Việc thực hiện đề tài là nhằm mục tiêu tìm ra những giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên trong học tập, cụ thể là môn Thiết kế trang phục I tại trường Cao đẳng Công
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÊ HỒNG KHANH
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG
TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP
MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC I TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 60140101
Tp Hồ Chí Minh, năm 2015
S K C0 0 4 5 6 4
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÊ HỒNG KHANH
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG
TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC I TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 60140101
Tp Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 3LÝ LỊCH KHOA HỌC
(Dùng cho nghiên cứu sinh & học viên cao học)
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ & tên: LÊ HỒNG KHANH Giới tính: NỮ
Ngày, tháng, năm sinh: 1988 Nơi sinh: TIỀN GIANG
Quê quán: TIỀN GIANG Dân tộc: KINH
Địa chỉ liên lạc: chung cư Nhân phú, P Tăng Nhơn Phú B, Q 9, TP.HCM
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: (thi tốt nghiệp)
Nơi thi tốt nghiệp: Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 3 năm 2015
Lê Hồng Khanh
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Người nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn, người đã tận tình chỉ bảo, đóng góp những ý kiến quý báu, động viên giúp cho việc hoàn thành luận văn
Người nghiên cứu xin cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của tập thể cán bộ giảng dạy thuộc khoa Công nghệ Dệt – May, các bạn sinh viên ngành Công nghệ may khóa
2013 – 2015, trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
Người nghiên cứu cũng xin cảm ơn các anh chị học viên chuyên ngành Giáo dục học- trường Đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đã giúp đỡ trong việc tìm kiếm tài liệu trong suốt thời gian làm luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình - những người đã luôn động viên, ủng hộ tạo điều kiện giúp người nghiên cứu tập trung trong quá trình hoàn thành luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 3 năm 2015
Lê Hồng Khanh
Trang 6TÓM TẮT
Là một trong những lĩnh vực trọng yếu của xã hội, giáo dục tạo ra sản phẩm chính là nguồn nhân lực Chính nguồn nhân lực này ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Với xu thế hội nhập hiện nay, lĩnh vực giáo dục cần được quan tâm đúng mức để nền giáo dục thật sự chất lượng và hiệu quả Từ đó, quan điểm, cách thức dạy học cũng phải được cân nhắc rất kỹ càng Làm sao để đào tạo ra đội ngũ lao động lành nghề, luôn tích cực, sáng tạo trong công việc, nắm bắt nhanh chóng sự thay đổi của môi trường làm việc cũng như tính chất của từng công việc cụ thể, đây là một việc không đơn giản
Trước tiên chúng ta phải có được một thế hệ sinh viên năng động, có lối tư duy mạch lạc, sáng tạo trong học tập, thoát ra khỏi khuôn khổ học tập thụ động trước đây Để làm được điều này cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp không chỉ riêng lĩnh vực giáo dục Quan trọng nhất là ở bản thân mỗi sinh viên phải nhận ra điều này, và các em sẽ có những phương thức học tập, rèn luyện cho riêng mình Bên cạnh đó, giáo viên và nhà trường cũng góp phần không kém để khơi dậy
sự sáng tạo trong mỗi sinh viên Việc thực hiện đề tài là nhằm mục tiêu tìm ra những giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên trong học tập, cụ thể là môn Thiết kế trang phục I tại trường Cao đẳng Công thương TP.HCM Nội dung đề tài được triển khai trong 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về khả năng tư duy sáng tạo ở người học
+ Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
+ Khái quát về khả năng tư duy sáng tạo: một số khái niệm cơ bản; các yếu tố và
quá trình tâm lý trong tư duy sáng tạo; những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
tư duy sáng tạo; một số quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy học nâng cao khả năng tư duy sáng tạo ở người học
- Chương 2: Thực trạng dạy và học môn Thiết kế trang phục I tại trường Cao đẳng Công thương TP.HCM
Người nghiên cứu tiến hành khảo sát GV và SV trong quá trình dạy và học môn Thiết kế trang phục I ở các khía cạnh: mức độ tư duy mà SV đạt được thông qua
Trang 7môn học, biểu hiện của SV trong học tập, những nguyên nhân kích thích tư duy sáng tạo ở người học, phương pháp giảng dạy của giáo viên, vận dụng các kỹ thuật dạy học, sử dụng phương tiện dạy học, hình thức kiểm tra – đánh giá Sau kết quả
phân tích, người nghiên cứu đã tìm ra 6 nguyên nhân:
+ SV còn tồn tại tính ì tâm lý trong học tập;
+ SV chưa tìm được phương pháp học tập hiệu quả đối với môn Thiết kế trang
phục I và chưa nhận thức rõ được vai trò của việc tự học;
+ SV vẫn còn mang tư tưởng ỷ lại trong học tập;
+ SV còn thiếu những kỹ năng cần thiết cho tư duy sáng tạo;
+ Hoạt động giữa người dạy và người học vẫn chưa đồng bộ, chưa phát huy
được sự tương tác giữa thầy và trò trong quá trình dạy học;
+ Hình thức kiểm tra-đánh giá còn tồn tại những hạn chế nhất định, chưa đánh
giá được khả năng tư duy sáng tạo ở người học
- Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên trong học tập môn Thiết kế trang phục I tại trường Cao đẳng Công thương TP.HCM
Bao gồm 6 giải pháp:
+ Giải pháp 1: Khắc phục “tính ì tâm lý” trong học tập của SV
+ Giải pháp 2: Khắc phục tính ỷ lại, chủ quan trong học tập của SV
+ Giải pháp 3: Xây dựng phương pháp học tập hiệu quả
+ Giải pháp 4: Trang bị các kỹ năng cần thiết cho sự rèn luyện khả năng tư duy
Trong từng giải pháp cụ thể, người nghiên cứu phân tích rõ mục tiêu, nội dung
và cách thức thực hiện Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng tư duy sáng tạo trong học tập Đề tài chỉ
Trang 8dừng lại ở mức tham khảo ý kiến của các chuyên gia mà chưa tiến hành thực nghiệm Cần thiết phải có sự thực nghiệm và áp dụng để kiểm nghiệm tính khả thi
và thực tiễn của các giải pháp trong thực tế dạy và học
Cuối cùng là phần kết luận và khuyến nghị Kết quả đạt được cho thấy sự phù hợp của những phương pháp được lựa chọn cho việc thực hiện đề tài Điều này dẫn đến chất lượng khảo sát, phân tích thực trạng được chính xác hơn, qua đó các giải pháp đề xuất mang tính khả thi và thực tiễn khá cao
Trang 9ABSTRACT
As one of keys of society, the educational field create human resource which affects the economic-social development Nowadays, in integrative trend, the education should be paid attention to quality From that, how to teach must be considered very carefully How to train labors with the skill, positiveness, creativeness , reaching quickly the chance, it is not easy
It is need to train students with activeness, thinking, creative in learning firstly For doing that well, all of the field combine together, not only in education The most important is the student, try to learn by themselve Then, they will find the method of learning The teacher and the school should contribute to improve the creativity of student The goal of the thesis is finding solutions to enhance creative thinking competence for students in learning, limited in Costume design level 1 subject at Ho Chi Minh City Industry and Trade College The content of thesis includes three main chapters:
