1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

14 617 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 270,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người dân cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng Dưa lê, chuối tây, gừng, khoai tây, đỗ xanh.... Phương pháp

Trang 1

Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Đỗ Thị Lan1, Nguyễn Thị Huệ1, Dương Thị Hoạt1 TÓM TẮT

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Những biến đổi của các hiện tượng thời tiết đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân xã Như Cố, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Người dân cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng (Dưa lê, chuối tây, gừng, khoai tây, đỗ xanh ) để thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) Ba mô hình nghiên cứu tại xã đã được người nông dân hưởng ứng nhiệt tình và đạt được kết quả cao: Mô hình cây khoai tây chịu rét, mô hình cây dưa lê chịu hạn, mô hình trồng xen chuối và gừng trên đất dốc Các mô hình này không những đem lại lợi ích về mặt kinh tế cho người dân mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững trong điều kiện BĐKH

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, kiến thức bản địa, mô hình, thích ứng, sản xuất nông nghiệp

1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, Bắc Kạn là một trong những tỉnh bị thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của hiện tượng thời tiết khí hậu cực đoan Trước tình hình đó, ngoài những giải pháp về công nghệ thì những tri thức bản địa giúp người dân thích ứng được với biến đổi khí hậu là vô cùng quan trọng Cộng đồng người dân ở Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía Bắc Việt Nam nói chung có vốn kiến thức và kinh nghiệm truyền thống sản xuất nông nghiệp Người dân đã biết sử dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng, sử dụng kỹ thuật chăm bón từ nhiều đời nay để duy trì hoạt động sản xuất của mình trong điều kiện BĐKH Nhiều mô hình cây trồng bản địa đã được triển khai trên toàn tỉnh Tuy nhiên, để

đánh giá được hiệu quả của các mô hình cây bản địa thì đề tài“Nghiên cứu một số mô hình sản

xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” là thực sự cần thiết Kết quả nghiên cứu là cơ sở để người dân tại các địa

phương có cùng điều kiện áp dụng và triển khai, nâng cao hiệu quả kinh tế

2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được mô hình sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

* Thảo luận nhóm

Công cụ này chủ yếu được sử dụng để thu thập thông tin định tính liên quan đến các nội dung chính sau:

- Biến đổi của khí hậu thời tiết xẩy ra trong mấy năm gần đây;

- Tác động của BĐKH đến qui mô và mức độ thiệt hại của sản xuất nông nghiệp

- Tác động của BĐKH đến từng loại cây trồng tại địa phương

- Các hoạt động thích ứng của cộng đồng người dân địa phương để hạn chế tác động

1

Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Tel: 0983.640.105, Email: lantnmt@gmail.com

Trang 2

- Các kiến thức bản địa trong dự đoán biến đổi khí hậu và hoạt động thích ứng nào xuất phát từ kiến thức bản địa

- Các loại cây trồng bản địa, kỹ thuật bản địa và kinh nghiệm của người dân trong SXNN thích ứng với BĐKH (giữ giống, làm đất, thời vụ, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, cơ cấu cây trồng, mùa vụ vvv )

- Lựa chọn mô hình cây trồng thích ứng với BĐKH ở địa phương (loại cây trồng, giống,

kỹ thuật canh tác? Đặc tính thích nghi, đặc điểm văn hóa, hiệu quả kinh tế, khả năng nhân rộng, nhu cầu thị trường, đối tượng hưởng lợi vvv )

Các nội dung trên được đưa ra thảo luận nhóm có định hướng ở cộng đồng Xã lựa chọn ra 5 nhóm, mỗi nhóm bao gồm từ 7-10 người đại diện cho các cộng đồng dân tộc chính

ở tại địa phương Các nhóm thảo luận ở mỗi xã bao gồm:

- 01 nhóm nam giới

- 01 nhóm nữ giới

- 01 nhóm hiểu biết trong xã

- 01 nhóm nam dân tộc thiểu số khó khăn nhất (Dao)

- 01 nhóm nữ dân tộc thiểu số khó khăn nhất (Dao)

