1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm

138 723 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh - Khảo sát về thực trạng năng lực tự học của học viên cao học ngành Giáo dục học, bao gồm khảo sát nhận thức về vai trò và ý nghĩa của hoạt động tự học của học viên cao học,

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÁI THỊ TUYẾT MƠ

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC VIÊN CAO HỌC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 60140101

S K C0 0 4 5 1 9

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÁI THỊ TUYẾT MƠ

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2015

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC VIÊN CAO HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 60140101

Trang 3

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: Thái Thị Tuyết Mơ Giới tính: Nữ

Ngày tháng năm sinh: 19/07/1990 Nơi sinh: Tiền Giang Địa chỉ liên lạc: 89 Tân Lập 2, phường Hiệp Phú, quận 9, TP HCM

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

Đại học

Hệ đào tạo: Chính quy

Nơi học: Trường Đại học Cần Thơ

Ngành học: Sư phạm Vật lý – Công nghệ

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT

NGHIỆP ĐẠI HỌC

Bình Thạnh, TPHCM

Giáo viên

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 03 năm 2015

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Thái Thị Tuyết Mơ

Trang 5

LỜI CÁM ƠN

Đầu tiên, người nghiên cứu xin trân trọng gửi lời cám ơn chân thành đến

TS Võ Thị Ngọc Lan đã tận tình hướng dẫn và có nhiều góp ý quý báu giúp người nghiên cứu hoàn thành thành luận văn này

Người nghiên cứu trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu phòng Đào tạo sau đại học và Viện Sư phạm Kỹ thuật Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiên cứu hoàn thành khóa học

Người nghiên cứu cũng xin cảm ơn các anh chị học viên lớp cao học ngành Giáo dục học các khóa 2013 – 2015 và 2014 – 2016 Viện Sư phạm

Kỹ thuật Trường ĐH SPKT TP HCM đã nhiệt tình giúp đỡ và hợp tác với người nghiên cứu trong quá trình khảo sát

Bên cạnh đó người nghiên cứu xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn động viên, giúp đỡ người nghiên cứu thực hiện đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 03 năm 2015 Người nghiên cứu

Thái Thị Tuyết Mơ

Trang 6

TÓM TẮT

Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, cùng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội, việc hình thành và xây dựng một nền kinh tế tri thức là điều tất yếu Vì vậy, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước

là rất cần thiết, nguồn nhân lực trình độ cao được đào tạo ở nhiều trình độ nhưng chủ yếu là đào tạo ở bậc sau đại học Với phương thức đào tạo theo

hệ thống tín chỉ như hiện nay, học viên ở bậc học cao học cần có năng lực

tự học để có những phương pháp và kỹ năng tự học hiệu quả

Do đó, thực hiện đề tài “Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh” nhằm tìm hiểu thực trạng về năng lực tự học của học viên cao học, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên góp phần nâng cao kết quả học tập và chất lượng đào tạo cao học Cấu trúc luận văn gồm 3 phần:

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tự học

- Tổng quan về tình hình nghiên cứu hoạt động tự học trên thế giới

và ở Việt Nam

- Khái quát về hoạt động tự học: các khái niệm về hoạt động học tập, hoạt động tự học, năng lực tự học; bản chất hoạt động tự học của sinh

Trang 7

viên; vai trò và ý nghĩa hoạt động tự học; các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên

Chương 2: Thực trạng về năng lực tự học của học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

- Khảo sát về thực trạng năng lực tự học của học viên cao học ngành Giáo dục học, bao gồm khảo sát nhận thức về vai trò và ý nghĩa của hoạt động tự học của học viên cao học, thái độ tự học, phương pháp và kỹ năng

tự học của học viên, những khó khăn gặp phải trong quá trình tự học

- Nguyên nhân chính của thực trạng:

+ Học viên chưa có thái độ tích cực, sự say mê và hứng thú trong

- Giải pháp 2: Tự bồi dưỡng phương pháp tự học ở học viên cao học

- Giải pháp 3: Tự nâng cao kỹ năng tự học ở học viên cao học

- Giải pháp 4: Tự khắc phục những khó khăn về tâm lý trong quá trình tự học ở học viên cao học

Đánh giá tính thực tiễn và tính khả thi của các giải pháp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 8

ABSTRACT

Nowadays, the continuous development of science and technology, along with the social requirements Forming and building a knowledge economy is necessary So, request about highly qualified human resources

to serve for the constructionof the country is needful, highly qualified human resources mainly postgraduate training With the method of training credit system as currently, master students should have competence to self-learning methods and study skills effectively

So, the thesis subject "Survey situation and suggest solutions to improve self-learning competence for master students University of Technical Education Ho Chi Minh City" to find out about the situation of self-learning competence of master students, to put forward solution to improves master student’s self-learning competence, to enhance their study results

The research paper includes 3 parts:

INTRODUCTION

CONTENTS

Chapter 1: Rationale of self-learning activities

- Overview about researching of self-learning activities in the world and VietNam

- General about self-learning activities: the concept of learning

activities, self-learning activities, self-learning competence; nature self-learning activities of students; role and significance of self-

learning activities; factors affecting self-learning activities of

students

Trang 9

Chapter 2: The situation of the self-learning competence of master students at the University of Technical Education Ho Chi Minh City

- Survey about situation of the self-learning competence of master students Including survey about awareness of role and significance of self-learning activities of master students, self-learning attitude, methods and self-learning skills of master students, difficulties encountered during the self-learning of master students

- The main cause:

+ Master students do not have a positive attitude in self-learning + Master students do not yet explore and apply effective self-learning methods

+ self-learning skills of master students are still limited

+ Master students not overcome the problems encountered during the self-learning

Chapter 3: Suggest solutions to improve self-learning competence for master students at the University of Technical Education Ho Chi

Minh City

- Solution 1: Self motives creating, attitudes learning and self-learning properly in master students

- Solution 2: self-learning training methods in master students

- Solution 3: Self improving self-learning skills in master students

- Solution 4: Self overcoming the difficulties encountered in the course

of self-learning in master students

Assess the practicality and feasibility of the solution

PART CONLUTION AND RECOMMENDATIO

Trang 10

MỤC LỤC

Trang

LÝ LỊCH KHOA HỌC i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CÁM ƠN iii

TÓM TẮT iv

ABSTRACT vi

MỤC LỤC 1

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH SÁCH BẢNG 5

DANH SÁCH CÁC HÌNH Error! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục tiêu nghiên cứu 8

