1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội

174 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PNTR Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn STAR Dự án Hỗ trợ thúc đẩy thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ TNC Công ty xuyên quốc gia TRIM Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan

Trang 1

VIỆT NAM GIA NHẬP WTO :

VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI

Trang 2

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN

Phát biểu của GS-TS Nguyễn Phú Trọng, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, nhân dịp Quốc hội phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI 17

Phần I

TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN VÀ

CAM KẾT CỦA VIỆT NAM

1 Quá trình đàm phán nhập WTO của Việt Nam

Lương Văn Tự - Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng

2 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam và một số đánh giá về tác động đối với hệ thống thuế và dịch vụ tài chính

ThS Nguyễn Thị Bích - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế,

Trang 3

VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO

4 Thuận lợi và thách thức của nền kinh tế Việt Nam khi

gia nhập WTO

TS Lê Đăng Doanh - Chuyên gia kinh tế cao cấp 87

5 Tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế

Việt Nam

TS Nguyễn Xuân Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế

6 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực

thương mại dịch vụ: Trường hợp dịch vụ bưu chính

viễn thông

TS Phan Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế,

Bộ Bưu chính Viễn thông 127

7 Hiệp định sở hữu trí tuệ của WTO: Các vấn đề pháp lý

và thực tiễn đặt ra cho Việt Nam

TS Phạm Đình Chướng - Cục trưởng Cục Sở hữu trí

8 Thuận lợi và thách thức của ngành nông nghiệp Việt

Nam khi gia nhập WTO

Phạm Thị Tước - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 203

9 Phát triển nông nghiệp trong điều kiện Việt Nam là

thành viên của WTO

TS Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến

lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 215

10 Thuận lợi và thách thức của ngành ngân hàng Việt 227

Nam khi gia nhập WTO

ThS Nguyễn Thu Hà - Phó Tổng giám đốc

Vietcombank

11 Thuận lợi và thách thức của ngành dịch vụ tài chính khi gia nhập WTO

Noritaka Akamatsu - Chuyên gia kinh tế tài chính,

Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam 236

12 Cam kết WTO về dịch vụ pháp lý và khả năng tác động tới Việt Nam

ThS Nguyễn Khánh Ngọc - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp

luật quốc tế, Bộ Tư pháp 246

Phần III

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT ĐỂ THỰC

THI CAM KẾT GIA NHẬP WTO

13 Việt Nam gia nhập WTO: Yêu cầu nâng cao hiệu quả

và cải thiện công tác quản trị Nhà nước

Ayumi Konishi - Giám đốc Quốc gia, Ngân hàng Phát

triển châu á tại Việt Nam 273

14 Vấn đề sửa đổi hệ thống pháp luật thực thi cam kết gia nhập WTO

TS Hoàng Phước Hiệp - Vụ trưởng Vụ Pháp luật

Trang 4

-16 Sửa đổi hệ thống pháp luật thực thi cam kết gia nhập

WTO: Một số kinh nghiệm từ việc thực hiện BTA

Fred Burke - Giám đốc Văn phòng luật sư Baker &

17 Việt Nam gia nhập WTO: Một số vấn đề đặt ra với

Quốc hội

TS Nguyễn Sĩ Dũng - Phó Chủ nhiệm Văn phòng

18 Cải cách hệ thống tư pháp ở Việt Nam đáp ứng yêu

cầu gia nhập WTO

Taro Morinaga - Cố vấn trưởng, Văn phòng Dự án

CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu á AFTA Khu vực Thương mại tự do ASEAN APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình

Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á ASEM Diễn đàn Hợp tác á - Âu

ATC Hiệp định về Hàng dệt may BTA Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ CPC Bảng phân loại sản phẩm trung tâm

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Hiệp định Thương mại tự do GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GDP Tổng sản phẩm quốc nội

ILO Tổ chức Lao động quốc tế IMF Quỹ tiền tệ quốc tế ITA Hiệp định Công nghệ thông tin JICA Văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản MFN Quy chế Tối huệ quốc

MUTRAP Dự án Hỗ trợ Phát triển Thương mại đa biên NME Nền kinh tế phi thị trường

Trang 5

PNTR Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh

viễn

STAR Dự án Hỗ trợ thúc đẩy thương mại Việt Nam -

Hoa Kỳ

TNC Công ty xuyên quốc gia

TRIM Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan

đến thương mại

TRIPS Hiệp định về Những vấn đề liên quan đến

thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ

UNCITRAL ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp

quốc

UNDP Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc

UNTAD Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên

hợp quốc

WB Ngân hàng Thế giới

WEF Diễn đàn Kinh tế Thế giới

WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

LỜI GIỚI THIỆU

Sau gần 12 năm đàm phán, ngày 07 tháng 11 năm 2006 vừa qua, tại Phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã chính thức được kết nạp vào WTO Trở thành thành viên thứ 150 của thiết chế thương mại lớn nhất hành tinh là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập của đất nước với mục tiêu tăng trưởng

và phát triển bền vững, mang đến cho nước ta nhiều cơ hội mới thúc đẩy công cuộc cải cách và phát triển đất nước Thành công của quá trình đàm phán gia nhập WTO thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ với những nỗ lực đáng ghi nhận của mỗi thành viên Đoàn đàm phán và bên cạnh đó là vai trò không thể phủ nhận của Quốc hội trong việc hoàn thiện thể chế luật pháp đáp ứng các yêu cầu gia nhập WTO Trong thời gian qua, Quốc hội đã hoàn thành một chương trình xây dựng pháp luật quy mô với việc thông qua 25 Luật và Pháp lệnh trong tổng số 26 Luật và Pháp lệnh cam kết sửa đổi, bổ sung Các nước thành viên WTO đều công nhận Việt Nam là nước đang phát triển có khuôn khổ pháp luật hoàn chỉnh nhất trước khi gia nhập WTO Do đó, tại thời điểm tháng 11 năm 2006, việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập là bước đi quan trọng cuối cùng hoàn tất các thủ tục pháp lý để Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Thực hiện chức năng là cơ quan nghiên cứu, tham mưu của Văn phòng Quốc hội, trong hai ngày 13 - 14 tháng 11 năm

Trang 6

2006, Trung tâm Thông tin - Thư viện và Nghiên cứu khoa học -

Văn phòng Quốc hội - đã tổ chức hội nghị khoa học về chủ đề:

Việt Nam gia nhập WTO: Thuận lợi, Thách thức và Vai trò

của Quốc hội nhằm tạo diễn đàn để các đại biểu Quốc hội trao

đổi về các nội dung cơ bản trong các hiệp định của WTO, các

cam kết của Việt Nam và nhất là những thuận lợi, thách thức

đối với Việt Nam khi gia nhập WTO và vai trò của Quốc hội

trong việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ chính sách, pháp luật

để thực thi các cam kết gia nhập WTO Tham dự và phát biểu

tại diễn đàn này có các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài

nước thuộc lĩnh vực thương mại quốc tế, các cán bộ tham gia

Đoàn đàm phán, các nhà nghiên cứu và người làm công tác thực

tiễn ở các Bộ, ngành Các đại biểu Quốc hội đánh giá cao tính

kịp thời cũng như những nội dung thảo luận tại Hội nghị, không

những cung cấp cho đại biểu nhiều thông tin cần thiết trước khi

tham gia thảo luận và bỏ phiếu phê chuẩn Nghị định thư gia

nhập WTO của Việt Nam tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI,

mà còn nêu rõ những vấn đề cần làm để thực thi đầy đủ các

cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO

Để góp phần giới thiệu rộng rãi hơn kết quả của Hội nghị,

chúng tôi đã tổ chức biên soạn những nội dung được trình bày

và thảo luận thành cuốn kỷ yếu Việt Nam gia nhập WTO:

Thuận lợi, Thách thức và Vai trò của Quốc hội Nội dung kỷ

yếu được giữ nguyên theo chương trình nghị sự tại hội nghị,

gồm ba phần:

Phần I: Tổng quan quá trình đàm phán và cam kết của

Việt Nam Phần II: Thuận lợi và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO

Phần III: Hoàn thiện chính sách và pháp luật để thực thi cam kết gia nhập WTO

Hy vọng rằng cuốn sách sẽ là tài liệu hữu ích đối với đại biểu Quốc hội trong quá trình xây dựng pháp luật và giám sát thực thi cam kết của Việt Nam trong WTO, cũng như sẽ hỗ trợ tích cực cho công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế khi Việt Nam là thành viên của WTO

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị độc giả

Hà Nội, tháng 4 năm 2007

TS Bùi Ngọc Thanh Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

Trang 7

PHÁT BIỂU CỦA GS-TS NGUYỄN PHÚ

TRỌNG, ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ, CHỦ TỊCH

QUỐC HỘI, NHÂN DỊP QUỐC HỘI PHÊ

CHUẨN VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ

CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI TẠI KỲ HỌP

THỨ 10 QUỐC HỘI KHÓA XI

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các vị khách quý,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa toàn thể đồng bào và chiến sĩ cả nước

Hôm nay, tại phiên họp toàn thể, kỳ họp thứ 10, theo đề

nghị của Chủ tịch nước, Quốc hội khóa XI đã tiến hành xem

xét và phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam, hoàn tất thủ tục pháp lý quan trọng

cuối cùng để trở thành thành viên của tổ chức này

Như vậy, tháng 11 năm nay là một tháng có nhiều tin vui

về các sự kiện chính trị đối ngoại quan trọng của đất nước Vào

đầu tháng, tại Genève (Thụy Sĩ) nước ta đã ký Nghị định thư

gia nhập hiệp định thành lập WTO của Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam sau hơn 11 năm đàm phán Vào giữa tháng, tại

trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York (Hoa Kỳ) các nước châu á đã thống nhất đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của châu á làm ủy viên không thường trực Hội đồng bảo

an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 Và cách đây hơn một tuần, tại Thủ đô Hà Nội, APEC Việt Nam 2006 đã thành công tốt đẹp, để lại trong lòng bạn bè quốc tế những tình cảm và ấn tượng sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam Chúng ta hết sức vui mừng về những sự kiện này Điều đó càng chứng tỏ đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta hơn 20 năm qua, tạo ra cho nước ta một sự thay đổi cơ bản và toàn diện, làm cho vị thế và uy tín nước ta tăng lên nhiều Đó cũng

là kết quả trực tiếp của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Việc nước ta gia nhập WTO là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng, khẳng định vị thế nước ta, dân tộc ta đối với cộng đồng quốc tế, là một minh chứng hùng hồn về quyết tâm và nghị lực của nhân dân ta xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, ổn định về chính trị, công bằng, gắn kết về xã hội, phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xứng đáng là một trong những nền kinh tế phát triển năng động, sẵn sàng thực hiện các cam kết chung với cộng đồng quốc tế

Thành công của quá trình đàm phán gia nhập WTO nói riêng và toàn bộ thành tựu của hoạt động đối ngoại nói chung

là kết quả phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta

Trang 8

dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, sự chỉ đạo

sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực vượt bậc của Quốc hội và các

cơ quan hữu quan trong hoạt động lập pháp và lập quy, đáp

ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế Tôi đề nghị

Quốc hội nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương đồng bào, chiến

sĩ cả nước, các ngành, các cấp về những đóng góp to lớn quan

trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế những

năm qua, trực tiếp là ngành thương mại, ngành ngoại giao, tạo

thế và lực cho việc đàm phán giành thắng lợi; biểu dương anh

chị em trong Đoàn đàm phán đã nỗ lực, vượt mọi khó khăn,

hoàn thành tốt nhiệm vụ Cũng nhân dịp này, thay mặt Quốc

hội, tôi chân thành cảm ơn các nước, các tổ chức quốc tế và

bạn bè gần xa đã giúp đỡ phối hợp, tạo điều kiện để Việt Nam

đàm phán gia nhập WTO thành công

Thưa các vị Đại biểu,

Thưa đồng bào, chiến sĩ cả nước,

Tham gia WTO, nước ta có thêm cơ hội để xây dựng và

phát triển Nền kinh tế nước ta sẽ tiếp cận thị trường hàng hóa

và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên một cách bình đẳng,

không bị phân biệt đối xử; tạo điều kiện cho nước ta mở rộng

thị trường xuất khẩu; có điều kiện để đấu tranh nhằm bảo vệ

sự công bằng và hợp lý hơn các lợi ích của đất nước và của

doanh nghiệp nước ta Vốn và công nghệ nguồn, công nghệ

tiên tiến sẽ có cơ hội đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn, kích

thích tăng trưởng kinh tế; tạo ra khả năng mở mang một số

ngành hàng và theo đó tạo thêm công ăn việc làm cho người

lao động Đây cũng là cơ sở thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính tốt hơn, đồng bộ hơn, môi trường kinh doanh sẽ ngày càng thuận lợi, hoạt động có hiệu quả hơn