* Phỏng vấn sâu tại địa phương

Công cụ này được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này nhằm tìm ra những thông tin sâu về kiến thức bản địa, kinh nghiệm của người dân trong SXNN thích ứng với BĐKH Tại mỗi thôn bản các thành phần tham gia phỏng vấn sâu bao gồm:

- Người già: 3 nam và 3 nữ

- Người am hiểu: 3 người

- Cán bộ lãnh đạo xã: 01 cán bộ Hội nông dân và 01 cán bộ Hội Phụ nữ

- 3 người hiểu biết nhất được chọn ra từ các nhóm thảo luận

* Phương pháp xử lý thông tin

Cả hai phương pháp phân tích định tính và định lượng đều được sử dụng trong nghiên cứu này Các số liệu điều tra được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel

- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý thống kê mô tả các đặc điểm của hộ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ, các tác động của biến đổi khí hậu, các hoạt động thích ứng mà hộ áp dụng

- Phương pháp phân tích định tính được sử dụng để phân tích thực trạng nhận thức của người dân trong thích ứng với biến đổi khí hậu

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp tại xã Như Cố

Bảng 1 Tác động của Biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp

tại xã Như Cố Cây trồng/

vật nuôi

Hiện tượng thời tiết

xấu

Tác động

Trang 3

Lúa

Hạn kéo dài

+ Bọ xít đen (trước kia không có) xuất hiện trên toàn xã, đặc biệt có nhiều trên lúa lai, vùng lúa bị cớm nắng

+ Rầy + Nhện vàng (trước đây không có), mới gây thiệt hại nhẹ

+ Sâu đục thân phát triển: trước gây thiệt hại rất ít,

2010 gây thiệt hại 4-5%

- Tăng chi phí sản xuất: phân, thuốc, công, xăng dầu bơm nước gấp 2-3 lần so với trước

Rét đậm, rét hại - Bệnh bó rễ, thời vụ chậm lại

Thời tiết thất thường Bệnh đạo ôn do mưa nắng thất thường

- Bệnh vàng lùn, xoắn lá trước đây không có Ngô Hạn kéo dài Ít hạt do trổ cờ thiếu nước

Không có hạt

Rét Thời gian ra bắp chậm hơn

Ít hạt

Mưa nắng thất thường Khi ngô sắp trổ cờ, cây bị thối nhũn đến gốc và

chết, trước đây không bị bệnh này

Đậu xanh Hạn Rệp màu xanh đen phát triển nhiều làm cây lùn

xuống và chết, xuất hiện vào tháng 5 - 6

Mưa nắng thất thường, mưa nhiều vào tháng 2-3

Rụng hoa, ra hoa nhiều đợt, chín không đều

Lá phát triển nhiều, cây ra nhiều vòi

Kiến đỏ phát triển đục lỗ ăn vào quả, đom đóm cắt lá,cây lùn sinh trưởng kém

mưa Rụng hoa,cây không thụ phấn được

Kiến đỏ phát triển đục lỗ vào ăn hạt Rét Không nảy mầm được

Kiến đỏ ăn củ Thiếu độ ẩm, ảnh hưởng sinh trưởng, phát triển

Rét đậm kéo dài Quăn lá

Lợn Thời tiết thất thường

Bệnh Cước chân

Tụ huyết trùng

Lở mồm long móng

Trang 4

Dê, trâu, bò Thời tiết thất thường

Viêm loét miệng

Rét đậm rét hại Trâu bò chết

Gia Cầm Thời tiết thất thường

Phân trắng, phân xanh

Con phát triển kém

(Nguồn: Điều tra thực tê)

3.2 Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp tại xã Như Cố

Bảng 2 Các hoạt động thích ứng BĐKH

Sử dụng cây trồng

thích ứng với BĐKH Kỹ thuật thích ứng BĐKH Một số hoạt động khác

- Giống Khang Dân

là giống ngắn ngày

nên tránh được hạn

hán cuối vụ đối với

vụ lúa mùa

- Giống Bao thai là

giống phản ứng ánh

sáng ngày ngắn do đó

có thể chủ động được

thời vụ

- Dùng giống đỗ mốc

bản địa để trồng trên

đất một vụ lúa để

tránh hạn và tăng thu

nhập

Làm đất: Làm luống thấp

Kỹ thuật trồng:

