BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ CON NGUỜI, VẬT NUÔI BÔNG KHÁNG SÂU VÀ CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ GHB119 CÔNG TY TNHH BAYER VIỆT NAM Tháng 4, 20
Trang 1BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI
GEN ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ CON NGUỜI, VẬT NUÔI
BÔNG KHÁNG SÂU VÀ CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ GHB119
CÔNG TY TNHH BAYER VIỆT NAM
Tháng 4, 2015
Toàn bộ dữ liệu trong hồ sơ đăng ký này được bảo vệ bản quyền và không được sử dụng, sao chép hay đưa cho bên thứ ba nếu không có được sự đồng ý của các tác giả
Trang 2PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1 Tổ chức cá nhân đăng ký:
- Công ty TNHH Bayer Việt Nam
- Người đại diện của tổ chức: Ông David John Champion – Tổng Giám đốc
- Đầu mối liên lạc của tổ chức: TS Đặng Ngọc Chi – Giám đốc đăng ký hạt giống
- Địa chỉ: Lô 118/4 Khu công nghiệp Amata, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
- Điện thoại: (+84-8) 3845 0828
- Fax: (+84-8) 3997 9206
- Email: chi.dang@bayer.com
2 Tên thực vật biến đổi gen
- Tên thông thường: Bông
- Tên khoa học : Gossypium hirsutum
- Tên thương mại:
- Tên sự kiện chuyển gen: GHB119
- Tính trạng liên quan đến gen được chuyển: kháng sâu và chống chịu thuốc trừ
cỏ ammonium glufosinat
- Mã nhận diện duy nhất (nếu có): BCS-GHØØ5-8
Trang 3PHẦN II THÔNG TIN VỀ CÂY CHỦ NHẬN GEN
(a) Tên khoa học: Gossypium hirsutum
(b) Tên thông thường: Bông
Bông có tên khoa học là Gossypium hirsutum,được trồng nhiều thiên niên kỷ nay ở nhiều nơi trên thế giới Khoảng 90% lượng bông thế giới là G hirsutum Bông chủ yếu được
sử dụng rộng rãi nhờ sợi của nó Xơ sợi được tạo ra trên vỏ hạt vòng quanh thành sợi chắc mảnh Chỉ có ở Mỹ và một vài quốc gia khác phát triển các sản phẩm thương mại từ hạt bông Hạt bông thô có thể được sử dụng làm thức ăn cho đại gia súc ở dạng khô hạt bông, vỏ hạt hoặc hạt có thể được chế biến để thu dầu, một thành phần chính được sử dụng làm thực phẩm Xơ ngắn (sợi ngắn, linter) còn lại trên vỏ sau khi loại bỏ sợi dài có thể sử dụng cho cả mục đích thực phẩm/thức ăn chăn nuôi hoặc các mục đích khác
Bông thuộc vào chi Gossypium, nằm trong họ Malvaceae hoặc Mallow Các chi khác
của họ này bao gồm mướp tây, thục quỳ, hoa hồng sharon, hay thậm chí là các cây trồng như
cỏ trà lại là những loại được xếp vào nhóm cỏ dại có ảnh hưởng xấu tới bông Chỉ có chi
Gossypium và một vài chủng thuộc các chi khác, được xác định đặc tính thông qua sợi lông
hạt (seed hair)/cấu trúc lông phát triển ra ngoài biểu bì của vỏ hạt Có 50 loài thuộc chi
Gossypium, nhưng chỉ 4 trong số chúng được sử dụng để sản xuất xơ vải thương mại
Trang 4giảm năng suất cũng như tăng nguy cơ tấn công của sâu bệnh Tại thời điểm thu hoạch, thời tiết cần khô ráo, mưa sẽ làm biến mầu sợi và ảnh hưởng tới chất lượng xơ vải
Bông được trồng và thu hoạch ở Mỹ một cách cơ giới hoá Các kỹ thuật trồng bao gồm phương pháp tưới tiêu, luân canh cây trồng, các loại thuốc trừ cỏ được sử dụng để kiểm soát cỏ dại Việc kiểm soát tốt cỏ dại có thể giúp tăng năng suất bông, do đó hầu hết các vùng trồng ở Mỹ đều sử dụng thuốc trừ cỏ Người trồng bông có thể sử dụng thuốc trừ cỏ có phổ tác dụng rộng tới nhiều loại cỏ dại, nhưng không ảnh hưởng tới cây bông, có tính kinh tế và