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Giả thuyết nghiên cứu 9

5 Đối tượng nghiên cứu 9

6 Khách thể nghiên cứu 9

7 Phạm vi nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 11

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước 11

1.1.1 Kết quả nghiên cứu ở nước ngoài 11

1.1.2 Kết quả nghiên cứu ở trong nước 15

1.2 Các khái niệm 21

1.3 Bản chất hoạt động tự học của sinh viên 28

1.4 Tự học và nghiên cứu khoa học trong hoạt động học tập 29

Trang 11

1.5 Vai trò và ý nghĩa hoạt động tự học của sinh viên 31

1.5.1 Vai trò của tự học nói chung 31

1.5.2 Vai trò và ý nghĩa hoạt động tự học của sinh viên 33

1.6 Nguyên tắc đảm bảo tự học có hiệu quả 34

1.7 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên 35

1.7.1 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên 35 1.7.2 Những yếu tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên 50

1.8 Đặc điểm tâm lí của học viên cao học 53

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN CAO HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 59

2.1 Khái quát về Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 59

2.2 Giới thiệu về Viện Sư phạm Kỹ thuật Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh 60

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 60

2.2.2 Cơ sở vật chất 60

2.2.3 Chương trình đào tạo thạc sĩ ngành Giáo dục học 61

2.2.4 Đội ngũ giảng viên 61

2.3 Khảo sát thực trạng năng lực tự học của học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 62

2.3.1 Mục đích khảo sát 62

2.3.2 Nội dung khảo sát 62

2.3.3 Công cụ khảo sát 62

2.3.4 Tiến hành khảo sát 62

2.3.5 Kết quả khảo sát 63

Trang 12

2.3.5.1 Nhận thức về ý nghĩa và vai trò của hoạt động tự học của học viên

cao học Trường ĐH SPKT TPHCM 63

2.3.5.2 Thái độ tự học của học viên cao họcTrường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 65

2.3.5.3 Phương pháp tự học của HV cao học Trường ĐH SPKT TPHCM 70

2.3.5.4 Kỹ năng tự học của học viên cao học Trường ĐH SPKT TPHCM 73

2.3.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của học viên cao học 82

2.3.6 Kết luận về thực trạng 86

2.3 Nguyên nhân ảnh hưởng tới năng lực tự học của học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 87

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC VIÊN CAO HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT HỒ CHÍ MINH 92

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 92

3.2 Giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109

1 Kết luận 109

2 Hướng phát triển của đề tài 110

3 Kiến nghị 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 1

Trang 13

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu chữ viết tắt Nội dung viết tắt

1 Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ

Trang 14

Bảng 2.5: Bảng tổng hợp ý kiến về tiêu chí đánh giá kỹ năng đọc sách,

nghiên cứu tài liệu của học viên 76

Bảng 2.6: Bảng tổng hợp ý kiến về kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sang thế kỉ XXI khái niệm về nền kinh tế tri thức ngày càng rõ ràng và được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước Để tạo nên một nền kinh tế tri thức thì đòi hỏi phải có nhiều điều kiện, nhưng quan trọng hơn hết đó là nguồn nhân lực trình độ cao, có thể nắm bắt và tiếp thu tri thức mới nhất trong thời đại Nhân lực trình độ cao là những người được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau nhưng chủ yếu là đào tạo sau đại học Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc hình thành và xây dựng một nền

kinh tế tri thức là điều tất yếu [33, tr 35]

Muốn có được nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước thì mỗi người học phải cần có năng lực tự học, tự nghiên cứu

để có thể học tập suốt đời nhằm tự hoàn thiện mình, tự bổ sung những kĩ năng cần thiết, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học hiện đại, cập nhật để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi sự phát triển của đất nước Đặc điểm nổi bật trong nền kinh tế tri thức là học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời, xã hội học tập [8, tr 29] Như vậy, học tập, tự học là con đường tốt nhất để làm phong phú thêm tri thức của mình, góp phần xây dựng nền kinh tế tri thức và tìm thấy giá trị đích thực của cuộc sống Nhận thức ý nghĩa và tầm quan trọng về năng lực tự học

đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện ở Điều 5, mục 2, Luật giáo dục

2005 khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say

mê học tập và ý chí tiến thủ vươn lên” [20] Đồng thời, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 (Quyết định số 711/QĐ – TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ) xác định: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại

Trang 16

hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thànhxã hội học tập.” [25]

Để phục vụ cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, từ việc “giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành,…” đến “đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao” thì đòi hỏi mỗi người học phải học tập, tự học suốt đời để có thể theo kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ Mọi người phải luôn luôn học tập tri thức, hấp thụ tri thức mới để biến tri thức chung thành cái của mình Không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, mọi người đều phải học tập, học tập thường xuyên, học suốt đời, học ở nhà trường, học trên mạng, cả xã hội học tập [8, tr 29] Tự học là “một việc tiếp tục suốt đời… còn sống thì còn phải học…”, vì “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo Mình mà không học thì lạc hậu mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình” [1, tr 6]

Chúng ta không phủ nhận rằng ngày nay phần lớn học viên cao học đều

có ý thức trong học tập, tự học để hoàn thiện mình, tự học để nâng cao trình

độ, tự làm giàu thêm vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của mình Thêm vào

đó, với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ như hiện nay, bên cạnh các

kỹ năng học tập truyền thống như nghe giảng và ghi chép,… học viên ở bậc cao học cần có các kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và dành nhiều thời gian cho hoạt động tự học Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ các học viên cao học vẫn chưa ý thức được vai trò của hoạt động học tập, tự học, chưa có thái độ và

Trang 17

động cơ học tập đúng đắn nên họ thường thụ động trong việc học tập, tự học

và thiếu sự say mê, nghiên cứu, tìm tòi học hỏi, chưa có phương pháp nghiên cứu và tự học thích hợp Thậm chí không ít học viên cao học lấy điểm số học tập làm đích phấn đấu mong nhận được học vị thạc sĩ Điều đó làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực và còn ảnh hưởng không nhỏ tới sự hoàn thiện nhân cách của người học

Xuất pháp từ những lí do trên thực hiện đề tài “Khảo sát thực trạng và

đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh” là thiết thực Hoàn thành đề tài này

là tìm ra được các giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học sẽ góp phần không nhỏ nâng cao kết quả học tập Đồng thời tạo động cơ và thái