- Chapter 1: Theoretical basis of creative thinking competence
+ Overview of the research problem
+ Overview of creative thinking competences: some basic concepts; factors and
psychological process of creative thinking; some factors which affect student’s creative thinking; some teaching viewpoints, teaching methods, teaching techniques to enhance creative thinking competence for students
- Chapter 2: The situation of teaching and learning about Costume design level 1 subject at Ho Chi Minh City Industry and Trade College
After surveyed the teaching and learning process in subject Costom design level
1 with some faces such as the level of thinking that students touch through course, the students’ learning method, the students’ behaviors in learning, causes which promotion creative thinking competence in students, the teaching methods, the real situation to be applied (abt teaching techniques, teaching facilities, assessment), the author had been given six main causes:
Trang 10+ The student still the passive psychology in themselve;
+ The student have not found the effective learning methods and not been aware
of the importance of self-study yet;
+ The student still rely passively on someone/something in learning;
+ SV still lack the skills for creative thinking;
+ The interaction between teachers and students, between students and student
are not being to promote;
+ About assessment, it is still limited, not to evaluate students’ creative thinking
competence completely
- Chapter 3: Suggest solutions to enhance creative thinking competence for students in Costom design level I subject at Ho Chi Minh City Industry and Trade college
+ Solution 1: Overcoming the passive psychology of students in learning
+ Solution 2: Overcoming the rely passively on someone/something of students
in learning
+ Solution 3: Making effective learning methods for students
+ Solution 4: Training more some necessary skills for the creative thinking + Solution 5: Strengthening the interaction between teachers and students,
between students and students
+ Solution 6: Improving the assessment in learning
After that, to assess the feasibility and practicality of 6 solutions, the author collected and analyzed experienced teachers’ opinion
About content of solutions, the author analyzed clearify about objectives, main contents and how to do However, this thesis only focused the situation of teching and learning, and suggested solutions to enhance creative thinking for student Topic stops at collected and analyzed experienced teachers’ opinion, solutions are not been experimented They should be necessary to experiment for getting the exact results
Trang 11Finally, they are conclusion and recommendations The results achieved show research methods which are chosen is suitable for thesis Those are made more accurately for the analysis situations Therefore, the suggesting solutions are possibility and practicability
Trang 12MỤC LỤC
Trang
LÝ LỊCH CÁ NHÂN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM TẠ 3
TÓM TẮT 4
ABSTRACT 7
MỤC LỤC 10
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 12
DANH MỤC CÁC BẢNG 13
DANH MỤC CÁC HÌNH 14
PHẦN MỞ ĐẦU 24
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 15
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 18
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 18
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18
5 GIẢ THUYẾT VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 18
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
PHẦN NỘI DUNG 21
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI HỌC 21
1.1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 21
1.2.MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 27
1.3.CÁC YẾU TỐ VÀ QUÁ TRÌNH TÂM LÝ TRONG TƯ DUY SÁNG TẠO 35 1.4.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO 39
1.5.MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO Ở NGƯỜI HỌC 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 62
Trang 13CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG TƯ DUY
SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC I TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM 63
2.1.TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM 63
2.2.CHƯƠNG TRÌNH MÔN “THIẾT KẾ TRANG PHỤC I” 64
2.3.THỰC TRẠNG VỀ VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN “THIẾT KẾ TRANG PHỤC I” TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 91
CHƯƠNG 3 :ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC I TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM 93
3.1.CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 93
3.2.GIẢI PHÁP 94
3.3.ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP 119
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 122
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHẦN PHỤ LỤC 130
Trang 14DANH MỤC CÁC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 15DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê ý kiến SV về cách thức học tập môn TKTP I
Bảng 2.2: Thống kê ý kiến SV về biểu hiện của SV trong học tập môn TKTP I Bảng 2.3: Thống kê ý kiến GV về biểu hiện của SV trong học tập môn TKTP I Bảng 2.4: Bảng tương quan thứ hạng về ý kiến của GV và SV đối với các biểu hiện
học tập của SV đối với môn học TKTP I
Bảng 2.5: Thống kê ý kiến SV về tầm quan trọng của các nguyên nhân kích thích
hoạt động sáng tạo trong học tập môn TKTP I
Bảng 2.6: Thống kê ý kiến SV về mức độ vận dụng của GV đối với các HTTC và
PPDH trong môn TKTP I
Bảng 2.7: Thống kê ý kiến GV về mức độ vận dụng đối với các HTTC và PPDH
trong môn TKTP I
Bảng 2.8: Bảng tương quan thứ hạng về ý kiến của GV và SV đối với các mức độ
vận dụng PPDH của GV đối với môn học TKTP I
Bảng 2.9: Thống kê ý kiến GV về mức độ vận dụng KTDH đối với môn học TKTP
Bảng 2.13: Bảng tương quan thứ hạng về ý kiến của GV và SV đối với các mức độ
sử dụng PTDH của GV đối với môn học TKTP I
Bảng 2.14: Ý kiến của GV và SV về các hình thức KT-ĐG được vận dụng trong
môn học TKTP I
Bảng 2.15: Thống kê ý kiến của GV và SV về nội dung các câu hỏi khi kiểm tra đối
với môn TKTP I
Bảng 3.1: Thống kê ý kiến các chuyên gia về các giải pháp được đề xuất nhằm nâng
cao khả năng tư duy sáng tạo của SV trong học tập môn TKTP I
Trang 16DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Các thành phần cấu trúc năng lực
Hình 1.2: Quy trình tư duy sáng tạo (từ nhu cầu đến hành động)
Hình 1.3: Mức phát triển trí tưởng tượng theo thời gian
Hình 1.4: Sơ đồ cấu trúc quá trình giải quyết vấn đề
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện mức độ tư duy của SV trong học tập môn TKTP I
Hình 2.2: Biểu đồ so sánh mức độ vận dụng HTTC và PPDH môn TKTP I của GV
Trang 17PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập, từng bước hòa mình vào dòng chảy của thế giới Mặt khác, nước ta cũng đang chịu tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng bởi sự du nhập từ nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới Chính điều này đã ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội, nhất là tronglĩnh vực giáo dục Để đánh giá sự giàu có, phồn vinh một quốc gia, trước tiên người ta sẽ nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó, vì vậy, giáo dục được xem là bộ mặt của đất nước Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, Đảng đã chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Để thích nghi với sự thay đổi này, công tác giáo dục cần được “mềm hóa”, đa dạng hóa sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường lao động hiện nay