và thân thiện với môi trường Nhiều loại thuốc trừ cỏ có phổ tác dụng rộng nhưng có thể tiêu diệt bông ngay khi được sử dụng ở lượng khuyến cáo đối với cỏ Dựa trên các đặc điểm tính trạng, có thể đánh giá được mức độ phù hợp của một giống bông mới để sử dụng cho mục đích thương mại hóa Việc chọn lọc các giống mới ban đầu dựa vào các dữ liệu của cây trồng
bố mẹ Các nhà chọn tạo giống đánh giá các giống bông mới chọn tạo qua nhiều chỉ tiêu tại các thời kỳ sinh trưởng khác nhau trong toàn bộ quá trình phát triển giống Ở giai đoạn sớm của quá trình sinh trưởng, các nhà tạo giống đánh giá số cây tồn tại và độ khỏe của cây giống Khi cây bước vào thời kỳ chín, khả năng kháng sâu và bệnh được tiếp tục đánh giá Hạt bông khi thu hoạch được phân tích các chỉ tiêu như năng suất, độ dài và độ chắc của sợi bông Trong một số trường hợp, cây trồng được cải biến để nâng cao một số thành phần đăc biệt, và các nhà chọn tạo giống cây trồng thường chú ý để phân tích các thành phần đó
2 Thông tin về sự an toàn của cây nhận gen bao gồm cả các vấn đề
về độc tính và tính dị ứng (bao gồm cả thông tin đối với các loại cây trồng có
họ hàng cùng loài mà có thể sử dụng làm nền di truyền nhận gen tương tự)
Bông không được coi là cây trồng gây hại, gây dị ứng và gây bệnh cho con người, tuy nhiên nó tạo ra các chất kháng dinh dưỡng như gossypol và axit béo cyclopropenoid (CPFA) Quá trình chế biến hạt bông có thể bao gồm các công đoạn: tách sợi, tách vỏ, nghiền, ép tấm, chiết, tẩy màu, tẩy mùi để thu dầu béo thực phẩm Sản phẩm phụ của quy trình chế biến có thể sử dụng làm thực phẩm cho con người như xơ ngắn linter (sợi ngắn), hay thức ăn chăn nuôi như vỏ hay khô dầu bông (Freyssinet, 2007; OECD, 2009) Hình 1 thể hiện chi tiết hơn quy trình sản xuất các sản phẩm từ bông
Dầu hạt bông được sản xuất đầu tiên ở Hoa Kỳ như một loại dầu hạt Dầu thô có chứa khoảng 2% thành phần phi-glyxerit nhưng được loại bỏ gần như hoàn toàn trong quá trình chế biến Các thành phần này gồm có phytoalexin, axit béo cyclopropenoid (CPFA), phospholipid, sterols, resins, carbohydrate và các sắc tố Thành phần đáng chú ý nhất của terpenoid phytoalexin là gossypol Quá trình chế biến dầu loại trừ hầu hết gossypol, quá trình khử mùi sẽ loại bỏ hầu hết các CPFA
Khô dầu hạt bông, vỏ, xơ ngắn là các sản phẩm phụ của ngành công nghiệp dầu hạt bông Trong những sản phẩm này, khô dầu hạt bông là nhiều nhất và được sản xuất bằng công nghệ ép và sử dụng dung môi tách chiết Để có thể thương mại hoá các sản phẩm có hàm lượng gossypol thấp, giới hạn của thành phần gossypol phải nằm dưới 0,04% hay (400 ppm) Xơ ngắn hầu hết chỉ chứa cellulose tinh Xơ ngắn có chất lượng cao nhất được tinh sạch bằng cách xử lý hóa học trong phân giải, làm trắng, rửa và sấy Vỏ có hàm lượng lớn các chất xơ không tiêu hóa được
Trang 5Gossypol
Bông có chứa một lượng tương đối các chất terpenoid phytoalexin Các phytoalexin là các chất kháng sinh, trong bông các chất này được tích trữ trong các tuyến sắc tố Các chất này đóng vai trò quan trọng trong việc chống chịu với một số loại bệnh có thể gây hại trên cây bông Các thành phần terpenoid phytoalexin thông dụng trong cây bông gồm có gossypol, hemigossypol, desoxyhemigossypol, 2,7-dihydroxy cadalene, hemigossypolone và heliocides H1 và H2 Gossypol là chất đáng chú ý nhất trong các chất terpenoid phytoalexin
và được phân lập đầu tiên từ các tuyến sắc tố của hạt bông Chất này nhìn chung là độc tố cho các loài không phải động vật nhai lại và gây bất dục đực Gossypol có thể thấy ở dạng tự do hoặc kết hợp Nghiên cứu khuyến cao khoảng 18 mg gossypol tự do (tương đương với 0,1%)
là hàm lượng cao nhất mà bò sữa có thể được cho ăn hàng ngày Các nhà khoa học cũng đã chỉ ra rằng gossypol là chất có thể chống virus và chống lại các chất gây ung thư
Các axit béo cyclopropenoid
Bông chứa một số axit béo cyclopropenoid (CPFA) có trong dầu Các loại có thể định lượng được gồm có axit malvalic, sterculic và dihydrosterculic Các CPFA tăng điểm nóng chảy (melting point) các chất béo động vật khi được cho ăn hạt bông và khô dầu hạt bông Cơ chế của hiện tượng có thể là do sự ức chế quá trình khử bão hoà (desaturation) của các axit béo no Trong gà, thành phần này gây ra 2 ảnh hưởng xấu là mất màu lòng đỏ trứng và giảm khả năng nở của trứng, do đó khô dầu hạt bông bị hạn chế sử dụng trong chế độ dinh dưỡng cho gia cầm Các CPFA cũng có liên quan tới tỷ lệ ung thư gan cao ở cá hồi được cho ăn hạt bông, mặc dù trong hạt bông có thể nhiễm mycotoxin có chứa aflatoxin cũng là tác nhân gây ung thư cho cá hồi cầu vồng (rainbow trout)
Các thành phần khác
Lá cây bông mang một số chất flavonoid, các tannin và anthocyanin Một số lá bông được thu hoạch cùng với quả bông và bị loại bỏ trong quá trình tách sợi ra khỏi hạt (ginning) Trong một số điều kiện ngoại lệ, như điều kiện khô hạn, phần loại bỏ sau khi tách sợi hay tơ bông được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc lớn Tuy nhiên, vì lượng sử dụng ở mức thấp nên flavonoid, tannin và anthocyanin không được coi là các chất chống dinh dưỡng hay chất độc tự nhiên chính (OECD, 2009)
3 Thông tin về lịch sử sử dụng cây chủ làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
(Mô tả chi tiết về tập quán canh tác, vận chuyển, lưu giữ bảo quản và các điều kiện đặc thù cần thiết trong chế biến (nếu có) để sử dụng trong thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, vai trò, giá trị, thành phần dinh dưỡng của các bộ phận của cây sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi)
Bông, Gossypium spp được trồng để thu sợi từ hàng ngàn năm nay Việc trồng và sản
xuất vải sợi được phát triển độc lập ở giữa 2 bán cầu Nam và Bắc Một trong những ghi chép lâu đời nhất về công nghiệp dệt may thì cách đây 5000 năm công nghiệp vải sợi từ bông đã
có ở thung lũng sông Indus, nay thuộc Pakistan Khảo cổ ở Peru và Mexico đã phát hiện ra nhiều mẫu vải bông có tới 4000 -7000 năm tuổi Vải bông cũng được tìm thấy trong nhiều nền văn minh Ai Cập cổ hay trong các dấu tích của người da đỏ Indian khu vực Tây Nam nước Mỹ từ hàng trăm năm trước công nguyên
Hạt bông, sản phẩm nông nghiệp thô trước đây phần lớn được loại bỏ, nay được chuyển thành thực phẩm cho con người, động vật, phân bón cho thực vật, sợi cho sản xuất
Trang 6tấm lót nội thất và cellulose cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau từ sản xuất thuốc nổ tới
bo mạch chip máy vi tính Ngoài ra bông là thực phẩm của tự nhiên và cây trồng tạo sợi Mặc
dù sợi bông là sản phẩm có giá trị nhất trong lĩnh vực vải nhưng cũng phải chú ý rằng cây trồng này cũng là nguồn cung cấp dầu thực vật quan trọng Điều này có nghĩa, bông cũng là cây trồng sử dụng cho mục đích thực phẩm Bông được sản xuất chính ở Trung Quốc, Mỹ,
Ấn độ, Pakistan và Uzbekistan, với tổng sản lượng chiếm gần 75% sản lượng toàn thế giới
Phương pháp chế biến, giá trị và thành phần của các sản phẩm phụ từ chế biến
Lịch sử sử dụng an toàn làm thực phẩm và thực ăn chăn nuôi
Chỉ có quả nang của bông là được dùng để thu sợi hoặc làm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi Phần còn lại của cây được sử dụng làm phân bón ngay tại ruộng trồng sau quá trình phân huỷ (OECD, 2009)
Hạt bông là nguồn cung cấp dầu béo và protein rất tốt bởi hàm lượng cao các thành phần này trong hạt cũng như chất lượng axit béo và axit amin của nó Bốn sản phẩm chính từ quá trình chế biến hạt bông là dầu béo, khô dầu, vỏ hạt và xơ ngắn (linter) Tỷ lệ các sản phẩm trong công nghiệp chế biến hạt bông ở Mỹ trong vòng 5 năm gồm có: 16,14% dầu, 25,15% vỏ , 46,00% khô dầu bông, 8,51% xơ ngắn và 4,21% chất thải (Jones và King, 1993)
Ngày nay bông tại các nước công nghiệp phát triển được thu hái một cách cơ giới hoá Sau khi tách bông, nang quả bông thường được ép cơ học, vận chuyển vào dây chuyền chế biến được gọi là quy trình tỉa bông Trong quá trinh tỉa nang quả bông, sợi cho công nghiệp dệt may được tách riêng từ hạt Hạt đã được tách bông sẽ được gọi là hạt tách sợi (fuzzy seed) sẽ được sử dụng để chế biến hoặc dùng trực tiếp làm thức ăn gia súc Dầu bông là nguồn dầu thực vật quan trọng, đây là một trong các loại dầu béo chứa nhiều axit chưa bão hoà nhất; cùng với dầu cải, ngô, bông, hoa rum đỏ, hướng dương, dầu bông cũng có chất lượng cao bởi hàm lượng vitamin E và độ bền của nó khi được sử dụng làm dầu rán
Xơ ngắn của hạt (cottonseed linter fiber), bao gồm trên 99% là chất xơ cũng được dùng làm thực phẩm sau khi được xử lý hoá học để phân giải, làm trắng, rửa và sấy khô Sản phẩm này ở dạng bột trắng, không mùi, màu và bền hoá học do vậy không phản ứng với các thành phần khác gây biến mùi, màu cho thực phẩm Do vậy, nó có thể được dùng trong nhiều
thực phẩm như bánh, nước trộn salat, đồ ăn nhanh hoặc sản phẩm chế biến từ thịt
Khô dầu hạt bông
Phương án chế biến dầu béo ảnh hưởng tới tính hữu dụng của khô dầu bông (cottonseed meal) So với các phương pháp chế biến khác, việc ép vít tải giảm hàm lượng gossypol tự do, giảm Nitơ hoà tan, tăng hàm lượng chất béo trong khô bông và tiêu tốn năng lượng Sử dụng cho nuôi gà, hàm lượng dầu cao có thể ảnh hưởng tới sự mất màu của trứng trong quá trình bảo quản (do sự có mặt của axit béo cyclopropenoid); đối với gia súc, hàm lượng dầu cao tạo nhiều năng lượng cho vật nuôi Phương pháp chiết bằng dung môi trực tiếp
sẽ tạo ra khô dầu bông có hàm lượng gossypol tự do và nitơ hoà tan cao Nếu dựa trên quan điểm về chất lượng protein thì khô dầu bông sản xuất theo phương án này rất tốt cho động vật
có dạ dày đơn (động vật nhai lại)