- Trồng xen nhiều loại cây trồng

- Dùng phế phụ phẩm nông nghiệp để ủ gốc, phủ lên mặt luống

- Chặt ngang thân cây chuối trước khi trồng

Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh:

- Chấm mặt cắt của củ giống khoai tây vào tro bếp hoặc xi măng

- Dùng bẫy đèn để bắt sâu xám hại ngô, đậu đỗ

- Vãi tro bếp lên cây để trừ rầy

- Dùng cây Mác Ca cắm ở ruộng

để xua đuổi côn trùng, bọ xít

- Dùng nilon che phủ mạ để tránh rét

- Chăm sóc cây con sớm để tăng khả năng chống chịu

+ Thay đổi thời vụ gieo trồng cho phù hợp với từng loại cây trồng và điều kiện thời tiết:

- Gieo mạ vào cuối tháng 2 thay vì gieo vào cuối tháng 1

- Chủ động trồng ngô sớm hơn trong vụ đông

- Trong lâm nghiệp người dân chỉ mang cây con đi trồng sau khi trời mưa to, đất đã đủ ẩm để tránh hạn, đảm bảo cho cây sống tốt

+ Xây dựng hệ thống kênh mương, phai (đập tràn), hồ chứa nước để điều tiết nước

- Xây dựng hai hồ chứa là Hồ Nà Đon và hồ Quan Làng

- Hỗ trợ máy bơm nước cho một

số thôn phục vụ công tác tưới tiêu

- Tăng cường hoạt động trồng rừng và bảo vệ rừng đặc biệt là rừng nguyên sinh và rừng đầu nguồn để giữ nước

- Thường xuyên theo dõi thông tin thời tiết

(Nguồn: Điều tra thực tê)

3.3 Kiến thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp tại xã Như Cố

3.3.1 Kiến thức bản địa được sử dụng để sản xuất một số cây trồng nông nghiệp chính

Trang 5

Bảng 3 Cây trồng nông nghiệp và KTBĐ được sử dụng

Kiến thức bản địa

Cây lúa

- Kỹ thuật canh tác: Bón lót phân chuồng, sử dụng thảo mộc để trừ sâu

- Diệt bọ xít: Dùng dẻ cuốn thành cuộn to, ngâm vào nước giải rồi cắm ra

ruộng hoặc cho nước vào ruộng, bọ xít bò lên lá, dùng vợt để bắt

- Chống rét cho mạ: vãi tro bếp và phủ nilon

- Chống rét cho lúa: Tháo bớt nước chỉ còn 2-3 cm rồi sục bùn bón phân

Cây ngô - Trừ sâu xám: Bắt sâu ban đêm bằng tay

- Tưới nước pha phân lân khi ngô trỗ cờ bị hạn giúp cây trỗ đồng đều hơn

Cây đỗ xanh

- Hoa xoan nở thì bắt đầu thời vụ gieo trồng

- Vãi tro lên cây để trừ rệp muội

- Không trồng đậu xanh trên chân đất quá tốt

Cây khoai

tây

Sử dụng phân vi sinh hoặc phân chuồng hoai mục

- Lên luống thấp để hạn chế khô hạn

- Tỉa bớt thân nếu cây khoai tây mọc nhiều thân

- Trồng trên chân đất cát pha ven suối, khi lên luống cho một ít rơm rạ xuống trước khi đặt củ giống để đất tơi xốp, củ phát triển nhanh và nhẵn nhụi

Cây gừng

Bảo quản giống trong cát, gậm sàn, tránh ánh sáng

- Khi trồng tách thành những mẩu nhỏ, trồng nơi đất tốt, lượng ánh sáng vừa phải (dọc theo các khe, trồng xen với chuối trong năm đầu)

