THI ẾT KẾ CÁC KIỂU BÀI TẬP PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NG Ữ THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC .... V ận dụng hình thức dạy học hợp tác để thiết kế một số bài tập cho nhóm bài phong cách ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đào Thị Dung
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đào Thị Dung
Chuyên ngành: Lí lu ận và phương pháp dạy học bộ môn Văn học
Mã số: 60 14 01 11
NGƯỜIHƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐẶNG NGỌC LỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm 2014
Đào Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến
PGS.TS Đặng Ngọc Lệ, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ không chỉ về
chuyên môn mà còn động viên, khích lệ tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học
sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô trực tiếp giảng dạy
lớp Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và tiếng Việt khóa 23 đã
tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức bổ ích, thiết thực về chuyên môn, phương pháp nghiên cứu khoa học và các kiến thức cơ bản để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, quý thầy cô và các em học sinh trường THPT Tân Phước Khánh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực nghiệm
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi, những người luôn hết lòng ủng hộ, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đào Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Lí thuy ết về dạy học hợp tác 9
1.1.1 Khái ni ệm về dạy học hợp tác 9
1.1.2 Nh ững đặc trưng cơ bản của dạy học hợp tác 10
1.1.3 Nh ững ưu điểm của dạy học hợp tác 12
1.1.4 Lo ại hình nhóm, cách chia nhóm trong dạy học hợp tác 14
1.1.5 Quy trình t ổ chức dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác 22
1.2 Cơ sở của việc dạy và học PCCNNN theo hình thức dạy học hợp tác 30
1.2.1 M ối quan hệ giữa dạy học TV và phương pháp dạy học hợp tác 30
1.2.2 M ối quan hệ giữa dạy học PC CNNN với dạy học hợp tác 35
Chương 2 THI ẾT KẾ CÁC KIỂU BÀI TẬP PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NG Ữ THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC 38
2.1 Đặc điểm chung của các bài phong cách chức năng ngôn ngữ 38
2.2 V ận dụng hình thức dạy học hợp tác để thiết kế một số bài tập cho nhóm bài phong cách ch ức năng ngôn ngữ 39
2.2.1 D ạng bài tập định hướng bài học 47
2.2.3 D ạng bài tập củng cố / ôn tập kiến thức 54
2.2.4 D ạng bài tập phát triển kĩ năng (thực hành) 56
Chương 3 TH ỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Thi ết kế giáo án 60
3.2 Th ực nghiệm 74
Trang 63.2.1 M ục tiêu thực nghiệm 74
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 75
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 77
3.2.4 Cách th ức thực nghiệm 77
3.2.5 Theo dõi ti ến trình thực nghiệm 77
3.3 K ết quả thực nghiệm 79
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 88
K ẾT LUẬN 94
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 97
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TV
HS
GV PPDH
PC CN DHHT
TV THPT THPT
PC CNNN SGK
TN
ĐC
: : : : : : : : : : : :
Tiếng Việt Học sinh Giáo viên Phương pháp dạy học Phong cách chức năng Dạy học hợp tác Tiếng Việt Trung học phổ thông Trung học phổ thông
Phong cách chức năng ngôn ngữ Sách giáo khoa
Thực nghiệm Đối chứng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
B ảng 1.2 Phiếu quan sát HS 28
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Ở nước ta hiện nay, việc giáo dục ngôn ngữ được đặt vào phân môn tiếng Việt (TV) Dạy và học TV nhằm cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức về ngôn
ngữ học, hệ thống TV, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi
hoạt động giao tiếp Mặt khác, TV là công cụ giao tiếp và tư duy, vì vậy, phân môn TV còn đảm nhiệm thêm một chức năng khác mà các môn học khác không