độ học tập đúng đắn, góp phần tạo thương hiệu Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh trong công tác đào tạo cao học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho HV cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, người nghiên cứu tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống cơ sở lí luận về hoạt động tự học

- Khảo sát thực trạng năng lực tự học của HV cao học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho HV cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

- Đánh giá tính thực tiễn và tính khả thi của các giải pháp từ chuyên gia

Trang 18

4 Giả thuyết nghiên cứu

Thực trạng năng lực tự học của học viên cao học còn nhiều hạn chế Những hạn chế này là do yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan, trong đó yếu

tố chủ quan đóng vai trò quyết định tới năng lực tự học

5 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực tự học của HV cao học ngành Giáo dục học tại Trường Đại học

Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

- Đề tài chỉ nghiên cứu năng lực tự học trong học tập ở nhà trường của học viên cao học, còn việc nghiên cứu về năng lực tự học, tự nghiên cứu trong khi làm việc thì trong khuôn khổ luận văn này chưa đề cập đến

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Người nghiên cứu đã tiến hành

phân tích, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết thông qua các tài liệu, sách báo, luận văn, các công trình nghiên cứu về hoạt động tự học Từ đó, tổng hợp làm

cơ sở lí luận về hoạt động tự học cho đề tài

- Phương pháp điều tra: Thu thập thông tin và xác định thực trạng năng

lực tự học của HV cao học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh bằng cách phát phiếu khảo sát và trao đổi ý kiến với các học viên cao

học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

Trang 19

- Phương pháp toán học thống kê: Ứng dụng toán học thống kê nhằm

xử lí số liệu đã thu thập được thông qua việc tiến hành khảo sát thực trạng

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn

sâu học viên cao học để thu thập thông tin và xác định thực trạng năng lực tự học của học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến đánh giá của chuyên gia về

các giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học mà đề tài đã đề

xuất nhằm xác định tính thực tiễn và tính khả thi của giải pháp

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Kết quả nghiên cứu ở nước ngoài

Hoạt động học là phương thức để con người tiếp thu tri thức, hành vi trong cuộc sống Việc học giúp cá nhân lĩnh hội những tri thức đã được tích lũy trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng Việc lĩnh hội tri thức của mỗi người chỉ đạt kết quả cao khi họ biết tự học Do vậy nghiên cứu

về tự học có giá trị nhất định trong việc thúc đẩy con người tích lũy kinh nghiệm, tri thức khoa học để nâng cao năng lực nhận thức thế giới khách quan Vấn đề tự học đã được nhiều tác giả nghiên cứu

- Ngay từ thời Cổ đại, tuy chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề tự học nhưng người ta đã nhấn mạnh đến vai trò tự học Tự học là quá trình tự tìm tòi, tự học hỏi, tự khám phá, tự trang bị tri thức cho bản thân Thời Trung Hoa cổ đại – Khổng Tử (551 – 479 TCN) có ý tưởng: coi trọng việc tự tìm hiểu, tự phát hiện của học trò để phát triển tư duy và trí tuệ của họ Ông nói: “Không tức giận vì không muốn biết thì gợi mở cho, không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy được ba góc kia thì không dạy nữa” Điều này chứng tỏ ông yêu cầu học trò phải thực

sự nổ lực, phải phát huy năng lực bản thân trong quá trình tự học [23, tr 23]

- Xôcơrát (469 – 339 TCN) trong dạy học ông đã quan tâm đến việc phát huy tính tự giác, tích cực, tự lập của người học, ông đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó [23, tr 35]

Trang 21

- Đến thế kỉ XVII nhà giáo dục người Tiệp Khắc J.A Cômenxki (1592 – 1670) đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên, giảng viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn Ông đề ra một số nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn còn nguyên tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng [22, tr 141]

- Thế kỷ thứ XVIII, phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm

đã ảnh hưởng lớn đến phương pháp giảng dạy hiện đại và thay thế cho phương pháp giảng dạy trực tiếp hay phương pháp giảng dạy lấy giáo viên làm trung tâm Phương pháp mới này khuyến khích học sinh tự học hỏi, tự phát huy sáng kiến, giáo viên đóng vai trò hướng dẫn Phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm đã phát nguồn với nhà giáo dục, triết gia Pháp nổi tiếng Jean Jacques Rousseau Tiếp đến là sự đóng góp của các nhà giáo dục Pestalozzi, Francis, Parker, Ovide Decroly và Maria Montessori Quan điểm giảng dạy này đặt trên căn bản học tập cá nhân, học tập nhóm, học tập nghiên cứu, học tập tương hỗ, học tập các giá trị nhân bản và học tập qua tài liệu, tiện nghi kỹ thuật [22, tr 325 – 326]

- Đến thế kỉ XIX Usinxki (1824 – 1870) đã nghiên cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh Theo ông tính tích cực, tính độc lập là cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả Ông cho rằng cần giáo dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển bản thân Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy của người giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho học sinh tích cực ở mức độ cao nhất

- N A Rubakin (1862 – 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào?”

đã nhấn mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của học sinh trong việc chiếm

Trang 22

lĩnh tri thức N A Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong tự học của học sinh Muốn người học học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con người có động cơ đúng đắn trong tự học Ông khẳng định:

“Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học” Rubakin kết luận rằng: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời – đó chính là phương pháp tự học Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôi vẫn chưa đủ mà người học cần phải có kỹ năng tự học thì mới tự học có hiệu quả [27]

- Đầu thế kỉ XX những thành tựu về lý luận dạy học của nhà nước Xô Viết ra đời gắn liền với tên tuổi của một số nhà giáo dục học nổi tiếng như: L.V Zankov, L La Lecne, Lu K Babanski, R A Nhizamov, Khi nghiên cứu về lý luận dạy học ở đại học, các tác giả đã vạch rõ sự khác biệt giữa dạy học ở đại học với dạy học ở phổ thông: Các tác giả cho rằng dạy học ở đại học không phải chỉ trả lời câu hỏi dạy như thế nào? Mà còn phải trả lời câu hỏi: sinh viên độc lập học tập như thế nào? độc lập nghiên cứu khoa học ra sao? tìm tòi sáng tạo như thế nào? Có thể nói ngay từ đầu thế kỉ XX, vấn

đề tự học ở đại học đã được rất nhiều các tác giả quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phương pháp học