Cây chuối

tây

- Sử dụng cây chuối con (cao 1-1.5m) tách từ cây mẹ không sâu bệnh, cho buồng to mập

- Khi trồng cắt ngang thân để chống hạn

- Nếu sau trồng trên 10 ngày không có mưa tiếp tục cắt vát cách vết cắt cũ 20-25 cm

- Trồng xen ngô, lạc hay gừng trong năm đầu để tiện chăm sóc làm cỏ và hạn chế xói mòn

Cây dưa lê

Trồng vào thời điểm bắt đầu lập xuân Lên luống, lót phân chuồng

Tưới nước pha phân lân cho dưa lê thụ phấn quả tốt hơn

(Nguồn: Điều tra thực tế)

- Giống lúa Bao thai là giống truyền thống chủ đạo trong sản xuất lương thực của người dân nơi đây (Theo Phòng NN&PTNT huyện Chợ Mới thì giống này chiếm 97% diện tích trồng lúa tại các xã Như Cô)

Thảo luận nhóm cho thấy: Người dân xã Xã Như Cố chọn ưu tiên số 1 cho phát triển giống lúa Bao thai

Trang 6

- Giống khoai lang địa phương cũng được duy trì phát triển vì củ có thể làm thức ăn cho người, cho gia súc hoặc mang bán; dây khoai lang được bà con dùng làm thức ăn bổ sung cho trâu bò, lợn trong vụ đông thiếu thức ăn tự nhiên, giúp cho đàn gia súc vượt qua được các đợt rét đậm, rét hại

- Cây đỗ xanh, lạc địa phương là giống họ đậu bản địa cũng được người dân duy trì phát triển để tiêu dùng và mang bán Các giống này có thể bố trí vào các công thức xen canh luân canh của địa phương trên đất lúa 1 vụ đạt hiệu quả tốt

- Cây dưa lê là giống siêu ngọt có hiệu quả kinh tế cao Dưa lê có mùi thơm và thường được dùng làm món tráng miệng Dưa lê có hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng như magie, natri khá cao, không có cholesterol Những người muốn giảm cân nên bổ sung dưa lê vào thực đơn ăn kiêng của họ Trồng dưa lê còn có ưu điểm tiết kiệm được nguồn nước tưới nên phù hợp với những vùng có nguy cơ bị hạn Sản phẩm phụ của cây dưa lê (rễ, thân lá) là nguồn phân bón tại chỗ khá giàu đạm, sẽ giảm lượng phân bón hóa học cho cây lúa vụ mùa,

từ đó đất đai sẽ được bảo vệ và tăng độ phì

- Giống chuối tây địa phương là giống bản địa, có chất lượng quả tốt, có thị trường tiêu thụ ổn định nên ngày càng được người dân phát triển Người dân có mong muốn tiếp tục phát triển giống chuối này Theo họ, trồng chuối rất có hiệu quả vì: Quả chuối dễ bán, mang lại thu nhập đáng kể; thân cây chuối có thể tận dụng để làm thức ăn bổ sung cho trâu bò, lợn,

gà, ngan, ngỗng rất tốt Đặc biệt làm thức ăn bổ sung cho trâu bò vào vụ đông khi trời rét, cỏ

tự nhiên khan hiếm Chính quyền địa phương cũng cho rằng cây chuối là một lựa chọn khả thi

và mang lại hiệu quả cho bà con trên đất đồi

Nếu kết hợp giống chuối bản địa này với quy trình thâm canh tiên tiến thì sẽ mang lại hiệu quả rất cao và có thể xây dựng vùng sản xuất chuối chuyên canh tại xã Như Cố và phụ cận cung cấp sản phẩm cho tỉnh như Bắc Kạn, Thái Nguyên…

- Cây gừng ta vừa là cây gia vị, nhưng cũng là cây dược liệu và là giống bản địa Theo người dân cây gừng có độ thích ứng cao, dễ trồng, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh, cho thu hoạch sau trồng từ 6-8 tháng và dễ bán Đặc biệt cây gừng ta không ưa áng sáng trực tiếp, nên có thể bố trí trong công thức trồng xen với cây ăn quả (cây chuối) trong giai đoạn đầu khi cây chưa khép tán