có đó là chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp: tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường và xã hội Nhưng dường như chúng
ta chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này Việc dạy TV hầu như chỉ thiên về
dạy kiến thức ngôn ngữ học, kiến thức về đặc điểm cấu trúc TV; dạy lí thuyết,
dạy những bài tập minh họa cho lí thuyết mà ít quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng TV, khả năng ứng dụng những bài học đó vào thực tế cuộc sống cho học sinh
Phong cách chức năng ngôn ngữ chiếm thời lượng không nhiều trong chương trình tiếng Việt Trung học Phổ thông (TV THPT) nhưng lại là chùm bài có vai trò quan trọng liên quan đến quá trình tạo lập văn bản của HS Trên thực tế, đại
đa số, HS còn sử dụng ngôn ngữ của phong cách này cho phong cách khác, thậm chí, HS học xong lớp 12 vẫn chưa tự mình viết hoàn chỉnh được một lá đơn
Việc sử dụng ngôn ngữ của HS chỉ do thói quen, cảm tính mà ít có ý thức lựa
chọn từ ngữ sao cho phù hợpvới các phong cách của từng loại văn bản Chính vì
vậy, khi tạo lập văn bản (nói và viết) học sinh vẫn thường lúng túng, không biết
sử dụng câu từ như thế nào để diễn đạt ý kiến của mình
Hơn thế nữa, ngày nay trong hoạt động dạy học, vấn đề quan trọng đang đặt
ra là làm thế nào để phát triển được năng lực cho HS Để thực hiện được vấn
đề này trong nhà trường phổ thông ở tất cả các môn học quả là một vấn đề nan
giải Và làm thế nào để phát triển được năng lực cho HS trong dạy học Ngữ văn nói chung và TV nói riêng thì càng khó khăn gấp bội Thế nhưng, nếu GV
Trang 10không có cách tổ chức học tập tốt, môn học này sẽ trở thành một môn học
buồn chán, nặng nề, làm nguội lạnh sự nhạy bén trong tư duy, xúc cảm của
người học, làm mai một những khả năng diễn đạt và cảm nhận tác phẩm văn
chương của HS Chính vì thế, việc vận dụng, thực hiện những phương pháp
nhằm phát triển năng lực cho HS vào dạy học là một yêu cầu rất cần thiết đối với môn Ngữ văn
Và với phương pháp dạy học hợp tác, vai trò người học được phát huy, HS
phải làm việc thực sự để tự mình trải nghiệm, tự mình lĩnh hội kiến thức thông qua những hoạt động tương tác giữa HS và HS, HS và GV Với phương pháp này GV chỉ là người hướng dẫn, điều khiển hoạt động học, còn HS sẽ là trung tâm trong quá trình lĩnh hội tri thức
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, xuất phát từ những lợi ích của dạy học hợp tác (DHHT) là nâng cao kết quả học tập, rèn kĩ năng sống, kĩ năng làm việc cho
HS tôi đã lựa chọn đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào dạy phong cách ch ức năng ngôn ngữ” Từ đề tài nghiên cứu này tôi mong muốn tìm
ra được một hướng đi cụ thể và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng trong việc
dạy và học phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng và Ngữ văn nói chung Đặc biệt, mục tiêu của tôi trong đề tài này là hướng dẫn HS học hướng tới ứng
dụng vào trong học tập và trong thực tế cuộc sống xã hội của các em
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương pháp dạy học truyền thống không thể đáp ứng được những yêu cầu
của nền giáo dục hiện đại V ì t h ế , v i ệ c đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường là một đòi hỏi cấp bách nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo cho người học ngay từ trên ghế nhà trường Do đó, phải tìm ra một phương pháp dạy học khác cho phù hợp, một trong những phương pháp đó là dạy
học hợp tác Tuy phương pháp dạy học này không phải hoàn hảo nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây vấn đề sử dụng hình thức DHHT trong
Trang 11dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng được các nhà nghiên cứu giáo dục, những nhà giáo có tâm huyết trong và ngoài nước quan tâm nhiều
hơn, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả dạy học
Trong những năm gần đây, cùng với việc thay sách giáo khoa Ngữ văn ở
phổ thông, đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạy học Hướng đi này
có nhiều hứa hẹn, góp phần vào việc đổi mới cách thức dạy học Ngữ văn hiện nay
Trong những tài liệu nói về phương pháp dạy học đó, một số nhà nghiên cứu, nhà giáo đã đưa ra phương pháp DHHT nói chung và DHHT trong Ngữ văn nói riêng để GV cùng tham khảo và học hỏi
Nguy ễn Hữu Châu trong bài viết Dạy học hợp tác đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục số 114, năm 2005 đã bàn đến phương pháp
DHHT Tác giả cho rằng: “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt được
nh ững mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm
nh ững kết quả có ích cho họ và cho cả các thành viên của nhóm” [tr 2; 16]
Và tác giả cũng chỉ ra cụ thể: “Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để
HS làm vi ệc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người kác” [tr 2; 16] Như thế, theo tác giả, DHHT nhằm đạt được
hiệu quả tối đa trong giờ học Và theo Nguyễn Hữu Châu, để đạt được sự hợp tác có hiệu quả thì GV phải tạo lập được 5 yếu tố cơ bản trong mỗi bài học,
đó là: sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực; trách nhiệm của cá nhân và
của nhóm; khuyến khích sự tác động qua lại, tốt nhất là bằng hình thức trực
diện; dạy HS một số kĩ năng hoạt động liên cá nhân và nhóm nhỏ cần thiết;
và quá trình hoạt động nhóm Trong 5 yếu tố trên, tác giả cho rằng yếu tố quan trọng nhất là sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực Kết thúc bài viết, ông chỉ ra thành công của DHHT là: “Những hiệu quả to lớn mà sự hợp tác đem lại tạo nên sự khác biệt của học hợp tác với nhiều phương pháp và làm cho nó tr ở thành một trong những công cụ quan trọng nhất đảm bảo sự thành
Trang 12công c ủa HS” [tr 5; 16]
Và quyển Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới của Thái Duy
Tuyên, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, có bài viết Dạy học hợp tác nhóm Ở bài
viết này, tác giả khẳng định: Việc tổ chức học tập tập thể, học nhóm là hết sức quan trọng Các em phải hợp tác với nhau, thầy trò phải hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập ngày càng nặng nề trong điều kiện hiện đại Hình
thức dạy học này có ưu điểm là tạo ra những thành công trong học tập; tăng
cường khả năng tư duy phê phán; tăng cường thái độ tích cực với các môn
học; nâng cao năng lực hợp tác giữa các HS với nhau; tạo ra tâm lí lành
mạnh; phát triển và hòa nhập xã hội; yêu thương lẫn nhau; có trách nhiệm thích hợp Và hình thức học hợp tác nhóm có đặc trưng chủ yếu là dùng hội thoại, tranh luận để tìm tòi, phát hiện chân lí Điều này đưa người học đến chỗ
tự phát hiện ra cái chưa biết và tự tìm cái cần biết Ý nghĩa quan trọng của hình
thức dạy học này là ở chỗ: người học phải cùng với người dạy làm chủ quá trình lĩnh hội tri thức, sau đó mới có được tri thức, tức là làm chủ được tri thức
của bản thân Đóng góp đáng ghi nhận ở bài viết là những suy tư khá sâu sắc
của tác giả về vấn đề dạy học hợp tác nhóm như: những tính chất cơ bản của sự
hợp tác học tập, quy trình tổ chức dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm trong đó có những bước như thành lập nhóm học tập, giải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học cho HS, theo dõi và điều chỉnh tiến trình hợp tác nhóm,
nhận xét tương tác nhóm Qua kinh nghiệm của mình, Thái Duy Tuyên khẳng
định: “dạy học hợp tác nhóm tại lớp đóng vai trò quan trọng trong cuộc
s ống con người Nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội”
[tr 411; 36] Bên cạnh đó, tác giả cũng bàn luận thêm: “Rèn luyện các kĩ năng hợp tác ngay từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng Dạy các k ĩ năng hợp tác cần được coi trọng như việc dạy kiến thức và kĩ năng cơ