- Nhật Bản trở thành một nước hùng mạnh (từ sự đổ nát do hậu quả của chiến tranh) là nhờ vào truyền thống tự học của người dân, dựa vào ý chí

tự vươn lên của cả một dân tộc Một số nhà sư phạm nổi tiếng đã quan tâm chú ý tới hoạt động tự học của người học Từ những năm 30 - 40 của thế kỷ

XX, nhà sư phạm nổi tiếng Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi trong tác phẩm

“Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” [19, tr.19] nhấn mạnh: “Quá trình hướng dẫn tự học của người học” Động lực của giáo dục là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng

Trang 23

- Vào những năm 70 của thế kỷ XX, I F Kharlamop khẳng định rằng:

tự học đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức

và hiệu quả cho hoạt động trí tuệ của SV Hoạt động tự học diễn ra theo cách tăng cường nghiên cứu, làm việc với tài liệu học tập, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, cải tiến công tác tự học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá,…[12] Năm 1994, Raja Roy Singh – nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn sách “Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” đã nghiên cứu vai trò tự học của người học và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của thầy trong học tập thường xuyên và học tập suốt đời, trong việc hình thành và phát huy năng lực tự học của người học [26]

- Năm 1996, Ủy ban quốc tế về Giáo dục cho Thế kỷ XXI do Jacque Delor làm chủ tịch đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn” và đã đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho thế kỷ XXI dựa trên bốn trụ cột (học để biết, học để làm, học để khẳng định mình, học để cùng chung sống) cũng đã khẳng định tầm quan trọng của tự học trong xã hội đầy tính cạnh tranh và trong thời đại bùng nổ của tri thức khoa học, công nghệ như hiện nay

Nhìn chung các quan điểm trên tuy có những điểm khác nhau nhưng đều khẳng định: trong học tập, năng lực thực tiễn của người học dưới hình thức tự học, tự phát triển sẽ đưa đến sự biến đổi bản thân để phù hợp với cuộc sống

Như vậy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu đều đi đến khẳng định vai trò của tự học trong hoạt động học tập của người học, chỉ ra một số kỹ năng tự học cơ bản và lưu ý vai trò của người dạy trong việc tổ chức quá trình dạy học để phát huy được tính độc lập, tự giác, sáng tạo của người học,…

Trang 24

1.1.2 Kết quả nghiên cứu ở trong nước

Việc tự học của người học cũng được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu ở các mức độ khác nhau

Từ thời phong kiến do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc, việc học của người học được hiểu và thực hiện một cách máy móc Trong tự học

kỹ năng chủ yếu nhất là ghi nhớ bài học theo kiểu “Thầy bảo thế”

Sau năm 1954, việc học của người học đã được nghiên cứu Một số nhà giáo dục như Nguyễn Hiếu Lê [14], Nguyễn Duy Cần [5],… đã nêu vai trò của tự học và đưa ra lời khuyên tự học cho mọi người Tuy vậy các tác giả chỉ mới nêu lên một số kinh nghiệm tự học của bản thân để mọi người tham khảo chứ chưa nêu được cơ sở lý luận, phương pháp luận và nghiên cứu quy trình khoa học về tự học của người học

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, vấn đề tự học đã được quan tâm nghiên cứu, tuy chưa nhiều Tư tưởng về tự học được một số tác giả trình bày trực tiếp hay gián tiếp trong các công trình Tâm lí học, Giáo dục học hoặc phương pháp giảng dạy bộ môn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc

tự học là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được,

do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [17] Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm cốt” Trong việc học tập, theo quan điểm của Người điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích, nhiệm vụ học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn Bác viết: “Phải biết tự động học tập”, “Tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kì khó khăn nào trong việc học tập”,…[1, tr 86] Tư tưởng này đã chỉ ra rằng: Tự học có vai trò quan trọng,

là động lực thúc đẩy quá trình học tập, phát triển nhân cách và là nền tảng quyết định chất lượng của quá trình dạy học

Trang 25

Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng trong đường lối Giáo dục - Đào tạo, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII, đã nhấn mạnh “Nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học” [39, tr 101] Quan điểm này được tiếp tục khẳng định ở văn kiện Đại Hội toàn Quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ

IX Thấm nhuần tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối của Đảng về Giáo dục - Đào tạo trong gần hai thập kỷ qua đã có nhiều nhà nghiên cứu trên bình diện Tâm lý học, Giáo dục học nhằm làm rõ vai trò của

tự học, các điều kiện tác động nâng cao kết quả tự học Mối quan hệ giữa người dạy và người học, giữa cách dạy và cách học được tập trung làm rõ: người học phải biết tự chiếm lĩnh tri thức thông qua hoạt động học tập tự giác, tích cực,… Thầy giáo khi đó chỉ là người đóng vai trò khơi dậy sự chú

ý, kích thích, thúc đẩy cho học sinh hoạt động học tập [13, tr 11] và như vậy thầy giáo trở thành người trọng tài, đạo diễn, thiết kế, tổ chức việc làm, giúp

đỡ học sinh biết cách làm, biết cách học

Tháng 8 năm 2000, Hội nghị các Trường sư phạm đón đầu đổi mới nội dung chương trình giáo dục mầm non, phổ thông tại Nha Trang đã định hướng giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa phổ thông, phát huy tự học, tự nghiên cứu của học sinh cũng là vấn đề được đề cập trong kết luận hội nghị

Nguyễn Cảnh Toàn [29], [30] trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” (1997)

và “Học và dạy cách học” (2002) đã dày công nghiên cứu về tự học, ông định nghĩa: “Tự học là tự mình động não, tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân

Trang 26

loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.Theo ông, “Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh Nhưng hiểu như vậy là hơi hẹp Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò Dạy, dù sao, cũng là ngoại lực tác động đến trò Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của trò Sự cố gắng này mới đúng là tự học” [29, tr 59 - 60] Như vậy, tự học có thể xảy ra khi

có thầy, có sách, cả khi không có thầy, không có sách

Ngoài ra, GS Nguyễn Cảnh Toàn, với tác phẩm “Tự học thế nào cho tốt” [28, tr 46], tác phẩm này là sự dày công nghiên cứu, đúc kết ra thành những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những qui luật giúp người tự học thấy được các bước đi rõ ràng, để tiến nhanh đến đích, biết cách giải quyết nhiều loại khó khăn trên cơ sở lí luận và thực tiễn trong quá trình tự học Những kinh nghiệm quí báu đó chính là phải biết xây dựng niềm tin vào khả năng tự học, phải có phương châm để đảm bảo thắng lợi của việc tự học, tức

là phải huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay trước khi

sử dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài

Các tác giả: Lê Khánh Bằng, Nguyễn Văn Đạo, Trịnh Quang Từ,… cho rằng tự học là hoạt động tích cực, chủ động, tự giác của người học dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, hướng dẫn, điều khiển) của thầy Với quan điểm này, các tác giả chưa đề cập đến vấn đề tự học, tự nghiên cứu mở rộng kiến thức đối với bản thân người học

