Chính ngữ pháp chức năng, dưới ánh sáng của ngôn ngữ trong hành chức, đã đưa ngôn ngữ học vượt qua giai đoạn chỉ nghiên cứu bình diện kết học của các đơn vị trong hệ thống, tuy không bỏ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MAI
CÂU HỎI TIẾNG VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN LÝ THUYẾT THÔNG TIN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MAI
CÂU HỎI TIẾNG VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN LÝ THUYẾT THÔNG TIN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 62.22.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH SÂM
Thành phố Hồ Chí Minh 2012
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Mai
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
M ỤC LỤC 4
CÁC CH Ữ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN 7
DANH M ỤC CÁC BẢNG 8
M Ở ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 L ịch sử vấn đề 11
3 M ục đích nghiên cứu 17
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 18
6 Ngu ồn tài liệu tham khảo và ngữ liệu 19
7 phương pháp nghiên cứu 19
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 21
9 Đóng góp của luận án 22
10 B ố cục của luận án 23
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 24
1.1 M ỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI, GIỮA CÂU VÀ PHÁT NGÔN 25
1.2 C ẤU TRÚC TƯƠNG THÍCH CỦA CÂU HỎI 27
1.2.1 Vai trò c ủa ngữ cảnh trong việc xác định nghĩa của câu 27
1.2.2 Khái ni ệm cấu trúc tương thích 29
1.2 3 Đặc điểm của cấu trúc tương thích 29
1.2.4 M ột số hệ quả của việc sử dụng cấu trúc tương thích 34
1.3 LÝ THUY ẾT NGỮ DỤNG HỌC 35
1.3.1 Lý thuy ết hành động ngôn từ 35
1.3.2 Nhân t ố giao tiếp 36
1.3.3 Ch ức năng giao tiếp, các thành tố nội dung và đích của diễn ngôn 39
1.3.4 Lý thuy ết lập luận và hội thoại 40
1.4 CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CÂU HỎI 43
1.4.1 C ấu trúc thông tin 43
Trang 51.4.2 M ối quan hệ của câu hỏi và cấu trúc thông tin 54
1.5 TIỂU KẾT 56
Chương 2: CẤU TRÚC THÔNG TIN CÂU HỎI TIẾNG VIỆT 60
2.1 VAI TRÒ C ỦA CÂU TRẢ LỜI TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH HAI THÀNH PH ẦN THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI TIẾNG VIỆT 61
2.1.1 S ự tương hợp về đích ngữ dụng 61
2.1.2 S ự tương hợp về khung tình thái 62
2.1.3 S ự tương hợp về nội dung mệnh đề 62
2.1.4 S ự tương hợp về TT TGĐ ND 63
2.1.5 S ự tương hợp về TT XN ND 63
2.2 HAI THÀNH PH ẦN THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI CHÍNH DANH TI ẾNG VIỆT 64
2.2.1 Thành ph ần TT TGĐ ND 64
2.2.2 Thành ph ần TT XN ND 67
2.2.3 CTTT c ủa các kiểu câu hỏi chính danh tiếng Việt 72
2.2.4 Các ki ểu TT của câu hỏi chính danh tiếng Việt 87
2.3 HAI THÀNH PH ẦN THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI PHI CHÍNH DANH TI ẾNG VIỆT 92
2.3.1 Các t ầng TT của câu hỏi phi chính danh tiếng Việt 92
2.3.2 M ối quan hệ giữa các tầng TT 96
2.3.3 Các ki ểu TT trong câu hỏi phi chính danh tiếng Việt 107
2.4 M ỐI QUAN HỆ CẤU TRÚC THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI CHÍNH DANH VÀ CÂU H ỎI PHI CHÍNH DANH TIẾNG VIỆT 119
2.5 TI ỂU KẾT 127
Chương 3: SỰ ĐÁNH DẤU CẤU TRÚC THÔNG TIN TRONG CÂU H ỎI VÀ VAI TRÒ CỦA CÂU HỎI TRONG TƯƠNG TÁC H ỘI THOẠI 131
3.1 VAI TRÒ C ỦA PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ 131
3.1.1 Phương tiện ngữ âm 131
3.1.2 Phương tiện từ vựng 135
3.1.3 Phương tiện ngữ pháp 139
3.2 VAI TRÒ C ỦA CÁC CẤU TRÚC THÔNG TIN CÂU HỎI TRONG HỘI THOẠI 147
Trang 63.2.1 Câu h ỏi trong quan hệ với yếu tố phi ngôn 147
3.2.2 Các ch ức năng câu hỏi đảm nhận trong HT 149
3.3 TI ỂU KẾT 161
K ẾT LUẬN 164
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170
Trang 7CÁC CH Ữ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 2.1a
Bảng 2.1b
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11a
Bảng 2.11b
Bảng 2.12a
Bảng 2.12b
Bảng 2.12c
Bảng 2.13a
Bảng 2.13b
Bảng 2.13c
Bảng 2.13d
Cấu trúc TT của câu hỏi tiếng Việt
Mô tả hai thành phần TT của câu
Sự tương hợp CTTT giữa câu hỏi và câu trả lời (câu hỏi chính danh)
Sự tương hợp CTTT giữa câu hỏi và câu trả lời (câu hỏi phi chính danh)
danh CTTT câu hỏi có tiểu từ tình thái đứng cuối CTTT câu hỏi có vị từ (ngữ vị từ) tình thái mang nghĩa nghi vấn đứng đầu
CTTT câu hỏi chứa các cặp từ mang nghĩa
đối lập “có” – “không”, “đã” – “chưa”
CTTT câu hỏi có các ngữ vị từ nghi vấn đứng cuối
CTTT câu hỏi chứa đại từ nghi vấn
chính danh Mối quan hệ CTTT giữa câu hỏi chính danh
và câu hỏi phi chính danh
TĐ TTM chuyển thành TĐ mang tính hiển nhiên hoặc thứ yếu
TĐ TTM chuyển thành TĐ TTTP Chuyển đổi vị trí TĐ trong thành phần TT
XN ND Chuyển đổi vị trí TĐ NV từ thành phần TT
Chuyển vị trí TTĐ NV từ thành phần TT XN
ND
Mở rộng phạm vi TĐ bằng yếu tố đánh giá
Mở rộng phạm vi TĐ bằng yếu tố so sánh
Mở rộng phạm vi TĐ bằng yếu tố đối lập
Mở rộng phạm vi TĐ bằng yếu tố giải thích
37
44
53
54
62
65
67
69
71
74
77
95
111
112
113
114
114
115
115
116
116
117
Trang 923 Bảng 3.1 Vai trò của câu hỏi trong hội thoại 148
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Cái hệ thống ký hiệu nhiều cấp bậc, nhiều bình diện - gọi là ngôn ngữ - được hình thành và phát triển chủ yếu để phục vụ cho sự giao tiếp của con người, vừa có mối quan hệ bên trong (cấu trúc của các thành tố) vừa có mối quan hệ bên ngoài (với nền văn hóa mà nó là bộ phận cấu thành) Vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở bình diện mã tín hiệu mang tính hình thức thuần túy mà còn phải tìm hiểu mặt nội dung của nó, xem đằng sau cái được mã hóa đó là
gì, cả nghĩa hiển ngôn lẫn hàm ngôn, trong từng hoàn cảnh cụ thể, có tính đến yếu
tố nhân vật giao tiếp Chính ngữ pháp chức năng, dưới ánh sáng của ngôn ngữ trong hành chức, đã đưa ngôn ngữ học vượt qua giai đoạn chỉ nghiên cứu bình diện kết học của các đơn vị trong hệ thống, tuy không bỏ qua mặt nghĩa nhưng chỉ quan tâm đến nghĩa biểu hiện, tức chỉ tìm hiểu mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, mà trả ngôn ngữ về đúng chức năng và môi trường hoạt động của nó
Việt dưới góc độ lý thuyết thông tin, mặt khác, xem đây như là cơ hội để học hỏi các chuyên luận cùng đề tài và mở rộng vốn kiến thức về ngôn ngữ học còn hạn hẹp của mình
Câu tục ngữ “Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học” đã phần nào khẳng định vai trò của HV hỏi Theo quan niệm thông thường, hỏi là cách nhanh nhất để
tiếp nhận TT, mà từ đó là sự mở rộng và điều chỉnh bức tranh về thế giới cũng như thiết lập và phát triển mối quan hệ của các nhân vật giao tiếp Trước đây, người ta ít