3.3.2 Dự báo hiện tượng thời tiết xấu phục vụ sản xuất nông nghiệp

- Khi Chuồn chuồn bay thấp thì sắp có mưa,

- Kiến di chuyển cả đàn qua đường thì sắp có mưa lớn

- Đàn vịt ở nhà tự nhiên kêu ầm ĩ thì sắp có bão,

- Cây cọ càng sai quả và quả càng xanh thì dự báo càng rét đậm

- Rêu mọc ở đá suối bong ra, nổi lên nhiều thành từng đám thì sắp có mưa lũ

- Năm nào cây cỏ môi mọc tràn ra suối thì năm đó hạn nặng,

- Trời nắng oi và gió bắc thì sắp có bão hoặc áp thấp nhiệt đới

Các KTBĐ này ngày nay vẫn được người dân địa phương sử dụng kết hợp với thông tin dự báo thời tiết trên truyền hình để điều chỉnh các hoạt động trong sản xuất và sinh hoạt phù hợp với diễn biến của thời tiết, khí hậu Các KTBĐ này có ưu điểm là gắn liền với hoạt

Trang 7

động sản xuất của người dân tại địa phương và có khả năng dự báo đúng một số HTTTX hay thiên tai xảy ra sau một thời gian khá dài giúp cho đồng bào có khả năng thích ứng tốt hơn

3.4 Một số mô hình cây trồng thích ứng với BĐKH dựa vào kiến thức bản địa được xây dựng tại xã Như Cố

3.4.1 Mô hình cây trồng thích ứng rét - Cây khoai tây

* Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét

Mô hình khoai tây thích ứng rét sẽ sử dụng giống khoai tây Hà Lan có thịt củ màu vàng, kết cấu chặt, có vị đậm Mô hình sẽ áp dụng tối đa các kinh nghiệm và kiến thức bản địa của người dân địa phương và chú ý đến những lưu ý về kỹ thuật trồng Nguồn phân bón được sử dụng chủ yếu từ phân gia súc được ủ hoai mục với chất độn chuồng, một số cây cỏ dại và trấu bằng men ủ phân vi sinh EMIG 25G Khi rạch hàng trồng sẽ độn rơm rạ vừa thu hoạch lúa mùa để tận dụng nguồn phân bón và tăng độ ẩm, độ xốp cho củ phát triển Luống trồng sẽ được lên thấp và áp dụng các biện pháp chăm sóc để tăng cường khả năng sinh trưởng, chống chịu

Bảng 4 Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét

Giống khoai tây Giống khoai tây Đức, có thịt củ màu vàng

Tính phù hợp

- Phù hợp với điều kiện đất đai, khả năng đầu tư của người dân: Mức độ đầu tư trung bình khoảng 650-700 nghìn đồng/360m2) phù hợp với hộ nghèo, hộ trung bình và cả hộ giàu

- Kỹ thuật canh tác và kỹ thuật để giống dựa vào kiến thức bản địa

và kinh nghiệm của người dân

- Phù hợp với cả phụ nữ và nam giới, giải quyết vấn đề lao động nhàn rỗi trong vụ đông

- Cải thiện thu nhập cho mùa đông khi các cây nông nghiệp khác không cho thu nhập

Tính thích ứng biến

đổi khí hậu

- Trong điều kiện rét ngày càng kéo dài, khoai tây Đức là cây trồng

có khả năng chống chịu rét tốt nhất tại xã

- Là loại cây ngắn ngày, sản phẩm thân lá có thể làm phân bón cho cây trồng vụ xuân

Tính bền vững và

khả năng nhân rộng

- Người dân địa phương có nhận thức rõ về tác động của BĐKH, cần thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của BĐKH

- Người dân có nhu cầu phát triển cây khoai tây

- Quỹ đất tại xã rất lớn (85ha) nên mô hình có khả năng nhân rộng

- Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tại địa phương lớn

(Nguồn: Điều tra thực tế)

