Nghiên cứu hóa học, hoạt tính sinh học của các lipid rất phức tạp, việc phân lập từng hợp chất lipid riêng biệt rất khó khăn,và sự sử dụng chúng làm các sản phẩm dược phẩm gặp nhiều hạn
Trang 1VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn: 1 GS.TS Phạm Quốc Long – Viện Hóa học các Hợp chất
thiên nhiên – Viện HLKH&CN Việt Nam
2 TSKH Andrey B Imbs – Viện Sinh vật biển
Zhirmunsky – Phân viện Viễn Đông – LB Nga
Vào hồi ………giờ, ngày …… tháng …… năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
Trang 3I GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Tính cấp thiết
Rạn san hô có vai trò lớn trong việc duy trì cân bằng sinh thái biển Lipid là thành phần hóa học quan trọng, chiếm tới 40% sinh khối khô của san hô, là cơ sở cấu trúc của màng tế bào các polip và có vai trò dự trữ năng lượng Thành phần lipid, axit béo phản ánh sự đa dạng sinh hóa, các nguồn dinh dưỡng, các mối quan hệ cộng sinh, các con đường sinh tổng hợp và sự vận chuyển theo chuỗi thức ăn các dạng ban đầu của lipid, sức khỏe của san
hô Nghiên cứu hóa học, hoạt tính sinh học của các lipid rất phức tạp, việc phân lập từng hợp chất lipid riêng biệt rất khó khăn,và sự sử dụng chúng làm các sản phẩm dược phẩm gặp nhiều hạn chế bởi mỗi lớp chất lipid là một hỗn hợp của 50 đến 200 hợp chất hóa học riêng biệt (còn được gọi là các “dạng phân tử”), giống nhau đầu phân cực, khác nhau mạch acyl hoặc alkyl trong phân tử Hiện nay, với các thiết bị nghiên cứu hiện đại, khoa học thế giới đã đạt được những tiến bộ lớn trong việc phân tích các thành phần hóa học của dạng phân tử của một số lớp lipid không phân cực ở thực vật và lipid phân cực ở một số loài ruột khoang Cho tới nay thông tin về thành phần dạng phân tử của lớp chất phospholipid – lớp chất chứa đựng nhiều thông tin về quá trình sinh tổng hợp lipid của san hô hoàn toàn chưa được công bố ở Việt Nam cũng như trên thế giới
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần lipid
và các dạng phân tử của phospholipid từ một số loài san hô mềm ở Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về lipid, axit béo và và đặc
biệt là lớp chất phospholipid của 3 loài san hô mềm Việt Nam (Sinularia macropodia Xenia sp và Capnella sp.) nhằm bổ sung thêm các số liệu mới
vào bộ cơ sở dữ liệu về lipid san hô Việt Nam
- Phân tích các số liệu thu được nhằm tìm ra các lipid đánh dấu, mối quan hệ trong hệ cộng sinh giữa san hô vật chủ và vi sinh vật cộng sinh, phân loại … đối với các loài được nghiên cứu
Trang 4- Thu được các số liệu hoàn toàn mới về dạng phân tử phospholipid từ đối tượng san hô Việt Nam, mở ra một hướng nghiên cứu mới chuyên sâu
hơn về lĩnh vực này
3 Nội dung nghiên cứu chính của luận án
• Phân tích hàm lượng lipid tổng và thành phần, hàm lượng các lớp chất
trong lipid tổng của 3 loài san hô nghiên cứu
• Phân tích thành phần hàm lượng các axit béo trong lipid tổng, trong lớp chất lipid phân cực và không phân cực của 3 loài san hô nghiên cứu
• Phân tích thành phần, hàm lượng các lớp chất phospholipid của ba loài san hô nghiên cứu
• Nghiên cứu dạng phân tử của các lớp chất phospholipid
• Khảo sát hoạt tính sinh học của các lớp chất, phân lớp lipid phân lập từ các mẫu san hô nghiên cứu
4 Những điểm mới của luận án
1 Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chi tiết về thành phần và hàm
lượng các lớp chất lipid, axit béo, phospholipid của 3 loài san hô mềm
Sinularia macropodia, Xenia sp và Capnella sp thu thập tại vùng biển Việt
Nam
2 Lần đầu tiên, các dạng phân tử phosphlipid: phosphatidylcholine (PC),
phosphatidylethanolamine (PE), phosphatidylserine (PS), ceramide aminoethylphosphonate (CAEP), phosphatidylinositol (PI), các lyso phospholipids LPC, LPE, LPS trong 3 loài san hô mềm đã được xác định, bao gồm: 15 dạng phân tử của PC và 3 dạng phân tử LPC, 25 dạng phân tử
PE và 2 dạng LPE, 7 dạng phân tử PS và LPS, 2 dạng phân tử là CAEP, 32 dạng phân tử của PI
3 Lần đầu tiên phát hiện sự có mặt của axit béo mạch siêu dài nằm trong
các dạng phân tử PI 18:0/26:5 và PI 18:0/26:6 có mặt trong các mẫu san hô mềm
4 Đã chứng minh được cấu trúc của hợp chất CAEP 16:0/18:2base lần
đầu tiên phân lập từ đối tượng san hô mềm
5 Đã đề xuất vai trò biomarker của thành phần lipid và axit béo đối với
san hô:
Trang 5- Dạng phân tử PC 16:0e/18:4 là minh chứng cho sự vận chuyển axit béo
từ vi sinh vật cộng sinh sang sang hô vật chủ
- Axit béo mạch dài C24 là đặc trưng sinh tổng hợp của san hô vật chủ trong hệ cộng sinh san hô – zooxanthellae có mặt phần lớn trong phân lớp
PS, PI
5 Bố cục của luận án
Luận án gồm 120 trang, trong đó có 41 hình, 28 bảng, 1 sơ đồ Bố cục của luận án: Mở đầu (2 trang); Chương 1: Tổng quan (37 trang); Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu (6 trang), Chương 3: Thực nghiệm (14 trang); Chương 4: Kết quả và thảo luận (48 trang); Kết luận và kiến nghị (3 trang); Danh mục các công trình công bố của luận án (1 trang); Tài liệu tham khảo (11 trang); Ngoài ra còn có 29 trang phụ lục với các hình phổ, kết quả phân tích TLC, GC-MS, HRMS, NMR
II NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
MỞ ĐẦU Phần mở đầu đề cập đến ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn, đối tượng
và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Trong phần tổng quan, luận án đã giới thiệu các khái niệm chung về lipid, phân loại lipid phân cực và tổng hợp một số hoạt tính sinh học của lipid sinh vật biển Qua tài tìm hiểu tài liệu tổng quan cho thấy, thành phần lipid, axit béo có vai trò đánh dấu sinh học (biomarker) đối với san hô, thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: đặc điểm dinh dưỡng, phân loại sinh thái, tính chất của hệ cộng sinh, sức khỏe của san hô và phân loại chemotaxonomy Luận án cũng nêu lên vai trò của phương pháp phổ khối lượng trong phân tích lipid
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
San hô mềm Sinularia macropodia (Anthozoa, Octocorallia, Alcyonacea, Alcyoniidae);, Xenia sp (Anthozoa, Octocorallia, Alcyonacea,
Xeniidae) và Capnella sp (Anthozoa, Octocorallia, Alcyonacea,
Nephtheidae), thu thập tại vùng biển Nha Trang, Việt Nam năm 2013-2014,
Trang 6được định tên bởi PGS TS Đỗ Công Thung và các cs., lưu trữ tiêu bản tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chiết lipid tổng
Chiết lipid tổng theo phương pháp của Folch J.F (1957), là phương pháp thường quy được sử dụng để chiết lipid với đối tượng san hô tại phòng thí nghiệm Viện Sinh vật biển, phân viện Viễn Đông, LB Nga
2.2.2 Phương pháp phân lập các lớp chất, phân lớp lipid
Sắc ký lớp mỏng (TLC) và sắc ký lớp mỏng điều chế, sắc ký cột (CC), sắc ký lỏng cao áp (HPLC)
2.2.3 Phương pháp xác định thành phần và hàm lượng các lớp chất lipid, phospholipid
2.2.4 Xác định thành phần và hàm lượng các axit béo
Hỗn hợp methyl ester của axit béo được phân tích trên máy sắc ký khí
GC và sắc ký khí kết nối khối phổ GC-MS, sử dụng thư viện phổ chuẩn NIST để so sánh
2.2.5 Phương pháp xác định dạng phân tử và cấu trúc của các hợp chất
và các phân lớp phospholipid
a Dạng phân tử các phospholipid từ các mẫu san hô được phân tích bằng phương pháp phổ khối phân giải cao HRMS, được ghi trên thiết bị Shimadz LCMS-IT-TOF, do hãng Shimadzu (Kyoto, Nhật Bản) cung cấp
b Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều 1H NMR, 13C NMR và 2 chiều HSQC, HMBC, COSY được ghi trên máy Bruker Avance DPX-700 (Karlsruhe, Germany) ở 700 và 125 MHz, sử dụng TMS là chất chuẩn nội (CDCl3, 30oC), đo tại Viện Hóa sinh Hữu cơ, FEB, RAS)
Trang 72.2.6 Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA)
Trong luận án, phân tích PCA sử dụng phần mềm chương trình
”Statisticstica 5.1” (StatSoft, Inc., USA)
2.2.7 Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học
Thử nghiệm hoạt tính kháng VSV kiểm định và hoạt tính gây độc tế bào: được thực hiện tại phòng Sinh học thực nghiệm – Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM
Sơ đồ nghiên cứu chung
Phần này miêu tả các quá trình chiết lipid tổng, xác định thành phần
và hàm lượng các lớp chất lipid và phospholipid, phân tích thành phần và hàm lượng axit béo trong lipid tổng, lipid trung tính và lipid phân cực, phân lập các phân lớp lipid để phân tích dạng phân tử, xác dịnh dạng phân tử của
Trang 8các chất chuẩn phospholipid và các phân lớp phospholipid phân lập dược, đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định và hoạt tính gây độc tế bào của lipid tổng, lipid phân cực và các phân lớp phospholipid
Sử dụng phổ khối phân giải cao phân tích các chất chuẩn phospholipid và các mẫu nghiên cứu
- Một số chất chuẩn phospholipid đã được thực hiện phân tích sử dụng phương pháp phổ khối phân giải cao IT-TOF/HRMS trong điều kiện ion hóa hóa học tại áp suất khí quyển (APCI) và ion hóa phun mù điện tử (ESI) Lipid được phát hiện bởi bộ phận phân tích khối kết hợp song song hai kỹ thuật bẫy ion và thời gian bay trong một bộ phận của thiết bị Shimadzu LCMS-IT-TOF (Kyoto, Japan), hoạt động đồng thời ở cả hai chế
độ ion âm và ion dương trong mỗi phân tích Các chất chuẩn phospholipid
được phân tích và sử dụng dữ liệu để so sánh: glycero-3-phosphocholine (PC),1-O-(1Z-octadecenyl)-2-oleoyl-sn-glycero-
1-O-hexadecyl-2-oleoyl-sn-3-phosphoethanolamine (PE) (Avanti Polar Lipid, Inc Alabaster, Alabama, USA), và hỗn hợp phospholipid từ đậu tương (L-α-Lecithin Type II-S from Soybean, PC hàm lượng 20 %, Sigma Chemicals Co., St Louis, MO, USA)
- Các phân đoạn PE, PC, CAEP, PI, LPC, PS được hòa tan trong MeOH, và tiến hành phân tích dạng phân tử trên thiết bị LCMS-IT-TOF Các dạng phân tử của từng phân lớp phospholipid được phát hiện bởi HRMS và xác định bằng việc so sánh với bộ phổ chất chuẩn của hãng Shimadzu Solution với phần mềm xử lý v.3.60.361 Quá trình định lượng các loại phân tử của mỗi lớp chất lipit phân cực được tính toán theo diện tích mỗi pic chất thu được trên phổ ion âm và ion dương
Hằng số vật lý và các dữ kiện phổ của hợp chất phân lập được từ loài Xenia sp
Hợp chất CAEP phân lập từ mẫu san hô mềm Xenia sp sau khi tinh
chế bằng HPLC, được tiến hành đo phổ NMR để làm rõ cấu trúc
Đặc tính hóa lý và dữ liệu NMR: Dạng vô định hình màu trắng;
1H NMR (700 MHz, CDCl3+CD3OD) ppm: 4.04 (1H, m, H-1a), 3.75 (1H, m, H-1b), 3.78 (1H, m, H-2), 3.96 (1H, t-like, J = 7.0 Hz, H-3), 5.36 (1H, dd, J = 15.4, 7.0 Hz, H-4), 5.61 (1H, dt, J = 15.4, 7.0 Hz, H-5), 1.93 (2H, dt, J = 6.0, 16.8 Hz, H-6), 1.95 (2H, dt, J = 5.6, 16.8 Hz, H-7),
Trang 95.27 (1H, m, H-8), 5.29 (1H, m, H-9), 1.84 (2H, dd, J = 14.3, 7.0 Hz, H-10), 1.10→1.15 (H-11→H-17), 0.76 (3H, t, 7.0 Hz, H-18), 2.05 (2H, t, J = 7.7
Hz, H-2ʹ), 1.47 (2H, m, H-3ʹ), 1.10→1.15 (H-4ʹ→H-15ʹ), 0.76 (3H, t, 7.0
Hz, H-16ʹ), 1.71 (2H, dt, J = 6.3, 16.1 Hz, H-1ʹʹ), 2.96 (2H, dt, 6.3, 16.5 Hz, H-2ʹʹ)
13C NMR (175 MHz, CDCl3+CD3OD) ppm: 63.5 (C-1), 54.3 (C-2), 71.3 (C-3), 129.3 (C-4), 133.5 (C-5), 32.6 (C-6), 32.58 (C-7), 129.3 (C-8), 131.0 (C-9), 32.3 (C-10), 29.2→29.7 (C-11→C-15), 31.9 (C-16), 22.7 (C-17), 14.0 (C-18), 174.5 (C-1ʹ), 36.6 (C-2ʹ), 26.0 (C-3ʹ), 29.2→29.7 (C-4ʹ →
Hàm lượng cao nhất trong lipid tổng là 2 lớp chất PoL (cao nhất ở
Xenia sp 36,79% TL) và MADAG (cao nhất ở Capnella sp 26,15% TL)
MADAG được coi là lớp chất đánh dấu cho san hô vật chủ trong hệ cộng
sinh san hô – zooxanthellae Mẫu Xenia sp., hàm lượng lớp chất MADAG
thấp hơn so với hai mẫu còn lại, chỉ có 8,0%, thay vào đó là hàm lượng cao vượt trội của lớp chất PoL, chiếm tới 36,79% lipid tổng Lớp chất WE trong
Trang 10cả 3 mẫu san hô mềm nghiên cứu đều chiếm hàm lượng khá lớn, khoảng 20% lipid tổng Hai lớp chất ST và TAG có tỉ lệ khá đồng đều trong cả 3
mẫu Hàm lượng ST trong 3 loài san hô Sinularia macropodia, Xenia sp., Capnella sp lần lượt là 10,59%, 10,52% và 11,32% Hàm lượng lớp chất
TAG lần lượt là 13,79%, 14,29% và 12,31% Hàm lượng lớp chất axit béo trong lipid tổng 3 mẫu san hô khoảng 3-5% Như vậy, so với các tài liệu nghiên cứu trước đây, thành phần và hàm lượng các lớp chất trong lipid tổng
ở 3 loài san hô được nghiên cứu về cơ bản đều bao gồm hầu hết các lớp chất chính đã biết là PoL, ST, FFA, TAG, MADG, WE với hàm lượng PoL chiếm thành phần chủ yếu Ngoài ra, trong lipid tổng của 3 mẫu san hô còn xuất hiện thêm các lớp chất chưa xác định, chiếm một tỉ lệ không lớn, ở loài
san hô Sinularia macropodia là 4,61%, Xenia sp.là 5,74% và Capnella sp.là
3,16%
4.3 Thành phần axit béo trong các mẫu san hô nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, thành phần và hàm lượng các axit béo trong lipid tổng (TL), lipid trung tính (NL) và lipid phân cực (PoL) của 3 mẫu san
