1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải biên và định chuẩn trắc nghiệm ngôn ngữ của hans eysenck dùng đo trí thông minh cho trẻ em từ 10 đến 15 tuổi tại thành phố hồ chí minh

20 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một công cụ đo lường hữu hiệu được sử dụng từ lâu trên thế giới là trắc nghiệm trí tuệ, nhằm xác định chỉ số trí thông minh của học sinh, giúp phân loại học sinh để giảng dạy và giáo dục

Trang 1



ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

Mã số: CS99-11

DÙNG ĐO TRÍ THÔNG MINH CHO TRẺ EM

TP HỒ CHÍ MINH 2002

Trang 3

M ỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

Phần I: MỞ ĐẦU 5

I LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 5

II M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6

III GI Ả THUYẾT NGHIÊN CỨU 7

IV NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 7

V ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: 8

VI GI ỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI: 8

VII PHƯƠNG PHẤP NGHIÊN CỨU: 8

Ph ần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU 10

I L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 10

II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 12

1 Lý lu ận về trí thông minh (trí tuệ) 12

2 Ngôn ng ữ và năng lực ngôn ngữ của học sinh 16

III TH Ể THỨC NGHIÊN CỨU: 18

1 Ch ọn mẫu: 18

2 D ụng cụ nghiên cứu: 19

3 Cách cho điểm 21

4 Cách x ử lý: 22

Phần III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

I K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN MỘT 24

1 K ết quả về bài trắc nghiệm 24

2 K ết quả về câu trắc nghiệm 25

II K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN HAI 35

1 Các thông s ố của bài trắc nghiệm ở hai lần đo 35

2 Phân tích câu tr ắc nghiệm 36

3 So sánh gi ữa các nhóm học sinh 40

4 Các b ảng định chuẩn 46

Trang 4

K ẾT LUẬN 60 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC 63

Trang 5

Ph ần I: MỞ ĐẦU

I LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI

Sự phát triển của xã hội loài người nói chung và sự phát triển tâm lý con người nói riêng không thể tách rời ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện đặc thù của con người để nhận thức thế giới, nhận thức bản thân, để diễn đạt tư tưởng tình cảm,

để giao tiếp hình thành, hiện thực hóa các mối quan hệ và để bồi đắp tâm hồn con người Dưới góc độ là một hiện tượng tâm lý, ngôn ngữ mang tính cá nhân và thể

hiện toàn bộ những đặc điểm của cá nhân ấy như trình độ trí tuệ, văn hóa, đạo đức,

lối sống và thẩm mỹ Trong sự phát triển tâm lý của trẻ em, thì ngôn ngữ một trong

những chỉ số quan trọng Vì thế sự phát triển nhân cách, trong đó có sự phát triển trí tuệ của con người không thể thiếu ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là công cụ của tư duy, vừa là một dạng, một thành phần của trí thông minh Cùng với các mặt giáo

dục, phát triển ngôn ngữ cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay

Trong giáo dục đào tạo, vấn đề đo lường trí thông minh, trong đó có năng lực ngôn ngữ của học sinh đóng vai trò quan trọng Một công cụ đo lường hữu hiệu được sử dụng từ lâu trên thế giới là trắc nghiệm trí tuệ, nhằm xác định chỉ số trí thông minh của học sinh, giúp phân loại học sinh để giảng dạy và giáo dục cá biệt; đồng thời căn cứ vào đó mà tư vấn, hướng học, hướng nghiệp phù hợp Ở tầm vĩ

mô, xác định chỉ số thông minh của học sinh để các nhà quản lý giáo dục hoạch định và điều chỉnh chính sách giáo dục - đào tạo, nhằm hình thành phát triển nhân cách con người Trong giai đoạn đổi mới về giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay,

nền giáo dục đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa là nền giáo đục theo hướng

"chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa" Điều đó càng cần thiết phải có quan tâm tới

sản phẩm giáo dục là con người - nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước

Khi sử đụng những trắc nghiệm trí tuệ của nước ngoài cho trẻ em Việt nam,

có rất nhiều vấn đề đặt ra như: các trắc nghiệm ấy có thích hợp với trẻ em Việt Nam hay không, khả năng trí tuệ của trẻ em Việt Nam ra sao, có những khác biệt

Trang 6

gì với trẻ em cùng độ tuổi ở các nước khác hay không Để trả lời những câu hỏi

ấy, trong nhiều năm qua đã có nhiều trắc nghiệm của nước ngoài được thử nghiệm trên trẻ em Việt nam và đã thu được những kết quả nhất định

Trong điều kiện nước ta hiện nay chưa xây dựng được những trắc nghiệm như nước ngoài, thì việc học tập và kế thừa những thành tựu về trắc nghiệm đã được chuẩn hóa của thế giới là việc làm cần thiết Tuy nhiên, khi định sử dụng một

trắc nghiệm nào dù đã được chuẩn hóa để đo lường trên trẻ em Việt Nam, thì việc

thử nghiệm nhằm xác định những thông số kỹ thuật nói chung và cải biên theo đặc điểm văn hóa, xã hội, giáo dục của Việt nam; đưa ra bảng định chuẩn phù hợp là công việc nghiêm túc và quan trọng, để trắc nghiệm ấy được sử dụng một cách khoa học và có hiệu quả

Có nhiều trắc nghiệm trí tuệ có thể cải biên và định chuẩn để sử dụng ở Việt Nam, trong đó có trắc nghiệm trí tuệ của Hans Eysenck - mà trắc nghiệm ngôn ngữ

là một thành phần Bộ trắc nghiệm này dựa trên cấu trúc trí tuệ tổng quát, có thể thích hợp cho đo lường khả năng trí tuệ trẻ em Việt Nam Chính vì vậy, chúng tôi

chọn đề tài nghiên cứu "Cải biên và định chuẩn trắc nghiệm ngôn ngữ cửa Hans

Eysenck dùng đo trí thông minh cho trẻ em từ 10 đến 15 tuổi tại Thành Phố Hồ Chí Mình"

II M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài này nhằm mục đích:

1 Cải biên trắc nghiệm ngôn ngữ của Hans Eysenck dành cho trẻ em từ 10 đến

15 tuổi tại Thành Phố Hồ Chí Minh

2 Xác định các thông số kỹ thuật cần thiết của trắc nghiệm ngôn ngữ cải biên

(độ khó, độ tin cậy, độ phân cách)

3 Tìm hiểu sự khác biệt về điểm số bài trắc nghiệm ngôn ngữ theo độ tuổi, giới tính, loại trường và thành lập bảng định chuẩn trắc nghiệm ngôn ngữ dành cho

trẻ em từ 10 đến 15 tuổi

Trang 7

III GI Ả THUYẾT NGHIÊN CỨU

1 Trắc nghiệm ngôn ngữ của Hans Eysenck dành cho trẻ em 10 đến 15 tuổi được cải biên là phù hợp với trẻ em Việt Nam Những thông số kỹ thuật của

một trắc nghiệm như hệ số tin cậy, độ khó của bài trắc nghiệm được bảo đảm khi đo trên trẻ em Việt Nam

2 Có sự khác biệt về điểm bài trắc nghiệm ngôn ngữ giữa các nhóm học sinh xét theo độ tuổi (giữa lớp 6 và lớp 5; giữa lớp 7, lớp 8 và lớp 9)

3 Không có khác biệt về điểm số bài trắc nghiệm giữa nam sinh và nữ sinh trong cùng nhóm tuổi

4 Có sự khác biệt giữa học sinh trường bán công và trường công lập về điểm

số của bài trắc nghiệm

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1 Cải biên trắc nghiệm ngổn ngữ của Hans Eysenck dành cho trẻ em từ 10 đến

15 tuổi, xác định có phù hợp hay không với hoàn cảnh xã hội, văn hóa và trình độ phát triển ngôn ngữ của học sinh Việt Nam

2 Xác định những thông số kỹ thuật cần thiết của bài trắc nghiệm ngôn ngữ như: hệ số tin cậy, các giá trị độ khó của bài trắc nghiệm giữa hai lần đo