Khoai Tây là cây ưa lạnh Trong điều kiện khí hậu vụ đông ở miền núi phía bắc lạnh giá, cây khoai tây có thể sinh trưởng, phát triển và cho năng suất (nhiệt độ thích hợp cho khoai tây sinh trưởng, phát triển từ 15-250) Đặc biệt với những chân ruộng trồng lúa bao thai

Trang 8

thu hoạch muộn (10/11), trong khi những cây trồng truyền thống như ngô, khoai lang không thể sinh trưởng, phát triển được, thì cây khoai tây tỏ ra có ưu thế và thích ứng hơn cả nên được xem là cây chịu lạnh cần được thử nghiệm mô hình và phát triển nhân rộng tại địa phương

Điều kiện đất đai, cây khoai tây yêu cầu không quá khắt khe, trên đất cát pha, thịt nhẹ, bãi bồi ven suối đều có thể trồng Qua thảo luận với người dân và cán bộ chuyên môn tỉnh, huyện diện tích đất này của xã vào vụ đông tương đối lớn, bao gồm gần hết diện tích đất lúa 2

vụ và 1 phần diện tích đất lúa 1 vụ hiện tại đang bỏ hoang vụ đông khoảng 40 ha

* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình cây khoai tây thích ứng với rét

Tuy cây khoai tây không phải là giống cây trồng bản địa tại xã Như Cố, nhưng người dân đã từng trồng với quy mô nhỏ chủ yếu để tự phục vụ cho gia đình và có một số kinh nghiệm trong sản xuất cây khoai tây:

- Khi trồng chỉ cần tạo một rãnh nhỏ khoảng 15-10 cm, đủ để đi lại và tiện chăm sóc đồng thời hạn chế hạn hán

- Khi rạch hàng trồng thay vì phải đập đất nhỏ cho tơi xốp, người dân đã tận dụng một lượng rơm rạ để độn phía dưới, rồi mới đặt củ lên, vừa tận dụng phân bón tại chỗ lại góp phần bảo vệ môi trường

- Đối với những củ giống nhỏ người dân sử dụng cả củ để trồng, nhưng những củ to, người dân bổ nhỏ rồi chấm với tro bếp để hạn chế vi khuẩn thâm nhập, vừa tiết kiệm giống lại giảm chi phí

- Khi tưới nước vào rãnh phải rút ngay sau 3 - 4 giờ để tránh củ thối

- Khi trồng người dân rắc thêm vôi bột để hạn chế sâu bệnh

- Tưới vào buổi sáng để rửa lá hạn chế sương muối

- Tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn phân bón tại chỗ

3.4.2 Mô hình cây trồng thích ứng chịu hạn - Cây dưa lê

* Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây dưa lê chịu hạn

Giống dưa lê sử dụng là giống siêu ngọt, hạt nhỏ (một loại giống địa phưương) Dưa lê trồng vào tháng giêng, là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ khoảng 90- 100 ngày đã cho thu hoạch nên giải phóng đất kịp thời cho cây trồng vụ sau Trồng dưa lê còn có ưu điểm tiết kiệm được nguồn nước tưới nên phù hợp với những vùng có nguy cơ bị hạn Sản phẩm phụ của cây dưa lê (rễ, thân lá) là nguồn phân bón tại chỗ khá giàu đạm, sẽ giảm lượng phân bón hóa học cho cây lúa vụ mùa, từ đó đất đai sẽ được bảo vệ và tăng độ phì

Bảng 5 Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây dưa lê chịu hạn

Giống dưa lê Nên lựa chọn các giống dưa lê lai F1 siêu ngọt

Tính phù hợp

- Mức độ đầu tư rất thấp từ 200-220 nghìn/sào, phù hợp với hộ nghèo, hộ trung bình