Bên cạnh đó, trong thời đại ngày nay, xu hướng toàn cầu hoá là tất yếu, chúng
ta gia nhập WTO (World Trade Organization) ngày 15.11.2006, đây là sự gia nhập trực tiếp vào quá trình toàn cầu hóa để tận dụng những cơ hội cũng như sẵn sàng đối mặt với những thách thức mới Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2011 - 2020 đã khẳng định: phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao, tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để phát triển cao hơn trong những giai đoạn kế tiếp Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục với định hướng “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực
chất lượng cao là một đột phá chiến lược”[6, 1], định hướng đổi mới giáo dục và
đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 của đất nước Việc đào tạo làm sao để cho ra được một con người đầy đủ kiến thức chuyên môn và biết
Trang 18nắm bắt, biết đối mặt với những thách thức, biết tận dụng những cơ hội, để đào tạo
ra nguồn nhân lực chất lượng cao là một điều khó, và phải cần thời gian để có thể đưa đất nước tiến đến gần hơn với nền giáo dục thế giới, điều này đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các cơ sở giáo dục, các trung tâm đào tạo ứng với từng bậc học hiện nay
Do vậy, việc trang bị kiến thức chuyên môn cho người học hiện nay phải dần dần thoát khỏi cách dạy và học truyền thống trước đây Chúng ta không phủ nhận kết quả của các phương pháp giảng dạy truyền thống, nhưng cũng phải công nhận một điều rằng sinh viên chúng ta sau khi tốt nghiệp có rất nhiều mặt yếu, ví dụ như thụ động, chưa biết nắm bắt cơ hội, rập khuôn theo những cái có sẵn, lười suy nghĩ, lười sáng tạo… Một trong những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục là phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hànhđể một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng”[6, 8] Trong tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề, việc hướng dẫn, truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho người học luôn là vấn đề cần được quan tâm đúng mức, phải dạy làm sao, phải học như thế nào để đạt được kết quả tốt nhất Vì thế,“tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”[6, 12] và vận dụng, phối hợp, đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho phát huy được tính tích cực, sáng tạo, đòi hỏi phương pháp học tập như thế nào ở chính bản thân người học là một vấn đề nan giải, gây nhiều rắc rối, nên áp dụng quan điểm nào, phương pháp ra sao vẫn còn đang rất được quan tâm
Trang 19Cụ thể trong lĩnh vực dệt may, đây là một ngành đang chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia vì nó phục vụ nhu cầu tất yếu của con người, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động xã hội và tạo điều kiện cân bằng xuất nhập khẩu Trong khi đó, về mặt nhân lực, hiện tại lao động ngành dệt may đang rất thiếu và yếu cả lao động trực tiếp, quản lý, kinh doanh và cả về chuyên môn nghiệp
vụ Một trong những đối tượng cần được trực tiếp quan tâm ở đây chính là sinh viên chuyên ngành dệt may, làm cách nào để cho các em có cái nhìn đúng đắn về ngành nghề, hiểu rõ tầm quan trọng của ngành nghề, từ đó sẽ ý thức hơn về thái độ học tập của mình Không đơn giản là sau khi tốt nghiệp tìm được một công việc mà các em còn phải tìm được chính niềm đam mê của mình ngay trong ngành nghề các em đã chọn
Có 3 điểm yếu lớn nhất của ngành dệt may trong nước là máy móc, thiết bị đa phần phải nhập từ nước ngoài, chưa thể chủ động được nguồn nguyên phụ liệu và đội ngũ nhân viên thiết kế, các ý tưởng mẫu mã sản phẩm trang phục vẫn chưa đa dạng Nhằm góp phần giải quyết điểm yếu về đội ngũ nhân viên thiết kế, phát triển
mẫu mã trang phục, người nghiên cứu đề cập đến môn học Thiết kế trang phục I
dành cho đối tượng là sinh viên hệ cao đẳng Đây cũng là một trong những môn học nền tảng cho các môn chuyên ngành tiếp theo Các em không nên đi theo lối mòn trước đây, những con đường đã được dọn sẵn mà phải đi lối đi chưa ai từng đi, để từ
đó tự chiếm lĩnh tri thức, tự tạo vốn sống cho riêng mình
Với việc áp dụng học chế tín chỉ hiện nay, sinh viên cần phải làm quen với sự chủ động trong học tập, mạnh dạn phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm cá nhân Tuy nhiên, nếu muốn có kết quả học tập tốt, chỉ chủ động thôi là chưa đủ, đến kỳ thi học thuô ̣c bài thôi vẫn chưa đủ mà người học cần phải có khả năng tư duy sáng tạo Phải làm sao để khơi dậy khả năng tư duy sáng tạo trong chính bản thân các bạn SV? Ngoài sự nỗ lực của người học, người thầy và môi trường học tập cũng có vai trò quan trọng, định hướng cho sinh viên đổi mới tư duy Với vai trò này, giáo viên cần phải có sự lựa chọn nội dung, vận dụng phương pháp giảng dạy sao cho giúp người học có thể tự khám phá, kiến tạo các tri thức mới cho bản thân
Trang 20Do vậy, việc tiến hành đề tài “Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên trong học tập môn Thiết kế trang phục I tại Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh” là rất cần thiết, có ý nghĩa thiết thực
trong công tác dạy và học tại trường
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên trong học tập môn Thiết kế trang phục I tại Trường Cao đẳng Công thương thành phố
Hồ Chí Minh
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Hệ thống cơ sở lý luận về khả năng tư duy sáng tạo trong học tập của người học
- Phân tích thực trạng tình hình dạy học môn Thiết kế trang phục I của sinh viên tại trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó
- Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo trong học tập của sinh viên trong học tập môn Thiết kế trang phục I tại Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
- Đánh giá các giải pháp đã đề xuất
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học của giáo viên và sinh viên ngành Công nghệ may tại Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên trong học tập môn Thiết kế trang phục I tại Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
5 GIẢ THUYẾT VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 21Hiện tại, quá trình dạy và học môn TKTP I tại trường Cao đẳng Công thương TP.HCM chưa nâng cao được khả năng tư duy sáng tạo của SV trong học tập Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do đa số SV còn tồn tại
“tính ì tâm lý” trong học tập, làm cản trở quá trình tư duy sáng tạo
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, khi khảo sát người nghiên cứu tập trung vào sinh viên chuyên ngành Công nghệ may khóa 2013-2015 trong 3 lớp: CCQ1313A, CCQ1313B, CCQ1313C và cán bộ, giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn Thiết kế trang phục I tại trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp thực hiện bằng cách nghiên cứu sách và tài liệu có nội dung liên quan đến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, dạy học theo năng lực thực hiện, dạy học tích hợp để làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp quan sát, bút vấn