Tác giả Trịnh Quốc Lập trong bài báo khoa học “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam” (2008) đăng trên tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ đã cho rằng năng lực tự học không chỉ là phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói, sinh viên châu

Á không phải là không có năng lực tự học; hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực tự học Kết quả

Trang 27

nghiên cứu của tác giả bài viết này đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập

3 Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo khoa học, báo cáo chuyên đề liên quan tới lĩnh vực khoa học giáo dục nghề nghiệp để học viên có điều kiện tiếp cận với các nghiên cứu mới nhất; 4 Khuyến khích giảng viên, học viên cùng tự học, tự nghiên cứu, từ đó tạo lập được môi trường học tập và nghiên cứu tích cực tại Viện Sư phạm Kỹ thuật.” [21, tr 25 - 34] Các kiến nghị chỉ tập trung vào các yếu tố khách quan tác động tới hoạt động tự học của học viên cao học, còn những yếu tố chủ quan thì chưa được đề cập đến

Theo Trần Bá Hoành và Diệp Thị Thanh cho rằng: Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập với nghiên cứu khoa học Một yếu tố quan trọng đảm

Trang 28

bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện

và giải quyết những vấn đề đặt ra Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới sẽ tạo cho người học lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người [33, tr 66 - 67]

Một số công trình, luận văn thạc sỹ và các nghiên cứu đăng trên Tạp chí Giáo dục cũng đã đề cập tới vấn đề tự học ở những khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực giáo dục học như: việc hình thành kỹ năng tự học; xây dựng hứng thú học tập, tổ chức hình thức tự học cho sinh viên [35], [36]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước đã nghiên cứu thực trạng tự học của SV ở những khía cạnh như: việc phân phối thời gian tự học, việc sử dụng thời gian tự học của SV, các hình thức và điều kiện phục vụ, ảnh hưởng đến tự học của SV Dù đứng ở góc độ Tâm lý học hay Giáo dục học để nghiên cứu thì các tác giả đều rút ra một số kết luận:

- Các tác giả khẳng định được tầm quan trọng của tự học, cho rằng tự học là yếu tố quan trọng bên trong quyết định chất lượng học tập của người học Bản chất của tự học là quá trình tự tổ chức, tự điều khiển, tự điều chỉnh

để chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, trên cơ sở đó nhân cách của người học được hoàn thiện và phát triển

- Các công trình nghiên cứu tập trung tìm hiểu, phân tích thực trạng tổ chức hoạt động tự học của SV, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học

Tóm lại, hoạt động tự học đã được nghiên cứu ở từng lĩnh vực khác nhau, với các góc độ khác nhau, có thể khái quát một số điểm sau:

- Tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định kết quả học tập của người học Tự học là cơ sở để người học có thể học suốt đời, nâng cao trình độ trong cuộc sống

Trang 29

- Các tác giả cũng nêu lên một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học, trong đó nhiều tác giả đã khẳng định yếu tố chủ quan của người học đóng vai trò quyết định hiệu quả của hoạt động học tập Trong các yếu tố chủ quan thì động cơ và kỹ năng tự học là những yếu tố cơ bản nhất của tự học

- Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra bản chất tự học của SV là: SV tích cực, chủ động, độc lập tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức bằng chính hành động của bản thân, nhưng không tách rời sự tổ chức, điều khiển của giáo viên

- Các tác giả nghiên cứu đã chỉ ra một số kỹ năng tự học, trong đó kỹ năng đọc sách được coi là một kỹ năng cơ bản của hoạt động tự học ở SV

Kỹ năng tự học được tác giả xem xét như là điều kiện bên trong rất quan trọng để cá nhân tự học

- Các nghiên cứu về hoạt động tự học đa phần tập trung ở học sinh phổ thông và SV đại học

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nước, căn

cứ theo nhiệm vụ của đề tài, người nghiên cứu sẽ hệ thống hóa một số vấn

đề lý luận cơ bản về tự học và bước đầu đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước về hoạt động tự học, người nghiên cứu đã xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu “Tự học của sinh viên” của PGS TS Hoàng Anh và PGS TS Đỗ Thị Châu Tác phẩm này đã trình bày khái quát chung về hoạt động học tập – tự học của sinh viên dưới góc độ Tâm lý học Kết quả cụ thể của công trình nghiên cứu như sau:

- Các tác giả đã làm rõ các quan điểm của các nhà tâm lí học về hoạt động học tập, tự học và khái quát chung về hoạt động học tập-tự học của sinh viên Bên cạnh đó, các tác giả đã làm rõ đặc trưng của việc học tập

Trang 30

trong thế kỷ XXI; Các lĩnh vực học tập: lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực tâm lí- vận động, lĩnh vực tình cảm

- Cấu trúc của hoạt động học tập bao gồm động cơ, nhiệm vụ và hành động học tập

- Các yếu tố tâm lí ảnh hưởng tới hoạt động học tập – tự học của sinh viên

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đạt được trong tác phẩm, người nghiên cứu đã tìm hiểu và phát triển các quan điểm học tập – tự học dưới góc độ Giáo dục học đối với học viên cao học Qua việc hệ thống cơ sở lí luận về tự học và tìm hiểu thực trạng năng lực tự học của học viên cao học người nghiên cứu tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực tự học của học viên cao học, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học viên Nội dung cụ thể trình bày ở phần tiếp theo

1.2 Các khái niệm

 Hoạt động học tập

Hoạt động học là hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua

đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân Các nhà tâm lí học, giáo dục học trong và ngoài nước đã có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách giải

thích phong phú và đa dạng về hoạt động học

- D B Enconhin cho rằng: Hoạt động học tập, trước hết là hoạt động mà nhờ nó diễn ra sự thay đổi trong bản thân học sinh Đó là hoạt động nhằm tự biến đổi mà sản phẩm của nó là những biến đổi diễn ra trong chính bản thân chủ thể, trong quá trình thực hiện nó [1, 32] Theo Enconhin thì việc lĩnh hội tri thức là nội dung cơ bản của hoạt động học tập, được xác định trong sự phát triển, tự biến đổi của quá trình học