Tuy nhiên, là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé, việc gia nhập WTO cũng đặt nước ta trước những khó khăn, thách thức rất lớn Đó là cạnh tranh về kinh tế sẽ trở nên gay gắt hơn, quyết liệt hơn và diễn ra trên quy mô sâu rộng hơn Nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp, nguy cơ thất nghiệp và nguy cơ phân hóa giàu nghèo sẽ tăng lên nếu chúng ta không có chính sách chuyển dịch nhanh

cơ cấu kinh tế, chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn, không thực hiện tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế

đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội ngay trong từng bước phát triển” Hội nhập kinh tế quốc

tế càng sâu rộng, càng đặt ra nhiều vấn đề mới trong việc bảo

vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Như vậy, việc gia nhập WTO vừa có lợi ích lớn, lại vừa

có những thách thức không nhỏ Thành công nhiều hay ít phụ thuộc rất lớn vào sự nỗ lực chủ quan của chúng ta Nếu chúng

ta không chủ động vươn lên để tận dụng được cơ hội thì lợi ích thu được sẽ rất ít; thậm chí có thể phải đối mặt với sự trừng phạt từ phía các thành viên khác Lịch sử của WTO chỉ

ra rằng có nhiều quốc gia, dù đó là thành viên lâu năm, nhưng tình hình kinh tế - xã hội vẫn không hề được cải thiện vì không

Trang 9

tận dụng được cơ hội để phát triển, tạo ra thế và lực mới để

vượt qua và đẩy lùi thách thức Với sức mạnh đại đoàn kết

toàn dân tộc, với thế và lực mới của đất nước và con người

Việt Nam hiện nay, chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo

của Đảng, nước ta sẽ chủ động vượt qua mọi khó khăn, tận

dụng được các lợi thế của tư cách thành viên WTO, đẩy lùi và

vượt qua được các thách thức, nền kinh tế nước ta sẽ tiến bước

vững chắc về phía trước

Thưa quý vị Đại biểu,

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước,

Xem xét toàn bộ văn kiện gia nhập WTO, mà cụ thể là báo

cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, xét từ

khía cạnh pháp lý của các cam kết cho thấy, chúng ta còn phải

tiếp tục xây dựng, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản qui phạm

pháp luật, cơ chế chính sách, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực

hiện các cam kết mà nước ta chấp nhận trong văn kiện gia nhập

WTO Quốc hội đề nghị Chính phủ, Toà án nhân dân Tối cao

và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, trong phạm vi quyền hạn

của mình, cần tiến hành rà soát các văn bản Luật và Pháp lệnh

hiện hành để kiến nghị với Quốc hội đưa vào chương trình xây

dựng Luật và Pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm kỳ của Quốc

hội khóa XII sắp tới, nhằm sớm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh

bạch cho việc thực hiện các cam kết

Đồng thời, việc tổ chức thực hiện có kết quả trên thực tế

các cam kết đó là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định

Tôi đề nghị Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các vị Đại

biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần có chương trình kế hoạch giám sát việc thực thi pháp luật Đối với bộ máy hành pháp, cần tăng cường năng lực và hiệu lực quản lý; đảm bảo tính công khai, minh bạch; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, có khả năng tác nghiệp thành thạo, có tầm nhìn hệ thống các vấn đề trong nước và quốc tế Đối với bộ máy tư pháp, cần nhanh chóng nâng cao năng lực xét xử, giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài theo luật pháp nước ta và các cam kết quốc tế

Nhân dịp này, Quốc hội kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực phấn đấu, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 10

Phần I

TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN VÀ CAM KẾT

CỦA VIỆT NAM

Trang 11

là: Thứ nhất, các nguyên tắc và hiệp định của WTO, trong đó

có năm nguyên tắc cơ bản là: (i) nguyên tắc minh bạch hóa chính sách, đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất

của WTO và Việt Nam đã phải trả lời 3.316 câu hỏi về vấn đề minh bạch hóa chính sách cho đến khi kết thúc đàm phán; (ii)

nguyên tắc đối xử tối huệ quốc; (iii) nguyên tắc không phân

Trang 12

biệt đối xử; (iv) nguyên tắc đối xử quốc gia; và (v) nguyên tắc

mở cửa thị trường Thứ hai, dựa trên các hiệp định của WTO

Hiện nay WTO có 18 hiệp định chính và rất nhiều hiệp định

khác với tổng số khoảng 3 vạn trang Thứ ba, dựa trên cam kết

của các nước mới gia nhập Theo nguyên tắc của WTO, Việt

Nam sẽ được hưởng thành quả của quá trình mở cửa hàng hóa

dịch vụ từ thời GATT đến nay và đổi lại, các nước mới gia

nhập sẽ đóng góp vào WTO bằng những cam kết liên quan đến

mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ

Bên cạnh đó, đàm phán gia nhập WTO còn dựa trên thái

độ chính trị và yêu cầu đàm phán của các nước thành viên

Trong Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO có 42

nước thành viên, số nước yêu cầu đàm phán song phương với

Việt Nam lúc đầu là 32, sau đó chúng ta vận động hai đối tác

rút lại yêu cầu và thêm hai đối tác khác vì lý do chính trị cũng

không yêu cầu đàm phán Do đó, chúng ta phải đàm phán với

28 đối tác trong WTO Tôi xin nhấn mạnh vấn đề chính trị vì

tuy WTO vẫn duy trì nguyên tắc phi chính trị khi đàm phán,

nhưng trong quá trình đàm phán hầu hết các nước xin gia nhập

đều gặp rắc rối về vấn đề chính trị Ví dụ, trong tháng 10 vừa

qua, khi chúng ta đã gần như hoàn tất toàn bộ quá trình đàm

phán thì có thêm một nước yêu cầu đàm phán song phương

Rất may ông Chủ tịch Ban công tác và ông Giám đốc Vụ kết

nạp đã đối chiếu các quy định của WTO và không cho phép

nước có yêu cầu được quyền đàm phán Trong trường hợp

ngược lại, đàm phán của chúng ta có thể còn kéo dài vì một

nước yêu cầu đàm phán sẽ kéo theo rất nhiều vấn đề khác

2 Một số vấn đề cụ thể trong đàm phán

Quá trình đàm phán bao gồm hai hình thức: đàm phán đa

phương với các đối tác của Ban công tác liên quan đến vấn đề cam kết chính sách vĩ mô; đàm phán song phương liên quan đến mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ Hai hình thức này

được tiến hành song song với nhau

2.1 Đàm phán đa phương

Một trong những rắc rối lớn nhất của Việt Nam trong đàm phán đa phương là chúng ta đã được công nhận là nước đang phát triển theo tiêu chí của Liên hợp quốc, nhưng theo các tiêu chí của WTO thì một nước có thu nhập dưới 1.000 USD/người được coi là nước kém phát triển Vì là nước đang phát triển nên chúng ta không được hưởng những quy định ưu đãi đặc biệt và khác biệt dành cho nước kém phát triển trong WTO Do đó, một trong những nội dung đàm phán tiêu tốn nhiều thời gian là đạt được thoả thuận: (i) đồng ý giữ tên là “đang phát triển”, nhưng đề nghị các nước thừa nhận “ở trình độ thấp”; (ii) đề nghị công nhận nền kinh tế Việt Nam “đang trong quá trình chuyển đổi” Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình đàm phán mà chúng ta phải phấn đấu đạt được vì không có quá trình chuyển đổi nghĩa là chúng ta sẽ phải mở cửa ngay sau khi gia nhập Nếu có quá trình chuyển đổi, chúng

ta sẽ có một lộ trình mở cửa và có thời gian cần thiết cho giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế Cho đến nay, theo các cam

Trang 13

kết cuối cùng thì lộ trình mở cửa đối với thuế là 3-7 năm, đối

với dịch vụ là 1-5 năm, đối với các dự án đầu tư đã cấp phép là

5 năm

Vấn đề minh bạch hóa là một vấn đề hết sức phức tạp, tác

động đến tất cả các Bộ, ngành Do đó, cơ cấu Đoàn đàm phán

của Việt Nam đã bao gồm tất cả các Bộ, ngành, ngoài ra Quốc

hội, Ban Kinh tế Trung ương Đảng có một thành viên tham gia

với mục đích bao quát tất cả các lĩnh vực kinh tế và chính sách

cần sửa đổi, trả lời để làm rõ và xây dựng chương trình pháp

luật Thay mặt cho các cán bộ trong Đoàn đàm phán của Chính

phủ, tôi xin cám ơn Quốc hội trong thời gian qua đã dành sự ưu

tiên to lớn để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật không

chỉ phục vụ cho cải cách hành chính, đổi mới nền kinh tế mà

còn hỗ trợ rất tích cực cho tiến trình đàm phán gia nhập WTO

Các thành viên Ban công tác cũng đánh giá rất cao quyết tâm

của Quốc hội Việt Nam với một chương trình xây dựng pháp

luật quy mô Chúng ta đã đưa ra Ban công tác bao gồm 26 Luật

và Pháp lệnh Đến nay Quốc hội đã sửa và xây dựng xong 25

Luật và Pháp lệnh, hiện chỉ còn Luật Thi hành án sẽ được Quốc

hội thông qua trong thời gian tới Việt Nam là quốc gia đang

phát triển đầu tiên gia nhập WTO với một hệ thống pháp luật

hoàn chỉnh trước khi gia nhập

Trong đàm phán gia nhập WTO, một trong những vấn đề

gay go nhất là trợ cấp Chúng ta phải cam kết xóa bỏ các trợ

cấp mà WTO đã cấm, như trợ cấp liên quan đến tỷ lệ xuất

khẩu, tỷ lệ nội địa hóa, trợ cấp liên quan đến hỗ trợ ngành dệt

may Chúng ta dựa vào quy định thu nhập đầu người của Việt Nam dưới 1.000 USD nên đề nghị giai đoạn chuyển đổi là 5 năm đối với những giấy phép đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đã cấp, kể từ lúc gia nhập Năm 2006, thu nhập theo đầu người của Việt Nam là 630 USD và 5 năm nữa sẽ đạt mức trên 1.000 USD/đầu người, khi đó chúng ta ra khỏi điều kiện nước đang phát triển của WTO và cũng vừa khớp với lộ trình chúng

ta cam kết

Trong phần các hiệp định, một số hoạt động kinh doanh hiện chúng ta đang cấm nhưng không đúng quy định của WTO

sẽ phải cam kết xoá bỏ, ví dụ như cấm nhập khẩu ô tô cũ hiện

đã bãi bỏ, cấm nhập khẩu thuốc lá điếu sẽ bãi bỏ khi gia nhập nhưng chuyển sang thương mại nhà nước và giao cho một công

ty nhập khẩu chứ không mở cửa toàn bộ Chúng ta cũng chấp nhận thực hiện phần lớn các hiệp định của WTO khi gia nhập Ngoài ra, một số nội dung hiện vẫn gây nhiều tranh cãi như yêu cầu về tiêu chuẩn lao động thì đến phút chót, tất cả các thành viên đã đồng ý bãi bỏ Trong quá trình đàm phán, chúng ta vẫn lập luận đó là vấn đề của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và

đề nghị không đưa vào cam kết của Việt Nam Về dệt may, chúng tôi cũng đấu tranh và rất nhiều nước ủng hộ vì Hiệp định ATC đã hết hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 và hầu như các nước đã bãi bỏ, chỉ còn Trung Quốc bị áp dụng đến 2008

Do đó đến phút chót, cả Hoa Kỳ và các nước thành viên đều chấp nhận Việt Nam không phải áp dụng hạn ngạch dệt may

Về địa vị nền kinh tế phi thị trường (non-market

Trang 14

economy), đây cũng là một vấn đề rất nhạy cảm trong đàm

phán đa phương Hiện nay, Việt Nam đã được Hàn Quốc công

nhận là nền kinh tế định hướng thị trường (market-driven

economy); Trung Quốc đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế

thị trường; EU giải quyết theo từng trường hợp cụ thể

(ad-hoc), tức là công nhận theo từng trường hợp Chúng ta đang

đàm phán với EU để được công nhận là nền kinh tế thị trường

Khi đàm phán với Hoa Kỳ thì thời gian để được công nhận là

12 năm, nhưng không có nghĩa là cố định 12 năm vì nếu Việt

Nam phấn đấu sớm, đạt được tiêu chí của nền kinh tế thị

trường thì sẽ được công nhận Hoa Kỳ có sáu tiêu chí, một số

nước có năm tiêu chí và tiêu chí của các nước có nhiều điểm

khác nhau Địa vị của nền kinh tế thị trường sẽ liên quan đến

việc chống bán phá giá và chống trợ cấp Nếu được công nhận

là nền kinh tế thị trường thì khi xảy ra những vụ kiện chống

bán phá giá, các bên sẽ lấy giá thành trong nước để so sánh với

giá xuất khẩu, và nếu không được công nhận sẽ lấy giá nước

thứ ba để so sánh với giá xuất khẩu của chúng ta

Trong quá trình đàm phán, nông nghiệp cũng là một vấn

đề căng thẳng vì tất cả các nước gia nhập trước Việt Nam đều

đã chấp nhận bỏ trợ cấp xuất khẩu trước khi gia nhập WTO

Việt Nam là nước đất chật người đông, bình quân khoảng

700m2 đất canh tác, trong khi đó New Zealand bình quân một

hộ canh tác khoảng hơn 200 hecta Tuy nhiên, có một nghịch

lý là chúng ta có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu xếp hạng

trên thế giới, như cà phê đứng thứ hai, gạo đứng thứ hai, tiêu

đứng số một, điều đứng số hai, chè đứng số tám, thủy sản đứng số bẩy, v.v Do đó, các nước đã ép Việt Nam về vấn đề trợ cấp xuất khẩu và chúng ta đã phải chấp nhận vì theo tiền lệ các nước khác đã chấp nhận