- Thích hợp với nhiều loại đất và có khả năng cải tạo đất

- Cải thiện thu nhập trên đất bỏ hoang vụ xuân

Trang 9

Tính thích ứng biến

đổi khí hậu

-Có khả năng chống chịu hạn tốt

- Là loại cây ngắn ngày, sản phẩm thân lá có thể làm phân bón giàu đạm cho cây trồng vụ mùa, để giảm lượng sử dụng phân bón hóa học

Tính bền vững và

khả năng nhân rộng

- Người dân địa phương nhận thức rõ về tác động của BĐKH, cần thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của BĐKH

- Người dân có nhu cầu phát triển cây dưa lê, có thể tự để giống

- Thời gian sinh trưởng ngắn, kịp giải phóng đất cho cây lúa vụ mùa

- Mức độ đầu tư ban đầu thấp, phù hợp với hộ nghèo, hộ trung bình và cả hộ giàu

Giống dưa lê địa phương(siêu ngọt) là một cây trồng bản địa ngắn ngày (thời gian sinh trưởng 60-80ngày), giai đoạn gieo hạt (bắt đầu lập xuân) chỉ cần một lượng nước nhỏ, đủ ẩm cây có thể mọc Trong thời kỳ sinh trưởng cây cũng không cần nhiều nước như lúa, ngô nên được coi là cây trồng chịu hạn tốt Cây cho thu hoạch sớm nên không bị ảnh hưởng bởi mưa cuối vụ Ngoài chức năng cải tạo đất nhờ vào khả năng cố định đạm, thân lá của dưa lê để tại chỗ làm phân bón cho lúa mùa rất tốt

* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình cây dưa lê thích ứng chịu hạn

Nhìn chung người dân áp dụng theo quy trình kỹ thuật phổ biến hiện nay, tuy nhiên có một số đặc điểm kiến thức bản địa riêng của vùng:

- Sử dụng dưa lê siêu ngọt địa phương, có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tương đối tốt

- Trong giai đoạn cây sinh trưởng, nếu có rệp muội người dân sử dụng tro bếp để trừ nên hạn chế được chi phí cho phòng trừ sâu bệnh và đảm bảo sản phẩm an toàn

- Người dân thường dùng tro bếp hoặc lá xoan phơi khô để bảo quản hạt dưa lê, đặc biệt là hạt dưa lê làm giống, sử dụng tro bếp trộn với hạt dưa lê rồi cho vào chum vại, rắc phía trên 1 ít tro có thể đảm bảo tỉ lệ nảy mầm cao trong năm sau

3.4.3 Mô hình canh tác trên đất dốc - Trồng chuối tây xen gừng ta

* Tiêu chí lựa chọn mô hình canh tác trên đất dốc - Trồng chuối tây xen gừng ta

Mô hình tổng hợp thể hiện sự thích ứng và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các hệ thống cây trồng, các kỹ thuật canh tác ở các địa hình khác nhau của hệ thống sản xuất nông nghiệp đặc trưng của vùng trong thích ứng với tác động của BĐKH Mô hình xác định là hệ thống canh tác thích ứng với các hiện tượng thời tiết xấu như hạn, rét và tính thất thường của thời tiết ở địa phương

Bảng 6 Tiêu chí lựa chọn mô hình trồng chuối tây xen gừng ta

Giống Chuối Tây và gừng ta giống địa phuơng

Tính phù hợp - Phù hợp với tập quán canh tác trên đất dốc

Trang 10

- Phù hợp với trình độ thâm canh bởi các loại cây trồng là những cây bản địa và kỹ thuật trồng chủ yếu dựa vào kiến thức bản địa và kinh nghiệm của người địa phương

Tính thích ứng

biến đổi khí

hậu

- Tăng độ che phủ, tăng khả năng hấp thụ CO2

- Đa dạng hóa cây con, tăng lớp thực bì làm tăng khả năng giữ nước, chống xói mòn

- Đa dạng hóa sinh kế, tăng khả năng thích ứng BĐKH cho cộng đồng, giảm rủi ro trong sản xuất

Tính bền vững

và khả năng

nhân rộng

- Người dân địa phương có nhận thức rõ về tác động của BĐKH, cần thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của BĐKH