hô mềm đã được xác định Axit béo no phân bố trong phân đoạn NL cao hơn trong PoL, hàm lượng cao nhất là 16:0 Các axit béo không no đa nối
đôi PUFA phân bố chủ yếu trong phân đoạn PoL Trong 3 loài, Xenia sp có
tổng hàm lượng các PUFA trong lipid tổng cao nhất (57,01%) và nằm chủ yếu trong phân đoạn PoL (64,28%)
Trong TL của 3 loài san hô nghiên cứu đều có mặt các axit béo đặc trưng cho san hô mềm có chứa vi sinh vật cộng sinh zooxanthellae Các axit béo 24:5n-6 và 24:6n-3 là axit béo đánh dấu cho san hô mềm (san hô tám
tia), cao nhất ở TL loài Sinularria macropodia – 5,53% tổng axit béo, trong PoL cao nhất ở loài Capnella sp., chiếm 9,38% axit béo của phân đoạn này
Hầu hết ở các loài thuộc bộ Acyonacea hàm lượng 24:5n-6 cao hơn 24:6n-3
Xác định được sự có mặt của axit béo 24:4n ở TL loài Xenia sp., nhưng
chưa xác định được vị trí của nối đôi trong cấu trúc của axit béo này do hàm lượng thấp
Các axit béo đánh dấu cho VSV cộng sinh có mặt trong TL 3 mẫu nghiên cứu với hàm lượng đáng kể là 16:2n-7, 18:3n-6, 18:4n-3, 18:5n-3,
Trang 1120:4n-3, 20:5n-3, 22:5n-3, 22:6n-3 Có sự tương quan tỉ lệ nghịch giữa hàm lượng 18:3n-6 và 16:2n-7 Sự khác biệt về tỉ lệ hai axit béo 16:2n-7/18:3n-6
chính là yếu tố tách biệt Xenia sp khỏi 2 loài còn lại trong phân loại
chemotaxonomy
Các axit béo chuỗi n-6 có xu thế phân bố cao hơn trong phân đoạn
PoL Tổng hàm lượng axit béo n-6 trong PoL của 3 mẫu Sinularia macropodia, Xenia sp., Capnella sp lần lượt là 30,24; 49,06 và 35,68%
Cao nhất là hàm lượng axit béo 20:4n-6 (23,57; 27,48; 24,83% tổng axit béo PoL của 3 loài) Zooxanthellae có khả năng tổng hợp các axit béo 18:2n-6
và 18:3n-6, phân bố trong các lớp chất NL và vận chuyển sang san hô vật chủ trong các “giọt lipid” (lipid droplet), tham gia vào quá trình chuyển hóa
và sinh tổng hợp lipid của san hô Do vậy, axit béo n-6 C20-24 phân bố phần lớn trong PoL nhưng các tiền chất sinh tổng hợp ra chúng 18:2n-6,
18:3n-6 lại có mặt phong phú hơn trong NL Trong 3 loài, Xenia sp là mẫu
có chứa nhiều axit béo n-3 với hàm lượng cao (18:4n-3 4,65%; 20:5n-3 AA 6,85%; 22:6n-3 DHA 5,25%) Axit béo 18:5n-3 là một trong những axit béo chính nằm trong các lớp chất mono-, digalactosyldiacylglycerol của VSV zooxanthellae Lớp chất này được xếp vào phân đoạn PoL khi phân lập, do
vậy 18:5n-3 phân bố chủ yếu ở phân đoạn PoL, cao nhất ở Xenia sp (2,18% tổng axit béo PoL) Sự phân bố khá đồng đều 20:5n-3 ở mẫu Xenia sp và 22:6n-3 Capnella sp trong cả NL và PoL cho thấy sự vận chuyển axit béo
từ VSV cộng sinh zooxanthellae sang san hô vật chủ
Axit tetracosatetraenoic (24:4) có mặt trong mẫu Xenia sp chưa được
tìm thấy trước đó trong san hô mềm Vì chưa thể khẳng định được axit béo
24: 4 có mặt trong mẫu Xenia sp là 24: 4n-6, do đó, chúng tôi cho rằng con
đường sinh tổng hợp 24: 5n-6 như sau: 20:4n-6 22:4n-6 22:5n-6 24:5n-6, axit béo 22:5n-6 đã được tìm thấy ở nhiều loài san hô mềm Cấu
trúc của axit béo 24: 4 trong mẫu Xenia sp cần được nghiên cứu thêm
Phân tích PCA: sử dụng số liệu về thành phần các lớp chất lipid và axit
béo Trên giản đồ không gian hai chiều các mẫu san hô S macropodia, Xenia