Về trợ cấp trong nước, chúng ta vẫn được hưởng 10% de minimis trợ cấp trong nước Riêng ngành nông nghiệp, thu nhập

bình quân mỗi năm khoảng 11 tỷ USD (năm 2004) và 10% trợ cấp sẽ tương đương 1,1 tỷ USD Việt Nam sẽ bỏ trợ cấp liên quan trực tiếp đến xuất khẩu nhưng sẽ áp dụng trợ cấp trực tiếp cho nông dân, người chế biến và hiện nay chúng ta sử dụng chưa đến 3% con số 1,1 tỷ USD/năm Chúng tôi cho rằng về lâu dài con số này là đủ để bảo vệ ngành nông nghiệp và đây cũng là xu hướng chung của thế giới, theo đó nước càng phát triển càng phải trợ cấp cho nông nghiệp

Liên quan đến hệ thống pháp luật và chính sách có vấn đề minh bạch hóa Thời gian qua chúng ta cũng đã thực hiện khá nghiêm túc, theo đó các văn bản pháp luật phải đăng trên báo hoặc trang web, hoặc những phương tiện thông tin đại chúng

để các doanh nghiệp có thể tham gia góp ý kiến, hoặc chuẩn bị thực hiện

Trong đàm phán đa phương, chúng ta cũng rút kinh

nghiệm từ Trung Quốc và tránh được một số bất lợi: Thứ nhất,

hiện nay Trung Quốc vẫn bị áp dụng hạn ngạch dệt may đến

năm 2008 Thứ hai, các nước có thể áp dụng biện pháp tự vệ

đặc biệt đối với tất cả các mặt hàng của Trung Quốc, nhưng chúng ta không phải chịu điều kiện đó Khi đàm phán, chúng ta

Trang 15

đã thuyết phục rằng Việt Nam là nước nhỏ và hiện nay chỉ

đứng thứ 50 trên thế giới về xuất khẩu, còn Trung Quốc hiện

đã là siêu cường về thương mại Khi gia nhập WTO, Việt Nam

cũng không bị giám sát thực thi cam kết như Trung Quốc Kết

quả này một phần là do Quốc hội đã làm luật rất tích cực và các

nước đã thấy được quyết tâm cao của Quốc hội Việt Nam nên

cuối cùng vấn đề giám sát đã được loại bỏ

2.2 Đàm phán song phương

Về vấn đề thuế, lúc đầu chúng ta đưa ra bản chào thuế rất

cao Sang đến bản chào thứ ba, các nước vẫn chưa chấp nhận

Đến bản chào thứ tư, các nước đã bắt đầu chấp nhận và chúng

ta đã tách thành từng bản chào riêng biệt cho từng nước Trong

bản chào thứ tư, Việt Nam chào khoảng 99% số dòng thuế, gần

bằng số dòng thuế của CEPT/APTA (8 số) nhưng mức chào

thuế trung bình chỉ khoảng 18,7%, mức thuế hiện hành là

17,4% Một số nước đề nghị chấp nhận bản chào thứ tư, nhưng

đa số đề nghị chúng ta lấy mức thuế hiện hành rồi cắt giảm

dần

Do được công nhận là nền kinh tế đang trong quá trình

chuyển đổi nên lộ trình giảm thuế của Việt Nam đối với mặt

hàng dài nhất là 7 năm, trung bình là từ 3 đến 5 năm Mức thuế

cam kết khi gia nhập trung bình khoảng 13,4% trong đó nông

nghiệp xấp xỉ 20 - 21% (theo số liệu cũ của Bộ Tài chính)

Mức thuế hiện hành sẽ giảm dần xuống còn 13,4% và dừng lại

Nếu các nước muốn Việt Nam tiếp tục giảm thuế thì sau này

cần tiếp tục đàm phán tương tự như lộ trình CEPT/APTA theo

lộ trình giảm xuống 0 - 5% là dừng lại

Khi đi vào những mặt hàng cụ thể, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác nhau và một trong những nhóm hàng nhạy cảm và gay go nhất là thịt bò, thịt lợn Mức thuế hiện hành của Việt Nam đối với thịt bò khoảng 20% nhưng một số nước như New Zealand, Hoa Kỳ, Australia, Canada (những nước xuất khẩu thịt

bò lớn nhất thế giới) lại yêu cầu giảm xuống không quá 5% Trong quá trình đàm phán, chúng ta cho rằng với mức thuế không quá 5% thì ngành sản xuất, chế biến thịt bò, thịt lợn của chúng ta sẽ không thể cạnh tranh nên đã kiên trì đấu tranh Cuối cùng, các nước cũng chấp nhận chỉ cắt giảm một mức độ nhất định theo đó thịt bò giảm xuống mức 14%, thịt lợn 15% theo một lộ trình cụ thể Đây có thể coi là mức hợp lý để bảo

vệ sản xuất trong nước Đối với rau, hoa, quả thời gian qua chúng ta vẫn áp dụng mức thuế rất thấp, có sản phẩm chỉ áp dụng 10% - 15% Tuy nhiên, ngành sản xuất rau, hoa, quả của chúng ta sản lượng còn thấp, tham gia vào xuất khẩu chưa cao

Do đó, đối với ngành nông nghiệp, theo đánh giá của các thành viên trong đoàn đàm phán thì cơ bản chúng ta đã đạt được mức cam kết mở cửa nhất định để ngành nông nghiệp có thể ổn định phát triển lâu dài

Đối với lĩnh vực công nghiệp, một số ngành (như ô tô) chúng ta vẫn cố gắng giữ một mức độ bảo hộ cần thiết Hiện nay, thuế ô tô theo lộ trình sẽ tiếp tục giảm xuống mức 70%, một số loại 45%, 52% là mức cuối lộ trình và không phải là

Trang 16

thấp Trong đàm phán thuế quan, có một vấn đề khá căng thẳng

là thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia Các nước đưa ra đề

nghị trong 3 năm tới Việt Nam phải trình Quốc hội hai phương

án thuế áp dụng theo mức tuyệt đối hoặc tương đối và chỉ với

một mức thuế đối với loại rượu trên 20 độ và một mức với bia

các loại Trong thời gian đầu đàm phán, một số nước đề nghị 1

năm, một số nước đề nghị 18 tháng, và chúng ta đề xuất 5 năm

Cam kết cuối cùng của Việt Nam là 3 năm sau khi gia nhập sẽ

áp dụng

Trong nông nghiệp, chúng ta sẽ áp dụng một loại thuế mới

là hạn ngạch thuế quan Trước đây, chúng ta không sử dụng

hạn ngạch thuế quan mà chỉ áp dụng hạn ngạch, tức là biện

pháp định lượng nhập khẩu Việt Nam đã cam kết đưa hạn

ngạch thuế quan áp dụng với bốn nhóm hàng là lá thuốc lá,

đường, trứng gia cầm và muối ăn Đối với đường trắng, mức

thuế hầu như giảm không đáng kể nhưng đối với đường thô

chúng ta sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan 55.000 tấn với mức

thuế khoảng 24 - 25% Như chúng tôi đã làm việc với Hiệp hội

Mía - Đường, mức thuế này sẽ không gây ra tác động quá lớn và

đối với lượng nhập ngoài hạn ngạch, ta có thể áp mức thuế cao

gấp đôi Sở dĩ các nước đồng ý như trên vì trên thế giới vẫn

còn khá nhiều nước áp dụng hạn ngạch thuế quan Ngay như

Hoa Kỳ cũng áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với đường Do

đó, chúng ta có thể áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với một

số mặt hàng cũng là phù hợp với xu hướng chung trong WTO

Tuy nhiên, theo lộ trình của vòng đàm phán Doha, các nước sẽ

dần loại bỏ hạn ngạch thuế quan

Như vậy, trong đàm phán song phương sự phối hợp giữa đàm phán với vận động ngoại giao của chúng ta đã được thực hiện khá tốt Những đoàn công tác của Chính phủ, đoàn cấp cao của Đảng, của Quốc hội đã kết hợp vận động kết thúc đàm phán và đã có những tác động rất tích cực Trong chuyến thăm các nước Mỹ Latin của Chủ tịch nước Trần Đức Lương chúng

ta đã kết thúc đàm phán với ba nước Brazil, Chi-lê, Argentina Những nước này đã kết thúc đàm phán với Nga rất sớm nhưng hiện tại Nga vẫn chưa hoàn tất toàn bộ quá trình đàm phán Nga đã tiến hành 30 phiên đàm phán đa phương trong khi Việt Nam chỉ đàm phán 14 phiên chính thức và bốn, năm phiên không chính thức Chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Phan Văn Khải sang Hoa Kỳ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ; chuyến thăm của Thủ tướng đến Cuba đã giúp đưa Cuba trở thành nước đầu tiên kết thúc đàm phán với Việt Nam Đàm phán với Nhật Bản, Australia, Canada cũng được kết thúc trong những chuyến thăm chính thức như vậy Trong đàm phán song phương, cần

có thiện chí về chính trị, như vậy mới có thể kết thúc được đàm phán Khi chúng ta đàm phán với Hàn Quốc, ban đầu phía bạn yêu cầu Việt Nam cắt giảm 5.000 dòng thuế, nhưng khi đã dàn xếp được về chính trị và khi Tổng thống Hàn Quốc sang thăm Việt Nam với cam kết ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập WTO thì

số dòng thuế phải đàm phán cuối cùng chỉ là 1.000, giảm được 4.000 dòng

Trang 17

Đàm phán về dịch vụ cũng là vấn đề hết sức phức tạp Việt

Nam cam kết mở cửa 11 ngành và khoảng 100 phân ngành

trong tổng số 12 ngành và 155 phân ngành của WTO Như vậy,

diện cam kết của Việt Nam gần bằng Trung Quốc và mức độ

cao thấp phụ thuộc vào từng ngành cụ thể khác nhau Đối với

một số dịch vụ nhạy cảm, chúng ta đã cố gắng bảo lưu mức độ

mở cửa nhất định Thứ nhất, trong dịch vụ bưu chính viễn

thông ta đã cam kết lĩnh vực hạ tầng mạng với mức độ mở cửa

thấp, nhưng đối với dịch vụ giá trị gia tăng mức độ mở cửa cao

hơn Thứ hai, đối với dịch vụ ngân hàng, chúng ta cho phép

thành lập ngân hàng con từ ngày 01 tháng 4 năm 2007 với điều

kiện ngân hàng mẹ phải có vốn 3 tỷ USD trở lên Thời gian vừa

qua chúng ta đã cho phép các ngân hàng nước ngoài được thành

lập chi nhánh, một số ngân hàng hoạt động hiệu quả nhưng

cũng có những ngân hàng sau một thời gian hoạt động không

có hiệu quả đã rút lui khỏi thị trường Việt Nam (như Bank of

America) Nếu các chính sách thu hút đầu tư của ta phù hợp

với chiến lược kinh doanh của các nhà đầu tư thì họ sẽ vào thị

trường Việt Nam và ngược lại Do đó, chúng tôi cho rằng

những nhà đàm phán bao giờ cũng là người “no bụng và đói

con mắt”, nghĩa là họ thường đòi hỏi cả những thứ mà mình

không “ăn” được, còn các doanh nghiệp thì cái gì “ăn” được họ

mới tham gia Đó là sự khác nhau của nhà đàm phán và các

doanh nghiệp

Đối với đối tác nước ngoài, vấn đề được quan tâm nhiều

nhất là mua lại ngân hàng chứ không phải là cam kết cho phép

thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài vì để phát triển mạng lưới hệ thống cho một ngân hàng mới có thể phải mất khoảng 3 - 5 năm Tuy nhiên, nếu mua ngân hàng thì chỉ trong vòng 1 năm có thể phát triển cả một hệ thống mạng lưới tiêu thụ và nhà đầu tư chỉ cần thay đổi đội ngũ quản lý và phương thức làm việc, đầu tư thêm vốn là sẽ có một ngân hàng hoạt động hiệu quả Xu hướng chung trên thế giới cũng là mua, bán công ty Trong quá trình đàm phán, chúng ta đã đưa ra những lập luận thuyết phục các đối tác rằng ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm và Việt Nam hiện là một nước nhỏ, chưa có kinh nghiệm nên trước mắt các ngân hàng nước ngoài chỉ được phép mua lại với mức tối đa 30% tổng số vốn của ngân hàng