- Quỹ đất của xã chủ yếu đặc trưng địa hình đồi núi nên mô hình có khả năng nhân rộng cao

- Có thể sử dụng một trong các hợp phần của mô hình ở địa hình, độ dốc khác nhau để thực hiện nếu không đủ điều kiện để thực hiện toàn bộ mô hình

- Duy trì được tập quán canh tác và kiến thức bản địa Trong vụ hè cây chuối phát triển rất nhanh, mùa đông sinh trưởng chậm lại Thông thường sau trồng mới hoặc sau khi ra chồi mới từ 9-10 tháng cây sẽ cho buồng, sau trổ buồng 3 tháng (mùa hè), 4 tháng (mùa đông) buồng sẽ cho thu hoạch Khi chuối Tây thu hoạch vào mùa đông, buồng thường nhỏ hơn, tuy nhiên giá cả thường cao hơn vụ hè do vụ đông trên địa bàn tỉnh rất ít cây ăn quả có trái bán Ngoài ra, trong vụ đông khi cây chuối được thu hoạch mang lại thu nhập cho người dân, giảm gánh nặng phải lo tìm kiếm tiền trang trải cuộc sống, góp phần giải quyết vấn đề lao động nhàn rỗi, giảm mức độ tác động vào rừng chặt cây, gỗ bán lấy tiền Cây gừng ta là cây địa phương, ưa bóng, nên trồng xen với chuối rất phù hợp, gừng được trồng vào vụ xuân và cho thu hoạch vào khoảng tháng 12 Do đó vào thời điểm mùa mưa, gừng đã che phủ kín mặt đất nên hạn chế được xói mòn và cỏ dại mọc Hơn nữa gừng cho thu hoạch vào gần Tết nguyên đán nên bà con có thu nhập để mua sắm tết

* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình canh tác trên đất dốc - Trồng chuối tây xen gừng

- Cải tạo đất sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh do người dân tự sản xuất

- Trồng cây cốt khí theo đường đồng mức

- Làm hố lấy nước để sản xuất phân hữu cơ tại chỗ và tưới cho cây

- Làm đường đồng mức

- Lựa chọn các giống cây trồng bản địa: chuối, đỗ xanh, đinh lăng…

3.5 Đánh giá hiệu quả của cả 3 mô hình

3.5.1 Hiệu quả về kinh tế

* Mô hình cây khoai tây chịu rét

Cây khoai tây sinh trưởng và phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, do đó mô hình cho năng suất khá cao

Bảng 7 Các yếu tố cấu thành năng suất

Ngày đăng: 23/08/2016, 20:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Các hoạt động thích ứng BĐKH - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2. Các hoạt động thích ứng BĐKH (Trang 4)
Bảng 3. Cây trồng nông nghiệp và KTBĐ được sử dụng - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3. Cây trồng nông nghiệp và KTBĐ được sử dụng (Trang 5)
Bảng 4. Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4. Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét (Trang 7)
Bảng 6. Tiêu chí lựa chọn mô hình trồng chuối tây xen gừng ta - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 6. Tiêu chí lựa chọn mô hình trồng chuối tây xen gừng ta (Trang 9)
Bảng 7. Các yếu tố cấu thành năng suất  Thôn  Số củ/Khóm  Khối lượng củ/Khóm  Số khóm/m 2 - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 7. Các yếu tố cấu thành năng suất Thôn Số củ/Khóm Khối lượng củ/Khóm Số khóm/m 2 (Trang 10)
Bảng 8. Danh Sách trồng cây dưa lê vụ mùa 2014 của xã Như Cố - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 8. Danh Sách trồng cây dưa lê vụ mùa 2014 của xã Như Cố (Trang 11)
Bảng 9. Danh sách trồng gừng xen chuối vụ mùa 2014 xã Như Cố - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 9. Danh sách trồng gừng xen chuối vụ mùa 2014 xã Như Cố (Trang 12)
Bảng 10. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong mô hình khoai tây và dưa lê ở xã - Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 10. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong mô hình khoai tây và dưa lê ở xã (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w