sp và Capnella sp nằm trong vùng phân bố của san hô mềm và có VSV cộng sinh Trên giản đồ thứ nhất (hình 4.2), Xenia sp tách biệt hẳn khỏi 2 mẫu còn
Trang 12lại do sự khác biệt rõ ràng về thành phần cao vượt trội của lớp chất PoL và
hàm lượng thấp MADAG, còn vị trí của S macropodia và Capnella sp khá
gần nhau trong vùng phân bố của các mẫu có hàm lượng cao PoL và
MADAG Trên giản đồ thứ 2 (hình 4.5), mẫu Xenia sp nằm về phía các loài
có hàm lượng 18:3n-6 cao, mẫu Sinularia macropodia thuộc vùng các mẫu có hàm lượng cao 16:2n-7, mẫu Capnella sp nằm ở khoảng trung gian giữa 2
vùng này và thiên về vùng các mẫu có hàm lượng cao axit béo 16:0 Phân tích này nhấn mạnh tầm quan trọng của VSV cộng sinh lên các yếu tố ảnh hưởng tới chemotaxonomy của các mẫu nghiên cứu và các loài san hô mềm khác
4.4 Phân tích định tính, định lượng thành phần phospholipid trong các mẫu san hô mềm nghiên cứu
So sánh với chất chuẩn trên TLC 1 chiều và 2 chiều với nhiều hệ dung môi khác nhau và kết hợp với các tài liệu tham khảo đã công bố về các lớp chất phospholipid của san hô, chúng tôi xác định, trong lipid
phân cực của 3 loài san hô mềm S macropodia và Xenia sp., Capnella
sp có mặt các phân lớp phospholipid đặc trưng của động vật ngành cnidarian là PE, PC, PS, phosphonolipid là CAEP, PI và có mẫu có mặt lysophospholipid (LPE, LPC) hiện vết trên bản mỏng với hàm lượng
hô mềm làm các biến
Trang 13nhỏ Phân tích định lượng theo phương pháp của Kostetsky, kết quả thu được được trình bày trong Bảng 4.4
Bảng 4.4 Thành phần và hàm lượng các phân lớp phospholipid trong của 3
mẫu san hô mềm Sinularia macropodia, Xenia sp., Capnella sp
(CAEP) +
lysophosphatidylethanolamine
(LPE)
14,21 ± 1,25 (CAEP + LPE)
9,76 ± 1,04 (CAEP + LPE)
10,20 ± 1,67 (CAEP) Phosphatidylinositol (PI) 2,20 ± 1,10 4,31 ± 0,78 2,08 ± 0,70
*: lysophosphatidylcholine
**: lysophosphatidylinositol, lysophosphatidylserine, các dạng oxy hóa của phospholipid
Ở 3 loài san hô mềm hàm lượng cao nhất là lớp chất PC: 27,75%, 39,51%
và 35,53% tổng phospholipid ở ba mẫu Sinularia macropodia, Xenia sp., và Capnella sp Tiếp theo là PE và PS chiếm xấp xỉ 20% cho mỗi phân lớp Phân lớp
CAEP, PI và các phân lớp lysophospholipid có hàm lượng nhỏ nên đôi khi trong phân tích định tính phải thực hiện cộng gộp các lớp chất gần nhau để tính toán (như CAEP và LPE) Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước
đó về thành phần phospholipid trong lipid các loài san hô mềm có chứa VSV cộng sinh zooxanthellae Sự có mặt của VSV cộng sinh trong san hô có tác động lên hàm lượng PC nhưng không ảnh hưởng nhiều đến các lớp chất phospholipid khác
4.5 Xác định các dạng phân tử phospholipid của các mẫu san hô mềm nghiên cứu
Để xác định các dạng phân tử của phospholipid từ các mẫu san hô
mềm S macropodia, Xenia sp., Capnella sp., trước hết chúng tôi ghi phổ
khối phân giải cao HRMS của các chất chuẩn phospholipid Trên cơ sở các
dữ liệu về sự phân mảnh của các chất chuẩn này và kết quả phân tích định tính định lượng các phân lớp phospholipid, chúng tôi tiến hành xác định các dạng phân tử có mặt trong các phân lớp phospholipid của 3 mẫu san hô mềm