3 Xác định độ khó và độ phân cách của câu trắc nghiệm Nhận xét những nhóm câu trong mối quan hệ hai chỉ số này qua hai lần đo

4 Tính các số thống kê căn bản như điểm trung bình, độ lệch tiêu chuẩn qua đó

kiểm chứng các giả thuyết về sự khác biệt điểm số trắc nghiệm ngôn ngữ

giữa các học sinh trong lứa tuổi từ 10 đến 15; giữa nam sinh và nữ sinh trong

hai nhóm tuổi; giữa loại trường công lập và bán công

5 Thiết lập các bảng định chuẩn cho mỗi trắc nghiệm ngôn ngữ dùng trong các nhóm tuổi tính theo toàn thể và theo các biến số : giới tính, lớp học, loại trường

Trang 8

V ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

1 Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố cấu thành khả năng ngôn ngữ dựa trên

bài trắc nghiệm của Hans Eysenck đã được dịch thuật, cải biên

2 Khách thể nghiên cứu: Là các học sinh trong độ tuổi từ 10 đến 15, tương

ứng với lớp 5 đến lớp 9 trường phổ thông trong địa bàn TP HCM Do đề tài được

thực hiện làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 là thẩm định bài trắc nghiệm đã dịch thuật,

cải biên; giai đoạn 2: định chuẩn theo các nhóm tuổi Khách thể được chọn trong

từng giai đoạn là :

Giai đoạn 1: 222 học sinh chọn từ trường Tiểu học Khai Minh (quận 1) và

trường THCS Cầu Kiệu (quận Phú Nhuận)

Giai đoạn 2: 502 học sinh TP HCM thuộc trường Tiểu học Trương Định (quận 10), trường THCS Cách Mạng Tháng Tám (quận 10), trường THCS Đồng

Khởi (quận Tân Bình)

VI GI ỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

Trắc nghiệm ngôn ngữ là một trong 5 subtest trong bộ trắc nghiệm trí tuệ của Hans Eysenck, do đó nó có mối liên hệ với bốn trắc nghiệm còn lại Một học sinh

phải thực hiện cả 5 trắc nghiệm mới có đủ điểm số là cơ sở thẩm định các giá trị

của trắc nghiệm cũng như tính thương số trí tuệ Trong điều của một đề tài cấp trường cũng như những đòi hỏi cao của việc thu số liệu, đề tài nghiên cứu chỉ giới

hạn ở học sinh từ 10 đến 15 tuổi tại một số trường Tiểu học và THPTCS nội thành

TP Hồ Chí Minh

VII PHƯƠNG PHẤP NGHIÊN CỨU:

Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài:

1 Tham kh ảo tài liệu: đọc tài liệu có liên quan đến cơ việc cải biên và định

chuẩn trắc nghiệm trí tuệ dành cho tuổi học sinh, trong đó có trắc nghiệm ngôn

ng

Trang 9

2 Phương pháp chuyên gia: trao đổi cùng các chuyên gia trong lĩnh vực

trắc nghiệm và các thầy cô giáo dạy môn Văn, Tiếng Việt phổ thông Tham khảo cách chấm điểm và xử lý thống kê

3 Phương pháp toán thông kê: dùng các số thống kê thông dụng trong trắc

nghiệm như:

- Tính hệ số tin cậy (theo công thức Kuder Richardson)

- Tính độ khó, độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm

- Tính độ khó (tỉ lệ người làm đúng) và độ phân cách từng câu (công thức hệ

số tương quan điểm nhị phân - Rpbis) trên toàn thể mẫu

- Dùng các kiểm nghiệm t (t test), kiểm nghiệm F

- Tính các điểm số tiêu chuẩn : z, thứ hạng bách phân, IQ

Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dùng SYSTAT của công ty SYSTAT Inc (Hoa Kỳ), và chương trình máy tính phục vụ việc phân tích

trắc nghiệm được viết bằng ngôn ngữ lập trình PASCAL do ông Lý Minh Tiên viết

và xử lý theo đề xuất của người nghiên cứu

Trang 10

Ph ần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU

I LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Trắc nghiệm trí tuệ ra đời vào thế kỷ thứ XIX gắn liền với tên tuổi của một bác sỹ người Pháp - Esquisol Ông là người đầu tiên đề cập đến việc phân loại và giáo dục trẻ chậm khôn, những người thiểu năng về trí tuệ

Một nhà sinh lý học người Anh là Francis Galton với ý muốn đo sự khác biệt

giữa các cá nhân, ông đã đưa ra một trắc nghiệm nhấn mạnh việc đo lường khả

năng giác quan và trí nhớ Theo ông, đặc tính cá nhân là do di truyền và đặc điểm

ấy bao gồm cả năng lực trí tuệ và thể lực

Trước năm 1900, nhà bác học người Mỹ James Mckeen Cattell đã mang nhiều ý tưởng của Galton về Mỹ, ông đã đưa ra hàng chục test và tin rằng chức năng trí tuệ có thể đo được tốt nhất thông qua các trắc nghiệm

Năm 1904, nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet, được giới lãnh đạo nhà trường ở Paris yêu cầu xây dựng một phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn

tật về mặt tâm thần mà không thể tiếp thu được theo cách dạy của nhà trường Ông

đã đề xuất một trắc nghiệm phân loạt trí tuệ từ thấp nhất đến cao nhất, xác định

tuổi trí lực của học sinh thông qua điểm số

Từ đó các thang đo trí tuệ lần lượt ra đời Trước hết là thang đo Binet -Simon (trắc nghiệm Binet - Simon) Với thang này có thể nhận ra sự khác biệt về

mức độ trí thông minh hay trì chậm qua những khác biệt so với khả năng trung bình ở một lứa tuổi

Năm 1910 trắc nghiệm Binet - Simon được dịch ra để dùng ở Mỹ Năm 1916

bản dịch đã được sửa đổi lại và các chuẩn mới được xây dựng trên các nhóm mẫu

của trẻ em Mỹ Việc sửa đổi được tiến hành bởi tiến sỹ Lewis Terman ở trường đại

học Stanford, và trắc nghiệm được gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet Từ đó bài

trắc nghiệm này đã qua hai lần sửa vào năm 1937 và năm 1960

Trang 11

Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Hiệp hội Tâm lý học Mỹ xây dưng bài trắc nghiệm để phân loại những người được tuyển, đó là trắc nghiệm Alpha của quân đội (trắc nghiệm cho những người biết chữ); và sau này ra đời một trắc nghiệm không đòi hỏi khả năng đọc hiểu (trắc nghiệm Beta của quân đội)

Trong những năm sau này, một số các trắc nghiệm trí tuệ khác mang tính nhiều mặt và liên hiệp hóa Phải kể đến trắc nghiệm D Wechsler (có từ năm 1939)

Trắc nghiệm này có 2 phần: ngôn ngữ (có 5 trắc nghiệm phụ) và phi ngôn ngữ (có

4 trắc nghiệm phụ) dùng cho 2 độ tuổi trẻ em và người lớn

Hans J Eysenck - nhà Tâm lý học người Anh khá nổi tiếng với lý thuyết phân tích nhân tố về nhân cách Tuy nhiên ông cũng khẳng định những yếu tố nhân cách có liên quan đến khả năng trí tuệ Năm 1996, ông đưa ra bộ trắc nghiệm trí tuệ cho lứa tuổi từ 10 - 15, gồm có 5 tiểu nghiệm là: trắc nghiệm số, trắc nghiệm ngôn

ngữ, trắc nghiệm suy luận trừu tượng, trắc nghiệm tri giác và trắc nghiệm tri giác không gian

Từ ngày xuất hiện trắc nghiệm trí tuệ được thực hành ở rất nhiều nước, nhất

là Tây Âu và Bắc Mỹ

Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã sử dụng một số trắc nghiệm trí thống minh

để tuyển lựa học sinh Nhưng việc sử dụng trắc nghiệm chưa được Việt Nam hóa Trong khoảng 20 năm gần đây, trắc nghiệm trí tuệ đã được sưu tầm, thích nghi hóa

sử dụng trên trẻ em Việt Nam Chúng ta đang học hỏi và huấn luyện những chuyên gia để sử dụng và xây dựng những trắc nghiệm thích hợp với trẻ em Việt Nam

Một số đề tài khoa học ở Miền Nam trong những năm gần đây có sử dụng

trắc nghiệm ngôn ngữ với tư cách là một thành phần của trí tuệ như:

- Đề tài: "Dùng phương pháp trắc nghiệm đo lường một số biểu hiện sự phát

- Đề tài: "Tỉm hiểu mức độ phát triển ngôn ngữ của học sinh cuối bậc Tiểu

học Thị xã Tây Ninh dưới góc độ Tâm lý học thần kinh", luận văn Thạc sỹ của

Nguyễn Thị Bích Phượng, 1988

Trang 12

Nhìn chung, còn chưa có nhiều những trắc nghiệm về ngôn ngữ được sử

dụng trên trẻ em Việt Nam Vì vậy việc cải biên định chuẩn những trắc nghiệm nước ngoài về trí tuệ trong đó có ngôn ngữ luôn là việc làm rất cần thiết hiện nay

II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

1 Lý lu ận về trí thông minh (trí tuệ)

Trong đời thường không ai xa lạ với từ "thông minh", vì xung quanh ta có

nhiều người thông minh; ai thông minh là được nhiều người quý mến, kính trọng Trong Tâm lý học vấn đề trí thông minh hay trí tuệ thường được tranh luận sôi nổi Ngày nay vấn đề toi thông minh đã trở thành vấn đề liên ngành phức hợp Tuy nhiên bản chất trì thông minh có được làm sáng tỏ mới có thể đo lường được nó

Có nhiều định nghĩa khác nhau về trí thông minh Nhìn chung có 3 loại định

nghĩa:

Các quan điểm cơ bản trên đây đối với việc định nghĩa trí thông minh không

loại trừ lẫn nhau Mỗi quan điểm đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó được cho là quan trong nhất Rõ ràng là không một định nghĩa nào chứa đựng hết bản chất của

hiện tượng phức tạp như trí thông minh

Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để hiểu trí thông minh chúng ta cần chú ý những vấn đề lý luận và phương pháp luận sau:

❖ Tính độc lập tương đối của trí thông minh đối với các thuộc tính khác của nhân cách

❖ Sự hình thành và thể hiện của trí thông minh trong hoạt động

❖ Tính chế ước của những điều kiện văn hóa - lịch sử đối với những thể hiện

của trí thông minh

Trang 13

❖ Chức năng thích ứng tích cực của trí thông minh

Theo lập trường trên Blâykhe V.M Burơlachuc L.F đã đưa ra định nghĩa sau

đây về trí thông minh: "Thông minh - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập

của các thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong

❖ Thuyết của Charler Spearman (1863 - 1945) về trí tuệ chung

Spearman đã dùng phương pháp phân tích nhân tố xác định mức độ tương quan giữa việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau Ông đã phát hiện ra rằng: các

trắc nghiệm nhằm vạch ra những năng lực riêng biệt có tương quan dương tính rõ

rệt với nhau, và ông đi tới kết luận về sự tồn tại một nhân tố chung nào đó có ảnh

hưởng tới tất cả các trắc nghiệm được nghiên cứu Ông gọi là yếu tố "g" (general) Như vậy một nhân tố khác - nhân tố riêng " s" (special) chỉ tồn tại đối với mỗi trắc nghiệm nhất định

❖ Thuyết về các năng lực trí tuệ nguyên thủy của Louis Thurstone (1887 -1955)

Cũng dùng phương pháp phân tích nhân tố để xác định bản chất của trí thông minh Nhưng khác với Spearman, ông cho rằng không hề có nhân tố chung của trí

tuệ Ông đã xác định được 7 nhân tố mà ông gọi là những năng lực nguyên thủy (primary mantal abilities), đó là:

- Suy lu ận (R - reasoning)

- Thông hi ểu ngôn ngữ (V - Verbal Comprehension)

- Tính toán b ằng con số (N - Numerical Calculation)

Ngày đăng: 23/08/2016, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w