Trong thời gian qua, Việt Nam đã mở cửa khá mạnh mẽ quyền kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm Trong các cam kết WTO, chúng ta chỉ mở thêm lĩnh vực được các nước yêu cầu là chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ còn chi nhánh bảo hiểm nhân thọ ta không chấp nhận Đây cũng là lĩnh vực rất nhạy cảm vì bảo hiểm là sử dụng tiền tiết kiệm của dân, nếu thành lập công

ty thì mức độ an toàn cao hơn vì trong trường hợp chi nhánh chúng ta có thể không kiểm soát được khi họ bị phá sản

Một vấn đề nóng bỏng khác trong quá trình đàm phán là việc quản lý bất động sản qua biên giới Việt Nam là nước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên quản lý bất động sản là vấn

đề hết sức rắc rối vì nhiều nguyên nhân do lịch sử để lại Thành viên quan tâm nhất là Thụy Sỹ vì Thụy Sỹ không phân biệt loại tiền và họ quan niệm “tiền là tiền” (money is money) cũng như

Trang 18

không phân biệt tiền sạch hay không sạch (clean/nonclean

money) Tại Thụy Sỹ, bất cứ ai yêu cầu quản lý hộ tài sản đều

sẽ được đáp ứng Chính vì vậy, Thụy Sỹ đã đưa ra những yêu

cầu chặt chẽ về dịch vụ quản lý bất động sản qua biên giới Tuy

nhiên, sau một thời gian thương lượng chúng ta cũng thuyết

phục được họ loại trừ vấn đề quản lý bất động sản qua biên

giới ra khỏi nội dung các cuộc đàm phán

Trong phiên đàm phán cuối cùng, chúng ta đã phải đối

mặt với một vấn đề rất căng thẳng là việc loại trừ MFN trong

vận tải biển Việt Nam đề xuất đưa ra loại trừ vĩnh viễn MFN

trong vận tải biển và được EU đồng ý Tuy nhiên, một số

nước khác đã không đồng ý và đưa ra nhiều yêu cầu khác

nhau trong đàm phán Cuối cùng, các nước cũng chấp nhận

loại trừ MFN vận tải biển trong thời gian 5 năm Trong quá

trình đàm phán, có một nước khá nhỏ và không có biển mà

chúng ta cho rằng sẽ không quan tâm đến nội dung này nhưng

họ đã mua lại một trong năm công ty vận tải đa phương thức

lớn nhất thế giới và đưa ra những yêu cầu đàm phán rất quyết

liệt buộc chúng ta phải kéo dài thêm đàm phán khoảng hai

ngày Tuy nhiên, khi kết thúc đàm phán Việt Nam đã giải

quyết được vấn đề vận tải biển một cách thành công theo đó

vẫn giữ miễn trừ vận tải biển MFN trong thời gian 5 năm

(không loại trừ vĩnh viễn)

Trang 19

CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT

Ngày 07 tháng 11 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Thương mại

Trương Đình Tuyển và Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại

Thế giới (WTO) Pascal Lamy đã ký vào Nghị định thư gia

nhập của Việt Nam kết thúc 11 năm tiến hành hàng loạt các

cuộc đàm phán song phương, đa phương và tham vấn kể từ khi

đệ đơn gia nhập vào năm 1995 Sau khi WTO nhận được thông

báo phê chuẩn của Quốc hội, Việt Nam sẽ trở thành thành viên

đầy đủ của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này

Có thể thấy rằng, việc gia nhập WTO không nằm ngoài xu

hướng chung về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, với

nhiều cơ hội thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế và đời sống

xã hội, bao gồm tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu

cho hàng hóa Việt Nam; góp phần tăng cường thu hút vốn đầu

tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trong

nước v.v Tuy nhiên, trong thời gian tới việc gia nhập WTO cũng sẽ mang lại nhiều thách thức không chỉ đối với cộng đồng doanh nghiệp mà còn đối với cả công tác hoạch định chính sách và quản lý Nhà nước

Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, thực hiện vai trò là cơ quan hoạch định chính sách và quản lý Nhà nước về mặt tài chính, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về các nội dung liên quan đến đàm phán về thuế nhập khẩu, mở cửa thị trường

về dịch vụ tài chính (bảo hiểm, chứng khoán) và dịch vụ kế toán - kiểm toán và tư vấn thuế; và một số nội dung đàm phán

đa phương liên quan đến nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) và đối

xử quốc gia (NT) bao gồm phí, lệ phí, chính sách giá, phương pháp xác định trị giá hải quan, kiểm định hàng hóa trước khi xuống tàu, các vấn đề liên quan về trợ cấp, các biện pháp đầu

tư liên quan đến thương mại, về thuế xuất khẩu

1 Tổng hợp các cam kết WTO liên quan đến hệ thống thuế và dịch vụ tài chính

1.1 Cam kết về thuế nhập khẩu và xuất khẩu

Về thuế nhập khẩu, tổng hợp chung toàn bộ các cam kết về thuế quan của Việt Nam trong WTO như được thể hiện trong Biểu cam kết về Hàng hóa của Việt Nam, có thể rút ra một số nét lớn như sau:

 Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hành gồm 10.600 dòng thuế Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức thuế bình

Trang 20

quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4%

xuống còn 13,4%) Thời gian thực hiện sau 5 - 7 năm

 Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế

với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu

thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng

(chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức

thuế trần - tức là cam kết ở mức cao hơn mức thuế suất hiện

hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế),

chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hóa

chất, một số phương tiện vận tải

 Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%,

30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập Những nhóm

mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt

may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy

móc thiết bị điện - điện tử

 Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân

là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21% sẽ là mức cắt giảm

cuối cùng So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh

vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là

10% Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan

đối với bốn mặt hàng, gồm: trứng, đường, lá thuốc lá, muối

Đối với bốn mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương

đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%,

đường tinh 50-60%, lá thuốc lá: 30%, muối ăn 30%), thấp hơn

nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch

 Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân

vào thời điểm gia nhập là 16,1%, và mức cắt giảm cuối cùng sẽ

là 12,6% So sánh với mức thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23,9%

 Các mức cắt giảm này có thể so sánh tương ứng với các mức cắt giảm trung bình của các nước đang phát triển và đã phát triển trong vòng đàm phán Uruguay (1994) như sau: trong lĩnh vực nông nghiệp các nước đang phát triển và đã phát triển cam kết cắt giảm là 30% và 40%; với hàng công nghiệp tương ứng là 24%

và 37%; Trung Quốc trong đàm phán gia nhập của mình cam kết cắt giảm khoảng 45% thuế nhập khẩu (từ 17,5% xuống 10%)

 Mức độ cam kết và cắt giảm thuế của Việt Nam tổng hợp theo một số nhóm ngành hàng và nhóm mặt hàng chính với thời gian thực hiện được cụ thể hóa trong các bảng dưới đây:

Bảng 1 Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính

Nhóm mặt hàng

Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập WTO (%)

Thuế suất cam kết cắt giảm cuối cùng cho WTO (%)

Trang 21

Nhóm mặt hàng

Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập WTO (%)

Thuế suất cam kết cắt giảm cuối cùng cho WTO (%)

10 Máy móc thiết bị cơ khí 9,2 7,3

N (%)

Cam kết với WTO Thuế

suất khi gia nhập (%)

Thuế suất cuối cùng (%)

Thời hạn thực hiện

N (%)

Cam kết với WTO Thu ế

suất khi gia nhập (%)

Thuế suất cuối cùng (%)

Thời hạn thực hiện

- Bánh kẹo (thuế suất bình quân) 39,3 34,4 25,3 3-5 năm

- Phân hóa học (thuế

- Giấy (thuế suất bình

Trang 22

Thu

ế suất MF

N (%)

Cam kết với WTO Thuế

suất khi gia nhập (%)

Thuế suất cuối cùng (%)

Thời hạn thực hiện

- Dệt may (thuế suất

Thực hiện ngay khi gia nhập (theo Hiệp định dệt may đã

có với EU, Hoa Kỳ)

N (%)

Cam kết với WTO Thu ế

suất khi gia nhập (%)

Thuế suất cuối cùng (%)

Thời hạn thực hiện

+ Loại khác, có thuế suất hiện hành 80% 80 80 70 7 năm + Loại khác, có thuế

suất hiện hành 60% 60 60 50 5 năm

- Phụ tùng ô tô 20,9 24,3 20,5 3-5 năm

- Xe máy + Loại từ 800 cc trở

Như tất cả các nước mới gia nhập khác, Việt Nam cũng cam kết tham gia vào một số Hiệp định tự do hóa theo ngành Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng Thời gian để thực hiện cam kết giảm thuế là từ 3-5 năm Trong các Hiệp định trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm Như vậy, các sản phẩm điện tử như: máy tính, điện thoại

di động, máy ghi hình, máy ảnh kỹ thuật số, v.v sẽ đều có thuế suất 0%, thực hiện sau 3 - 5 năm, tối đa là sau 7 năm Việc tham gia Hiệp định dệt may (thực hiện đa phương hóa mức

Trang 23

thuế đã cam kết theo các Hiệp định dệt may với EU, Hoa Kỳ)

cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt hàng này: vải

từ 40% xuống 12%, quần áo từ 50% xuống 20%, sợi từ 20%

xuống 5% Bảng 3 dưới đây sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam

kết theo các hiệp định tự do hóa theo ngành của Việt Nam

Thuế suất MFN (%)

Thuế suất cam kết cuối cùng (%)

1 Hiệp định công nghệ thông

2 Hiệp định hài hòa hóa chất

CH- tham gia 81%

1.300 1.600 6,8% 4,4%

-3 Hiệp định thiết bị máy bay

dân dụng CA- tham gia hầu

Ngoài ra, tham gia không đầy đủ một số Hiệp định khác

như thiết bị khoa học, thiết bị xây dựng, v.v…

Đối với thuế xuất khẩu, WTO không có nội dung nào yêu

cầu cam kết về thuế xuất khẩu Tuy nhiên, một số thành viên (chủ yếu là các nước đã phát triển như: Hoa Kỳ, Australia, Canada và EU) yêu cầu cắt giảm tất cả thuế xuất khẩu đặc biệt đối với phế liệu kim loại màu và kim loại đen vào thời điểm gia nhập với lý do đây là một hình thức nhằm hạn chế thương mại, gây nên tình trạng khan hiếm nguyên liệu, làm đẩy giá trên thị trường thế giới và trợ cấp cho doanh nghiệp trong nước sử dụng các mặt hàng này

Cam kết của Việt Nam hiện nay là sẽ giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen từ 35% xuống 17% trong 5 năm; giảm thuế phế liệu kim loại màu từ 45% xuống 22% trong 5 năm Không cam kết ràng buộc về thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng khác

1.2 Thuế nội địa

WTO yêu cầu phải xóa bỏ các quy định phân biệt đối xử hoặc sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu Về nguyên tắc, WTO không yêu cầu phải đưa ra mức thuế hay cách tính thuế cụ thể Tuy nhiên, chính sách thuế nội địa phải bảo đảm minh bạch và tránh tình trạng chính sách có khoảng trống có thể bị lợi dụng

Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia, Việt Nam

cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập WTO, tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở lên sẽ chịu một mức thuế tuyệt đối tính theo lít của rượu cồn nguyên

Trang 24

chất hoặc một mức thuế phần trăm Đối với bia, trong vòng 3

năm kể từ khi gia nhập WTO sẽ áp dụng một mức thuế suất

phần trăm chung đối với bia, không phân biệt hình thức đóng

gói, bao bì

1.3 Cam kết về các dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính

Dịch vụ bảo hiểm, cho phép thành lập công ty bảo hiểm

100% vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) kể từ khi gia nhập và

không bị hạn chế về số lượng chi nhánh trong nước, phạm vi

cung cấp dịch vụ và bỏ quy định tái bảo hiểm 20% cho Vinare;

cho phép công ty bảo hiểm có vốn ĐTNN được cung cấp dịch

vụ bảo hiểm bắt buộc từ ngày 01 tháng 01 năm 2008; cho phép

thành lập chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài sau 5

năm đối với dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ

Dịch vụ chứng khoán, cho phép thành lập văn phòng đại

diện và liên doanh đến 49% vốn ĐTNN từ thời điểm gia nhập;

cho phép thành lập công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán

100% vốn ĐTNN sau 5 năm kể từ khi gia nhập và cho phép

thành lập chi nhánh của công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán

nước ngoài sau 5 năm đối với một số loại hình: quản lý tài sản,

thanh toán, tư vấn liên quan đến chứng khoán và cung cấp, trao

đổi thông tin tài chính

2 Tác động của các cam kết gia nhập WTO trong

lĩnh vực thuế và các dịch vụ tài chính

2.1 Tác động của việc giảm thuế nhập khẩu

Việc giảm thuế sẽ khiến một số ngành sản xuất của ta phải chịu sự cạnh tranh lớn hơn Việc giảm thuế trong khuôn khổ WTO cần được xem xét trong tổng thể với việc giảm thuế cho hàng hóa của Trung Quốc trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch

tự do ASEAN - Trung Quốc, Hàn Quốc và với các nước khác như Nhật Bản, ấn Độ, v.v (đang trong quá trình đàm phán) Thêm nữa, kim ngạch nhập khẩu thực tế chịu ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế chỉ chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm Nhìn chung, mức độ bảo hộ theo kết quả đàm phán tuy có giảm nhưng là giảm hợp lý, bảo đảm mức độ bảo

hộ tương đối đồng đều giữa các ngành, giảm bớt mức độ bảo

hộ ở một số ngành hiện đang được bảo hộ quá mức cần thiết, qua đó góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả

và sức cạnh tranh Sản xuất hàng xuất khẩu cũng sẽ được lợi bởi tiếp cận được các yếu tố đầu vào với chi phí rẻ

Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết gia nhập WTO (cũng như việc tham gia các khu vực mậu dịch tự do) sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi số thu thuế nhập khẩu của Việt Nam vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN Theo ước tính sơ bộ, tác động trực tiếp về cắt giảm thuế suất sẽ làm số thu giảm khoảng 10% tổng số thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu (cũng có một số báo cáo nghiên cứu chỉ ra rằng có khả năng tăng thu ngân sách do tác động hội nhập bởi tăng kim ngạch thương mại và tăng trưởng kinh tế) Tuy nhiên, tác động gián tiếp của việc gia nhập WTO nói riêng

Trang 25

và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung có thể sẽ tác động lớn

đến tính ổn định và bền vững của thu ngân sách trong thời gian

tới, đặc biệt là về cơ cấu thu ngân sách Số thu từ khu vực kinh

tế trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nuớc (DNNN), có

thể bị ảnh hưởng lớn trước tác động của cạnh tranh quốc tế

cũng như quá trình cải cách DNNN Cơ cấu thu ngân sách sẽ

có những biến đổi đáng kể, một mặt do sự biến động trong

nguồn thu nói trên, mặt khác do cải cách sẽ được thực hiện

trong hệ thống chính sách thuế Đồng thời sự chuyển dịch cơ

cấu kinh tế và những thay đổi của thị trường trong điều kiện

hội nhập cũng sẽ làm thay đổi nguồn thu giữa các địa phương,

các khu vực kinh tế, giữa các lĩnh vực hoạt động, từ đó có

những tác động lớn đến sự biến động của nguồn thu và cơ cấu

thu ngân sách

Hàng rào bảo hộ bị thu hẹp, sản xuất trong nước sẽ phải

đối diện với mức độ cạnh tranh lớn hơn từ bên ngoài Không

loại trừ khả năng sẽ có biến động cục bộ ở một số ngành, nhất

là những ngành mà tính linh hoạt trong chuyển đổi không cao

Điều này đòi hỏi ta phải khẩn trương hoàn thiện các công cụ về

tự vệ được WTO cho phép, hoàn thiện cơ chế thông tin và cảnh

báo để chủ động hơn trong việc đối phó với các biến động trên

thị trường thế giới và trong nước, đặc biệt là đối với các mặt

hàng cơ bản/nhạy cảm với nền kinh tế như nông sản, sắt thép,

v.v

Về tác động xã hội, trong đó có việc làm, dự kiến sẽ không

có biến động lớn Tuy nhiên, ngân sách cũng cần có các khoản

dự phòng cho vấn đề này để chủ động xử lý kịp thời các biến động tiêu cực, nếu có, trong quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói chung và cam kết về giảm thuế nói riêng Như

đã trình bày, các biến động này, nếu có, sẽ chủ yếu mang tính ngắn hạn bởi với việc mở cửa thị trường, thúc đẩy nâng cao sức cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài, ta sẽ có cơ hội tạo ra nhiều công ăn, việc làm mới

Để có thể đánh giá đúng mức tác động của việc thực hiện cam kết giảm thuế nhập khẩu trong WTO đối với các ngành sản xuất trong nước, cần phải tổ chức nghiên cứu bài bản từ đó mới có thể đưa ra các giải pháp cụ thể và kịp thời

2.2 Đối với dịch vụ tài chính

2.2.1 Dịch vụ bảo hiểm

Đây là dịch vụ mà các Thành viên WTO quan tâm và yêu cầu cao về mức độ mở cửa thị trường cho các công ty bảo hiểm nước ngoài Tuy nhiên, mức cam kết của ta đạt được trong Biểu cam kết là chặt chẽ, thấp hơn nhiều so với mức cam kết của các nước mới gia nhập WTO gần đây Về tổng thể, mức cam kết như trên là tương đương với mức độ mở cửa trong hiệp định song phương Việt Nam - Hoa Kỳ Điểm khác duy nhất là ta mở thêm cho chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ, trên

cơ sở cân nhắc khả năng quản lý, giám sát, mức độ ảnh hưởng đối với nền kinh tế và đặc biệt là yêu cầu đảm bảo quyền lợi của người mua bảo hiểm giữa bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ Cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm trong nước thời gian

Trang 26

tới sẽ sôi động hơn và sẽ có tác dụng thúc đẩy thị trường bảo

hiểm phát triển Trên thực tế thị trường bảo hiểm đã bắt đầu

được mở cửa cho các công ty bảo hiểm quốc tế 100% vốn

ĐTNN từ năm 1999 Nhiều công ty bảo hiểm lớn trên thế giới

đều đã có mặt tại thị trường Việt Nam Việc phát triển thị

trường bảo hiểm là yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội, bảo

hiểm là dịch vụ cơ bản rất cần thiết cho hoạt động đầu tư và

thương mại

Thị trường bảo hiểm phát triển góp phần đáng kể cho việc

phát triển thị trường vốn trong nước Các doanh nghiệp bảo

hiểm có thể trở thành các định chế tài chính trung gian hữu

hiệu, có chức năng chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi ngắn hạn

trong xã hội thành các nguồn đầu tư dài hạn

*/ Về tác động của cam kết đối với hoạt động của thị

trường, theo đánh giá sơ bộ việc mở cửa thị trường theo các

cam kết WTO về cơ bản sẽ có tác động tích cực đối với cạnh

tranh, thúc đẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam

nói chung và bản thân các công ty bảo hiểm trong nước, thể

hiện qua các điểm như:

 Việc tham gia thị trường của những công ty bảo hiểm

mới, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nước ngoài sẽ đa dạng

hóa và khiến thị trường sôi động hơn Sự tham gia của công ty

có vốn đầu tư nước ngoài góp phần thức tỉnh các doanh nghiệp

bảo hiểm trong nước; đồng thời, phá vỡ thế độc quyền bằng

việc gia tăng nhanh chóng số lượng nhà cung cấp dịch vụ, đẩy

thị trường bảo hiểm tiến gần hơn đến một thị trường cạnh

tranh lành mạnh; kích thích việc mở rộng danh mục sản phẩm, giúp ngành bảo hiểm thực hiện tốt hơn chức năng huy động vốn và bảo vệ các đối tượng trong nền kinh tế trước rủi ro

 Mở cửa thị trường tạo điều kiện tăng cường trao đổi kiến thức và kỹ năng chuyên ngành, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm trong nước Các công

ty bảo hiểm trong nước có điều kiện tiếp thu ở một mức độ nhất định những kiến thức và kỹ năng chuyên ngành của các công ty bảo hiểm nước ngoài Bên cạnh đó, sức ép cạnh tranh lớn hơn buộc các công ty bảo hiểm trong nước phải chủ động điều chỉnh mô hình và chính sách quản lý, đào tạo nhân viên, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo được lợi thế với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài

Tuy nhiên, việc tham gia của các công ty nước ngoài vào thị trường bảo hiểm cũng có những tác động bất lợi đối với công ty bảo hiểm trong nước và khả năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, thể hiện rõ nét ở những điểm sau:

 Các công ty trong nước bị chia sẻ thị trường là tác động rõ ràng nhất ở mọi nước bắt đầu tiến hành mở cửa thị trường (mặc dù thị trường bị thu hẹp nhưng các doanh nghiệp

đều đạt tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm cao)

 Biến động về nhân sự giữa các công ty bảo hiểm Một

thực tế đã diễn ra khi sự gia tăng của số lượng doanh nghiệp bảo hiểm nhanh hơn gia tăng nguồn nhân lực trong ngành đã dẫn đến sự di chuyển nhân sự giữa các công ty bảo hiểm Do

đó, nếu các công ty bảo hiểm trong nước không có những điều

Trang 27

chỉnh liên quan đến chính sách nhân sự trong thời gian tới sẽ bị

mất lợi thế quan trọng trước các công ty 100% vốn nước ngoài

hoặc liên doanh

 Thị trường phát triển nhanh về qui mô, đa dạng về sản

phẩm là sức ép đối với các nhà quản lý trong lĩnh vực này, bao

gồm yêu cầu phải đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng; khả

năng giải quyết tranh chấp ; thị trường bị chia cắt manh mún và

vấn đề rất quan trọng là ngăn ngừa rủi ro mang tính hệ thống

*/ Về khuôn khổ pháp luật và công tác quản lý Nhà nước,

các quy định điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện

hành về cơ bản đã khá hoàn chỉnh, đảm bảo cơ sở pháp lý cho

việc thực hiện hầu hết các cam kết trong lĩnh vực này Tuy

nhiên, để triển khai thực hiện một số các cam kết còn lại và

đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường, một số

yêu cầu đặt ra về hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp luật,

bao gồm:

 Để thực hiện các cam kết, bổ sung các quy định về chi

nhánh trực tiếp của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, bãi

bỏ các qui định mang tính bảo hộ các doanh nghiệp trong nước

về địa bàn hoạt động, đối tượng khách hàng, các loại hình

nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc, tái bảo hiểm bắt buộc; hoàn thiện

các điều kiện, tiêu chuẩn cấp phép minh bạch, thận trọng thay

thế cho cơ chế cấp phép theo từng trường hợp cụ thể

 Bổ sung, sửa đổi một số qui định nhằm tăng khả năng

giám sát tài chính của các công ty bảo hiểm bao gồm vốn pháp

định, biên khả năng thanh toán, hoạt động tài chính của các

doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục tiêu lựa chọn được các nhà đầu tư có năng lực tài chính, cam kết lâu dài đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO Các qui định này giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản trị điều hành, phát hiện sớm các rủi ro đồng thời hỗ trợ cho công tác quản lý giám sát của các cơ quan chức năng

 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đảm bảo sự lành mạnh của thị trường, bao gồm các quy định bảo vệ người

tiêu dùng như hoàn thiện các quy định về nội dung và phương thức giao kết hợp đồng bảo hiểm nhằm đảm bảo tính an toàn của giao dịch cho cả người mua lẫn công ty bảo hiểm và các đối tượng liên quan (đại lý, môi giới bảo hiểm); cần có các quy định cụ thể và đặc thù hơn điều chỉnh hoạt động cạnh tranh đảm bảo cạnh tranh công bằng và lành mạnh trên thị trường ngành bảo hiểm, bởi đây là một ngành rất đặc thù và nhạy cảm

2.2.2 Dịch vụ chứng khoán

Đây là ngành dịch vụ mới chỉ bắt đầu được hình thành ở Việt Nam nhưng nhiều thành viên WTO, nhất là các thành viên có hệ thống tài chính phát triển quan tâm và đặt yêu cầu cao về mức độ mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch

vụ chứng khoán nước ngoài Cam kết của ta trong BTA trước đây hầu như chưa đáng kể và chưa bao quát hết các yếu tố của thị trường dịch vụ chứng khoán, do trên thực tế vào thời

Trang 28

điểm đó thị trường chứng khoán chưa được hình thành Đánh

giá tác động của các cam kết này đối cụ thể như sau:

Đối với hoạt động của thị trường cung cấp dịch vụ chứng

khoán, với mức độ tự do hóa thị trường theo cam kết WTO, dự

đoán sẽ có nhiều tác động tới hoạt động cung cấp dịch vụ

chứng khoán nói chung và các công ty chứng khoán trong nước

nói riêng, cụ thể:

Sự tham gia thị trường của các công ty chứng khoán, công

ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài và các chi nhánh sẽ

làm thị trường sôi động hơn Số liệu thực tế cho thấy quy mô

của thị trường chứng khoán Việt Nam có tốc độ phát triển cao

trong khu vực Đến cuối tháng 10 năm 2006, đã có 53 công ty

niêm yết và 16 công ty đăng ký giao dịch với giá trị vốn hóa thị

trường lên đến 4,2 tỷ USD (khoảng 8,1% GDP của Việt Nam

năm 2005) so với mức 16,8 triệu USD khi mới thành lập

(2000) Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu duy trì phát triển

thị trường chứng khoán với tốc độ cao và giá trị vốn hóa thị

trường đến năm 2010 đạt con số từ 10-15% GDP (khoảng từ

10-15 tỷ USD) Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nhận định mục

tiêu 15% GDP về tỷ lệ vốn hóa sẽ đạt được trong năm 2007 sau

khi Việt Nam gia nhập WTO

Như vậy, cùng với mức độ mở cửa cao theo cam kết

WTO, quá trình tự do hóa tài chính và tăng trưởng về quy mô

của thị trường, sẽ có ngày càng nhiều các công ty nước ngoài

tham gia vào hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán tại Việt

Nam

Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO các công ty chứng khoán trong nước còn non trẻ cả về nghiệp vụ chứng khoán, kinh nghiệm, khả năng cạnh tranh chưa được kiểm chứng và tiềm lực tài chính hạn chế sẽ phải đối đầu với thách thức rất lớn từ các công ty chứng khoán nước ngoài và chi nhánh công

ty chứng khoán nước ngoài Đánh giá thực trạng năng lực cạnh

tranh của công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán trong nước cụ thể như sau:

 Tiềm lực tài chính, quy mô và khả năng bổ sung tài chính của các công ty chứng khoán trong nước còn hạn chế Đây là một thách thức không nhỏ đối với các công ty chứng khoán trong nước khi các công ty nước ngoài có tiềm tăng vốn lớn và linh hoạt thâm nhập thị trường Việt Nam

 Nghiệp vụ chứng khoán của các công ty chứng khoán trong nước vẫn còn hạn chế hoạt động chủ yếu tập trung vào dịch vụ tư vấn đầu tư, tài chính và môi giới chứng khoán mà chưa triển khai được nhiều các dịch vụ có yêu cầu cao về chuyên môn nghiệp vụ hoặc phải có tiềm lực về vốn như quản

lý danh mục đầu tư và bảo lãnh phát hành

 Chất lượng nguồn nhân lực chưa đạt yêu cầu, qui định

về đạo đức nghề nghiệp chưa được xác lập rõ ràng Năng lực của đội ngũ cán bộ hành nghề chứng khoán chưa có nhiều kinh nghiệm

Về khuôn khổ pháp luật và công tác quản lý Nhà nước,

nhìn chung, các cam kết về chứng khoán là phù hợp với Luật Chứng khoán mới được ban hành và định hướng phát triển

Trang 29

của Chính phủ trong lĩnh vực này Để thực thi hiệu quả các

cam kết đã đưa ra, trong thời gian tới Chính phủ sẽ tiếp tục

xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán

trong đó đặc biệt chú trọng đến các nội dung hướng dẫn cụ

thể về việc tham gia của bên nước ngoài như thành lập công

ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và chi nhánh

Ngoài ra, để đảm bảo thị trường chứng khoán nói chung và

hoạt động kinh doanh dịch vụ chứng khoán nói riêng phát triển

bền vững, cần phải tập trung vào thúc đẩy sự phát triển hàng

hóa cho thị trường (trái phiếu, cổ phiếu và các sản phẩm mới);

hoàn thiện cơ cấu và tổ chức của thị trường, bao gồm thị

trường sơ cấp và thứ cấp, thị trường tập trung và phi tập trung;

tạo điều kiện, cơ sở cho sự phát triển các tổ chức kinh doanh,

dịch vụ chứng khoán

Trên đây là tổng hợp cam kết WTO của Việt Nam và một

số đánh giá sơ bộ về tác động đối với hệ thống thuế và dịch vụ

tài chính Nhận xét tổng quan về cơ bản các cam kết có tác

động tích cực tới hệ thống thuế như góp phần tăng cường tính

đồng bộ, công bằng, hiệu quả, minh bạch và công khai và hiện

đại hóa hệ thống chính sách thuế, trong khi đó tác động tiêu

cực tới nguồn thu ngân sách chỉ mang tính tạm thời

Đối với các dịch vụ tài chính (bảo hiểm và chứng

khoán), thực hiện cam kết cũng tạo điều kiện hoàn thiện hệ

thống khuôn khổ pháp lý và lành mạnh hóa hoạt động của thị

trường Đối với các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán

trong nước, mở cửa thị trường sẽ tạo ra các thách thức về

cạnh tranh đối với các công ty nước ngoài có tiềm năng về vốn, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng quản lý Tuy nhiên, những thách thức này lại có ý nghĩa tích cực thúc đẩy các công ty trong nước tự điều chỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 30

CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG

Gia nhập WTO thực sự là một dấu mốc quan trọng trong

lịch sử Việt Nam Đây là kết quả của chính sách đổi mới mở

cửa nền kinh tế cũng như quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế

tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Việt

Nam đã gửi một thông điệp đến thế giới rằng kể từ nay, mọi

giao dịch thương mại của Việt Nam sẽ tuân thủ những quy tắc

và luật chơi quốc tế cụ thể

Từ kinh nghiệm của nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước

đây cho thấy việc Việt Nam quyết định chuyển đổi và cải

cách nền kinh tế là hoàn toàn đúng đắn vì thực tế đã chứng

minh cơ chế tập trung bao cấp đi liền với sự cô lập về kinh

tế, chính trị cũng như sự lạc hậu về kinh tế và đói nghèo triền miên Hơn nữa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thông qua thiết chế WTO cho phép Việt Nam hưởng lợi từ một khuôn khổ pháp lý và các chính sách thương mại ổn định, tạo điều kiện tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực bên trong và bên ngoài Những thành tựu ban đầu của chính sách đổi mới cho thấy hội nhập kinh tế là công cụ hữu hiệu để thúc đẩy phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo

2 Giá trị của tư cách thành viên WTO

Trong thời điểm hiện tại có nhiều người đặt câu hỏi “lợi ích của việc gia nhập WTO là gì?” Những ai đang chờ đợi một câu trả lời cụ thể và được định lượng rõ ràng sẽ thất vọng vì chúng ta không thể quy đổi ngay giá trị của tư cách thành viên WTO ra USD hay Euro hoặc các lợi ích cụ thể khác Lợi ích từ

tư cách thành viên WTO sẽ rất lớn và có thể đo lường được sau một thời gian nhất định

Chúng ta không nên hy vọng khi gia nhập WTO sẽ có những thay đổi tức thời về các điều kiện gia nhập thị trường ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt như dệt may sẽ vẫn tương

tự như trước khi gia nhập WTO và dựa trên cơ sở các hiệp định song phương đã ký kết Quá trình đàm phán không đề cập đến việc cải thiện điều kiện gia nhập thị trường các nước cho hàng hóa và dịch vụ Việt Nam mà ngược lại, đó là quá trình thương thuyết nhằm xác định mức giá Việt Nam phải trả về mặt mở cửa thị trường nội địa, để đổi lấy việc được tham gia vào quá

Trang 31

trình tự do hóa thị trường toàn cầu cũng như khuôn khổ pháp

luật thương mại đa phương đã được các thành viên WTO liên

tục đàm phán kể từ năm 1948

Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng có thể mang lại những tác

động tức thời vì doanh nghiệp nước ngoài sẽ có động lực hơn

để đầu tư vào Việt Nam với một môi trường kinh doanh ổn

định và minh bạch hơn Các bạn cần tiếp tục đàm phán và tham

gia vào các diễn đàn quốc tế để có được mức độ mở cửa cao

hơn của thị trường các nước cho hàng hóa, dịch vụ Việt Nam

Tư cách thành viên WTO sẽ cải thiện quan hệ của Chính phủ

Việt Nam với Chính phủ các nước thành viên vì đàm phán

song phương cũng như khu vực sẽ thuận lợi hơn khi các thiết

chế thương mại được hình thành và hoạt động theo các luật

chơi chung đã thống nhất trong WTO

3 Gia nhập WTO không đảm bảo chắc chắn cho phát

triển kinh tế

Giờ đây khi đã mua được tấm vé gia nhập câu lạc bộ

WTO, Việt Nam sẽ được hưởng những quyền và nghĩa vụ bình

đẳng với các thành viên khác Thành công hay thất bại chỉ phụ

thuộc vào chính Việt Nam vì nếu Việt Nam không thực hiện

các cam kết của mình thì lợi ích thu được sẽ không đáng kể do

không có sự hợp tác chặt chẽ của các nước thành viên, thậm

chí phải đối mặt với sự trừng phạt Nếu Chính phủ và các

doanh nghiệp không tận dụng những cơ hội có được từ địa vị

thành viên WTO thì các bạn sẽ không có được những lợi ích

như đã mong đợi Lịch sử phát triển của WTO cho thấy một số

quốc gia tuy là thành viên lâu năm nhưng tình hình kinh tế - xã hội không hề được cải thiện do sự tham gia nửa vời đã không mang lại kết quả mong muốn cho các quốc gia đó

Gia nhập WTO có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam vì các nguyên tắc của WTO sẽ đưa ra định hướng rõ ràng hơn cho công cuộc cải cách kinh tế tại Việt Nam Các biện pháp cải cách theo đúng với tinh thần và tôn chỉ của WTO sẽ đem lại lợi ích cho Việt Nam vì vốn đầu tư nước ngoài sẽ đổ vào nhiều hơn, khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài cũng tăng lên và chúng ta sẽ chứng kiến sự tăng trưởng chưa từng thấy tại Việt Nam

4 GATT/WTO được thiết kế cho các nền kinh tế thị trường

Lịch sử gần 60 năm tồn tại và phát triển của GATT/ WTO cho thấy chỉ những nước có nền kinh tế thị trường mới có thể vươn lên thành những nước đứng đầu trong câu lạc bộ kinh tế WTO Một đặc điểm đặc thù của GATT/WTO là trong các văn kiện chính thức, vì những lý do lịch sử, không có cụm từ nào đề cập nhu cầu (need) hay nghĩa vụ (obligation) phải chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hay sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu được ưa chuộng hơn Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ các quy tắc của WTO chúng ta sẽ thấy hoạt động của WTO dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi đối tác tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế phải là những thực thể kinh tế độc lập

và mọi quyết định đưa ra phải độc lập với ý muốn của Nhà nước và chỉ dựa trên lợi ích kinh tế Nguyên tắc này đặt ra vấn

Trang 32

đề cần thiết kế một số quy chế đặc biệt cho những thành viên

không tuân thủ những quy tắc chung của WTO Do đó, doanh

nghiệp Nhà nước tại những thành viên có sở hữu Nhà nước làm

chủ đạo phải chịu sự giám sát đặc biệt khi gia nhập WTO

5 Sự tham gia của các nước xã hội chủ nghĩa có nền

kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong thiết chế GATT/WTO

Khi còn hoạt động theo GATT, một số nước xã hội chủ

nghĩa trước đây cũng đã được kết nạp vào câu lạc bộ kinh tế

này, chủ yếu vì những lý do chính trị Ba Lan và Rumani được

kết nạp khi vẫn đang là những nước kinh tế kế hoạch xã hội

chủ nghĩa Tuy nhiên, hai nước này đã phải trả giá khá cao do

Ba Lan và Rumani lúc đó chưa có hệ thống thuế quan được

tính toán trên các cân đối kinh tế nên cái giá của chiếc vé vào

GATT là chấp nhận sự gia tăng nhập khẩu từ các nước đối tác

và tuân thủ các quy tắc đặc biệt trong một số lĩnh vực

Hungary chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường từ năm

1966 và gia nhập GATT năm 1973 dựa trên những cam kết

thuế quan Tuy nhiên, tương tự như Ba Lan và Rumani,

Hungary cũng phải chấp nhận bị áp dụng các biện pháp tự vệ,

đối kháng và chống bán phá giá theo những quy tắc rối rắm và

phức tạp của GATT vì các mức giá nội địa tại những nước này

đã bị bóp méo và không được sử dụng khi xem xét đưa ra các

chế tài về thương mại Thay vào đó, mức giá tại một nước thứ

ba hoặc mức giá được tính toán theo những phương pháp xác

định sẽ được sử dụng Ngoài ra, nhập khẩu từ các nền kinh tế

xã hội chủ nghĩa phi thị trường sẽ bị áp dụng biện pháp hạn chế

số lượng nằm ngoài các nguyên tắc của GATT và các thủ tục

để giám sát mức độ phát triển thương mại tại những nước này Địa vị nền kinh tế phi thị trường của một số nước Trung Âu đã tồn tại đến đầu những năm 1990 khi các nước thực hiện cuộc cải cách toàn diện về thể chế, kinh tế, chính trị làm cho nội dung các nghị định thư gia nhập trước đó trở nên lỗi thời

6 Trung Quốc với địa vị nền kinh tế phi thị trường trong WTO

Trung Quốc gia nhập WTO (năm 2001) với những điều kiện tương tự như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây tham gia vào GATT Do bị coi là nền kinh tế phi thị trường nên trong nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc có quy định một số nghĩa vụ khá phức tạp trong những lĩnh vực sau:

6.1 Việc tính giá tương đương khi xác định trợ cấp và bán phá giá

Theo Hiệp định Chống bán phá giá của WTO, quốc gia nhập khẩu có thể sử dụng giá tại Trung Quốc hoặc chi phí sản xuất được điều tra hoặc áp dụng phương pháp tính không so sánh với mức giá hay chi phí tại Trung Quốc Nếu các nhà sản xuất đang bị điều tra chứng minh cơ chế thị trường đang được

áp dụng trong ngành mình thì giá cả và chi phí tại Trung Quốc

sẽ được áp dụng Trong trường hợp ngược lại, cơ quan chịu trách nhiệm điều tra sẽ sử dụng cách tính giá không dựa trên

Trang 33

mức giá cả và chi phí trong nước Những quy tắc tương tự cũng

được áp dụng trong việc thực thi Hiệp định về Trợ cấp và các

Biện pháp đối kháng để tính toán mức trợ cấp cho một doanh

nghiệp cụ thể khi mà “các điều kiện áp dụng ở Trung Quốc

không được coi là những điều kiện thích hợp” Những quy định

này sẽ hết hiệu lực sau 15 năm kể từ ngày Trung Quốc gia

nhập WTO

Thủ tục giải quyết trong trường hợp xác định bán phá giá

và các biện pháp đối kháng rất phức tạp và các quốc gia nhập

khẩu có thể so sánh giá xuất khẩu của Trung Quốc với giá của

nước thứ ba hoặc tự xác định mức giá khi đưa ra quyết định về

việc bán phá giá và mức độ của việc bán phá giá Trong trường

hợp này, Trung Quốc phải chịu thiệt thòi vì nhiều lợi thế so

sánh sẽ không được xem xét khi điều tra và do đó có thể bị áp

dụng các mức thuế chống bán phá giá mà lẽ ra Trung Quốc có

thể tránh được nếu được coi là nước có nền kinh tế thị trường

6.2 Cơ chế tự vệ đối với sản phẩm cụ thể trong giai đoạn

chuyển tiếp (TPSM)/Trường hợp tự vệ trong ngành dệt may

Theo cơ chế TPSM, Thành viên WTO có thể hạn chế hàng

nhập khẩu từ Trung Quốc dễ dàng hơn so với trường hợp áp

dụng các luật chơi thông thường của WTO Để áp dụng cơ chế

này, các nước chỉ cần chứng minh hàng hóa nhập khẩu có

nguồn gốc từ Trung Quốc đã tăng đến mức gây ra hoặc đe dọa

gây ra sự rối loạn thị trường đối với các nhà sản xuất nội địa

những sản phẩm cùng loại hay sản phẩm trực tiếp cạnh tranh

Cơ chế tự vệ đối với hàng dệt may có thể được áp dụng để

hạn chế hàng dệt may có nguồn gốc Trung Quốc đến cuối năm

2008 Quy định này hiện đang được áp dụng rộng rãi để hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc đối với nhiều sản phẩm Trong thời gian qua, sản phẩm xuất khẩu từ Trung Quốc đã chịu số lượng các vụ kiện bán phá giá lớn nhất trong số các nước thành viên WTO (tương tự như trước khi Trung Quốc gia nhập WTO)

Cơ chế Tự vệ Chuyển tiếp (Transitional Safeguard Mechanism) của WTO được áp dụng để theo dõi việc tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của Trung Quốc trong WTO Theo cơ chế này, Trung Quốc có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin cho các cơ quan của WTO để xem xét chính sách thương mại Cơ chế Tự vệ Chuyển tiếp sẽ tồn tại trong 8 năm Sau đó, WTO sẽ đánh giá tổng thể vào năm thứ 10 hoặc sớm hơn tùy thuộc vào quyết định của Đại hội đồng WTO

7 Các quy định về nền kinh tế phi thị trường trong Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam

Hiện tại trong WTO chỉ có Việt Nam và Trung Quốc phải chấp nhận một số cam kết liên quan đến địa vị nền kinh tế phi thị trường Trung Quốc không những phải chấp nhận điều khoản về các biện pháp đối kháng và chống bán phá giá mà còn bị áp dụng cơ chế tự vệ và giám sát đặc biệt, nhưng Việt Nam chỉ phải chấp nhận các biện pháp đối kháng và chống bán phá giá

Đoạn 254 trong Báo cáo về việc gia nhập WTO của Ban

Trang 34

Công tác nêu rõ: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã liên

tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường

Những thành viên này cũng ghi nhận rằng sẽ gặp những khó

khăn đặc thù (special difficulties) trong việc xác định chi phí

và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong các cuộc điều tra

chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp đối kháng

Những thành viên này cho rằng trong trường hợp đó nước nhập

khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng chi phí và giá cả tại

Việt Nam có thể sẽ không hợp lý” Nếu một số thành viên đã

nhận định như vậy thì Việt Nam sẽ phải chấp nhận quy chế đối

với nền kinh tế phi thị trường khi áp dụng Hiệp định Chống

bán phá giá, Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng

tương tự như Trung Quốc đã cam kết trong Nghị định thư gia

nhập của mình Tuy nhiên, Việt Nam thuận lợi hơn Trung

Quốc vì các quy định đối với nền kinh tế phi thị trường cho

Trung Quốc sẽ kéo dài trong 15 năm (đối với Việt Nam là 12

năm) Thời hạn 12 năm sẽ được rút ngắn hơn nếu Việt Nam có

thể xây dựng nền kinh tế thị trường theo những tiêu chí của

nước nhập khẩu và việc áp dụng các điều khoản đặc biệt nói

trên cũng sẽ được chấm dứt Chúng ta đều thấy Việt Nam đã

chịu nhiều thiệt hại khi bị áp dụng các quy định đối với nền

kinh tế phi thị trường do kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cá da

trơn, xe đạp và da giày đã giảm đáng kể do những sản phẩm

này lần lượt bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá Việt Nam

có thể giảm thiểu thiệt hại từ các biện pháp trừng phạt này nếu

được đưa ra khỏi danh sách các nước có nền kinh tế phi thị

trường trong thời gian sớm nhất

8 Việc xác định nền kinh tế phi thị trường (NME) của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU)

Tại Hoa Kỳ, Bộ Thương mại là cơ quan có quyền xác định các nước có nền kinh tế phi thị trường dựa trên các tiêu chí sau: (i) mức độ chuyển đổi của đồng nội tệ; (ii) mức độ theo đó việc trả lương được xác định thông qua đàm phán tự do giữa người lao động và cơ quan sử dụng lao động; (iii) mức độ theo đó việc liên doanh hoặc các dự án đầu tư nước ngoài được phép thực hiện; (iv) mức độ kiểm soát các phương tiện sản xuất của Chính phủ; (v) mức độ kiểm soát việc phân bổ các nguồn lực, quyết định giá cả và sản lượng của Chính phủ; và các tiêu chí khác do Bộ Thương mại đưa ra Địa vị NME sẽ chấm dứt khi

Bộ Thương mại tuyên bố hủy bỏ quy định này Trong thời gian

đó, các cuộc điều tra chống bán phá giá cũng như xem xét thủ tục hành chính liên quan đến các sản phẩm từ các nền kinh tế phi thị trường được coi là các trường hợp NME, trừ khi nước đối tác đề nghị xóa bỏ địa vị này và Bộ Thương mại sẽ sử dụng một số quy tắc cụ thể để xác định chi phí thị trường thay thế cho các chi phí thông thường

Đối với EU, quy định về Chống bán phá giá dumping Regulation) đưa ra những thủ tục cụ thể và rất nhiều yêu cầu đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường Quy định này đưa ra danh mục các nước được coi là có nền kinh tế phi thị trường, nhưng cho phép các nhà xuất khẩu từ Trung

Trang 35

(Anti-Quốc, Kazakhstan, Ucraina và Việt Nam yêu cầu được công

nhận nền kinh tế thị trường nếu chứng minh được họ đang hoạt

động trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường và

không bị can thiệp quá nhiều từ Chính phủ Để xác định một

nhà sản xuất có hoạt động trong điều kiện của nền kinh tế thị

trường hay không, EU sẽ xem xét các tiêu chí: (i) quyết định

liên quan đến giá cả, chi phí và đầu vào được đưa ra dựa trên

các tín hiệu thị trường và phản ánh quan hệ cung cầu, không có

sự can thiệp quá lớn từ phía Chính phủ, và chi phí đầu vào

chính phản ánh giá trị thị trường; (ii) EU có các tiêu chí kế toán

cơ bản được kiểm toán độc lập theo các tiêu chuẩn kế toán

quốc tế và được áp dụng cho tất cả các mục đích; (iii) chi phí

sản xuất và thực trạng tài chính không bị bóp méo nghiêm

trọng bởi hệ thống kinh tế phi thị trường trước đó; (iv) việc

tuân thủ các quy định về tài sản và phá sản bảo đảm tính chắc

chắn và ổn định của luật pháp; (v) sự chuyển đổi của đồng nội

tệ theo tỷ giá thị trường

Nếu địa vị nền kinh tế thị trường bị từ chối thì việc xác

định giá trị thông thường của sản phẩm sẽ dựa vào chi phí và

giá cả của nhà sản xuất tại một “quốc gia tương đương”

(analogue country) là nước kinh tế thị trường có các tiêu chuẩn

so sánh hợp lý Quốc gia tương tự không nhất thiết phải có

trình độ phát triển tương đương với quốc gia NME

9 Một số lưu ý đối với Quốc hội khi Việt Nam chưa

được công nhận là nền kinh tế thị trường

Những bất lợi khi bị coi là nền kinh tế phi thị trường do bị

áp dụng các biện pháp đối kháng và chống bán phá giá cho thấy để được công nhận là nền kinh tế thị trường, Quốc hội cũng như Chính phủ còn nhiều việc phải làm để cải cách môi trường thể chế tương thích với các tiêu chí của nền kinh tế thị trường Các thành viên WTO sẽ xác định môi trường kinh doanh, thương mại tuân thủ các tiêu chí một nền kinh tế thị trường dựa vào các yếu tố: chất lượng của các đạo luật và quy định về sở hữu; vai trò của doanh nghiệp nhà nước và quan hệ với Chính phủ; sự chuyển đổi của đồng tiền; việc định giá; các quy định về doanh nghiệp và liên doanh; khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng và nguồn lực sản xuất khác; kế toán; các quy định về lao động và phá sản doanh nghiệp Do đó, Quốc hội và Chính phủ cần lưu ý rằng hoạt động lập pháp cũng như ban hành chính sách liên quan đến những lĩnh vực vừa nêu sẽ rất có

ý nghĩa trong việc được công nhận là nền kinh tế thị trường hoặc đối với các ngành sản xuất cụ thể bị điều tra bán phá giá

10 Gia nhập WTO: cơ hội và nghĩa vụ mới cả trong và ngoài nước

Việt Nam gia nhập WTO trong bối cảnh tổ chức này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn của Vòng đàm phán Doha Các cuộc đàm phán đã không đạt được nhiều tiến bộ do tác động tiêu cực của những chu kỳ kinh tế, đặc biệt là tại những nước phát triển Một bộ phận đáng kể người dân trên toàn thế giới cho rằng quá trình tự do hóa thương mại đã không chú

Trang 36

trọng đúng mức đến các khía cạnh văn hóa, xã hội và môi

trường Đứng trước những khó khăn đó, ngày càng có nhiều

quốc gia đã chuyển hướng sang các quan hệ song phương và

khu vực

Khó khăn của WTO là bài học giúp Quốc hội cũng như

Chính phủ Việt Nam thấy rằng gia nhập WTO tự nó không thể

giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội nhức nhối của đất

nước Việt Nam, cũng như các quốc gia khác, cần đưa ra những

chính sách hợp lý trong bối cảnh phức tạp hiện nay

* Một số vấn đề cần lưu ý khi gia nhập WTO:

- Có sự cân đối hợp lý giữa quan hệ đa phương, song

phương và khu vực trong quá trình hoạch định chính sách

thương mại;

- Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, xã hội của quá trình tự

do hóa thương mại và lưu ý rằng chưa có đối tác song phương,

khu vực hay thành viên WTO nào có thể dự tính trước kế

hoạch giải quyết các vấn đề đó;

- Tác động của tự do hóa thương mại và các hoạt động

kinh tế đối với môi trường sống;

- Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi phải

có những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục vì con

người sẽ là nhân tố quyết định trong việc khai thác hiệu quả

những cơ hội của quá trình này;

- Vai trò của Việt Nam đối với thế giới trong quá trình

toàn cầu hóa;

- Biến Việt Nam từ nước nhập khẩu hàng hóa khi trong

nước không sản xuất đủ sang nước sản xuất hàng hóa, dịch vụ

và ở giai đoạn cao hơn là sáng tạo, phát minh các sản phẩm, dịch vụ mới

Trang 37

Phần II

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC

ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT

NAM KHI GIA NHẬP WTO

Trang 38

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC

CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM KHI GIA

NHẬP WTO

TS Lê Đăng Doanh

Chuyên gia kinh tế cao cấp

1 Bối cảnh chung

Một tin vui, một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình

hội nhập của Việt Nam: ngày 07 tháng 11 năm 2006, Việt

Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO, kết thúc quá

trình đàm phán lâu dài (11 năm) và khó khăn Đó là một bước

tiến quan trọng trong cuộc trường chinh cải cách, hội nhập để

tăng trưởng và phát triển của nước ta, phản ánh quyết tâm cao

của Đảng, Nhà nước ta đối với quá trình cải cách và phát triển

của đất nước Trong năm 2006, GDP của Việt Nam đạt khoảng

70 tỷ USD, bằng 0,21% tổng GDP của toàn cầu; xuất khẩu đạt

khoảng 40 tỷ USD, bằng 0,32% tổng xuất khẩu của toàn cầu

Điều này cho thấy Việt Nam là nước xuất khẩu rất lớn với tỷ

trọng xuất khẩu cao gấp 3 lần tỷ trọng GDP và là nước rất phụ

thuộc vào xuất khẩu Chúng ta xuất khẩu khoảng 62% GDP,

nhập khẩu 70-72% Nếu xuất khẩu thêm 1 triệu USD quần áo

thì chúng ta có được 1.000 công ăn việc làm; nếu EU đánh thuế da giày thêm 10% thì chúng ta sẽ mất khoảng 500.000 công ăn việc làm Chúng tôi đã làm nghiên cứu 100 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó xuất khẩu lớn nhất là cà phê, chiếm 5,85% xuất khẩu toàn cầu, những mặt hàng khác chỉ chiếm khoảng 4% như xe đạp, may mặc, đồ gỗ Một số mặt hàng trọng điểm như dầu thô chỉ giữ vị trí rất khiêm tốn, cho

dù dầu thô đem lại thu nhập khá lớn cho Việt Nam và trên bản

đồ dầu thô thế giới Việt Nam chỉ là một nước xuất khẩu không đáng kể Do đó, Việt Nam không thể đứng ngoài WTO

Là một nền kinh tế chuyển đổi, đang tiếp tục quá trình cải cách và xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiếp tục công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam là nước đi sau và xâm nhập thị trường thế giới khi sự phân chia thị trường đã “an bài” Việc xuất hiện của Việt Nam trên thị trường quốc tế không phải là cuộc

“múa võ vườn hoang” mà thực sự là vẽ lại bản đồ thị trường thế giới, dành dật thị phần từ những đối thủ khác như đã diễn

ra đối với dệt may, da giày, gạo, cà phê, v.v Thế giới đã trải qua hai cuộc đại chiến, chủ yếu vì phân lại thị trường và sau

đó mọi người đều thấy rằng dùng chiến tranh để phân chia thị trường đã gây ra những tổn thất to lớn và đi đến thống nhất lập ra GATT và tiếp đó là WTO để phân chia lại thị trường theo những luật lệ chung Như vậy, chúng ta là thành viên thứ

150 gia nhập WTO, chúng ta là nước đi sau, việc chúng ta chia lại bản đồ thị trường thế giới là quá trình không dễ dàng

Trang 39

vì không ai sẵn sàng rút lui thị phần của mình

Gia nhập WTO thực chất là vấn đề lợi ích WTO là một tổ

chức có quy mô toàn thế giới xác định ra những luật chơi chung

Thế giới sẽ tốt hơn khi có WTO, nhưng WTO không phải là một

tổ chức bình đẳng, không phải là một tổ chức từ thiện, tổ chức

tốt bụng hay không tốt bụng WTO là nơi đấu tranh hết sức kịch

liệt theo nguyên tắc “chân lý thuộc về kẻ mạnh” Những nước có

tiềm lực kinh tế lớn, thị phần lớn, có sức mạnh về hàng hóa, thị

trường, công nghệ, tài chính sẽ họp với nhau trong phòng riêng

và khi đã thoả thuận xong thì các nước khác khó có thể thuận lợi

được Mặc dù WTO có năm nguyên tắc hoạt động rõ ràng,

nhưng thương mại cho đến nay vẫn chủ yếu là một công cụ của

chính trị, vẫn là vấn đề được quyết định song phương Do vậy,

cho dù đã có WTO nhưng các nước phát triển vẫn ký Hiệp định

thương mại tự do (FTA) với nhau Hiện nay, trên thế giới đã có

130 FTA đã được ký kết, hơn 120 Hệp định đã được thực hiện

Chúng ta đã thỏa thuận với Nhật Bản sẽ ký kết Hiệp định thương

mại song phương và việc đàm phán đã bắt đầu từ năm 2007

Như vậy là WTO+, tức là các hiệp định song phương không bao

giờ dừng lại ở những gì thỏa thuận chung và hai bên sẽ có những

thỏa thuận bổ sung Điều này có nghĩa là cho dù đã gia nhập

WTO, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục đàm phán, thương

lượng Trên thực tế, buôn bán vẫn diễn ra trên bình diện song

phương giữa các Chính phủ với nhau và ta không thể khẳng định

rằng đã vào WTO thì có thể vào thị trường nước này, nước kia

Mặc dầu đã được tự do hóa và có khá nhiều quy định quốc tế,

thương mại vẫn là con đường hai chiều, có đi có lại và vẫn là công cụ của chính trị của các quốc gia Gia nhập WTO để có khung pháp luật, có tư cách bình đẳng, nhưng việc buôn bán vẫn phải tiến hành qua quan hệ song phương Chính vì vậy, gần đây các FTA ngày càng được thương thuyết và ký kết nhiều hơn, nhất là giữa các nước thành viên WTO đã phát triển Vì vậy, sau khi vào WTO, chúng ta vẫn phải rất coi trọng phát triển các quan

hệ kinh tế song phương, ký kết các FTA song phương, có thể với các điều kiện WTO+ (tức là những điều kiện vượt khỏi những cam kết đã chấp nhận khi vào WTO) với những đối tác chọn lọc,

có trình độ phát triển cao hơn, cơ cấu kinh tế khác hơn và khả năng bổ sung giữa hai nền kinh tế lớn hơn

Gia nhập WTO có thể coi là sự khởi đầu của một giai đoạn cải cách mới, toàn diện cả về kinh tế, pháp luật, hành chính, giáo dục, đào tạo, văn hóa Quá trình phát triển sẽ năng động hơn, cơ cấu kinh tế phải điều chỉnh theo tín hiệu thị trường, kéo theo chuyển dịch về lao động, đào tạo Về mặt nào đó, sự phát triển sôi động, với nhịp điệu cao hơn sẽ đem lại những cơ hội

và cả những yếu tố bất định cao hơn Rủi ro trong kinh doanh, trong đầu tư sẽ nhiều hơn và đòi hỏi năng lực dự báo, xử lý về chính sách, tình huống nhanh nhạy và quyết đoán hơn

Gia nhập WTO không phải là mục đích tự thân, mà vào WTO chỉ là phương tiện để đẩy mạnh việc thực hiện mục tiêu cháy bỏng của dân tộc ta là phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Chậm còn hơn không, song vì gia nhập sau nhiều nước, nên chúng ta đã phải chấp

Trang 40

nhận những điều kiện khắt khe hơn Trung Quốc trước đây Nếu

như khi bắt đầu nộp đơn năm 1995 chúng ta đưa ra ngay những

điều kiện gia nhập hiện thực hơn thì có lẽ đã được chấp nhận

sớm hơn, với những điều kiện ít thắt buộc hơn so với những

cam kết ngày nay

Gia nhập WTO là cam kết tham gia vào nền kinh tế thị

trường thế giới được điều tiết bằng những luật chơi rõ ràng,

những định mức, tiêu chuẩn khắt khe, được tiếp cận với các thị

trường rộng mở của 150 nước, chiếm phần lớn thương mại về

hàng hóa và dịch vụ trên hành tinh này, Việt Nam sẽ có những

cơ hội và thách thức lớn hơn, vừa thuận lợi vừa khó khăn, vừa

có quyền lợi vừa có nghĩa vụ Quyền lợi là được tiếp cận với

thị trường thế giới, được đối xử phù hợp với tư cách thành

viên, được tiến hành xử lý các tranh chấp thương mại thông

qua các cơ quan tài phán quốc tế của WTO (không còn bị áp

đặt những bản án được đưa dựa trên luật quốc gia như trước

đây đối với cá basa) Nghĩa vụ là phải tuân thủ các luật lệ, cam

kết về không phân biệt đối xử, giảm thuế, mở cửa thị trường,

bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, các tiêu chuẩn về lao động và cam

kết xã hội, v.v Đó là những yêu cầu cao, mới mà cả nước ta,

từ quan chức, doanh nghiệp đến các trường đại học, viện

nghiên cứu và mỗi người dân đều phải phấn đấu thực hiện Nếu

không thực hiện đúng các nghĩa vụ thì quyền lợi cũng không dễ

dàng gì thực thi được, vì vi phạm sẽ bị kiện tụng, tranh chấp và

làm giảm uy tín của nước ta

2 Thuận lợi

Gia nhập WTO, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản: Đó

là quyết tâm chính trị cải cách, hội nhập, sự đồng thuận của cả dân tộc trong công cuộc canh tân đất nước, đó là những cơ sở kinh tế - xã hội, thể chế, giáo dục, v.v của 20 năm đổi mới, tăng trưởng và phát triển Hội nhập quốc tế là hội nhập theo cơ chế thị trường, sau 20 năm đổi mới, các thể chế kinh tế thị trường đã cơ bản được hình thành Trên những nét đại quát, kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới

Việt Nam có vị trí chiến lược trong khu vực, có thể phát huy để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư Khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, tiến trình toàn cầu hóa đang tiếp tục được đẩy mạnh; khu vực châu á - Thái Bình Dương trở thành động lực tăng trưởng và một trong những trung tâm tăng trưởng năng động nhất của nền kinh tế toàn cầu cũng là những lợi thế quan trọng cho nước ta

Cơ hội cũng mở ra đối với toàn dân Việt Nam với tư cách

là người tiêu dùng: được tiếp cận với những hàng hóa và dịch

vụ đa dạng hơn, giá sẽ giảm đi theo mức giảm thuế và mức độ cạnh tranh, tiến bộ khoa học - công nghệ sẽ được đẩy mạnh Thanh niên sẽ là lớp người có lợi nhất vì có nhiều cơ hội hơn trong tìm kiếm cơ hội học tập, làm việc trong nước và ngoài nước Họ là lớp người nhanh chóng nhất thích nghi với những thay đổi, tiếp thu những thành tựu mới của nền văn minh nhân loại khi nước ta mở cửa mạnh mẽ hơn

Cơ hội cũng là sự mở rộng tầm mắt, vươn ra tới các nền

Ngày đăng: 23/08/2016, 14:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành  hàng chính - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
Bảng 1. Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính (Trang 20)
Bảng  3.  Các  cam  kết  thực  hiện  Hiệp  định  tự  do  hóa - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
ng 3. Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hóa (Trang 23)
Bảng  1.  Tình  hình  đăng  ký  patent  công  nghệ  tại  Việt - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
ng 1. Tình hình đăng ký patent công nghệ tại Việt (Trang 86)
Bảng  2.  Đơn  patent  (*)  và  nhãn  hiệu  hàng  hóa  nguồn  gốc Việt Nam nộp vào Mỹ và nguồn gốc Mỹ  nộp vào Việt  Nam từ 1997-2002 - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
ng 2. Đơn patent (*) và nhãn hiệu hàng hóa nguồn gốc Việt Nam nộp vào Mỹ và nguồn gốc Mỹ nộp vào Việt Nam từ 1997-2002 (Trang 87)
Bảng 2. Kết quả đàm phán về dịch vụ pháp lý - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
Bảng 2. Kết quả đàm phán về dịch vụ pháp lý (Trang 112)
Bảng 3. Dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lý - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
Bảng 3. Dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lý (Trang 115)
Bảng CPC ở trên,  nhưng  chỉ  giới  hạn trong  các tranh  chấp  về - Việt Nam gia nhập WTO, thuận lợi, thách thức và vai trò của Quốc hội
ng CPC ở trên, nhưng chỉ giới hạn trong các tranh chấp về (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w