Trang 31

- I B Intenxơn xác định: Học tập là hoạt động đặc biệt của con người có mục đích nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các hình thức nhất định của hành vi Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn [37, tr 89] Theo tác giả, người học phải nhận thức, rồi chính những nhận thức đó, bằng các hành vi nhất định của mình, hoạt động để chiếm lấy tri thức

- Đồng Ngọc Toàn quan niệm hoạt động học tập là một hoạt động chuyên hướng vào việc tiếp thu (lĩnh hội) những nội dung và những hình thức lí luận của tri thức, của kĩ năng, kĩ xảo xã hội nhờ sự tái tạo cá nhân Nói cách khác, hoạt động học tập làm cho tri thức khoa học mà loài người

đã phát hiện ra được xuất hiện lại một lần nữa ở chính chủ thể của hoạt động này, làm cho nó biến thành tài sản riêng, thành tâm lí của chính chủ thể

- Theo Phạm Minh Hạc: Hoạt động học tập là hoạt động của trò nhằm tổ chức các điều kiện đảm bảo cho sự lĩnh hội nội dung giáo dưỡng và giáo dục: tiếp nhận các tri thức, thái độ, kĩ năng… (kinh nghiệm xã hội) và chuyển chúng thành vốn liếng kinh nghiệm của bản thân [1, 35] Tác giả cho rằng, thông qua hoạt động của trò, trò tiếp nhận tri thức và biến chúng thành vốn kinh nghiệm cho bản thân

- Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: Hoạt động học tập về bản chất là sự tiếp thu, xử lí thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới [18, tr 65 - 66] Theo tác giả, bản chất của việc học là dựa vào vốn sinh học của cá nhân, bằng trí tuệ, người học tiếp thu và xử lí thông tin

- Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Cốt lõi của hoạt động học tập là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình [29, tr 60] Tác giả

Trang 32

cho rằng cốt lõi của sự học là tự học, bản thân của sự học cũng đã hàm chứa

sự tự học

Các tác giả đưa ra những khái niệm này dựa trên cơ sở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau và quan điểm riêng của mình Mặc dù chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong việc quan niệm về hoạt động học tập, nhưng tất cả điều

có điểm chung về hoạt động học tập đó là hoạt động có mục đích, tự giác, có

ý thức về động cơ và trong đó diễn ra quá trình nhận thức

Từ những quan niệm trên tác giả nghiên cứu đề tài có thể đi đến khái

niệm về học tập như sau: Học tập là quá trình tự giác, tích cực tiếp thu, xử lí

và biến đổi thông tin với mục đích nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, và dù trong hoàn cảnh nào thì trong bản thân việc học cũng hàm chứa sự tự học

tố đó còn có phương tiện và tài liệu học tập Trong quá trình tự học, khả năng sẽ được phát triển nếu người tự học biết dựa vào những đặc điểm của

Trang 33

bản thân và tìm những tài liệu học tập thích hợp với khả năng nhận thức của mình

- Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Để tự học, con người không chỉ sử dụng trí tuệ mà cả tâm hồn, phẩm chất, nhân cách, bản lĩnh văn hóa

và mục đích sống, khát vọng sống Tự học là một quá trình con người vượt qua hoàn cảnh và vượt qua chính mình, nâng mình lên một trình độ cao hơn, phục vụ cho công việc thuận lợi và có hiệu quả hơn [29, tr 60] Như vậy, theo Nguyễn Cảnh Toàn, ông đã đề cập đến các thao tác và những phẩm chất cần thiết cho việc chiếm lĩnh tri thức của mỗi người, chúng được đặt trong mối quan hệ với tổng thể các yếu tố cấu thành hoạt động tự học của người học

- Việc tích lũy kiến thức đạt hiệu quả khi mỗi người học tự giác và nhận thức đúng vai trò của tự học đối với chính bản thân Điều này đã được Nguyễn Văn Đạo nói đến trong khái niệm sau: “Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc của mình đảm nhiệm, cho

sự tiến bộ xã hội” [7, tr 3]

- Theo Lê Khánh Bằng (1998): “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định” [2, tr 3] Theo tác giả, tự học là sự tự giác của chính bản thân người học, khi họ huy động các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để

Trang 34

chiếm lĩnh các tri thức khoa học và chuyển chúng thành tri thức, kinh nghiệm của bản thân để hình thành nhân cách

- Việc tự học phải hướng tới những mục đích nhất định và bằng hoạt động của chính mình Theo Trịnh Quang Từ: “Tự học là quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hoạt động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định” [1, tr 92]

- Hà Thị Đức cho rằng: Tự học là hoạt động nhận thức của sinh viên nhằm nắm vững tri thức, kĩ năng, thái độ cho bản thân người học, tiến hành trên lớp hoặc ngoài lớp

- Theo Phan Thị Hồng Vinh: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của sinh viên do sinh viên tự thực hiện trong thời gian học tập trên lớp hay ngoài lớp.” [38, tr 170]

Theo các tác giả Hà Thị Đức, Phan Thị Hồng Vinh thì việc tự học là hoạt động nhận thức của sinh viên, được tiến hành trong lớp hoặc ngoài giờ lên lớp

- Theo Cao Xuân Hạo: “Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, phán đoán của người học Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của thầy dạy không phải không quan trọng Ở nhà trường, dù chỉ nói đến môn học chính, người học chỉ học một tuần mươi giờ là cùng Thì giờ còn dư dùng để tự học (tự quan sát thêm sự kiện, tự tìm dẫn chứng, tự kiểm nghiệm thêm các giả thuyết, tự đọc thêm sách vở, tự liên hệ thêm với thực tế) nhiều gấp 2 -5 lần

so với thì giờ trên lớp Cho nên ngay đối với người học chính qui, việc tự học vẫn là chính, kể cả khi lên lớp nghe giảng hay hoạt động trong những buổi thảo luận” [9] Tác giả đánh giá cao vai trò của người học, muốn đạt kết quả cao trong học tập thì việc tự học là chủ yếu, ngay khi đi học trên lớp thì tự học vẫn là chính

Trang 35

- Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức: “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân” [10, tr