Phương pháp chế biến sử dụng dung môi tách chiết có ép sơ bộ tạo ra sản phẩm khô dầu bông có đặc điểm trung gian giữa 2 phương pháp tách dầu là ép và sử dụng dung môi Nó
Trang 7có hàm lượng gossyol tự do thấp, độ hoà tan nito cao hơn mức trung bình, hàm lượng chất
béo thấp Loại khô dầu bông này được sử dụng cho gà đẻ trứng (Ensminger và cộng sự,
1994) Hạt bông được chế biến thành các khô dầu bông có chứa hàm lượng protein khác nhau 36%, 41%, 44%, và 48-50% Khô dầu bông có chứa 36% protein thu được từ phương pháp
ép bằng trục vít, trong khi đó phương pháp chiết dung môi trực tiếp hoặc chiết dung môi trên hạt bông đã được ép sơ bộ tạo ra khô dầu bông có hàm lượng protein cao hơn 44% (Ensminger và cộng sự, 1994)
Ngoài mục đích sử dụng để cung cấp protein cho các sản phẩm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi, khô dầu bông còn là nguồn cung cấp protein kỹ thuật để làm chất kết dính Protein này được ép đùn tạo vật liệu sợi để sử dụng cho công nghiệp dệt may
Các sản phẩm protein từ hạt bông
Trước đây, sản phẩm protein từ hạt bông được sử dụng chủ yếu cho mục đích phân bón hoặc làm thức ăn chăn nuôi Từ đầu những năm 60, người ta bắt đầu mới phát triển các sản phẩm protein từ hạt bông để làm thực phẩm cho người Sản phẩm đầu tiên được thương mại hoá là bột hạt bông sử dụng để bổ sung vào bánh mì hay môi trường nuôi cấy vi sinh vật (trong nghiên cứu) Ở Nam Mỹ, thực phẩm ăn dặm chứa hàm lượng protein cao có tên là Incaparinha được sản xuất để sử dụng cho trẻ thiếu dinh dưỡng Đây là hỗn hợp giữa bột ngô
và hạt bông với tỷ lệ 60:40 (Bressani, 1997)
Xơ ngắn hạt bông (Cottonseed linters)
Ba loại xơ ngắn chính được thu hồi trong quá trình tách sợi: công đoạn cắt thứ nhất: 0.15-0.38 kg / 10 kg hạt; công đoạn cắt thứ 2, 0.90-1.05 kg / 10 kg hạt; và thu từ công đoạn nghiền, 0.35-1.00 kg / 10 kg hạt Sản phẩm từ công đoạn cắt thứ nhất được sử dụng để tạo ra các sản phẩm sử dụng cho phẫu thuật, giấy, bao gói; sản phẩm từ công đoạn cắt thứ 2 sử dụng
để sản xuất sợi tái sinh, phim ảnh, thuốc nổ, chất dẻo, giấy, và sản phẩm thu từ công đoạn nghiền sử dụng trong công nghiệp tạo cellulose hoá học và các sản phẩm nệm lót (Cherry và Leffler, 1984)
Xơ ngắn hạt bông - Linter, chứa 90-95% cellulose, không chứa lignin, có hàm lượng sáp thấp, pectin, axit hữu cơ, các chất tro vô cơ (Jones và King, 1993) Sau quá trình chế biến
ở pH kiềm và nhiệt độ cao, tơ từ hạt bông có thể được sử dụng như là một sản phẩm có hàm lượng chất xơ cao Chất xơ này dùng cho thực phẩm có chứa trên 99% hàm lượng xơ tổng (Freyssinet, 2007)
Vỏ hạt
Vỏ là phần bên ngoài hạt có tác dụng bảo vệ hạt, phần này phải được tách ra để lộ phần bên trong hạt cho quá trình tách chiết dầu Sự có mặt vỏ hạt trong khô hạt làm giảm hiệu suất thu hồi dầu do có thể hấp phụ một lượng dầu tự do Khoảng 1% của vỏ hạt tính theo khối lương là dầu và 3% là protein Vỏ có chứa hàm lượng chất xơ cao, đặc biệt là cellulose
và lignin (NCPA, 2000; Jones và King, 1993) Vỏ hạt bông được sử dụng làm thức ăn thô cho chăn nuôi hay có thể dùng làm nhiên liệu, vật liệu cách nhiệt, làm ẩm đất, sử dụng trong dầu khoan, bổ sung vào chất dẻo chứa phenol để tăng độ bền, cung cấp cellulose cho các loại
xơ tái sinh và cũng là nguồn tạo xylose và furfural (Cherry và Leffler, 1984)