Quan sát thông qua dự giờ, dùng phiếu khảo sát, bảng hỏi tham kh ảo ý kiến giáo viên , sinh viên ngành Công ngh ệ may ta ̣i trường Cao đ ẳng công thương TP.HCM nhằm:
- Khảo sát, phân tích phương pháp học tập của sinh viên và phương pháp giảng dạy của giáo viên
- Đánh giá tính khả thi, tính thực tiễn của các giải pháp được đề xuất
6.3 Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành lấy ý kiến trực tiếp từ phía SV và các GV trực tiếp giảng dạy môn TKTP I nhằm bổ sung kết quả thực trạng dạy và học tại trường Cao đẳng Công thương TP.HCM
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Trang 22Ứng dụng toán học xử lý dữ liệu thu được từ khảo sát, phỏng vấn và lấy ý kiến của các chuyên gia
6.5 Phương pháp chuyên gia
Người nghiên cứu xin ý kiến của các chuyên gia có trình độ và giàu kinh nghiệm trong nghiên cứu, đào tạo để củng cố cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và hoàn thiện các giải pháp nâng cao khả năng tư duy sáng tạo trong học tập của sinh viên nhằm kiểm chứng tác động của các giải pháp đã đề xuất đối với quá trình dạy ho ̣c môn TKTP I
Trang 23PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI HỌC
- -
1.1.1 Trên thế giới
Khái niệm Phương pháp da ̣y học tích cực mới xuất hiện ở cuối thế kỷ XIX,
người đưa khái niệm và quan điểm giáo dục tích cực là triết gia và nhà Giáo dục
người Mỹ- John Dewey (1859- 1952) Nhưng theo bản chất, đặc trưng của phương
pháp dạy học tích cực, người đề ra phương pháp và là cở sở nền móng cho các Phương pháp dạy học tích cực hiện nay là Nhà Giáo dục Socrates (476 - 399 TTL), nhà triết gia tiên khởi và cũng là nhà giáo dục khả kính của Hy Lạp [17, 35] Phương pháp giảng dạy của ông là đối thoại, ông đặt câu hỏi để môn đệ tìm tòi suy nghĩ và trả lời, sau đó ông nhận định về câu trả lời này, vạch ra điều hay điều dở Phương pháp đối thoại trong dạy học của ông được gọi là phương pháp Socrates - thuật đỡ đẻ - đương thời rất có giá trị (giá trị lịch sử), có giá trị thời đại, vừa mang tính truyền thống vừa là cơ sở của phương pháp dạy học hiện đại ngày nay
Đến thời Phục hưng (thế kỉ XIII-XVI), xuất hiện một số nhà giáo dục như Vittorino da Feltre (1378-1446), một nhà giáo dục nhân văn nổi tiếng nhất thời Phục Hưng Ngoài việc dạy lý thuyết ông còn chú trọng thực hành, giảng dạy qua các trò chơi Triết lý giáo dục của Vittorino được khơi nguồn từ lòng tin tưởng, nhiệt thành, công minh, chính trực, lý luận, thực tế; trái ngược với tình trạng lỏng lẻo, hời hợt, hình thức, vô triết lý của nền giáo dục trung đại [17, 120] Hoặc là quan điểm “giáo dục chống nhồi sọ” của nhà giáo dục Petrus Ramus (1515-1572), chương trình giáo dục của ông rất gần với cổ điển Tuy nhiên ông nhận định rằng giáo viên không nên nhồi sọ học sinh với quá nhiều bài vở, phải dành cho họ một
Trang 24phần thảnh thơi tự do và phần này rất quan trọng Cũng theo ông, giáo dục phải có tính cách thực tế, đem lại lợi ích cho cá nhân học sinh và xã hội [17, 133]… Dần về sau, các quan điểm dạy học tích cực, tự lực, tự giác, lấy học sinh làm trung tâm rất được quan tâm bởi các nhà giáo dục như Jan Amos Comenius (1592-1670) của Tiệp Khắc, Jean Jacques Rousseau (1712-1778) ở Pháp, Johann Bernhard Basedow (1723-1790) ở Đức, Johann Heinrich Pestalozzi (1746-1827) ở Thụy Sĩ, hay nhà giáo dục người Đức Friedrich Froebel (1782-1852)… Các nhà giáo dục này mặc dù ứng dụng quan điểm dạy học tích cực ở các hình thức, góc độ khác nhau nhưng cái chung là họ đều hướng đến người học, mang lại sự hứng thú cho học sinh của mình
Và mãi đến thế kỷ XIX, quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” mới thực sự phát triển và được áp dụng rộng rãi
Trước tiên ta phải kể đến các tác giả nghiên cứu về tính tích cực, tính tích cực học tập Những công trình này làm nền móng và gắn liền với sự khơi nguồn cho khả năng tư duy sáng tạo ở người học:
- Khi nghiên cứu về tính tích cực học tập, các tác giả như L.X.Vưgôtxki, X.L.Rubinstein, A.N.Lêônchiep, P.Ia.Galperin và J.Piaget cho rằng: Dựa trên quan điểm cá nhân luôn hoạt động, không có hoạt động thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh mình Chỉ có trong hoạt động thì tính tích cực cũng như tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và phát triển X.L.Rubinstein khẳng định “bất kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là như một cá nhân, như một chủ thể hoạt động đó” [19, 84] Học là một hoạt động, một hành vi tích cực chứ không đơn thuần chỉ là sự tiếp nhận, như vậy hoạt động học tập là một hoạt động tích cực Bởi sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó và các quá trình tiếp thu, lĩnh hội là ở chỗ quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài và năng lực của cơ thể, hành vi loài của cơ thể; còn quá trình tiếp thu hay lĩnh hội thì khác, đó là quá trình mang lại kết quả là cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năng người đã được hình thành trong quá
Trang 25trình lịch sử Muốn người học chuyển tri thức nhân loại thành tri thức của riêng bản thân mình thì phải tổ chức cho họ tích cực tham gia vào các hoạt động
- Carrol.E.Jard trong tác phẩm Những cảm xúc của người đã công bố công trình
nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thành phần không thể thiếu của tính tích cực của con người Tác giả đã trình bày ảnh hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tích cực Tác giả còn nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng của tính tích cực ở con người mà biểu hiện từ mức độ thấp nhất là “tính tò mò” và ở mức độ cao nhất là “khao khát nghiên cứu”, khao khát khám phá…[5]
- Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học phương Tây tiếp thu thành tựu sinh lý học, triết học, tâm lý học macxit đã xem học như là một hoạt động Trong tác phẩm
Dạy trẻ học của mình, Robert Fisher đã giới thiệu công trình nghiên cứu 10 chiến
lược dạy học (1 Tư duy để học, 2 Đặt câu hỏi, 3 Lập kế hoạch, 4 Thảo luận, 5
Vẽ sơ đồ nhận thức, 6 Tư duy đa hướng, 7 Học tập hợp tác, 8 Kèm cặp, 9
Kiểm điểm, 10 Tạo nên một công đồng học tập) Mục đích của công trình này là
giúp người học có tư duy để học tập một cách hiệu quả Tác giả đã nêu lên cách thức học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, sinh viên bộc lộ, hình thành, phát triển cách thức học tập đó và quan trọng là hành động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân [20]
Một số tác giả nghiên cứu về vấn đề tính tích cực học tập và sáng tạo:
- V.Ôcôn trong cuốn Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề cho rằng tích cực là
lòng mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động Chủ thể đã ý thức được mục đích hành động [18]
- Iu.K.Babanxki trong cuốn Tích cực hóa quá trình dạy học [1], I.F.Kharlamôp trong cuốn Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào [13] đã cho
rằng tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể
Trang 26Mặc dù khoa học về sáng tạo đã có từ rất lâu, tuy vậy đến mãi thế kỉ XX cho đến nay, khi mà mọi lĩnh vực khoa học khác có những bước phát triển vượt bậc, thì con người ta mới đặt nhiều câu hỏi về TDST và làm thế nào để phát huy tối đa sức sáng tạo của con người Lúc này khoa học sáng tạo mới thực sự được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản trên khắp thế giới.
1.1.2 Tại Việt Nam
Giáo dục Việt Nam chỉ khởi sự và phát triển từ khi giành độc lập vào năm 939, sau trêm 1000 năm Bắc thuộc Nền giáo dục này chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền giáo dục Trung Hoa [17, 405-406] Nền giáo dục đặc biệt là chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ từ các tôn giáo như Phật giáo, Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Vì vậy Giáo dục
Việt Nam thiên về hướng nội, chủ yếu giáo dục về con người, ít chú trọng đến khám
phá tự nhiên Nên phương pháp dạy học chủ yếu là phương pháp truyền thụ một chiều, thầy đọc – trò học thuộc lòng hoặc ghi chép kinh thư, sách vở
Khi Pháp xâm chiếm miền Nam nước ta vào năm 1861 và toàn lãnh thổ vào năm 1884, nền giáo dục Việt nam chịu ảnh hưởng giáo dục Pháp, nhưng ảnh hưởng
từ nền giáo dục Trung Hoa nhiều ít vẫn tồn tại Sau Cách mạng tháng Tám năm
1945, Việt Nam mới có nền giáo dục hoàn toàn độc lập [17, 406] Từ đó giáo dục mới thực sự được coi trọng, đầu tư phát triển và đề cập nhiều đến phương pháp dạy học, trong đó bắt đầu nghiên cứu và đề cập đến phương pháp dạy học tích cực Xóa
bỏ phương pháp nhồi sọ, lối học hình thức của nhà trường thực dân, đề cao tinh thần khoa học nhằm trau dồi cho học sinh một lối nhận thức có quy củ, một phương pháp
tư duy khoa học, phát triển óc phê bình, phân tích, tổng hợp, tinh thần sáng tạo và gắn liền với thực tiễn Phương pháp giảng dạy có nhiều tiến bộ so với trước, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh đóng góp ý kiến, nhưng vì thiếu phòng học và giáo viên vì vậy lớp học đông nên chủ yếu vẫn đề cao vai trò của giáo viên
Năm năm đầu sau Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) tức giai đoạn 1986 –
1991, đã đưa ra quyết định đường lối đổi mới, bắt đầu bằngđổi mới tư duy nhất là
về đổi mới tư duy giáo dục: Khắc phục những quan điểm và cách làm cũ thời bao cấp về giáo dục Trong đó việc khắc phục cách dạy học đơn thuần (nay gọi là “hành
Trang 27chính hóa” việc lên lớp, việc giáo dục) chỉ cốt truyền đạt cho xong bài giảng Nhà trường, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp luôn luôn phải bám sát mục tiêu giáo dục Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị Quyết Trung ương IV khóa VII (tháng 1/1993), Nghị quyết Trung ương II khóa VIII (tháng 12/1996), và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi ban hành ngày 27/6/2005, điều 2.4, đã ghi “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.Từ đó phương pháp giáo dục cũng được đổi mới, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Áp dụng phương pháp tiến tiến hiện đại đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, sinh viên Phương pháp giảng dạy vẫn đặt nặng sách giáo khoa, nhiều giáo viên thực hiện phương pháp sư phạm tiến bộ với sự đóng góp ý kiến của học sinh
GS Phan Dũng đã nhận định, “nếu như trước đây, sáng tạo được coi là huyền
bí, mang tính thiên phú, may mắn hay ngẫu hứng… thì ngày nay với những phát hiện mới, người ta cho rằng có thể khoa học hóa được lĩnh vực sáng tạo và sáng tạo
có thể dạy và học được Không những thế, còn cần phải quản lý sự sáng tạo như là lâu nay người ta vẫn quản lý một cách có kết quả nhiều lĩnh vực khác” [8]
Ở nước ta, những hoạt động liên quan đến khoa học về tư duy sáng tạo mới thực
sự bắt đầu vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX và thể hiện trên ba hình thức [7]:
- Giới thiệu bằng các bài báo ngắn trên các báo Trung ương như Nhân Dân, Khoa
học và đời sống, trên các báo của thành phố Hồ Chí Minh, bằng các buổi nói
chuyện tại cơ quan, xí nghiệp, trường học, trên màn ảnh nhỏ Hình thức này mới mang tính chất “đánh động” đông đảo quần chúng về môn khoa học còn ít người biết đến nhưng khá gần gũi, thiết thực với mọi người
- Xuất bản những tài liệu chi tiết hơn về môn khoa học tư duy sáng tạo.Ví dụ cuốn
sách Algôrit sáng chế (Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1983) hoặc đăng thường kỳ trong tạp chí Sáng tạo của Ủy ban khoa học và kỹ thuật thành
Trang 28phố Hồ Chí Minh Hình thức này đã có bề sâu hơn và được những người quan tâm hưởng ứng
- Dạy và học những phương pháp tư duy sáng tạo Cho đến nay đã mở được một
số lớp tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Qua kinh nghiệm của các nước tiên tiến và kinh nghiệm thực tế ở nước ta thì hình thức này là hình thức tốt nhất để lĩnh hội và áp dụng vào cuộc sống, công tác
Vấn đề phát huy khả năng tư duy sáng tạo ở học sinh, sinh viên luôn được các cấp lãnh đạo và các nhà Giáo dục học, các nhà Tâm lý học quan tâm, trăn trở, bởi lẽ đây là một trong những yếu tốquan trọng quyết định đến kết quả học tập Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu như:
- Tác giả Phạm Thị Diệu Vân với công trình Làm cho học sinh tích cực chủ động
và độc lập sáng tạo trong giờ lên lớp cho rằng tính tích cực không chỉ thể hiện
trong các mặt quan sát, chú ý, tư duy, trí nhớ mà còn căn cứ vào cường độ, độ sâu, nhịp điệu của những hoạt động đó trong một thời gian nhất định [26, 51]
- Trong Tuyển tập tâm lý học J.Piaget của nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [10],
Hoạt động dạy học và năng lực sư phạm của Nguyễn Kế Hào [11] đã tiếp cận
quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách
- Và một số công trình khác như Làm thế nào để sáng tạo (Phan Dũng, 1992),
Khơi dậy tiềm năng sáng tạo (Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), 2004)…
Nhìn chung các tác giả đã công bố các công trình với các kết quả cụ thể về các thành phần của tính tích cực trong học tập trong đó các tác giả chủ yếu đi tìm phương hướng, hình thức tổ chức, phương pháp giảng dạy, đánh giá hoạt động dạy học nhằm tích cực hóa người học.Trong các bài viết của mình, các tác giả cũng nói đến tính tích cực của học sinh là sự say mê tìm tòi khám phá tri thức do đó người thầy có phương pháp giảng dạy sao cho kích thích phát triển tính tích cực chủ động sáng tạo ở người học chứ không phải nhồi nhét những kiến thức có sẵn vào trong đầu học sinh
Trang 29Từ việc tìm hiểu về lịch sử và các công trình, các đề tài, các bài báo khoa học trong và ngoài nước trên, nhận thấy các tác giả đã nêu lên các quan điểm của mình
về việc khơi dậy tính tích cực, sáng tạo trong học tập và việc vận dụng năng lực sư phạm của người thầy giúp cho người học có thể tư duy để học tập một cách hiệu quả Đây là nền tảng, là cơ sở giúp người nghiên cứu trong việc đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng tư duy sáng tạo, ứng dụng cụ thể cho môn học Thiết kế trang phục I tại trường Cao đẳng công thương TP.HCM
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Giải pháp
Giải pháp (solution) là cách giải quyết một vấn đề khó khăn
Việc đề xuất giải pháp trong đề tài này chính là tìm ra cách, tìm ra con đường
để đi tới được cái “đích” mình cần đến hay mục tiêu mong đợi,giải pháp tốt thì đến đích nhanh an toàn, giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn
1.2.2 Nâng cao
Nâng cao (enhance) có nghĩa là làm tăng thêm
Với đề tài này, khái niệm “nâng cao” được hiểu là làm tăng thêm, khơi dậy, đánh thức theo hướng tích cực, mang lại hiệu quả nhất định dựa trên nền tảng có sẵn
1.2.3 Khả năng tư duy sáng tạo
1.2.3.1 Khả năng
Theo Từ điển Tiếng Việt, thứ nhất, khả năng (ability) là cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong những điều kiện nhất định (phải tính đến khả năng xấu nhất); thứ
hai, khả năng (competence) là năng lực, tiềm lực (một cán bộ có khả năng phát huy
mọi khả năng của tài nguyên nước ta)
Trong đề tài này, sử dụng khái niệm khả năng theo cách thứ hai, có nghĩa khả năng là năng lực Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Trong tâm
lý học, năng lực được xem là một thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp
Trang 30với những yêu cầu của từng hoạt động nhất định và phải đảm bảo hoạt động có hiệu quả
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia” Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc [4, 27] Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm
Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [4, 27-28]
Có nhiều loại năng lực khác nhau Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn (Professional competency); Năng lực phương pháp (Methodical competency); Năng lực xã hội (Social competency); Năng lực cá thể (Induvidual competency) [4, 28]
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực
Hình 1.1: Các thành phần cấu trúc của năng lực
Năng lực chuyên môn
Năng lực phương pháp
Năng lực cá thể
Năng lực xã hội
NĂNG LỰC HÀNH ĐỘNG
Trang 31Trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau Ví dụ năng lực của giáo viên bao gồm những nhóm cơ bản sau: năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội
và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này
Bảng 1.1: Nội dung học tập theo quan điểm phát triển năng lực [4,31]
1.2.3.2 Tư duy
Tư duy (TD) là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết [12, 25]
Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện Nó dùng suy nghĩ hay tái
Học nội dung
chuyên môn
Học PP – chiến lược
- Các phương pháp nhận thức chung: Thu thâp,
xử lý, đánh giá, trình bày thông tin;
- Các phương pháp chuyên môn
- Làm việc trong nhóm;
- Tạo điều kiện cho sự hiểu biết
về phương diện
xã hội;
- Học cách ứng
xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột
- Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu;
- XD kế hoạch phát triển cá nhân;
- Đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức và văn hoá, lòng tự trọng …
Năng lực
chuyên môn
Năng lực phương pháp Năng lực xã hội Năng lực cá thể
Trang 32tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó Theo cách hiểu đơn giản nhất,
TD là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích Những kích thích này nhận được thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác (touch), thị giác (sight), thính giác (sound), khứu giác (smell) hay vị giác (taste) [16, 13]
Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, TD diễn ra thông qua các thao tác sau [16, 15]:
- Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ
phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra được những thuộc tính, những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể được hiển minh
- Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ
phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tượng nhận thức đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tượng một cách bao quát, toàn diện hơn Trong TD, tổng hợp là thao tác được xem là mang dấu
ấn sáng tạo Khi nói người có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tương tự như nói người
có “đầu óc sáng tạo”
- So sánh - tương tự: nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật
hiện tượng của hiện thực Nhờ so sánh người ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật Ngoài ra còn tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng
- Trừu tượng hóa: là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính,
những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố đặc trưng, bản chất của đối tượng nhận thức
- Khái quát hóa: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau
thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng Kết quả của khái quát hoá là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tượng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc
Trang 33Như vậy, các thao tác tư duy cơ bản được xem như quy luật bên trong của mỗi hành động TD Rõ ràng là mo ̣i hành đô ̣ng của con người đều nhằm thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và đều xuất phát từ nhu cầu cá nhân Người học cũng vậy , khi có nhu cầu , thì chính nhu cầu đó đã thôi thúc hành đô ̣ng diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu Có thể đầu tiên là những hành đô ̣ng theo thói quen , theo bản năng nhưng nếu hành động đó không mang đến sự thỏa mãn ở người học thì chắc chắn là họ phải bắt
đầu tư duy Càng tư duy, người học sẽ càng đa ̣t hiê ̣u q uả cao hơn và dần thành thói
quen, và như thế khi có nhu cầu , họ sẽ bắt đầu tư duy để tìm ra những hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu Tóm lại, có thể hiểu TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của não
bộ Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống
hoạt động của con người
1.2.3.3 Sáng tạo
Sáng tạo (creative) được hiểu theo 2 nghĩa: một là, làm ra cái mới chưa ai làm;
hai là, tìm tòi làm cho tốt hơn mà không bị gò bó [25, 657]
Sáng tạo là việc làm ra cái khác đi, mới hơn (chưa từng có trước đó thì càng tốt) hoặc làm tốt hơn kết quả bình thường với những cách thức không giống như truyền thống [2, 75] Bên cạnh những gì đã có, những gì đã biết, con người luôn khao khát những cái mới hơn, tốt hơn, lạ hơn Chính để thỏa mãn những mong muốn ấy, con người đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo
Theo GS Phan Dũng, sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời
tính mới và tính ích lợi “Tính mới” là sự khác biệt của đối tượng cho trước so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian “Tính ích lợi” chỉ thể hiện ra khi đối tượng cho trước hoạt động theo đúng chức năng và phạm vi áp dụng của nó Sáng tạo đòi hỏi “có đồng thời” tính mới và tính ích lợi Nói cách khác, tính mới phải đem lại ích lợi thặng dư so với trước đó [9, 10]
Bản chất của sáng tạo là tư duy có định hướng Xét về bản chất, sáng tạo nghĩa
là nghĩ ra Nghĩ ra có nghĩa là vạch kế hoạch trong óc, quy hoạch trong đầu, hình
Trang 34dung một cái gì đó như là cái toàn thể và sáng chế ra nó Sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra những hình tượng hoặc hành động mới so với cá nhân Sáng tạo được xây dựng trên cơ sở của trí tưởng tượng [12, 33]
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất và nguồn gốc của trí sáng tạo của con người nhưng rõ ràng nó rất cần cho cuộc sống này nên các nhà tâm lý học đã tìm cách đo lường, đánh giá năng lực sáng tạo cho mọi cá nhân Người ta đưa ra một tình huống và một số điều kiện xuất phát từ nhu cầu đề xuất càng nhiều giải pháp càng tốt và trong một thời gian càng ngắn càng hay Việc đánh giá được căn
cứ vào tính mới, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất Những trắc nghiệm theo hướng như vậy cùng với những thực nghiệm đã cho thấy:
- Sáng tạo là một tiềm năng vốn có của mỗi con người và sẽ bộc lộ khi có cơ hội
- Mỗi người chỉ có thể quen cách sáng tạo trong một lĩnh vực nhất định và có thể luyện tập đầu óc sáng tạo trong lĩnh vực đó
Theo Nguyễn Huy Tú [21, 16], việc phân biệt các mức độ sáng tạo có ý nghĩa rất quan trọng trọng việc giáo dục và đào tạo con người Ông đã phân chia sáng tạo thành 5 mức độ sau:
- Sáng tạo biểu hiện: là mức sáng tạo cơ bản nhất không đòi hỏi kỹ năng quan
trọng nào Đặc trưng của mức độ sáng tạo này là tính bộc phát “hứng khởi”
- Sáng tạo chế tạo: là mức sáng tạo cao hơn sáng tạo biểu hiện Nó đòi hỏi những
kỹ năng nhất định (kỹ năng xử lý thông tin hoặc kỹ năng kỹ thuật) Ở mức độ này, các quy tắc thay thế cho tính bộc phát trong việc thể hiện cái tôi của người sáng tạo
- Sáng tạo phát kiến: Đó chính là sự đề xuất sáng kiến hay phát kiến Nó có đặc
trưng là sự phát hiện hoặc tìm ra các quan hệ mới dựa vào cách sắp xếp các thông tin trước đây
- Sáng tạo cải biến: Đây là mức sáng tạo cao Nó thể hiện sự hiểu biết sâu sắc các
kiến thức khoa học hoặc các kiến thức chuyên môn Việc xây dựng các ý tưởng đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định của chủ thể
Trang 35- Sáng tạo phát minh: là mức độ sáng tạo cao nhất, có đặc trưng là tạo ra những
sản phẩm vật chất hay tinh thần hoàn toàn mới, những cách thức hành động chưa từng có trong kinh nghiệm Đây là mức độ sáng tạo có ở các nhà khoa học, nhà sáng chế
Như vậy, trong tất cả các lĩnh vực, sáng tạo hầu như rất cần thiết Trong học tập, người học cần chủ động nâng cao năng lực tư duy của bản thân, người giáo viên cần phải luôn tìm cách làm “mới” các buổi học, các tiết học, gây hứng thú, tạo động
cơ cho SV và kích thích khả năng tư duy sáng tạo ở cá nhân người học
1.2.3.4 Tư duy sáng tạo
Ý định “khoa học hóa tư duy sáng tạo” đã có từ lâu Nhà toán học Hy Lạp Papp
ở Alexanđri, sống vào thế kỷ III, gọi khoa học này là Ơrixtic (Heuristics) có gốc là
từ Ơrica (Eureka) Theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơrixtic là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán học, quân sự Để tìm ra các kỹ thuật thích hợp để kích hoạt khả năng tư duy sáng tạo và để tăng cường khả năng tư duy của cá
nhân người học hay một tập thể trong lớp học ta cần phải quan tâm đến tư duy sáng
tạo
Đề cập đến tư duy sáng tạo (TDST), đây là một lĩnh vực nghiên cứu nhằm tìm
ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng tạo và tăng cường khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thể cộng đồng Tư duy giúp chúng ta phản biện lại một cách nhanh nhất có lập luận và logic rõ ràng, tìm ra được những ý tưởng mới mang tính sáng tạo TDST có khả năng giúp chúng ta tư duy một cách nhạy bén nhất và linh động nhất, giúp lý giải được nhiều vấn đề, hiểu biết sâu rộng về vấn đề đó và có thể tránh được những lối mòn tư duy mang tính rập khuôn
Tùy vào cường độ và mức độ cấp thiết của nhu cầu mà người học càng bị thúc đẩy để dẫn đến hành đô ̣ng Thông qua hình 1.2, chúng ta cũng nhận thấy rằng nếu những hành đô ̣ng trên đã thành thói quen thì người học sẽ hành đô ̣ng mô ̣t cách tự
Trang 36động hóa, không thông qua nhu cầu , xúc cảm nữa Vì thực tế thì những nhu cầu và xúc cảm lúc này đã trở thành tiềm thức trong bản thân cá nhân người học, do đó để rèn luyện tính sáng tạo người học cần rèn luyện cho mình luôn có những nhu cầu
tìm tòi cái mới, cái hiệu quả hơn; hay luôn đặt câu hỏi Tại sao? Có cách nào tốt hơn
không? Khi ấy vô tình người học đã trở thành người có tính sáng tạo mà ngay cả
bản thân họ cũng không kịp nhận ra
Trong buổi đầu tiên đến lớp, người giáo viên cũng có thể phát hiện ra khả năng
tư duy sáng tạo ở người học thông qua một số biểu hiện sau:
- Trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của giáo viên, phát hiện ra vấn đề mấu chốt, các
ẩn ý trong câu hỏi, bài tập giáo viên đưa ra
- Kết hợp được các thao tác tư duy, có đầu óc phán đoán và đưa ra kết luận nhanh chóng và chính xác
- Trình bày linh hoạt một vấn đề và đề xuất nhiều phương án giải quyết
- Vận dụng tri thức thực tế để giải quyết một vấn đề khoa học và ngược lại biết vận dụng những tri thức khoa học để đưa ra những sáng kiến, những giải thích, áp dụng phù hợp
- Mạnh dạn đề xuất những cái hoàn toàn mới, không đi theo đường mòn hay những quy củ và biết cách bảo vệ ý kiến của mình
- Biết cách vận dụng và cải tiến những điều vừa học được
Hình 1.2: Quy trình tư duy sáng tạo (từ nhu cầu đến hành động)[9, 37]
Trang 37- Có năng lực liên tưởng, tưởng tượng
Như vậy, khả năng tư duy sáng tạo ở người học chính là năng lực suy nghĩ và thực hiện những điều sáng tạo Biết, làm thành thạo và luôn tìm cách đổi mới khi chưa được học hay đọc tài liệu hoặc tham quan về vấn đề đó nhưng lại đạt được hiệu quả cao Trong DH, muốn phát triển TDST cho HS, người GV cần có những tác động nhằm khơi gợi, hình thành những phẩm chất, thói quen sáng tạo cho HS
1.3 CÁC YẾU TỐ VÀ QUÁ TRÌNH TÂM LÝ TRONG TƯ DUY SÁNG TẠO
1.3.1 Trí nhớ
Trí nhớ có chức năng ghi nhớ, lưu trữ và tái hiện các thông tin (hiểu theo nghĩa rộng) đã và đang có So với trí nhớ máy tính, trí nhớ của con người thường ghi nhớ không đầy đủ và chính xác, lưu trữ và tái hiện thông tin không tin vậy bằng Đặc điểm này nếu được dùng đúng thì có thể đem lại nhiều lợi ích như không cần phải nhớ nhiều mà vẫn có thể nhận lại được những đối tượng, quá trình quen biết, mở rộng phạm vi áp dụng đã biết của chúng (sáng tạo) Và chính đặc điểm này cũng giúp người giải đưa những đối tượng, quá trình quen thuộc ra ngoài phạm vi áp dụng thực sự của chúng [9, 40]
1.3.2 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ đôi khi gây cho người giải bài toán hiểu lầm, hiểu sai vì:
- Một từ có nhiều nghĩa hoặc ngược lại, nhiều từ đồng nghĩa, gần nghĩa
- Có nhiều loại nghĩa: nghĩa đen, bóng, cụ thể, trừu tượng, khái quát, hẹp, rộng, tương đối, tuyệt đối, ngầm, nổi, lặn, riêng, chung, lóng, hài hước, nghiêm túc…
- Nghĩa của từ bị ảnh hưởng bởi trạng thái chủ quan của người sử dụng ngôn ngữ
- Nghĩa bị ảnh hưởng bởi môi trường
Khi suy nghĩ, chúng ta cần sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, tránh đa nghĩa không cần thiết, đảm bảo tính logic của quá trình xử lý và biến đổi thông tin [9, 41]
1.3.3 Ký hiệu
Trang 38Ký hiệu giúp cho suy nghĩ trở nên gọn Tuy nhiên cần lựa chọn các loại ký hiệu giúp mở rộng khả năng suy nghĩ và cần tính đến thời gian sống của nó để tránh làm nảy sinh các vấn đề trong tương lai
1.3.4 Hình vẽ
Trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tư duy, ở đâu cũng có thể trình bày được suy nghĩ thành hình vẽ hoặc/và suy nghĩ được bằng hình vẽ, hình ảnh, người giải bài toán cần phải vẽ hình ra để xem xét Làm như vậy chúng ta sử dụng được các ưu việt của thị giác:
- Hơn 90% thông tin con người tiếp nhận từ môi trường là qua con đường thị giác Bốn giác quan kia cộng lại chưa tới 10%
- Thị giác có khả năng tiếp nhận khối lượng thông tin rất lớn trong vùng một thời điểm (chứ không phải theo lối tuần tự tuyến tính) và xử lý chúng trong một thời gian rất ngắn
1.3.5 Tính liên tưởng
Tính liên tưởng là khả năng của con người từ ý nghĩ này thông qua một mối liên kết dựa trên kinh nghiệm nào đó để đi đến ý nghĩ khác và cứ như thế…
Ai cũng có khả năng liên tưởng, tùy người cụ thể, có thể gần hay xa
Liên tưởng có thể xảy ra theo nhiều hướng khác nhau, tùy theo người suy nghĩ chú ý nhấn mạnh vào khía cạnh nào của đối tượng suy nghĩ
Nếu dùng đúng phạm vi áp dụng, khả năng liên tưởng giúp người giải đưa ra các ý tưởng sáng tạo Có những phương pháp sáng tạo được xây dựng dựa trên việc
sử dụng khả năng liên tưởng [9, 42]
1.3.6 Trí tưởng tượng
Trí tưởng tượng là khả năng của con người tạo hình ảnh phản ánh đối tượng cho trước ở trong óc của mình mà trong khoảng thời gian đó, đối tượng cho trước không hoặc không thể tiếp nhận được một cách trực tiếp thông qua các giác quan Trí tưởng tượng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sáng tạo, bởi vì con người thường tưởng tượng ra cái mới trước ở trong óc rồi mới biến nó thành hiện thực Chưa kể,
Trang 39có những đối tượng không thể tiếp nhận được trực tiếp từ các giác quan mà chỉ có thể tưởng tượng ra chúng
Trí tưởng tượng có tác dụng kích thích, khởi nguồn cho hoạt động TDST Tưởng tượng giúp con người mô phỏng được những cái chưa từng có trong hiện thực, loé sáng những ý tưởng bất ngờ, tạo nguồn cho TDST Một người càng sáng tạo bao nhiêu thì càng dùng nhiều bấy nhiêu đến khả năng tưởng tượng Chính vì đặc trưng độc đáo của tưởng tượng nên nó có tác dụng rất lớn trong việc phát triển TDST cho người học
Thế kỷ 20 Thế kỷ 19
Trang 401.3.7 Linh tính
Có ba bộ phận tham gia vào quá trình suy nghĩ của con người: ý thức, tiềm thức, vô thức Ý thức được hình thành nhờ giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng) Khi một người suy nghĩ bằng ý thức, người đó biết và có thể lý giải quá trình suy nghĩ một cách logic
Cho đến nay người ta biết rất ít về tiềm thức và vô thức Khác với ý thức, tiềm thức và vô thức có thể tham gia quá trình suy nghĩ nhưng chính người suy nghĩ không biết về sự hiện diện của chúng Loại ý tưởng được phát ra ở vùng ý thức như
là kết quả của quá trình suy nghĩ xảy ra trong tiềm thức, vô thức được gọi là các ý tưởng do linh tính mách bảo
Một số lời khuyên về linh tính:
- Không nên ngộ nhận những ý tưởng do linh tính mách bảo thường là đúng Trái lại chúng thường là sai
- Cần thu thập cả những ý tưởng do linh tính mách bảo vì số lượng các ý tưởng có trong tay càng lớn thì xác suất có ý tưởng dẫn đến lời giải càng lớn
- Cần xây dựng để có cách suy nghĩ trong vùng ý thức, trở nên rõ ràng, mạch lạc, thoải mái, thông thoáng, không có những điều hạn chế, cấm kỵ (tự do tư tưởng) Cách suy nghĩ như vậy ở vùng ý thức sẽ giúp giải phóng thêm nhiều ý tưởng do linh tính mách bảo xuất hiện
1.3.8 Tính nhạy bén của tư duy
Đây là khả năng phát hiện ra giá trị của thông tin và sử dụng chúng đề giải bài toán, trong khi nhiều người khác cũng tiếp nhận đó nhưng không phát hiện ra
Để có được tính nhạy bén tư duy, người suy nghĩ phải có sự thể hiện nhu cầu cần giải một bài toán nào đó Từ những nguồn thông tin (không cố ý, tình cờ, ngẫu nhiên) trong đó có thông tin đem lại giá trị giải bài toán cho trước, trong đầu người giải sẽ xuất hiện sự liên kết giữa các thông tin đó với nhu cầu giải bài toán ban đầu Tính nhạy bén của tư duy đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình biến đổi thông tin thành tri thức diễn ra trong bộ óc của con người