142 - 143] Các tác giả cho rằng, tự học là người học có thể tự do về không gian, thời gian học, nội dung, chương trình học Ngoài ra, họ còn đề cập đến

tự học có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học và mang sắc thái cá nhân của người học

Mặc dù chưa đi đến khái niệm thống nhất về tự học, song các tác giả nghiên cứu về tự học đều đi đến quan điểm chung là: Tự học là công việc đòi hỏi có ý thức tự giác cao, mang tính cá nhân độc lập, cá nhân phải có nhận thức đúng và có kĩ năng tự học

Từ những quan điểm về tự học nêu trên, tác giả nghiên cứu đề tài có thể

đi đến khái niệm về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học

nhận thức đúng, chủ động, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức của nhân loại bằng năng lực của chính bản thân nhằm đạt được những mục đích nhất định

 Năng lực tự học

o Năng lực Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực là: “1 Những điều kiện đủ hoặc vốn

có để làm một việc gì: năng lực tư duy của con người 2 Khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc: có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức.” [40, tr 153]

Trang 36

Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh

“competentia” Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc

Năng lực bao gồm các kiến thức, kỹ năng cũng như quan điểm và thái độ

mà một cá nhân có để hành động thành công trong các tình huống mới Năng lực là “khả năng giải quyết” và mang nội dung khả năng và sự sẵn sàng để giải quyết các tình huống

Theo John Erpenbeck, “năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm

và được thực hiện hóa qua ý chí” [3, tr 67]

Weinert (2001) định nghĩa: “năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [3, tr 67]

Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [3, tr 68]

Như vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lý riêng, phức hợp của cá nhân,

là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động

Trang 37

o Năng lực tự học

“Năng lực tự học là tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác.” [15, tr 169 - 176] Như vậy, năng lực tự học được hình thành bao gồm các yếu tố về nhận thức, thái độ, phương pháp và kỹ năng tự học của cá nhân Để có năng lực

tự học tốt người học cần có nhận thức đúng, thái độ tích cực chủ động trong

tự học, thêm vào đó cần phải có phương pháp và kỹ năng tự học hiệu quả Trong đó, kỹ năng tự học đóng vai trò quan trọng nhất

Tóm lại, để hoạt động tự học có hiệu quả thì người học phải dựa vào năng lực tự học của bản thân với thái độ tích cực, chủ động, người học vận dụng những phương pháp, kỹ năng tự học để hoàn thành nhiệm vụ tự học Thông qua hoạt động tự học của người học có thể biết được nhận thức, thái

độ, phương pháp và kỹ năng tự học của họ như thế nào Như vậy, giữa hoạt động tự học và năng lực tự học có mối quan hệ tương hỗ với nhau, năng lực

tự học quyết định hoạt động tự học có hiệu quả và thông qua hoạt động tự học có thể biết được năng lực tự học của cá nhân người học

1.3 Bản chất hoạt động tự học của sinh viên

Hoạt động tự học là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, nâng cao trình độ hiểu biết của mình để phục vụ cho công việc, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 38

Ngoài ra, tự học nhằm nâng cao nhận thức và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để trở thành các chuyên gia trong từng lĩnh vực nhất định

Hoạt động tự học của sinh viên có đầy đủ những đặc điểm và bản chất như tất cả các hoạt động học tập tự học nói chung nhưng nó cũng có những đặc điểm riêng nói lên bản chất hoạt động tự học, đó là: Đối tượng của hoạt động tự học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng Người học ngoài việc tự học để chiếm lĩnh tri thức trong chương trình học tập mà còn phải tự học, tự nghiên cứu, nghiên cứu khoa học, vì đào tạo đại học và sau đại học là cấp học đi đầu trong việc tự học là chính

Mục đích của hoạt động tự học là nhằm thay đổi chính bản thân người học Hoạt động học tập mang tính độc lập, tự giác, trí tuệ cao trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động thực tiễn, hoạt động tự rèn luyện, nỗ lực không ngừng của người học Trong đó kết quả học tập quyết định bởi nhu cầu, động cơ và hứng thú học tập Mục đích cuối cùng của việc học tập chính là vận dụng những hiểu biết của mình vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực tế V I Lênin viết: “nắm vững kiến thức… là khi mà những kiến thức thu nhận được được cải biên trong ý thức của con người Với sự nắm vững như thế, các kiến thức tạo thành một hệ thống nhất định,

có thể vận dụng vào thực tế” [1, tr 107]

1.4 Tự học và nghiên cứu khoa học trong hoạt động học tập

Ngay từ bậc đại học, nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hình thức không thể thiếu trong quá trình học tập Ở bậc sau đại học, NCKH càng quan trọng hơn, NCKH phát triển tối ưu tư duy sáng tạo, đặc điểm nhân cách và kĩ năng nghiên cứu NCKH có bản chất là một hoạt động tìm tòi, sáng tạo, phát minh nên nhất thiết phải có hai dấu hiệu cơ bản là mới mẻ và tính có chứng minh Vấn đề này A S Goergiepxki đã khẳng định: “Mọi

Trang 39

nghiên cứu khoa học được đặt trưng bởi hai dấu hiệu cơ bản: một là tính mới mẻ của vấn đề nghiên cứu và các kết luận thu lượm được sau khi nghiên cứu hay tối thiểu cũng vạch ra được những dữ kiện mới về vấn đề đã được nghiên cứu trước đây, những sự kiện này đặt cơ sở cho một sự giải thích khác với trước kia, hai là tính chất có chứng minh, có lí lẽ vững chắc của chính những kết luận, những luận điểm mà người nghiên cứu nêu lên Nếu chỉ thiếu dù một trong những dấu hiệu nói trên thì cũng không thể nâng việc khảo cứu được lên mức là một nghiên cứu khoa học” [37, tr 134 - 135] Các đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là:

- Phục vụ cho mục đích học tập của chính bản thân

- Nhận thức khoa học là động cơ chủ yếu trong hoạt động khoa học

- Hoạt động khoa học được tiến hành với sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy hoặc người học tự nghiên cứu

- Thể hiện tính độc lập cao trong nghiên cứu khoa học

- Hoạt động khoa học giúp sinh viên phát huy tính tư duy, sáng tạo, độc lập giải quyết vấn đề

Động cơ hoạt động khoa học của sinh viên thể hiện ở chổ: muốn góp sức lực của mình vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn và khoa học; muốn tìm tòi khoa học, ham hiểu biết

Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên làm tăng tính tích cực trí tuệ của họ, giúp họ nắm vững kiến thức một cách sáng tạo, phát triển

tư duy khoa học, rèn luyện phẩm chất, nhân cách

Đối với học viên cao học, hoạt động nghiên cứu khoa học là vô cùng quan trọng và cần thiết, nó không chỉ giúp học viên đạt được hiệu quả cao trong học tập, nghiên cứu mà còn giúp người học dần có khả năng độc lập tư

Trang 40

duy, nghiên cứu Vì vậy, để hình thành nên tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc thì tự học là điều kiện tiên quyết và tất yếu đối với mỗi cá nhân học viên, hình thành được kỹ năng tự học, tạo tiền đề vững chắc cho việc nghiên cứu khoa học sau này

1.5 Vai trò và ý nghĩa hoạt động tự học đối với sinh viên

1.5.1 Vai trò của tự học nói chung

Cha ông ta luôn đặt tự học làm trọng Người kế thừa và phát huy cao nhất truyền thống tự học ấy là Bác Hồ Theo Bác, tự học chính là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập Người cho rằng phải lấy tự học làm nòng cốt Tư tưởng của Bác bắt nguồn từ quan niệm: “Hãy làm việc đi và thông qua việc làm của chính mình mà trưởng thành” bởi “ sự tiến bộ cho mọi học sinh trên thế gian này không phải là ở chỗ nghe gì, thấy gì, mà chính là ở chỗ làm gì?” Chính nhờ tự học thông qua làm việc dưới nhiều hình thức khác nhau mà Người đã có một trình độ uyên thâm về nhiều lĩnh vực Trong chuyến đi Indonesia năm 1959, Bác nói ở Medan: “Tôi không có cái hạnh phúc được học ở trường đại học Nhưng cuộc sống đã cho tôi kịp được học lịch sử, các khoa học xã hội và cả các khoa học quân sự nữa” [1,

tr 123]

Phan Trọng Luận đã nêu vai trò của tự học thành 6 điểm như sau:

1) Tự học – con đường khắc phục nghịch lí: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có giới hạn

2) Tự học – con đường cứu giúp cho mỗi con người trước mâu thuẩn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khắc nghiệt ngặt nghèo của cuộc sống cá nhân

Ngày đăng: 24/08/2016, 01:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh – Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh – Đỗ Thị Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
2. Lê Khánh Bằng (1998), Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên Đại học sư phạm, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên Đại học sư phạm
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1998
3. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2014), Lý luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2014
4. Đỗ Thị Châu (2005), Tình huống tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình huống tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Đỗ Thị Châu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2005
5. Nguyễn Duy Cần (2012), Tôi tự học, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tự học
Tác giả: Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2012
6. Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến (2003), Để tự học đạt hiệu quả, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để tự học đạt hiệu quả
Tác giả: Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
7. Dịch của nhiều tác giả (1964), Bàn về cách đọc sách và tự học, NXB Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cách đọc sách và tự học
Tác giả: Dịch của nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 1964
8. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Cao Xuân Hạo (2001), “Bàn về chuyện tự học”, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 396 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chuyện tự học”," Tạp chí Kiến thức ngày nay
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 2001
10. Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức (2003), Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
11. Trương Thị Khánh Hà (2010), Bài giảng tâm lí học phát triển, Trường Đại học KHXH &NV - ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tâm lí học phát triển
Tác giả: Trương Thị Khánh Hà
Năm: 2010
12. I.F. Kharlamop (1978), Phát huy tính tính cực học tập của học sinh như thế nào, Tập I, II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tính cực học tập của học sinh như thế nào, Tập I, II
Tác giả: I.F. Kharlamop
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
13. Nguyễn Kỳ (1998), Quá trình dạy tự học, tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy tự học, tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
14. Nguyễn Hiếu Lê (1954), Tự học một nhu cầu thời đại, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học một nhu cầu thời đại
Tác giả: Nguyễn Hiếu Lê
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1954
15. Nguyễn Hiếu Lê (1992), Tự học để thành công, NXB Thành phố Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học để thành công
Tác giả: Nguyễn Hiếu Lê
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ chí Minh
Năm: 1992
16. Trịnh Quốc Lập (2008), “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam”, Tạp chí Trường Đại học Cần Thơ, (số 10), tr. 169-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam”, "Tạp chí Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Trịnh Quốc Lập
Năm: 2008
17. Hồ Chí Minh (1957), Bàn về học tập, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về học tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1957
18. Lưu Xuân Mới (2000), Lý luận dạy học đại học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
19. Tsunesaburo Makiguchi (1994), Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo,Trường Đại học Tổng hợp TPHCM và NXB Trẻ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo
Tác giả: Tsunesaburo Makiguchi
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1994
20. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật giáo dục, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp ý kiến của học viên về nhận thức ý nghĩa và vai trò của hoạt động tự học - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp ý kiến của học viên về nhận thức ý nghĩa và vai trò của hoạt động tự học (Trang 73)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp ý kiến về thái độ tự học của học viên cao học - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp ý kiến về thái độ tự học của học viên cao học (Trang 76)
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp ý kiến về phương pháp tự học của học viên cao học - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp ý kiến về phương pháp tự học của học viên cao học (Trang 80)
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp ý kiến về tiêu chí đánh giá kỹ năng lập kế hoạch tự - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 2.4 Bảng tổng hợp ý kiến về tiêu chí đánh giá kỹ năng lập kế hoạch tự (Trang 82)
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp ý kiến về kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của HV cao học - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp ý kiến về kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của HV cao học (Trang 88)
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của HV cao học - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của HV cao học (Trang 93)
Hình 2.8: Biểu đồ thời gian dành cho việc tự học mỗi tuần của HV - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Hình 2.8 Biểu đồ thời gian dành cho việc tự học mỗi tuần của HV (Trang 97)
Bảng 3.1: Thống kê ý kiến đánh giá của chuyên gia về tính thực tiễn của các - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 3.1 Thống kê ý kiến đánh giá của chuyên gia về tính thực tiễn của các (Trang 113)
Bảng 3.2: Thống kê  ý kiến đánh  giá của chuyên  gia  về tính khả thi của các - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
Bảng 3.2 Thống kê ý kiến đánh giá của chuyên gia về tính khả thi của các (Trang 115)
4. Hình thành các kỹ năng làm việc nhóm - khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học viên cao học trường đại học sư phạm kỹ thuật tphcm
4. Hình thành các kỹ năng làm việc nhóm (Trang 129)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm