1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thac sĩ luật học chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở việt nam

20 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 460,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có rất nhiều các nghiên cứu về các hành vi hạn chế cạnh tranh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

KIM HOÀN MỸ LINH

CHẾ TÀI LIÊN QUAN TỚI

HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

KIM HOÀN MỸ LINH

CHẾ TÀI LIÊN QUAN TỚI

HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG VŨ HUÂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Kim Hoàn Mỹ Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 6

CẠNH TRANH VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH 11

1.1.1 Khái niệm, căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh 11

1.1.2 Pháp luật điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined

1.2.1 Khái niệm chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh Error! Bookmark not defined

1.2.2 Sự cần thiết áp dụng chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined

1.2.3 Các hình thức chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined

1.3.1 Kinh nghiệm các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU)Error! Bookmark not defined

1.3.2 Kinh nghiệm của Canada và Mỹ Error! Bookmark not defined

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước Châu Á Error! Bookmark not defined

Tiểu kết Chương 1 Error! Bookmark not defined

CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAMError! Bookmark not defined

2.1.1 Khái quát về các biện pháp chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh tại Việt NamError! Bookmark not defined

2.1.2 Thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh ở

Việt Nam Error! Bookmark not defined

chế cạnh tranh ở Việt Nam Error! Bookmark not defined

Trang 5

2.2.1 Xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined

2.2.2 Xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyềnError! Bookmark not defined

2.2.3 Xử lý hành vi tập trung kinh tế Error! Bookmark not defined

lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Error! Bookmark not defined

2.3.1 Đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về chế tài xử lý hạn

chế cạnh tranh Error! Bookmark not defined

2.3.2 Đánh giá thực tiễn xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined

Tiểu kết Chương 2 Error! Bookmark not defined

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VỀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở

VIỆT NAM Error! Bookmark not defined

ở Việt Nam Error! Bookmark not defined

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh

tranh ở Việt Nam Error! Bookmark not defined

3.2.1 Xu hướng pháp luật và việc sử dụng các chế tài đối với hành vi hạn

chế cạnh tranh của các nước trên thế giới Error! Bookmark not defined

3.2.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế tài hạn chế cạnh tranh ở Việt NamError! Bookmark not defined

tranh ở Việt Nam Error! Bookmark not defined

3.3.1 Các giải pháp pháp lý Error! Bookmark not defined

3.3.2 Các giải pháp bổ trợ khác Error! Bookmark not defined

Tiểu kết Chương 3 Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thì cạnh tranh luôn là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, nếu để tồn tại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các thủ đoạn nhằm kìm hãm quá trình cạnh tranh sẽ đưa lại những hệ quả không mong muốn về mặt kinh tế và xã hội, thị trường bị bóp méo, thay đổi cấu trúc xã hội về sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo Do đó, yêu cầu kiểm soát và điều chỉnh đối với quá trình cạnh tranh là một nhiệm

vụ cần thiết đặt ra cho các thiết chế quản lý nền kinh tế thị trường Những thủ đoạn cạnh tranh tiêu cực trên thị trường rất đa dạng, trong đó, các hành vi hạn chế cạnh tranh có ảnh hưởng lớn tới môi trường kinh doanh và cấu trúc thị trường Nếu như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại trực tiếp cho các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng xã hội, thì các hành vi hạn chế cạnh tranh còn gây thiệt hại và ảnh hưởng đến một ngành hay lĩnh vực kinh tế, phá vỡ cấu trúc thị trường Bởi vậy, nếu không được điều tiết, kiểm soát một cách thỏa đáng và phù hợp, thì các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, thống lĩnh thị trường, tập trung kinh tế sẽ loại trừ khả năng cạnh tranh của các đối thủ tiềm năng, kéo theo đó là sự trì trệ, thậm chí thụt lùi của nền kinh tế Cho nên, pháp luật các nước trên thế giới đều chú trọng xây dựng pháp luật để điều chỉnh vấn đề này với những chế tài rất nghiêm khắc

Hiểu được vai trò của việc xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, năm 2004, Việt Nam đã ban hành Luật Cạnh tranh, trong đó có các quy định nhằm điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh và đặt ra chế tài

để xử vi phạm để răn đe và phòng ngừa chung Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã cho thấy, chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh chưa đủ mạnh, thủ tục xử lý chưa phù hợp, các chế tài được quy định rải rác trong nhiều văn bản luật và các bất cập khác đã gây khó khăn cho việc tổ chức thực thi pháp luật trên thực tế Trong khi đó, sự tồn tại với vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước, sự gia tăng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư

Trang 7

nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các thủ đoạn nhằm hạn chế cạnh tranh ở nước

ta vốn đã phức tạp lại ngày càng tinh vi hơn, đã gây nhiều tổn hại đến quyền và lợi ích của các doanh nghiệp, người tiêu dùng cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Từ những phân tích ở trên, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh nói chung và hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của các chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh nói riêng đang

là những yêu cầu rất cấp thiết Với ý nghĩa như vậy, nên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề

tài “Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam” để nghiên cứu và làm

Luận văn Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức, các nước thuộc Liên minh châu Âu, Nhật Bản và các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc, cũng như các án lệ liên quan đến xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh

Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có rất nhiều các nghiên cứu về các hành vi

hạn chế cạnh tranh như: "Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật Việt

Nam" của ThS Hồ Thị Duyên; "Thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" của ThS Mai Duy Phước; "Về thoả thuận hạn chế cạnh tranh" của tác giả Trần

Thị Nguyệt, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1(237)/2008; "Kiểm soát hành vi lạm dụng

của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay" của ThS Nguyễn Thị Bảo Nga; "Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng quyền lực thị trường ở Việt Nam" của ThS Nguyễn Ngọc Quý; "Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam" của ThS Phạm Thị Ngoan… Ngoài ra, còn nhiều bài

viết, bài báo liên quan đến pháp luật cạnh tranh nói chung và những phản ánh về thực tế hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam nói riêng

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào phân tích, làm rõ các vấn đề pháp lý đối với từng nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, còn các vấn đề về chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh, thì chưa có nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào đề cập

Trang 8

nghiên cứu, bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng pháp luật các chế tài này ở Việt Nam cũng chưa nhiều Bởi vậy, nếu nghiên cứu và bảo vệ thành công, có thể xem đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ luật học về đề tài "Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam"

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về hành

vi hạn chế cạnh tranh; bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành

vi hạn chế cạnh tranh; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh ở thị trường Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế, để từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, đặc biệt là nâng cao hiệu quả của các biện pháp chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu ở trên, đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

- Nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về hạn chế cạnh tranh, bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh;

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh hiện hành về các chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh, cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp chế tài xử lý hành

vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

- Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất, kiến nghị các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này, cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan tới chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, bao gồm các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, các biện pháp chế tài, trình tự áp dụng chế tài, thẩm quyền xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh , được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Cạnh tranh năm

Trang 9

2004, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành, cùng với thực tế áp dụng chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các biện pháp chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh và các vấn đề có liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam từ thời điểm Luật Canh tranh năm 2004 có hiệu lực thi hành

Bên cạnh đó, việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước trên thế giới

về vấn đề này chỉ nhằm làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu và rút ra bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh pháp luật để làm sáng tỏ mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài

6 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn nếu được thực hiện và bảo vệ thành công sẽ đưa lại các đóng góp mới như sau:

- Góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát và xử lý các hành

vi hạn chế cạnh tranh; bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành

vi hạn chế cạnh tranh

- Góp phần đánh giá trung thực, khách quan về thực trạng pháp luật và hiệu quả áp dụng các chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

- Góp phần hoàn thiện pháp luật về các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam, từ đó, xây dựng và hoàn thiện môi trường cạnh tranh bình đẳng,

Trang 10

công bằng ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật hạn chế cạnh tranh và chế tài xử lý

hạn chế cạnh tranh

Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hạn chế

cạnh tranh ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý hạn

chế cạnh tranh ở Việt Nam

Trang 11

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ

CẠNH TRANH VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH

1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về hạn chế cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm, căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh

Cạnh tranh là một quy luật vận động cơ bản của kinh tế thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nhờ có cạnh tranh - với sự thay đổi liên tục về nhu cầu

và bản tính tham lam của con người - mà nền kinh tế thị trường đã có những bước phát triển nhảy vọt chưa từng có trong lịch sử nhân loại Theo Black’Law Dictionary, cạnh tranh - với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh - được hiểu là sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba Về bản chất, cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có thể được mô tả thông qua những dấu hiệu riêng vốn có của nó: (i) Cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể kinh doanh có quyền tự do hành xử trên thị trường; (ii) Cạnh tranh thể hiện sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp, nói cách khác, cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng; (iii) Mục đích của cạnh tranh là tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ [52, tr 11]

Trong đó, hành vi cạnh tranh thường được phân loại thành: hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường chỉ là hành vi đơn độc của doanh nghiệp, ít có được sự đồng thuận từ các đối tác và chỉ áp dụng tới một vài đối thủ, khách hàng và trong một phạm vi nhất định Ngược lại, các hành vi hạn chế cạnh tranh, được coi là hành vi có mức độ nguy hiểm và tính phức tạp cao, hành vi hạn chế cạnh tranh mang tính chất khống chế thị trường nhằm mục đích hạn chế đi tới triệt tiêu cạnh tranh, biến dạng thị trường, gây nguy hại không chỉ

Ngày đăng: 23/08/2016, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w