỳ thuộc vào trạng thái chức năng của cơ thể Trong trạng thái sinh lý, máu được lưu thông tuần hoàn trong cơ thể, trong đó có 50 % thể tích máu được lưu thông trong hệ thống mạch máu và 50 % thể tích máu còn lại được

dự trữ ở các “kho”

Trang 17

Toàn bộ máu trong cơ thể tồn tại trong hệ thống mạch máu và một phần nhỏ trong tim

Hình 1.2 Phân bố máu trong cơ thể

Trong cơ thể con người, máu thực hiện các nhiệm vụ khác nhau Máu

có thể vận chuyển các chất từ nơi này đến nơi khác, đảm bảo sự lưu thông các chất trong cơ thể Máu còn có chức năng bảo vệ cơ thể, điều hoà thân nhiệt và đảm bảo hằng tính của nội môi Ngoài ra, trong hoạt động hô hấp của cơ thể, không thể thiếu sự tham gia của máu

Trang 18

Hình 1.3.Các nhiệm vụ cơ bản của máu trong cơ thể [8]

Khi để lắng, máu sẽ phân thành hai lớp: Lớp trên trong suốt, có màu vàng nhạt là huyết tương và lớp dưới màu đỏ là các tế bào máu Các tế bào máu gồm có: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu Các yếu tố thành phần của máu hình thành trong giai đoạn phát triển phôi thai, từ trung mô Mạch máu hình thành từ những khe nhỏ giữa các đám tế bào trung mô

Hình 1.4 Các thành phần của máu [8]

Một phần nguyên bào máu thay đổi để tạo ra hồng cầu, còn phần khác trong tế bào chất xuất hiện nhiều hạt, nhân phân chia thành các thuỳ để tạo ra

Các chức năng của máu

Vận chuyển Điều hoà thân

nhiệt

Cân bằng nội môi

Trang 19

các bạch cầu có hạt Cuối cùng là các tế bào tạo thành bạch cầu không nhân

Năm 1900, Landsteiner đã phát hiện ra một số đặc điểm riêng của máu người có thể căn cứ vào đó để phân loại thành các nhóm khác nhau Đặc điểm của nhóm máu này là trên màng hồng cầu có các protein đặc biệt có tác dụng như kháng nguyên gọi là ngưng kết nguyên Khi gặp kháng thể (ngưng kết tố) tương ứng trong huyết tương sẽ có hiện tượng ngưng kết Các ngưng kết

Trang 20

nguyên được kí hiệu là A, B Còn các ngưng kết tố kí hiệu là α, β Hồng cầu

có A sẽ bị ngưng kết (kết dính với nhau) khi gặp huyết tương chứa  và hồng cầu có B sẽ bị ngưng kết khi gặp huyết tương chứa  Căn cứ vào hai yếu tố trên, máu được chia thành 4 nhóm: A, B, AB và O [7,8]

Kháng Thể Kháng B

Kháng Thể Kháng A

Không có kháng thể

Kháng thể kháng A

và Kháng thể kháng B

Hình 1.6 Cách kết dính của kháng nguyên trên màng hồng cầu

Hình 1.7 Phân bố kháng nguyên, kháng thể của nhóm máu hệ ABO

Trang 21

+ Máu thuộc nhóm O, trên màng hồng cầu không có ngưng kết nguyên

nên cho được tất cả các nhóm máu khác, nhưng trong huyết tương lại có cả hai loại ngưng kết tố  và  nên không nhận được máu của các nhóm khác

+ Máu thuộc nhóm AB, trên màng hồng cầu có cả 2 loại ngưng kết

nguyên A và B nên không cho các nhóm máu khác được, nhưng trong huyết tương lại không có cả hai loại ngưng kết tố  và  nên có thể nhận được máu của tất cả các nhóm khác

+ Máu thuộc nhóm A, trên màng hồng cầu có ngưng kết nguyên A,

trong huyết tương có ngưng kết tố  nên cho được nhóm A và nhóm AB và chỉ nhận được máu của các nhóm A và O

+ Máu thuộc nhóm B, trên màng hồng cầu có ngưng kết nguyên B,

trong huyết tương có ngưng kết tố  nên cho được nhóm B và AB và chỉ nhận được máu của các nhóm B và O

Hình 1.8 Hồng cầu và kháng nguyên trên bề mặt của các nhóm máu

Trang 22

Hình 1.9 Nhóm máu và hiện tượng kết tủa

Hình 1.10 Hồng cầu kết dính với nhau khi bị ngưng kết

Bảng 1.1 Ngưng kết nguyên và ngưng kết tố của các nhóm máu ABO

Trang 23

Tỉ lệ người có các nhóm máu khác nhau phân bố không đều Kết quả nghiên cứu trên người Việt Nam cho thấy, đối với người Kinh, nhóm máu O

có tỉ lệ cao nhất, sau đó là các nhóm B  A AB Còn đối với người Dao, người Mông thì tỉ lệ đó là nhóm O  A  B AB và đối với người Êđê thì trình tự là nhóm B  A  O  AB [1,3,5,7,8]

Bảng 1.2 Tỷ lệ phân bố nhóm máu hệ ABO ở một số dân tộc người của Việt Nam

n tộc

Nhóm A (%)

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁM ĐỊNH DẤU VẾT MÁU

1.2.1.Khái niệm về dấu vết máu

Dấu vết máu là lượng máu được tìm thấy ở hiện trường, trên công cụ, phương tiện gây án, trên quần, áo, đồ dùng, thân thể của nạn nhân hay của thủ phạm,… và là hậu quả của các hành vi đã xảy ra trong các vụ việc liên quan tới pháp luật, được thu và giám định theo qui định của pháp luật [5,9]

Qua thống kê, dấu vết máu chiếm tới 60% trong tổng số các loại dấu vết sinh vật hình thành và tồn tại liên quan đến vụ việc hình sự cần điều tra khám phá Dấu vết máu có màu khá đặc trưng nên dễ phát hiện khi khám nghiệm hiện trường cũng như khi giám định các đồ vật nghi dính máu, nhưng đây cũng là loại dấu vết rất dễ bị biến đổi khi tồn tại ở môi trường ngoài cơ

Trang 24

thể Trước hết là sự thay đổi về màu sắc của dấu vết như quá trình khô, dấu vết chuyển từ màu đỏ tươi thành màu đỏ sẫm sau đó là màu đỏ nâu hoặc màu nâu; nếu máu bị thối do độ ẩm cao thì sẽ có màu đen Tuy nhiên, ở hiện trường cũng có thể có một số chất có màu sắc, hình dạng tương tự vết máu như sơn chống rỉ, vết rỉ sắt, nhựa cây Vì vậy, trong đa số trường hợp cần sử dụng kít thử định hướng dấu vết máu để loại trừ ngay những dấu vết không phải là máu [2,5,9,10,11,12]

Việc đánh giá dấu vết tại hiện trường cũng như trong quá trình giám định có ý nghĩa quan trọng, có thể thu được những thông tin có giá trị trong việc điều tra vụ án Số lượng, sự phân bố, trạng thái (màu sắc, hình dạng, chất lượng ) của dấu vết tại hiện trường, trên phương tiện gây án, trên đồ dùng, thân thể nạn nhân (hoặc của thủ phạm) phản ánh diễn biến cơ bản của vụ việc hình sự như hành động của thủ phạm, phản ứng của nạn nhân, thời điểm hình thành dấu vết, trình tự hình thành dấu vết, công cụ gây ra dấu vết xác định mức độ tổn thương của nạn nhân (và cả thủ phạm) Tùy thuộc vào cơ chế tác động, vị trí bị tổn thương và động năng của máu chảy ra, máu xuất hiện và tồn tại ở hiện trường dưới nhiều dạng khác nhau như: dấu vết máu phun, dấu vết máu nhỏ giọt, dấu vết máu quệt, dấu vết máu thấm hay máu đọng thành vũng Việc giám định định hướng dấu vết máu là bước bắt buộc trong quy trình giám định dấu vết máu đã được phê duyệt [9,11]

1.2.2 Phương pháp phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết máu tại hiện trường

Muốn phát hiện dấu vết máu nhanh chóng và có hiệu quả, cán bộ khám nghiệm phải tùy từng hiện trường cụ thể để ứng dụng thích hợp phương pháp

và chiến thuật khám nghiệm Cần tập trung vào những vị trí ngóc ngách, kín đáo ở hiện trường như gầm bàn, gầm ghế, kẽ ngón tay, ngón chân của tử

Trang 25

thi…và trường hợp cần thiết phải dùng hóa chất đặc hiệu để phun trực tiếp vào các vị trí nghi có dấu vết

Để thu lượm và bảo quản dấu vết máu có hiệu quả cần dựa vào tình trạng, số lượng của dấu vết như: khô, ướt, nhiều, ít; dựa vào đặc điểm, kích thước của vật mang vết

Đối với dấu vết máu khô: Nếu dấu vết nằm trên những vật mang nhỏ, nhẹ, phương pháp tốt nhất là thu dấu vết cùng vật mang vết, gói vào giấy sạch

có khổ rộng phù hợp, ghi chú thông tin cần thiết bên ngoài Nếu vết nằm trên các vật mang lớn, dùng dao mỏng để cạy, cạo lấy dấu vết, gói vào giấy sạch, phong bì hoặc hộp giấy sau đó ghi chú bên ngoài Hoặc dùng bông, vải sạch thấm nước cất sau đó lau nhẹ nhiều lần để thu dấu vết, để khô tự nhiên và tiến hành bảo quản tương tự như trên

Đối với dấu vết máu còn lỏng và ướt: Nếu dấu vết ở dạng lỏng, khối lượng nhiều dùng xi lanh bơm hút từ 5-10 cc cho vào lọ thủy tinh sạch, ghi chú bên ngoài và bảo quản trong tủ lạnh Trường hợp dấu vết ướt nhưng tồn tại với lượng ít, dùng bông hoặc vải sạch thấm vết sau đó để khô ở điều kiện

tự nhiên, bảo quản trong bao gói giấy sạch ghi chú bên ngoài Các dấu vết ở

vị trí khác nhau cần phải thu lượm, bảo quản riêng rẽ, ghi chú cẩn thận, đầy

đủ [9,11]

1.2.3 Cơ sở khoa học của giám định dấu vế máu

Giám định dấu vết máu trong điều tra hình sự để truy tìm thủ phạm đã được ứng dụng từ những năm đầu thế kỷ XX (Uhlenhuth 1900 – 1901) bằng việc phân biệt giữa máu người và máu động vật trong các vụ án giết người

Về sau, cùng với việc phát hiện ra hệ thống nhóm máu ABO (Landsteiner và cộng sự 1901) và các hệ thống nhóm máu khác thì việc sử dụng dấu vết máu

để phục vụ cho công tác điều tra ngày càng được mở rộng

Trang 26

Mỗi thành phần có trong huyết thanh và tế bào máu đều có vị trí quan trọng, chứa đựng các thông tin cần thiết về một cá thể mà không ai giống ai (tính cá biệt) Đây là vấn đề mấu chốt để truy nguyên cá thể thông qua dấu vết máu Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu này đòi hỏi một quá trình lâu dài của phát triển khoa học và công nghệ Mỗi giai đoạn phát triển của ngành huyết học và giám định sinh học pháp lý thì các chỉ số khai thác được từ dấu vết máu đều có những giá trị nhất định [9,10]

Một số vấn đề cơ bản về yếu tố thành phần máu là cơ sở trong giám định sinh học pháp lý:

- Hemoglobin (Hb) bên trong hồng cầu hay còn gọi là huyết sắc tố Mỗi phân tử Hemoglobin có 4 chuỗi polypeptit gắn với một dẫn chất phyrin có chứa ion Fe nên máu có màu đỏ (phần Hem) kết hợp với một protein là globin Trong môi trường axit Hem phản ứng với NaCl tạo cloruaHem gọi là Hemin Hemin hay Clohydrat hematin là một tinh thể hình lăng trụ màu đỏ gọi là tinh thể Teichman Đây là phản ứng đặc trưng để tìm dấu vết máu trong giám định sinh học pháp lý

- Trên màng hồng cầu, cho đến nay người ta xác định hàng chục loại kháng nguyên khác nhau Mỗi một hệ thống kháng nguyên hồng cầu, hệ thống enzyme hay protein huyết thanh thì mỗi cá thể người chỉ thuộc một trong số các hệ thống đó, chẳng hạn: cá thể 1 có hệ thống nhóm máu là A – M – PGM 1 - 1, cá thể 2 là B – N –PGM 2 – 1,… Nếu tổ hợp tất cả các hệ thống nhóm máu khác nhau lại thì sẽ đưa ra được chỉ số đặc thù cho cá thể đó

Các kháng nguyên nhóm máu là các protein trên màng hồng cầu mà quá trình tổng hợp proten này được mã hóa bởi các gen nằm trên nhiễm sắc thể Các kháng nguyên thuộc hệ ABO do một locus gen nằm trên nhiễm sắc thể số 9 kiểm soát với ba alen là A, B, O Trong đó A, B trội so với O Các kiểu gen trong hệ ABO gồm: AA, AO, BB, BO, AB và OO Những kiểu gen

Trang 27

này tạo nên bốn kiểu hình (nhóm máu) là A, B, O và AB Việc di truyền nhóm máu tuân theo định luật Mendel Trong giám định sinh học pháp lý việc xác định nhóm máu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phân loại dấu vết tại hiện trường

- Trong huyết thanh của hệ nhóm máu ABO có mặt các kháng thể tương ứng với các kháng nguyên vắng mặt trên hồng cầu Các loại kháng thể chống A, B hay H là các kháng thể tự nhiên có đặc điểm là các IgM, thường gây ngưng kết và không làm vỡ hồng cầu nếu hồng cầu được pha loãng nếu gặp kháng nguyên bị kháng, ví dụ: người nhóm máu A có kháng thể kháng B

sẽ làm ngưng kết hồng cầu mẫu nhóm B, người nhóm máu B có kháng thể kháng A sẽ làm ngưng kết hồng cầu mẫu nhóm A Việc xác định được thành phần kháng thể có trong dấu vết giúp ta xác định được nhóm máu của dấu vết

là cơ sở để phân loại dấu vết tại hiện trường

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẤU VẾT MÁU

1.3.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Đầu thế kỷ XX nhờ các phát minh của các nhà khoa học người ta đã biết sử dụng dấu vết máu trong công tác điều tra hình sự Năm 1899, nhà khoa học Nga Tristovich phát hiện ra protein lạ trong máu, tiếp theo là phương pháp phân biệt máu người và máu vật của nhà khoa học Đức Paul Ulengut Nhưng phải tới năm 1900, Karl Landsteiner mới xác định được các kháng nguyên và kháng thể tự nhiên trong máu của một số người Karl landsteiner

đã phân thành 3 nhóm máu, đặt tên là Nhóm A, nhóm B và nhóm O Năm

1902 Decastello và Sturli đã xác định thêm nhóm máu thứ 4 và gọi là nhóm

AB Sau này các nhà khoa học khác cũng có những nghiên cứu sâu hơn về nhóm máu này và có sự đặt tên khác là nhóm I, II, II và IV nhưng cho tới nay tên nhóm máu do Karl landsteiner đặt vẫn được sự dụng phổ biến nhất vì tên

Trang 28

gọi này dựa trên loại kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu Sau này khi phát hiện kháng nguyên H, tiền thân của kháng nguyên A và B, tồn tại trên hồng cầu cùng với kháng nguyên A, B nhưng theo tỉ lệ ngược nhau và đặc biệt có nhiều trên hồng cầu nhóm máu O nên hệ nhóm máu ABO còn được gọi là hệ nhóm máu ABH, tên gọi này chủ yếu sử dụng trong lĩnh vực miễn dịch học, còn trong y học vẫn sử dụng tên gọi là nhóm máu ABO Sau khi phát hiện hệ thống nhóm máu ABO, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu và tới nay

đã xác định 256 kháng nguyên của 23 hệ thống nhóm kháng nguyên hồng cầu máu người: nhóm Rh, nhóm MN…và hàng trăm nhóm kháng nguyên huyết thanh người Gn, Gc, Hp… Tuy vậy chỉ có nhóm ABO và nhóm Rh là có vai trò quan trọng trong thực tiễn cuộc sống và y học, các nhóm máu khác chỉ có

ý nghĩa trong nghiên cứu miễn dịch học hoặc di truyền y học, nhân chủng học… Nhóm máu ABO không chỉ có vai trò quan trọng trong công việc truyền máu cứu chữa bệnh nhân mà đã sớm được sử dụng trong công việc điều tra tội phạm hình sự và một thời gian khá dài đã là công cụ hữu hiệu của các cơ quan tư pháp trong việc điều tra các vụ án hình sự cũng như giải quyết các vụ án tranh chấp trẻ em

Sau khi Karl Landsteiner [7,8] phát hiện hệ nhóm máu ABO, ngoài việc nghiên cứu để xác định các hệ thống nhóm máu khác, các nhà khoa học còn tập trung nghiên cứu xây dựng các phương pháp xác định các hệ thống nhóm máu, chủ yếu là nhóm máu ABO, Rh để sử dụng trong y học và khoa học hình sự Hai phương pháp xác định nhóm máu của các mẫu máu tươi là phương pháp Best Vincent (sử dụng kháng thể để xác định kháng nguyên) và phương pháp Simonin (sử dụng kháng nguyên để xác định kháng thể) là 2 phương pháp hoàn chỉnh nhất được sử dụng trên toàn thế giới từ trước tới nay Năm 1915 bác sĩ Leon Lattess đã đề xuất phương pháp xác định nhóm máu ABO của các mẫu máu khô [9] Theo L.Lattes khi máu khô, hồng cầu bị

Trang 29

phá hủy, do vậy không thể tách để xác định kháng nguyên hồng cầu bằng phản ứng ngưng kết tế bào và ông đã đề ra phương pháp xác định kháng thể trong mẫu máu đề từ đó xác định nhóm máu Năm 1960, Kind SS Absortion

và Elution đã công bố phương pháp xác định kháng nguyên ở vết máu khô, gọi là phương pháp hấp phụ – tách (Absortion-Elution) Hai phương pháp Lattes và hấp phụ – tách có hạn chế là kết quả phụ thuộc chất lượng, số lượng dấu vết và phụ thuộc khá nhiều vào kĩ thuật nhưng vẫn là hai phương pháp có

độ tin cậy cao, đã và đang được sử dụng trong việc xác định nhóm máu của dấu vết máu khô Tùy theo từng vụ việc cụ thể mà các phương pháp này cũng

có tác dụng nhất định trong định hướng điều tra hoặc xét xử tội phạm Từ đó đến nay một số nước trên thế giới vẫn đang duy trì cả hai lĩnh vực giám định các dấu vết sinh học có nguồn gốc từ con người bằng cả hai phương pháp huyết thanh học và giám định gen [6,9]

Ngoài các phương pháp nêu trên còn có rất nhiều các phương pháp khác để xác định nhóm máu hệ thống ABO nhưng hoặc là kĩ thuật phức tạp, khó thực hiện, hoặc là độ tin cậy không cao do vậy ít được sử dụng trong thực tiễn

Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu đề cập đến dấu vết máu hình sự Tuy nhiên, hầu hết chỉ đề cập đến nghiên cứu định lượng AND

Một số nghiên cứu trước đây về sự tác động của nhân tố môi trường lên

chất lượng của dấu vết máu khi sử dụng kỹ thuật RFLP (Restriction Fragment

Length Polymorphism) hay kỹ thuật Đa hình chiều dài đoạn cắt giới hạn

Công trình nghiên cứu: “sự tác động của yếu tố môi trường và vật mang lên phân tử ADN” có sử dụng vào các mẫu vật chứng từ các vụ án ở thành phố New York, được tiến hành vào năm 1989 bởi Lorah McNally, Robert C.Shaler, Michael Baird, Ivan Balazs, Lawrence Kobilinsky và Peter

Trang 30

De Forest [9] Nghiên cứu đi vào phân tích các tác động của môi trường và vật mang lên chất lượng của ADN tách chiết được từ các vật chứng của các vụ

án Chất lượng của ADN tách chiết được từ các vụ án thực tế, xác định bằng việc đo kích thước các băng vạch xuất hiện trên bản gel của điện di agarose Thông tin nhận được giúp dự đoán mức độ phù hợp của ADN trong các mẫu vật chứng để sử dụng cho phương pháp phân tích đa hình chiều dài các đoạn cắt giới hạn (RFLP) Các mẫu vật chứng được lựa chọn theo chất liệu của vật mang (dấu vết máu cạo, túi nhựa, vải tổng hợp, vải bông chéo, vải trải thảm)

và chất lượng cảm quan của dấu vết (bị bẩn bởi đất cát, bụi, hoặc bị tạp nhiễm) và cả kích cỡ của dấu vết (to, nhỏ) Kết quả cho biết ADN tách chiết

từ các mẫu vật chứng ở những điều kiện môi trường chưa được biết trước sau

đó được làm khô trên các vật mang khác nhau có đủ chất lượng và trọng lượng phân tử cho việc phân tích RFLP hay không? Đây là một nghiên cứu khá đầy đủ về các yếu tố thường tác động đên chất lượng của dấu vết máu sử dụng kỹ thuật RFLP, là một kỹ thuật đã cũ và có nhiều nhược điểm so với phương pháp STR được dùng phổ biến hiện nay trong kỹ thuật dấu vân tay di truyền

Một nghiên cứu khác cũng được tiến hành cùng vào năm 1989 đó là nghiên cứu đánh giá ADN tách chiết được từ các dấu vết máu người sau khi

được xử lý với tia cực tím, nguồn nhiệt, độ ẩm và nhiễm bẩn đất cát (Journal

of Forensic Sciences) bởi nhóm các nhà khoa học: Lorah McNally, Robert

C Shaler, Michael Baird Ivan Balazs, 1 Ph.Peter De Forest, D Crim và Lawrence Kobilinsky Nghiên cứu này phân tích các tác động của các điều kiện môi trường thường gặp lên khả năng thu nhận ADN thông qua kỹ thuật RFLP từ những mẫu khảo nghiệm Các điều kiện môi trường được tạo ra bằng cách sử dụng các dấu vết máu đã được làm khô sau đó đưa vào môi trường có

ẩm độ tương ứng là: 0, 33, 67, và 98 %, sử dụng nguồn nhiệt ở 37oC và tia

Trang 31

cực tím với từng khoảng thời gian, tối đa là 5 ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy dưới điều kiện nghiên cứu, chất lượng và số lượng của ADN không làm hỏng kiểu gen thu được theo phương pháp RFLP Các yếu tố tác động chỉ làm cho chỉ thị RFLP trở nên yếu hơn

Nghiên cứu sự tác động của nhiệt độ và độ pH lên dấu vết máu được thực hiện bởi Kannika Sutthapodjanarux, Nathinee Panvisavas và Nopadol Chaikum thuộc Đại học Mahidol, Bangkok, Thái Lan năm 2009 Trong nghiên cứu này, sự tác động của nhiệt độ và pH lên việc phân tích ADN và phát hiện ra dấu vết máu bằng nguồn sáng so le Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc sử dụng nguồn sáng so le để phát hiện dấu vết máu trên hai bề mặt khác nhau không bị tác động bởi nhiệt độ và độ pH của dấu vết Dung dịch có tính kiềm và acid đậm đặc có tác động đến việc phân tích ADN Tuy nhiên, các kết quả phân tích ADN vẫn có thể được thu nhận được từ các dấu vết máu

đã được xử lý bằng NaOH 0.1M và nhiệt độ thấp hơn 2500C

Nghiên cứu sự tác động đến sự đứt gãy ADN và sự ức chế lên phản ứng PCR của các mẫu giám định hình sự của Bruce McCord, Kerry Opel, Maribel Funes, Silvia Zoppis, và Lee Meadows Jantz thực hiện tháng 11/2011 tại đại học quốc tế Florida và đại học Tennessee Knoxville Mục đích của nghiên cứu này là phân tích cơ chế của sự ức chế PCR, sự đứt gãy và các tác động của môi trường lên sự đứt gãy của phân tử ADN Những tác động này đã được biết đến là làm nghèo sự khuếch đại và bị mất alen (alen dropout) Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự về vấn đề các nhân

tố ức chế làm nghèo sản phẩm PCR và cơ chế của sự đứt gãy thường có mặt trong mẫu vật chứng của các vụ án hình sự Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng: các yếu tố môi trường gây hư hại tới ADN trong mẫu mô xảy ra nhanh đến mức ADN gần như không thể thu hồi được Quá trình các phân tử ADN khuôn trong các mẫu bị bẻ gãy thành các phân đoạn rất nhỏ diễn ra trong thời

Trang 32

gian chưa đến 3 tuần Sự tác động của quá trình oxi hóa là rất nhỏ Sự kết hợp của realtime PCR và sử dụng đường cong biến tính ADN là một công cụ hữu hiệu để phát hiện sự ức chế PCR và cho phép phân loại các nhân tố ức chế Chiều dài của ADN mạch khuôn và nồng độ các chất ức chế cho thấy các nhân tố ức chế PCR có thể tác động đến các phản ứng có Taq polymerase qua

đó làm giảm tổng lượng sản phẩm ADN Các nhân tố ức chế PCR tác động đầu tiên lên các alen có độ dài lớn nhất, rồi mới đến các alen có độ dài nhỏ hơn

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những năm qua, do tính đặc thù cao nên trong nước rất hiếm có những

đề tài nghiên cứu về chất lượng của dấu vết máu phục vụ giám định hình sự

Mới đây, công trình nghiên cứu lý luận về vai trò của dấu vết máu: Luận án tiến sỹ của Lê Quốc Huy [5], Học viện Cảnh sát nhân dân có tên

“Nghiên cứu dấu vết sinh vật trong hoạt động điều tra tội phạm” được tiến hành năm 2012 Đề tài đã bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về dấu vết sinh vật nói chung và dấu vết máu trong hoạt động điều tra tội phạm Tuy nhiên đây là công trình nghiên cứu mang tính lý luận, đặc biệt trong hoạt động điều tra qua các công tác: phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá, giám định dấu vết sinh học nói chung Đề tài chưa đi sâu về các vấn đề

kỹ thuật sinh học để đánh giá về các dấu vết sinh vật và dấu vết máu phục vụ giám định sinh học hình sự

Năm 2006, Công trình nghiên cứu “Bảo tồn Ex-situ vật liệu sống và xây dựng cơ sở dữ liệu cho các tàng thư an ninh” được tiến hành bởi ThS Trần Minh Đôn và các cộng sự [2], Viện Kỹ thuật hóa sinh và tài liệu nghiệp

vụ, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Công an Đề tài có sử dụng đối tượng nghiên cứu

Trang 33

là khoảng trên 200 mẫu máu thu ở hiện trường các vụ án hình sự hoặc các đối tượng phạm tội Các mẫu máu được bảo quản trên các vật mang khác nhau và lưu giữ tại nhiệt độ âm sâu Các mẫu bảo quản được theo dõi đánh giá định kỳ hàng năm bằng kỹ thuật phân tích gen: tách ADN, thực hiện phản ứng PCR

sử dụng mồi của 9 locus đa hình STR (hệ AmpF/ STR Profiler Plus) và điện

di phân tích sản phẩm PCR Qua kết quả điện di có thể đánh giá được sự tồn tại của ADN trên mẫu sinh phẩm lưu giữ Tiến hành lấy xác xuất 5 mẫu trong

số mẫu bảo quản của từng năm Kết quả phân tích trên (thực hiện năm 2006) đối chiếu với kiểu gen đã phân tích ban đầu (các năm 2002, 2003, 2004, 2005) cho thấy tất cả các mẫu máu lưu để bảo tồn vẫn đảm bảo phục vụ cho giám định gen (vẫn phân tích được kiểu gen) Đây chỉ là một phần nhánh của

đề tài, nên chưa đi sâu nghiên cứu được cụ thể một số điều kiện về vật lý, hóa sinh ảnh hưởng đến chất lượng ADN Chưa đánh giá cụ thể về chất lượng của kiểu gen thu được, mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá là có phân tích được kiểu gen hay là không, mà chưa đưa ra được con số định lượng ADN tổng số sau tách chiết, chất lượng của hồ sơ kiểu gen thu được khi phân tích thể hiện bằng

số alen còn, mất, tỷ lệ nhiễu…

Trước yêu cầu thực tiễn về nghiên cứu sự tồn tại của kháng nguyên, kháng thể ở dấu vết máu khô, do đó đề tài “Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong điều kiện môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự” nhằm đưa ra các đánh giá tương đối chi tiết về sự tồn tại của kháng nguyên, kháng thể trong một số điều kiện cụ thể, phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm sinh học của Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đáp ứng yêu cầu công tác điều tra, khám nghiệm hiện trường và giám định nhóm máu từ dấu vết máu đạt hiệu quả cao hơn nữa

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH CHỌN MẪU

2.1.1 Cách chọn mẫu

Các dấu vết máu được chọn để khảo sát lấy từ hai nguồn chính:

- 30 mẫu máu từ hiện trường các vụ án giết người, cố ý gây thương tích, cướp tài sản, tai nạn giao thông…Dấu vết máu có thời gian tồn tại ở hiện trường khác nhau được phân làm 3 nhóm với khoảng cách về mặt thời gian là

3 ngày, 10 ngày và 5 tuần Các mẫu vật được gửi đến trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc Các dấu vết máu được chọn được thu thập trên một loại vật mang là vải cotton

- 48 mẫu máu tươi được thấm vào vật mang là các mảnh vải bằng chất liệu cotton sạch, vô khuẩn và được bố trí trong các điều kiện nhân tạo về nhiệt

độ, độ ẩm, theo các mốc thời gian là 10 phút, 3 ngày, 10 ngày và 5 tuần 2.1.2 Các vật liệu sử dụng để giám định định hướng, xác định protein đặc hiệu và nhóm máu

Trang 35

* Thiết bị : Máy ly tâm (Mikro 200 – Hittich/Đức), Kính hiển vi sinh học và

Tủ ấm

* Dụng cụ: Pipet các loại, nhiệt kế, ẩm kế, plate 96 giếng, đầu côn các loại, lọ thủy, tinh, bình đun sôi, phễu, đũa thủy tinh, đĩa perti, phiến kính, lam kính, kéo, panh, găng tay cao su

2.1.3 Thời gian và địa điểm thực hiện

Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 4 – 2015 đến tháng 12 – 2015

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các dấu vết máu từ thu được từ hai nguồn, thứ nhất là từ các vụ án hình sự, thứ hai là các dấu vết khảo nghiệm được tạo ra trong phòng thí nghiệm

Đối với các dấu vết máu thu từ hiện trường các vụ án, do không phân

tích được biệt lập từng yếu tố môi trường tác động nên được phân thành 2 nhóm chính là: 1/ Dấu vết máu thu được trong nhà và 2/ Dấu vết máu thu được ngoài trời với mốc thời gian 3 ngày, 10 ngày và 5 tuần Ngoài ra, các dấu vết máu thu được ở hiện trường ngoài trời còn được phân thành 2 nhóm tương ứng với hai mùa trong năm của khí hậu Miền bắc Việt Nam là: Mùa hè (tương ứng với các tháng tháng 4,5,6) và mùa đông (tháng 10, 11, 12) trong năm 2015 Các dấu vết máu được lựa chọn làm để nghiên cứu không bị tác động trực tiếp từ những hoạt động của con người như bị giặt tẩy, chùi xóa, sử dụng hóa chất,…

Trang 36

Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm đối với mẫu thu từ hiện trường vụ án

Với các mẫu máu khảo nghiệm: các dấu vết máu được tạo ra bằng cách

sử dụng các mẫu máu tươi, chưa bị đông (không sử dụng chất chống đông) là máu người, được nhỏ với lượng khoảng 1ml lên vật mang là những mảnh vải coton khô, sạch sau đó đưa vào các điều kiện giả định về nhiệt độ, độ ẩm

- Các mẫu khảo nghiệm được xử lý nhiệt bằng cách để trong tủ ấm với các mức nhiệt độ được điều chỉnh ở 370C, 450C với các mốc thời gian là 3,

10 ngày, 5 tuần Riêng ở nhiệt độ 1000C thì để ở thời gian 10 phút

Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm đối với mẫu khảo nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau

Trang 37

- Các mẫu được để trong môi trường được duy trì ẩm độ: dùng các buồng ẩm được chuẩn bị bằng việc sử dụng các lọ thủy tinh dung tích 2000

ml có nắp đậy kín Duy trì độ ẩm bằng dung dịch bão hòa ở 200C Các dấu vết máu khảo nghiệm trên các mảnh vải sẽ được treo lơ lửng trong không gian của bình thủy tinh được duy trình ẩm độ ở các mức 0, 55 và 98% trong vòng

3, 10 ngày, và 5 tuần

Mẫu máu được duy trì trong bình kín với ẩm độ 0% bằng cách sử các gói hút ẩm với bản chất là silicagel Bình giữ độ 55% được duy trì bằng dung dịch calcium chloride bão hòa (CaCl2.6H20) Bình giữ độ 98% được duy trì bằng dung dịch đồng sulfate (CuSO4.5 H2O)

Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm đối với mẫu khảo nghiệm ở các điều kiện

Ở mỗi mức nhiệt độ và độ ẩm khảo nghiệm, tiến hành phân tích một mẫu đôi tương ứng cho từng nhóm (tức là 2 dấu vết máu của mỗi nhóm ở cùng một điều kiện)

Các dấu vết máu thu nhận từ các vụ án hình sự, sau khi được đánh giá cảm quan về chất lượng và số lượng cùng với việc khai thác thông tin về thời

Trang 38

gian tồn tại ở ngoài môi trường, các tác nhân vật lý (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…), chất liệu của vật mang dấu vết sẽ được giám định định hướng, xác định protein loài để xác định là máu người Sau đó, xác định nhóm máu hệ ABO bằng phương pháp Lattes và hấp phụ - tách

Chất lượng mẫu máu thể hiện qua mức độ tạo ngưng kết tế bào hồng cầu mẫu, qua đó đánh giá khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể có trong mẫu

2.2.2 Phương pháp giám định định hướng dấu vết máu

Xác định đính hướng dấu vết máu bằng cách sử dụng bộ kít Phenophthalein do Viện Khoa học hình sự sản xuất gồm 3 loại dung dịch:

2.2.3 Phương pháp xác định protein loài theo Ochterlony [7,8]

Sử dụng phản ứng khuếch tán miễn dịch kép theo phương pháp của Ochterlony để xác định protein đặc hiệu loài đối với dấu vết máu:

Trang 39

Nguyên tắc của phản ứng

Trong huyết thanh, trong các dịch cơ thể đều có chứa các kháng nguyên đặc hiệu loài Khi các kháng nguyên này kết hợp với các kháng thể đặc hiệu sẽ tạo thành dạng kết tủa nhìn thấy được

Cách tiến hành

Dùng kéo cắt một mảnh nhỏ dấu vết (cỡ 0,1 x 0,1 cm) cho vào lỗ thạch trung tâm, dùng pipet cho nước cất vào đầy lỗ thạch, sao cho thấm hết mảnh dấu vết và không để có bọt khí, lượng nước thêm vào nhằm để cho các phân

tử protein trong dấu vết tan ra và khuyếch tán ra xung quanh (quá trình chiết dấu vết) Nếu dấu vết máu quá khô hoặc vết máu quá cũ thì nên chiết dấu vết bằng nước cất trước, sau đó lấy dịch chiết với đệm làm phản ứng Thời gian chiết từ 2 – 24 giờ tuỳ theo tuổi dấu vết Trong trường hợp lượng dấu vết ít (vết máu đã bị ngâm nước hoặc đã bị giặt qua, chỉ còn màu nâu nhạt ) phải tăng lượng dấu vết lấy làm phản ứng hoặc phải chiết, cô đặc dấu vết để làm phản ứng

- Nếu mẫu giám định ở dạng lỏng (máu lỏng, dịch chiết dấu vết) thì dùng pipet cho mẫu vào đầy lỗ, không để có bọt khí

- Để đĩa thạch ở nhiệt độ phòng Tuỳ theo chất lượng dấu vết, chất lượng kháng huyết thanh, thời gian xuất hiện kết quả phản ứng sẽ khác nhau Thời gian phản ứng có thể từ 4 giờ đến tối đa là 24 giờ, thông thường là 8 - 12 giờ Khi xem kết quả nên dùng một màn tối màu đặt ở phía sau đĩa thạch hoặc dùng đèn chiếu xiên, chiếu từ phía sau đĩa thạch, theo phương xiên góc,

sẽ nhận thấy vạch tủa rõ hơn Chú ý phân biệt vết mốc, vết xước với vạch kết tủa

Đánh giá kết quả

Trang 40

- Phản ứng dương tính: Khi có một (hoặc 2- 3) vạch tủa màu trắng, thẳng (hoặc hơi cong), dài khoảng 0,5 cm nằm ở khoảng giữa và vuông góc với đường thẳng nối tâm của lỗ thạch chứa dấu vết và lỗ thạch chứa kháng

huyết thanh xuất hiện kết tủa với kháng huyết thanh kháng protein của loài

nào thì dấu vết là máu của loài đó

- Phản ứng âm tính: Không có vạch tủa

2.2.4 Xác định thành phần kháng thể trong dấu vết máu khô bằng

Phương pháp Lattes (Dr.Leon Lattes, Italy, 1915)

- Nguyên tắc của phương pháp: xác định kháng thể chưa biết bằng kháng nguyên đã biết

- Hồng cầu mẫu dùng trong phản ứng Lattes phải được pha loãng thành hỗn dịch có màu hơi hồng, sao cho khi cho vào khoảng trống dưới lá kính đậy, hồng cầu lắng xuống thành 1 lớp tế bào nằm sát nhau, không chồng chéo lên nhau

- Thực hiện phản ứng: Trên một tấm kính 10 x 15 cm x 0,3 cm, đánh

dấu 2 vị trí A , B và O Cắt 3 mảnh dấu vết máu, mỗi mảnh tối thiểu cỡ 0,3 x 0,3 x 0,05 cm cho lên 3 vị trí đã đánh dấu Đậy lá kính mỏng lên trên dấu vết Dùng pipét cho hồng cầu mẫu vào đầy khoảng trống dưới lá kính đậy sao cho thấm hết vào mảnh dấu vết và không có bọt khí: hồng cầu mẫu A cho vào vị trí A, hồng cầu mẫu B cho vào vị trí B và hồng cầu mẫu O vào vị trí O Đậy tấm kính bằng đĩa thuỷ tinh để tránh bay hơi nước Đọc kết quả sau 15 - 60 phút dưới kính hiển vi Nếu trong dấu vết có các kháng thể kháng A hoặc kháng B thì các kháng thể này sẽ hoà tan vào hỗn dịch hồng cầu và gây ngưng

kết các hồng cầu mẫu tương ứng

- Khi đọc kết quả, phải quan sát các hồng cầu nằm ở toàn bộ khoảng bao quanh mảnh dấu vết để xác định có sự ngưng kết (+) hay không có

Ngày đăng: 24/08/2016, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.Các tế bào hồng cầu và limpho bào. - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 1.1. Các tế bào hồng cầu và limpho bào (Trang 16)
Hình 1.2. Phân bố máu trong cơ thể. - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 1.2. Phân bố máu trong cơ thể (Trang 17)
Hình 1.7. Phân bố kháng nguyên, kháng thể của nhóm máu hệ ABO. - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 1.7. Phân bố kháng nguyên, kháng thể của nhóm máu hệ ABO (Trang 20)
Hình 1.6. Cách kết dính của kháng nguyên trên màng hồng cầu. - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 1.6. Cách kết dính của kháng nguyên trên màng hồng cầu (Trang 20)
Hình 1.9. Nhóm máu và hiện tượng kết tủa. - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 1.9. Nhóm máu và hiện tượng kết tủa (Trang 22)
Hình 1.10. Hồng cầu kết dính với nhau khi bị ngưng kết. - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 1.10. Hồng cầu kết dính với nhau khi bị ngưng kết (Trang 22)
Hình 3.1. Phản ứng xuất hiện màu tím trong thử định hướng dấu vết máu  bằng dung dịch Phenolphthalein - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
Hình 3.1. Phản ứng xuất hiện màu tím trong thử định hướng dấu vết máu bằng dung dịch Phenolphthalein (Trang 46)
1.2. Hình mẫu ký hiệu MA4 (mẫu thu được từ hiện trường vụ án) - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.2. Hình mẫu ký hiệu MA4 (mẫu thu được từ hiện trường vụ án) (Trang 75)
1.3. Hình mẫu ký hiệu MA15 (mẫu thu được từ hiện trường vụ án) - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.3. Hình mẫu ký hiệu MA15 (mẫu thu được từ hiện trường vụ án) (Trang 76)
1.4. Hình mẫu ký hiệu MA25 (mẫu thu được từ hiện trường vụ án) - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.4. Hình mẫu ký hiệu MA25 (mẫu thu được từ hiện trường vụ án) (Trang 76)
1.6. Hình bố trí mẫu khảo nghiệm trong điều trong nhà mùa hè - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.6. Hình bố trí mẫu khảo nghiệm trong điều trong nhà mùa hè (Trang 77)
1.7. Hình bố trí mẫu khảo nghiệm trong điều ngoài trời mùa hè - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.7. Hình bố trí mẫu khảo nghiệm trong điều ngoài trời mùa hè (Trang 78)
1.10. Hình kết quả xác định thành phần kháng thể bằng phương pháp  Latess của mẫu MA2 (mức độ ngưng kết +++) - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.10. Hình kết quả xác định thành phần kháng thể bằng phương pháp Latess của mẫu MA2 (mức độ ngưng kết +++) (Trang 79)
1.11. Hình kết quả xác định thành phần kháng thể bằng phương pháp  Latess của mẫu KNB5 (mức độ ngưng kết +) - Nghiên cứu khả năng tồn tại của kháng nguyên và kháng thể nhóm máu hệ ABO trong môi trường ngoài cơ thể phục vụ công tác giám định sinh học hình sự
1.11. Hình kết quả xác định thành phần kháng thể bằng phương pháp Latess của mẫu KNB5 (mức độ ngưng kết +) (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w