quan tâm đến câu hỏi, bởi vì, toàn bộ lý thuyết logic hình thức chỉ lấy câu tường
thuật làm đối tượng nghiên cứu Song, trong thời gian gần đây, câu hỏi được quan tâm nhiều hơn, được trình bày thành những chuyên mục riêng trong sách ngữ pháp
và trở thành đề tài nghiên cứu chuyên sâu của nhiều công trình ngôn ngữ học ở tất
cả các bậc học Đứng ở góc độ chức năng, người ta thấy rằng câu hỏi không chỉ
Trang 11được dùng để hỏi mà còn dùng để thực hiện những HV khác hỏi vốn được thể hiện bằng hình thức các câu như cảm thán, cầu khiến, … và đảm nhận một vai trò hết
sức quan trọng trong tương tác HT Kết quả thu được từ các công trình đó đã giúp
hình thành nên một cái nhìn rất phong phú, sâu sắc và tinh tế về câu hỏi tiếng Việt
Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn câu hỏi làm đề tài nghiên cứu trong
luận án này
2 L ịch sử vấn đề
Trước nay khi nghiên cứu về câu hỏi tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường lấy việc phân tích các bình diện làm cơ sở cho sự tổng hợp các vấn đề có liên quan đến cách thức tổ chức, biểu hiện nội dung và giá trị sử dụng Trong luận
án này, chúng tôi sẽ khảo sát đặc điểm của câu hỏi trên cơ sở những luận điểm cơ bản của lý thuyết CTTT Vì thế, nội dung luận án vừa mang tính kế thừa vừa có tính chất mới Trong phần lịch sử vấn đề có tính chất trường quy, chúng tôi sẽ trình bày một cách sơ lược những công trình nghiên cứu về câu hỏi tiếng Việt và những công trình nghiên cứu về lý thuyết TT, còn những vấn đề thuộc nội dung chúng tôi
sẽ bàn kỹ ở phần tổng quan
2.1 Câu hỏi tiếng Việt
Bùi Đức Tịnh (1996) cho rằng công năng của câu hỏi là thu nhận TT “Ta
dùng câu nghi vấn để tỏ ý muốn biêt một việc gì.” [147, tr.79] và từ đó chỉ ra các
dấu hiệu hình thức của câu hỏi như: câu nghi vấn có chỉ định từ, câu nghi vấn có đại từ nghi vấn, câu nghi vấn có phó từ nghi vấn giữ vai trò hạn định một động từ, một phó từ hoặc một tính từ, … Ông cũng chú ý đến giá trị tại lời gián tiếp của câu hỏi, tuy nhiên, chỉ là những ghi nhận về trường hợp ngoại lệ của cách sử dụng câu
hỏi “Khi đặt một câu hỏi mà muốn cho thấy mình tin rằng việc muốn hỏi là có thật thì ta dùng hình thức phủ định nghi vấn: Anh không có làm việc ấy à?” [147,
tr.79-80)
Nguyễn Kim Thản (1996) cũng tiếp cận từ phương diện công năng yêu cầu
hỏi có mục đích thông báo cho người nghe, người đọc điều hoài nghi ở người nói,
Trang 12người viết và nói chung đòi người đối thoại trả lời.” [132, tr.62] và chia câu hỏi
thành bốn loại: câu hỏi toàn bộ, câu hỏi bộ phận, câu hỏi lựa chọn và câu hỏi rộng Ông đặc biệt chú ý đến các yếu tố hình thức tạo nên câu hỏi: tiểu từ tình thái, đại từ
nghi vấn, từ nối “hay” (“hay là”), cụm từ “phải chăng”, “phải không”, …và cũng
chú ý nhiều hơn đến mục đích khác hỏi của câu hỏi như: câu hỏi dùng để khẳng định, phủ định, ra lệnh và bày tỏ cảm xúc Theo ông, ngữ điệu là một tiêu chí nhận diện câu hỏi, chỉ cần nâng giọng cuối câu thì một câu tường thuật có thể trở thành câu hỏi
Diệp Quang Ban (1996) mặc dù luôn cho rằng việc nhận diện câu hỏi của
mình có sự kết hợp của hai tiêu chí hình thức và mục đích phát ngôn nhưng với những gì đã trình bày, ông vẫn cho thấy cách tiếp cận câu hỏi của ông chủ yếu là từ phương diện mục đích phát ngôn Bảng phân loại của ông khá chi tiết, không những cung cấp số lượng loại câu hỏi, diễn giải kỹ từng loại, mà còn bổ sung thêm
một số trường hợp biến dạng Ví dụ, ông cho rằng câu hỏi “có … không”, “có … phải không”, “đã … chưa”, “xong (rồi, xong rồi )… chưa” là biến dạng của câu hỏi “có … (hay) không”, “có phải … (hay) không”, “đã … (hay) chưa”, “xong (rồi, xong rồi) … (hay) chưa” trong đó từ “hay” dễ dàng được khôi phục; câu hỏi
cách dồn/ rút bớt hoặc vừa dồn vừa rút từ câu hỏi “ có … không” Ông cũng chú ý
đến giá trị khác hỏi của câu hỏi nhưng xem đây là câu hỏi giả và vì thế mục đích
mà câu hỏi này thực hiện cũng là mục đích giả
hỏi dựa vào tiêu chí có dấu hiệu riêng của tình thái hỏi “Đối với tiếng Việt, căn cứ vào một số thuộc tính về cấu trúc ngữ pháp, có thể phân câu thành hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi vấn và căn cứ vào hình thức mà coi câu mệnh lệnh như một tiểu loại của câu trần thuật, khác với các tiểu loại khác về tình thái ” [61, tr.27]
Từ đó, dựa trên đích ngữ dụng của HV hỏi, ông chia câu hỏi thành hai loại lớn là câu hỏi chính danh (câu hỏi có lực ngôn trung trực tiếp) và câu hỏi phi chính danh (câu hỏi có lực ngôn trung gián tiếp) Mỗi loại như thế lại được chia thành các tiểu loại như câu hỏi chính danh bao gồm câu hỏi tổng quát, câu hỏi chuyên biệt (bộ phận) và câu hỏi hạn định; câu hỏi phi chính danh bao gồm câu hỏi có giá trị cầu
Trang 13khiến, câu hỏi có giá trị khẳng định, câu hỏi có giá trị phủ định, câu hỏi có giá trị
Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu câu hỏi theo quan điểm ngữ pháp chức năng, dưới ánh sáng ngữ dụng học, đã mang đến một cái nhìn rất sâu sắc và tinh tế, đặc biệt là ở bình diện hành chức, cho câu hỏi tiếng Việt
Lê Đông (1985, 1991, 1994, 1996) đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa,
ngữ dụng của câu hỏi chính danh từ quan điểm của lý thuyết cấu trúc thông báo Tác giả đã phát hiện ra trục ngữ nghĩa, ngữ dụng cơ bản của câu hỏi chính danh là
TT tiền giả định và cái chưa biết, cần biết Trên cơ sở này, tác giả cũng đã giải quyết thấu đáo vấn đề phân loại câu hỏi chính danh và các kiểu TT bổ trợ thường gặp
Nguyễn Thị Thìn (1994) cố gắng hệ thống hóa cấu trúc câu hỏi phi chính
danh Trong luận án của mình, tác giả trình bày mười một kiểu cấu trúc hỏi, ba
trong số đó là “NP – mà/ mà lại – VP/ không VP – à/ ư/ sao?”, “Chẳng lẽ/ Không
lẽ - à/ ư/ sao?”, “Dễ thường/ Dễ - à/ chắc/ hay sao” đã cho thấy sự phong phú trong việc thực hiện đích ngữ dụng gián tiếp của câu hỏi tiếng Việt
Nguyễn Thị Lương (1995) có khuynh hướng nghiên cứu ý nghĩa của câu
hỏi khi tập trung miêu tả đặc điểm của các tiểu từ tình thái nghi vấn cuối câu Tuy
đầy đủ ở bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng
Nguyễn Đức Dân và Vũ Thị Thời (2007) từ hiệu lực ở lời gián tiếp chất
vấn bác bỏ của câu hỏi đã phát hiện ra nhiều hiệu lực ở lời gián tiếp khác như phủ
định, khẳng định, … và các biểu thức ngôn ngữ biểu đạt nó: “Có A đâu?”, “Có A nào X?”, “X th ế nào được?”, “Có A gì X?”, “A làm gì?”, “Làm gì có A?”, “Chẳng
A là gì?”, “Có A ở đâu?”, “Có A là bao?”, “Có A là mấy?”, “A sao/ làm sao/ thế
nào được?”
Nguyễn Thị Thu Hương (2003) xuất phát từ một cấu trúc hỏi (cấu trúc “có
… không”) trên cơ sở so sánh với một kiểu câu hỏi của tiếng Anh (yes – no
question), đã tìm ra tất cả các hiệu lực tại lời của nó, ví dụ như Câu hỏi có giá trị như một lời yêu cầu, đề nghị hoặc ra lệnh, câu hỏi có giá trị như một lời mời, câu hỏi diễn tả sự mong muốn được người khác giúp đỡ, câu hỏi nhằm có được sự đồng
Trang 14tình của người nghe, câu hỏi diễn đạt sự không đồng ý, câu hỏi có giá trị phủ định,
c âu hỏi có giá trị cảm thán, câu hỏi thể hiện sự nghi ngờ, câu hỏi thể hiện sự ngạc nhiên
Câu hỏi càng lúc càng được chú ý ở phương diện hành chức, Mai Thị Kiều Phượng (2007) chủ yếu nghiên cứu đặc điểm của HV hỏi được thực hiện bằng phát
ngôn hỏi trong một lĩnh vực nhất định của đời sống (mua bán) Từ đó, tác giả trình bày đặc điểm ba bình diện câu hỏi trên cả hai đích ngữ dụng chính danh và phi chính danh
Nghiên cứu câu hỏi nhưng Lê Anh Xuân (1999, 2000, 2001, 2006) không
khảo sát câu hỏi mà khảo sát câu trả lời Ví dụ, để trả lời cho câu hỏi chính danh, tác giả cho rằng người nói không nhất thiết phải sử dụng câu trần thuật hay câu cầu khiến mà có thể sử dụng nhiều loại câu khác nhau, trong đó có cả câu hỏi Trả lời bằng câu hỏi nhưng người nói hoàn toàn có thể thực hiện được các HV khác hỏi như khẳng định, phủ định, biện minh hay giải thích, … Dùng câu trả lời để khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi là một hướng nghiên cứu tuy không mới nhưng rất có ý nghĩa
Nhìn chung, công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học, trong một thời gian dài, về ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học của câu hỏi đã đạt được những thành tựu lớn Trong luận án này, chúng tôi xem những thành tựu đó như những tiền đề quan trọng, làm cơ sở để khảo sát đặc điểm câu hỏi tiếng Việt dưới một góc nhìn còn khá mới mẻ: lý thuyết TT
2.2 Lý thuyết TT
đoạn thực tại câu (Funtional Sentence Perpective – FSP) và những đơn vị có chức năng chuyển tải TT của câu trong quá trình giao tiếp với sự phân định hai thành phần TT cái đã biết/ cái chưa biết (known/ unknown) ứng với cái cũ/ cái mới
(given/ new) J Firbas (1966) khi nói về “tỉ lực thông báo” (Communicative
nhau theo thứ tự của tỉ lực thông báo mà mỗi thành phần đóng góp, bắt đầu từ mức thấp nhất và dần dần chuyển thành mức cao nhất” [173, tr.240)] Chính quan điểm
đồng nhất hai thành phần TT cũ và mới với hai thành phần trong cấu trúc nội dung