Lecithin – Photpholipit
Trong các loại dầu từ hạt nói chung, trừ đậu tương, thì hạt bông có hàm lượng photpho lipit là cao nhất Phân đoạn chứa lượng photpho lipit thu từ quá trình tinh chế dầu
Trang 8béo được xử lý để loại các lipit trung tính và các protein tạp, sau đó được phân đoạn tiếp thành photpho lipit và glycolipit Do sự có mặt của gossypol liên kết với photpho lipit trong quá trình tách dầu, photpho lipit từ hạt bông chỉ được sử dụng cho các mục đích công nghiệp Photpho lipit bông có nhiều ưu điểm hơn so với photpho lipit từ các loại hạt khác bởi hầu hết các axit béo có mặt đều chỉ có dưới 2 liên kết đôi do vậy chúng ít bị oxy hoá và bị ôi hơn (Cherry and Leffler, 1984) Từ giống bông không tạo gossypol (glandless cotton), có thể có được sản phẩm photpho lipit từ hạt bông dùng cho thực phẩm (Cherry và Leffler, 1984)
Trang 9PHẦN III THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN SINH VẬT CHO GEN
1 Tên của sinh vật cho gen
Sự kiện này có hai sinh vật cho khác nhau là: Streptomyces hygroscopicus và
Bacillus thuringensis
1.1 Sinh vật cho gen chống chịu thuốc trừ cỏ
- Tên khoa học: Streptomyces hygroscopicus
- Tên thông thường: Streptomyces
- Vị trí phân loại:
Giới: Bacteria Lớp: Actinobacteria Họ: Streptomycetaceae Chi: Streptomyces Loài: Streptomyces hygroscopicus
Chủng:ATCC21705
1.2 Sinh vật cho gen kháng sâu – gen cry2Ae
- Tên khoa học: Bacillus thuringiensis
- Tên thông thường: Bacillus
- Vị trí phân loại:
Giới: Bacteria Lớp: Bacilli Họ:Bacillaceae Chi: Bacillus Loài: B thuringiensis
chủng: dakota 1715
2 Thông tin liên quan
Lịch sử sử dụng an toàn
- Bacillus thuringiensis (Bt) rất phổ biến trong tự nhiên và có cả một thế kỷ các
nghiên cứu đã chứng minh lịch sử sử dụng an toàn của loại vi khuẩn này Các chủng Bt được
phân loại chung vào nhóm các vi sinh vật không gây bệnh trong phân loại vi sinh vật của một
số quốc gia (OECD, 2007) Một số chủng khác nhau của vi khuẩn Bt được đăng ký làm thuốc
trừ sâu và được quan tâm nhiều do thân thiện với môi trường bởi các đặc tính chuyên biệt của chúng (chỉ ảnh hưởng đến duy nhất các côn trùng gây hại) và không tồn tại dai dẳng trong môi trường Một lượng các giống cây trồng, đặc biệt và các loài cây như bông, ngô, khoai
tây, thuốc lá, cà chua, mía đã được chuyển gen để tạo ra các loại protein endotoxin từ Bt
Bt là một loại vi khuẩn thông dụng có khả năng tồn tại trong môi trường trong một
thời gian dài do nó tạo ra các bào tử có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất lợi của môi trường Vi khuẩn Bacillus đều có dạng hình que, gram dương chỉ tạo ra một bào tử với
Trang 10mỗi tế bào Các chủng Bt được đặc trưng bởi sự tạo thành của một hoặc nhiều tinh thể parasporal protein cùng lúc với việc hình thành bào tử Các tinh thể parasporal này chứa thành phần có tính kháng sâu δ-endotoxins cùng với các protein kết nối và các độc tố Cyt Các độc tố này tạo ra hoạt tính kháng sâu cho các sản phẩm thuốc trừ sâu thương mại để xử
lý các loại sâu bọ thuộc họ cánh vẩy lepidopteran, dipteran, và coleopteran
Kết quả thu được từ một số lượng lớn nghiên cứu trên người và động vật qua nhiều năm cho thấy tính trừ sâu của nó gần như không có rủi ro cho con người và động vật, và không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy đặc tính trừ sâu sinh học của vi khuẩn Bt gây ra bất
kỳ dấu hiệu lây nhiễm hay ngộ độc của thực phẩm (McClintock et al., 1995; Betz et al., 2000; Rosenquist et al., 2005) Tóm lại, đặc tính trừ sâu sinh học của Bt đã có một lịch sử sử
dụng an toàn
- S hygroscopicus đã được chứng minh là an toàn để sử dụng qua bài báo khoa học
tổng hợp của Herouet và cộng sự (2005) Bề mặt bào tử của sinh vật này thường nhăn nheo
trong khi khối bào tử mầu xám, có màu đen và nhớt khi trưởng thành Các vi sinh vật này thuộc nhóm những vi sinh vật tiềm năng cho việc tạo ra các gen kháng kháng sinh vốn có chức năng vô hoạt tính độc của chính chúng (Freyssinet, 2007) Đây là những vi sinh vật dị dưỡng, hiếu khí, có khả năng trao đổi chất theo con đường oxy hoá mạnh mẽ Đất là môi trường tự nhiên thích hợp cho sự tồn tại, phát triển và sinh trưởng của các vi sinh vật này Con người tiếp xúc nhiều với vi khuẩn và vi khuẩn này phát tán rộng trong tự nhiên (Kutzner, 1981) Do đó, việc sử dụng các loại củ và rau là nguồn tiếp xúc thông thường của con người
và động vật với loại vi khuẩn này Không có bằng chứng nào cho thấy ảnh hưởng bất lợi khi tiếp xúc với các vi khuẩn này
Thông tin về việc tìm thấy trong tự nhiên các chất kháng dinh dưỡng, độc tố và chất gây dị ứng
Qua nhiều thập kỷ sử dụng các sản phẩm Bt vi sinh vật thương mại, khả năng gây độc với động vật có vú của chúng được đánh giá Các dữ liệu độc tố học của các Bt không chỉ ra ảnh hưởng xấu nào của δ-endotoxins với sức khoẻ của động vật có vú Một khảo sát trên nhiều nghiên cứu về sự nhiễm và gây bệnh chỉ ra một kiểu hình loại bỏ các vi sinh vật Bt trên loài gặm nhấm khi được thí nghiệm cho ăn theo đường tiêu hoá, theo đường khí thở hay tiêm vào tĩnh mạch Không có ảnh hưởng bất lợi nào (bao gồm ảnh hưởng tới sự tăng trọng lượng
cơ thể, tỷ lệ chết hay các biểu hiện lâm sàng, tác động tới các bộ phận bên trong động vật thí nghiệm) được chỉ ra trong các nghiên cứu đó do ảnh hưởng của vi sinh vật Bt Cơ chế tác động của δ-endotoxins từ Bt trong côn trùnh mẫn cảm đã được làm rõ (OECD, 2007)
Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy một số chủng Bt gây độc cho chuột có hệ thống miễn
dịch bị phá hủy hay chuột bị nhiễm virus gây cúm Tuy nhiên, các tác giả chỉ ra rằng đó là tác
động của chất độc khác từ Bacillus chứ không phải do δ-endotoxins Các chủng Bt tương tự
khác không chứa δ-endotoxins có thể gây độc cho động vật có vú bởi các độc tố gây tan huyết (haemolytic toxins) (OECD, 2007)
Cơ quan chịu trách nhiệm đánh giá an toàn thực phẩm của châu âu (EFSA) đã đánh giá nguy cơ gây dị ứng tiềm ẩn của δ-endotoxin biểu hiện trong ngô, chẳng hạn như Cry1Ab Các đánh giá về khả năng gây di ứng của protein Cry được thực hiện với nhiều phương pháp
và cách tiếp cận khác nhau, đưa ra các bằng chứng gián tiếp cho thấy nguy cơ gây di ứng là
Trang 11rất thấp Các bằng chứng đó bao gồm: nguồn cho protein Cry không gây dị ứng, không có sự tương đồng về trình tự của Cry protein với các chất gây dị ứng đã biết, sự mẫn cảm và bị phân giải nhanh chóng bởi pepsin Cho tới nay, mặc dù có sự rất nhiều nghiên cứu khoa học, không có phương pháp nào được tìm ra để đánh giá một cách thuyết phục về khả năng gây di ứng của một chất bị nghi ngờ sau các kiểm tra sàng lọc sơ bộ (OECD, 2007)
S hygroscopicus bản thân không được biết đến là vi sinh vật gây bệnh cho con người
hay liên quan tới các ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ của con người (Locci, 1995)
Streptomyceteae phân bố phổ biến trong đất và môi trường nước Hầu hết chúng là loài hoạt
sinh bắt buộc Rất ít thông tin về vai trò của Streptomycetes trong môi trường tự nhiên, tuy nhiên sự có mặt của chúng và số lượng của chúng trong môi trường là rất lớn Đất, các phần
phân huỷ là những nguồn có chứa nhiều Streptomycetes Tuy nhiên, cũng có một số ký sinh
trên cây trồng và động vật
Mặc dù Streptomyceteae thường được xếp vào nhóm vi sinh vật hiếu khí bắt buộc,
nhưng chúng vẫn có thể phát triển được trong đất với lượng oxy thấp, trừ khi lượng CO2 quá
10% Trong đất khô, lượng Streptomycete giảm, nhưng bào tử của chúng có thể chịu được
điều kiện khắc nghiệt hơn so với tế bào sinh dưỡng có thể sống sót được
Streptomyces hygroscopicus không được biết đến là loài gây dị ứng và gây độc Nhiều
thành viên của giống này có thể tạo ra các kháng sinh dung cho y học (Freyssinet, 2007)
Một số Streptomyces được phân lập từ người và động vật, gây bệnh cho vật chủ của
chúng, nhưng những chủng này là cá biệt Tuy nhiên, với thực vật thì một số loài Streptomyces spp được biết đến là các vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng (Kutzner, 1981)
S hygroscopicus và các loài Streptomyces khác phân bố rộng rãi trong tự nhiên
Chúng là một thành phần phổ biến trong sinh quyển thế giới và rất ít loài Streptomyces là tác nhân gây bệnh cho người, động vật và thực vật Một số loài của Streptomyces tương tự với S
hygroscopicus và rất nhiều trong số chúng có các thành phần đồng dạng bar/pat Không một
thành phần đồng dạng nào được báo cáo là độc và gây dị ứng cho con người và động vật (Kutzner, 1981 M-204308-01-1) Một số loài khác thuộc nhóm này còn sản sinh ra các loại
kháng sinh chữa bệnh hữu ích (Freyssinet, 2007)
Thông tin về việc đã và đang sử dụng
Sự tiếp xúc cơ bản nhất của con ngươì với δ-endotoxins trong cây trồng là khi tiêu thụ các cây trồng thực phẩm Sự tiếp xúc với các sol khí tạo ra trong quá trình chế biến nguyên liệu từ cây trồng Bt (chẳng hạn hạt) cũng là một cách tiếp xúc khác, mặc dù nhỏ Nhiều quốc gia yêu cầu các nghiên cứu về dư lượng thuốc trừ sâu để xác định hàm lượng lớn nhất các thuốc trừ sâu hoá học trong hoặc trên nguyên liệu nông nghiệp Do không có tính độc với động vật có vú nên δ-endotoxins được kiểm tra ở hàm lượng rất lớn, các nghiên cứu thông thường về dự lượng do vậy không cần thiết Thuốc trừ sâu chứa Bt được đăng ký ở các nước yêu cầu về dư lượng (a.k.a Maximum Residue Levels) được miễn trừ yêu cầu về việc đặt ra một dư lượng số học Dữ liệu chỉ ra trong cây trồng chuyển gen kháng sâu đang được
sử dụng thương mại hiện nay có chứa hàm lượng rất thấp δ-endotoxins trong các phần ăn được của cây trồng Dựa trên lịch sử sử dụng an toàn của Bt và các kết quả thí nghiệm gây độc cấp tính có thể kết luận các δ-endotoxins mang nguy cơ gây độc cho con người và động vật là không đáng kể (OECD, 2007)