b ản khác” [tr 411; 36]
Trang 13Như vậy, bài viết của tác giả Thái Duy Tuyên đã khẳng định thêm vai trò
của phương pháp DHHT
- Trong giáo trình “T ổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn” (2006),
PGS TS Nguyễn Thị Hồng Nam đề cập đến những vấn đề chung về học hợp tác, tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn và các hình thức đánh giá hiệu
quả học hợp tác Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của GV trong dạy học hợp tác, thiết kế bài tập thảo luận, đưa ra các dạng bài tập thảo luận nhóm và xây dựng các dạng bài tập trong môn Ngữ văn và trong đó có một số bài tập thảo luận dành riêng cho phần TV
- Ngoài ra, còn có khá nhiều bài nghiên cứu, bài luận văn, bài báo… đã nghiên cứu về đề tài này Đó là một điều kiện thuận lợi và là nguồn tài liệu cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
- Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt” (2009) của nhóm tác giả Lê A,
Nguyễn Quang Ninh và Bùi Minh Toán, là một tài liệu giúp ích cho các GV bởi
những hướng dẫn giảng dạy cụ thể cho từng phân môn TV bao gồm từ ngữ, ngữ pháp và phong cách học Tài liệu này đưa ra các phương pháp dạy học cụ thể cho TV như: Phương pháp thông báo – giải thích; phương pháp phân tích ngôn
ngữ; phương pháp giao tiếp Một số hình thức thể hiện của phương pháp như: Hình thức diễn giảng; hình thức đàm thoại; hình thức đọc SGK và hình thức làm bài tập TV
Tất cả những tài liệu, công trình đã được đề cập trên đây đều có những đóng góp nhất định vào việc đổi mới phương pháp dạy học TV Có bài quan tâm đến
vấn đề xây dựng câu hỏi trong DHHT, có bài đưa ra những ưu, khuyết điểm của DHHT, có bài lại đề cập đến mục đích và những hình thức của DHHT Còn lại,
đa phần các giáo trình có nội dung liên quan đến phương pháp dạy học TV đều chú trọng đến phương pháp giao tiếp trong dạy học TV hoặc sử dụng phương pháp thông báo – giải thích yêu cầu học trò phải chú ý lắng nghe một cách thụ động Trong khi đó, TV là một phân môn mang tính thực hành cao, đòi hỏi sự
Trang 14chung sức để giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất bằng cách vận dụng tối đa năng lượng hoạt động của HS Điều đó cho phép chúng ta xem xét môn TV nói chung và những bài thuộc nhóm PC CNNN nói riêng hoàn toàn có thể thích hợp cho việc vận dụng hình thức DHHT vào quá trình giảng dạy
Mặc dù những bài viết và tài liệu liên quan chưa đưa ra những quan điểm cụ
thể về vấn đề vận dụng hình thức DHHT vào dạy học TV, cũng như nhóm bài
PC CNNN nhưng những tài liệu trên lại là những gợi ý vô vùng quý giá và cần thiết để giúp người viết có những định hướng để xây dựng đề tài của mình hợp lí
và chặt chẽ hơn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào dạy phong cách chức năng ngôn ngữ”, chúng tôi muốn hướng tới mục tiêu nâng cao chất
lượng dạy và học phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng và phân môn TV nói chung Đồng thời chúng tôi muốn góp một phần nhỏ trong việc giải quyết
vấn đề trọng tâm của giáo dục hiện nay là đổi mới phương pháp giáo dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát triển năng lực sử
dụng tiếng Việt cho HS trong đời sống xã hội
4 Ph ạm vi nghiên cứu
Có nhiều quan điểm khác nhau chi phối đến việc dạy TV trong nhà trường cũng như dạy nhóm bài PCCCNN Song trong bài viết này chúng tôi chỉ hướng đến việc vận dụng lí thuyết của DHHT vào việc dạy các bài phong cách chức
năng ngôn ngữ
Do điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trên những bài thuộc Phong cách chức năng ngôn ngữ và tiến hành thực nghiệm bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí” cho HS lớp 11C7 và 11C8 trong trường THPT Tân
Phước Khánh – Huyện Tân Uyên – Tỉnh Bình Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng, kết hợp các phương pháp: