1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV

272 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 272
Dung lượng 8,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.3.1 Các Nhóm xây dựng hướng dẫn và quá trình bình duyệt 474.2 Bố cục của trình bày những khuyến cáo được lựa chọn từ các hướng 4.3 Cách sử dụng hướng dẫn cho những nhóm đối tượng đặc b

Trang 1

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TỔNG HỢP

VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG

VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV

KHUYẾN CÁO THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

THÁNG 6 NĂM 2013

Trang 2

VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VIRUT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG

VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV

Trang 3

VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VIRUT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG

VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TỔNG HỢP

KHUYẾN CÁO tHeO PHƯƠNG PHÁP tIẾP CẬN SỨC KHỎe CỘNG ĐỒNG

tHÁNG 6 NĂM 2013

Trang 4

tài liệu hướng dẫn tổng hợp về Sử dụng thuốc kháng virut sao chép ngược trong dự phòng và điều trị nhiễm HIV: Kiến nghị cách tiếp cận Sức khỏe Cộng đồng.

1 thuốc kháng virut sao chép ngược - cung cấp và phân phối 2 Nhiễm HIV - điều trị

3 Ngành công nghiệp thuốc - xu hướng 4 Phối hợp liên ngành I tổ chức Y tế thế giới II.UNAIDS

ISBN 978 92 4 150572 7 (Phân loại NLM: WC 503.2)

© Tổ chức Y tế Thế giới 2013

tất cả các quyền được bảo hộ Ấn phẩm của tổ chức Y tế thế giới có sẵn trên trang web của tCYttG (www.who.int) hoặc có thể mua Ấn phẩm báo chí tCYttG, tổ chức Y tế thế giới, số 20 Đại lộ Appia, 1211 Geneva 27, thụy Sĩ (Điện thoại: +41 22 791 3264; Fax: +41

22 791 4857, email: bookorders@who.int)

Xin phép tái bản hoặc dịch các ấn phẩm của tCYttG trong toàn bộ văn bản - dù để bán hoặc phân phối phi thương mại - phải được gửi đến tCYttG Press thông qua trang web của tCYttG (www.who.about/licensing/copyright_form/en/index.html)

thiết kế và trình bày của các tài liệu trong ấn phẩm này không nhằm thể hiện bất cứ quan điểm nào của tổ chức Y tế thế giới liên quan đến tình trạng pháp lý của các quốc gia, lãnh thổ, thành phố, khu vực hoặc chính quyền, hoặc liên quan đến việc phân định biên giới hay ranh giới Đường chấm trên bản đồ thể hiện đường biên giới tương đối mà

có thể chưa đạt được thỏa thuận đầy đủ

Việc đề cập đến các công ty cụ thể hoặc một số sản phẩm của nhà sản xuất không có nghĩa là được xác nhận hoặc khuyến cáo bởi tổ chức Y tế thế giới ưu tiên hơn so với những tổ chức khác có tính chất tương tự không được đề cập Ngoại trừ lỗi và sai sót, tên hoặc các sản phẩm độc quyền được phân biệt bằng chữ in hoa

tổ chức Y tế thế giới đã thực hiện tất cả các biện pháp cẩn trọng hợp lý để xác nhận thông tin trong ấn phẩm này tuy nhiên, ấn phẩm này được phân phối mà không có bất

cứ đảm bảo nào, dù thể hiện hay ngụ ý trách nhiệm hiểu và sử dụng tài liệu này thuộc

về người đọc trong mọi trường hợp tổ chức Y tế thế giới không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những phát sinh từ việc sử dụng

thiết kế và trình bày bởi ACW, London

In tại Kuala Lumpur, Malaysia

Trang 5

1.5.4 Hướng dẫn cho các nhà quản lý chương trình 39

2.3 Củng cố các hệ thống y tế thông qua cải tiến và học hỏi 42

2.4 tăng cường hiệu suất và hiệu quả của các chương trình 43

3 Các phương pháp và quy trình phát triển các đường lối chỉ đạo 45

MỤC LỤC

Trang 6

3.3.1 Các Nhóm xây dựng hướng dẫn và quá trình bình duyệt 47

4.2 Bố cục của trình bày những khuyến cáo được lựa chọn từ các hướng

4.3 Cách sử dụng hướng dẫn cho những nhóm đối tượng đặc biệt 57

5 Hướng dẫn lâm sàng trong suốt quá trình chăm sóc liên tụ: Chẩn đoán

5.1.4 Xét nghiệm và tư vấn HIV ở các quần thể đặc biệt 70

5.2.1 Dự phòng trước phơi nhiễm bằng thuốc uống 79

5.2.3 Dự phòng sau phơi nhiễm nghề nghiệp và phơi nhiễm ngoài

6 Điều trị liên tục: Kết nối người được chẩn đoán nhiễm HIV với chăm sóc và

Trang 7

6.5 Những điều kỳ vọng trong những tháng đầu điều trị ARV 87

7 Hướng dẫn lâm sàng trong điều trị liên tục: điều trị ARV 89

7.1.1 Khi nào bắt đầu điều trị ARV ở người trưởng thành và trẻ vị

7.1.2 Khi nào bắt đầu điều trị ARV ở phụ nữ có thai và cho con bú 98

7.2 Bắt đầu điều trị ARV bằng phác đồ nào (điều trị ARV bậc một) 110

7.2.1 Điều trị ARV bậc một cho người trưởng thành 111

7.2.2 Điều trị ARV bậc một cho phụ nữ có thai và cho con bú và

7.2.3 Điều trị ARV bậc một cho trẻ em dưới 3 tuổi (bao gồm trẻ vị

7.2.4 Điều trị ARV bậc một cho trẻ em từ ba tuổi trở lên (bao gồm

7.2.5 Điều trị lao đồng thời ở trẻ em nhiễm HIV 128

7.3 theo dõi đáp ứng điều trị ARV và chẩn đoán thất bại điều trị 130

7.3.1 theo dõi xét nghiệm trước và sau khi bắt đầu điều trị ARV 130

7.3.2 theo dõi đáp ứng điều trị ARV và chẩn đoán thất bại điều trị 131

7.4.4 theo dõi độc tính của các thuốc ARV khác 140

7.5 Chuyển sang phác đồ nào (điều trị ARV bậc hai và bậc ba) 144

7.5.1 Điều trị ARV bậc hai cho người trưởng thành và trẻ vị thành

7.5.2 Điều trị ARV bậc hai cho trẻ em (bao gồm trẻ vị thành niên) 148

Trang 8

8 Hướng dẫn lâm sàng trong chăm sóc liên tục: Xử trí đồng nhiễm và các

8.2 Dự phòng và xử trí các bệnh kết hợp khác và chăm sóc lâu dài cho

8.2.1 Sàng lọc và chăm sóc các bệnh không lây 168

8.2.3 Dùng ma túy và các rối loạn do dùng ma túy 169

8.2.5 Chăm sóc giảm nhẹ: xử trí triệu chứng và chăm sóc cuối đời 1718.2.6 Các hướng dẫn chung về chăm sóc khác có liên quan 171

9.2.2 Các can thiệp tối ưu hóa tuân thủ điều trị ARV 1769.2.3 theo dõi tuân thủ điều trị ARV ở các đơn vị chương trình và

Trang 9

9.5.2 Chuyển đổi nhiệm vụ về điều trị và chăm sóc HIV 190

9.6.2 Những lưu ý về triển khai và các thực hành tốt 192

9.6.3 tăng cường và mở rộng các dịch vụ xét nghiệm và chẩn đoán 192

9.6.5 tăng tiếp cận với xét nghiệm tải lượng virut HIV 193

9.6.6 Mở rộng các dịch vụ chẩn đoán đến tận nơi khám chữa bệnh 193

9.6.7 Cung cấp hướng dẫn để phát triển năng lực nhân viên y tế,

bao gồm đào tạo nhân viên và cấp chứng chỉ 1959.6.8 triển khai hệ thống quản lí chất lượng toàn diện 195

9.7.3 Những lưu ý về triển khai và các thực hành tốt 196

10.3.2 Dịch tễ học HIV của toàn quốc và địa phương 202

10.3.3 Phân tích hoạt động và mức độ đáp ứng của chương trình 202

10.3.4 Bối cảnh kinh tế xã hội, chính sách và luật pháp 202

10.4 Những thông số quan trọng của tiến trình ra quyết định 205

10.4.1 Đạo đức, tính công bằng và quyền con người 205

10.5 Những cân nhắc khi triển khai thực hiện trong hệ thống y tế 207

10.6 Những cân nhắc khi triển khai thực hiện những khuyến cáo chính 209

10.7 Những khuyến cáo khi thực hiện trong các bối cảnh khác nhau 215

Trang 10

10.7.1 tổng quan 21510.7.2 Những khuyến cáo khi thực hiện trong các bối cảnh dịch khác

10.8 Những công cụ hữu ích cho tính chi phí và lập kế hoạch 216

11.3 theo dõi đầu ra và kết quả của việc mở rộng tiếp cận với thuốc ARV 220

11.4.2 Giám sát trọng điểm cho theo dõi độc tính ARV 22111.4.3 Đánh giá, bao gồm tác động và tiến độ chương trình, và

11.5 Xem xét và củng cố các hệ thống theo dõi và đánh giá 225

Phụ lục 4 Sơ đồ các khuyến cáo năm 2013 đối với trẻ em 234

Phụ lục 6 Bảng kiểm đánh giá sự sẵn sàng cho việc tiến tới điều trị ARV

Phụ lục 7 Liều lượng của các thuốc ARV được khuyến cáo sử dụng 241

Trang 11

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

ARt Điều trị thuốc kháng virut sao chép ngược

ARV (thuốc) kháng virut sao chép ngược

AtV/r Atazanavir/ritonavir

AZt Zidovudine (còn được gọi là ZDV)

BMI Chỉ số khối cơ thể

CD4 tế bào lympho-t mang thụ thể CD4

CDC trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ

CNS Hệ thần kinh trung ương

DALYs Số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật

DBS Giọt máu khô

eGFR Mức lọc cầu thận ước tính

eLISA thử nghiệm miễn dịch liên kết gắn men

etV etravirine

FPV Fosamprenavir

FPV/r Fosamprenavir/ritonavir

FtC emtricitabine

GNP+ Mạng lưới toàn cầu của những người sống chung với HIV

GRADe Grade phân độ việc đánh giá, xây dựng và lượng giá các khuyến cáo

HBsAg Kháng nguyên bề mặt virut viêm gan B

HCV Virut viêm gan C

HIV Virut gây suy giảm miễn dịch ở người

HPtN Mạng lưới thử nghiệm dự phòng HIV

HSV Virut herpes simplex

INH Isoniazid

Trang 12

IPt Điều trị dự phòng Isoniazid

IRIS Hội chứng viêm do phục hồi miễn dịch

LVP/r Lopinavir/ritonavir

MDR Lao đa kháng MDR-tB kháng lại ít nhất hai loại thuốc kháng sinh bậc một

gồm isoniazid và rifampicinLtMC Lây truyền HIV từ mẹ sang con

NFV Nelfinavir

NNRtI Nhóm ức chế phiên mã ngược không nucleoside

NRtI Chất ức chế phiên mã ngược tương tự nucleoside

OSt Điều trị thay thế opioid

PCR Phản ứng chuỗi polymerase

PI Chất ức chế protease

PICO Dân số, Can thiệp, So sánh và Kết quả

PCP/PJP Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci

DPLtMC Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

PreP Dự phòng trước khi bị phơi nhiễm HIV

sd-NVP Nevirapine liều duy nhất

tAM Đột biến đồng dạng thymidine

tDF tenofovir disoproxil fumarate

tPV tipranavir

UNAIDS Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS

UNICeF Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc

UNODC Cơ quan phòng chống Ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc

tCYttG tổ chức Y tế thế giới

Trang 13

Định nghĩa các thuậ

TỔNG QUAN

HIV nghĩa là virut gây suy giảm miễn dịch ở người Có hai loại virut HIV là: HIV-1 và HIV-2

HIV-1 là nguyên nhân chính gây nên các ca nhiễm HIV trên toàn cầu.trong hướng dẫn này, HIV chỉ

cả HIV-1 và HIV-2 trừ khi có quy định khác

ĐỘ TUỔI VÀ NHÓM ĐỐI TƯỢNG

Các định nghĩa sau đây được sử dụng cho người trưởng thành, trẻ vị thành thiếu niên, trẻ em và

trẻ sơ sinh để đảm bảo tính nhất quán trong các tài liệu hướng dẫn tổng hợp cũng như trong các

hướng dẫn của tCYttG Chúng tôi công nhận rằng các cơ quan khác nhau có thể sử dụng các định nghĩa khác nhau

Người trưởng thành là người trên 19 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia quy định một người là người

trưởng thành ở độ tuổi sớm hơn

Trẻ vị thành niênlà người có độ tuổi từ 10 đến 19, kể cả người 19 tuổi.

Trẻ em là người từ 19 tuổi trở xuống, trừ khi luật pháp quốc gia quy định một người là người trưởng

thành ở độ tuổi sớm hơn.tuy nhiên, trong hướng dẫn này khi một người ở vào độ tuổi từ 10 đến 19

họ được gọi là trẻ vị thành niên (xem định nghĩa trẻ vị thành niên)

Trẻ sơ sinh là trẻ dưới một tuổi.

Hướng dẫn này xác định nhóm đối tượng đích bao gồm cả nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và

các nhóm có nguy cơ cao nhất Họ là nhóm quan trọng đối với sự lây nhiễm HIV trong một khu vực nhất định và là đối tác quan trọng trong công tác ứng phó hiệu quả với đại dịch Nhóm người có HIV được coi là nhóm đối tượng quan trọng trong tất cả hoàn cảnh dịch bệnh

Hướng dẫn này xác định nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất như nam có quan hệ tình dục với

nam, người chuyển giới, người tiêm chích ma túy và mại dâm Nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất thường bị lây nhiễm HIV nhiều nhất, nếu không phải hầu hết, trong bối cảnh dịch bệnh

Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương là nhóm người đặc biệt dễ bị lây nhiễm HIV trong một số tình

huống hay hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn như trẻ vị thành niên (đặc biệt là nữ giới tuổi vị thành niên), trẻ em mồ côi, trẻ em đường phố, trẻ trong môi trường bị hạn chế (như nhà tù hoặc trại giam), người khuyết tật, lao động nhập cư và di cư Mỗi quốc gia cần phải xác định các nhóm đối tượng cụ thể

đặc biệt dễ bị tổn thương và phương án để ứng phó với bệnh dịch và phản ứng dựa trên bối cảnh

dịch tễ học và xã hội

Các cặp bạn tình dị nhiễm là những cặp bạn tình trong đó một người nhiễm HIV và người kia

không nhiễm HIV Một cặp bạn tình nghĩa là hai người đang có mối quan hệ tình dục; mỗi người

được coi là một đối tác trong quan hệ Cách thức từng các cá thể xác định mối quan hệ của họ khác nhau theo bối cảnh văn hóa và xã hội

DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE/ DỊCH VỤ Y TẾ

Chương trình chăm sóc liên tục dành cho người nhiễm HIV là một gói chương trình toàn diện các

dịch vụ dự phòng, chẩn đoán, điều trị và hỗ trợ cho người có HIV và gia đình của họ gồm: chẩn đoán HIV ban đầu và chăm sóc sức khỏe; quản lý các bệnh nhiễm trùng cơ hội và trường hợp bệnh tật

ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ CHÍNH

Trang 14

khác; bắt đầu, duy trì và giám sát điều trị ARV; chuyển sang điều trị ARV bậc hai và ba; và chăm sóc giảm nhẹ.

Tiếp cận y tế công cộngnhằm đáp ứng các nhu cầu y tế của người dân hoặc tình trạng sức khỏe

chung của người dân chứ không phải vì sức khỏe cá nhân tiếp cận y tế công cộngliên quan đến nỗ lực hợp tác của tất cả các ban ngành y tế, cùng nhau làm việc để đảm bảo phúc lợi xã hội thông qua công tác phòng chống, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ toàn diện Đối với HIV, điều này liên quan đến: danh mục các loại thuốc đã được giản lược, sử dụng quy mô lớn liều phối hợp cố định trong điều trị bậc một cho người trưởng thành và trẻ em; cung cấp thuốc và dịch vụ chăm sóc miễn phí tại thời điểm cung cấp và phân cấp dịch vụ; lồng ghép các dịch vụ, bao gồm cả chuyển đổi nhiệm vụ và đơn giản hóa lâm sàng và theo dõi độc tính

XÉT NGHIỆM VÀ PHÒNG CHỐNG HIV

Tư vấn và xét nghiệm tự nguyện (hay còn gọi là tư vấn và xét nghiệm tự nguyện của khách hàng)

mô tả một quá trình tự nguyện của một cá nhân, người muốn tìm hiểu về tình trạng nhiễm HIV của mình Vì hiện nay có nhiều phương pháp tiếp cận cộng đồng khác nhau trong việc cung cấp tư vấn xét nghiệm HIV và những người thường có các động cơ khác nhau tìm kiếm xét nghiệm (cả hai đều

được nhà cung cấp khuyến cáo và khách hàng tìm kiếm), tCYttG thường sử dụng thuật ngữ tư vấn

và xét nghiệm HIV Các hình thức tư vấn xét nghiệm HIV đều là tự nguyện và phải tuân thủ quy tắc

năm “C”: đồng ý, bảo mật, tư vấn, kết quả xét nghiệm chính xác và liên kết với các dịch vụ chăm sóc, điều trị và dự phòng Đảm bảo chất lượng của công tác tư vấn xét nghiệm là điều cần thiết trong tất

cả các phương pháp tiếp cận tư vấn và xét nghiệm HIV

Tư vấn và xét nghiệm do nhân viên y tế đề xuất là công tác kiểm tra và tư vấn HIV được khuyến cáo bởi một nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở lâm sàng Tư vấn và xét nghiệm

do nhân viên y tế đề xuất, cũng như tất cả các hình thức tư vấn và xét nghiệm HIV, nên là được

thực hiện một cách tự nguyện và tuân thủ quy tắc năm “C”

Dự phòng phối hợp nghĩa là sự kết hợp của các phương pháp tiếp cận hành vi, y sinh học và cấu

trúc trong phòng chống HIV để đạt được hiệu quả tối đa trong giảm thiểu lây truyền và nhiễm HIV

Điều trị ARV (LIỆU PHÁP KHÁNG VIRUT SAO CHÉP NGƯỢC )

Thuốc ARV (thuốc kháng virut sao chép ngược) đề cập đến bản thân các loại thuốc chứ không

phải đề cập đến cách sử dụng

Điều trị ARV đề cập đến việc sử dụng kết hợp của ba hoặc nhiều loại thuốc ARV để đạt được khả

năng ức chế virut Nói chung, loại thuốc này thường dùng để điều trị suốt đời Các từ đồng nghĩa là điều trị ARV kết hợp và điều trị ARV hoạt tính cao

Điều trị ARV dự phòng được sử dụng để mô tả các lợi ích phòng chống HIV của ARV.

Đủ điều kiện điều trị ARV đề cập đến những người có HIV, những người sử dụng ARV được chỉ định

theo các định nghĩa đủ điều kiện lâm sàng và miễn dịch trong hướng dẫn điều trị của tCYttG thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho “cần điều trị”, mặc dù điều này ngụ ý là một nguy cơ hiện hữu hoặc nghĩa vụ bắt đầu điều trị

Ức chế virut đề cập đến mục đích điều trị ARV để duy trì lượng virut dưới ngưỡng phát hiện của

các xét nghiệm có sẵn, thường ít hơn 50 bản sao cho mỗi ml tiêu chí về ngưỡng virut hiện nay của tCYttG trong chẩn đoán điều trị thất bại là 1000 bản sao mỗi ml hoặc nhiều hơn

Tiếp cận phổ cập điều trị ARV được định nghĩa một cách rộng rãi là sự tiến tới mức tiếp cận cao (≥

80% của các đối tượng đủ tiêu chuẩn điều trị) đối với các biện pháp can thiệp hiệu quả nhất theo cách công bằng, dễ tiếp cận, giá thành phải chăng, toàn diện và bền vững trong thời gian dài; điều này không nhất thiết phải là bao phủ 100%

Trang 15

Định nghĩa các thuậ

CÁN BỘ Y TẾ

Cán bộ y tế cộng đồng là các cán bộ y tế đã được đào tạo chuẩn hóa quốc gia ngoài đào tạo điều

dưỡng, hộ sinh hoặc đào tạo y khoa

Nhân viên hộ sinh là những người được đào tạo để hỗ trợ cho việc sinh nở, bao gồm cả các cán bộ

hộ sinh đăng ký và tham gia

Nhân viên lâm sàng không phải bác sĩ là các cán bộ y tế chuyên nghiệp có khả năng thực hiện các

chức năng chẩn đoán và lâm sàng của một thầy thuốc nhưng những người này không được đào tạo như bác sĩ Những nhân viên y tế này thường được biết đến là cán bộ y tế, cán bộ lâm sàng, trợ lý

bác sĩ, các học viên điều dưỡng hoặc y sĩ

Điều dưỡng bao gồm các điều dưỡng chuyên nghiệp, ghi danh y tá, điều dưỡng hỗ trợ và các điều dưỡng khác như điều dưỡng chăm sóc nha khoa hoặc điều dưỡng sơ cấp

DỊCH TỄ HỌC

Dịch HIV tập trung: HIV đã lây lan nhanh chóng trong một hoặc nhiều bộ phận dân cư nhưng vẫn

chưa phát triển mạnh trong toàn bộ dân số thể hiện qua số liệu: tỷ lệ hiện nhiễm HIV liên tục trên

5% trong ít nhất một bộ phận dân cư được xác định nhưng ít hơn 1% số phụ nữ mang thai trong

khu vực đô thị

Dịch HIV toàn thể: HIV đã được khẳng định trong quần thể dân cư chung.

thể hiện qua số liệu: tỷ lệ nhiễm HIV liên tục quá 1% trong số phụ nữ mang thai Bản chất của hầu

hết dịch HIV toàn thể là hỗn hợp , trong đó một số nhóm quần thể nhất định (đích) bị ảnh hưởng

nhiều hơn

Dịch hỗn hợp: là những người nhiễm HIV trong một hoặc nhiều nhóm quần thể và trong quần thể

chung Do đó dịch bệnh hỗn hợp là một hoặc nhiều dịch tập trung trong khuôn khổ dịch toàn thể

Dịch mức độ thấp: là các tình trạng dịch , trong đó tỷ lệ nhiễm HIV đã không bao lúc nào vượt quá

1% trong quần thể chung trên toàn quốc hoặc 5% trong bất cứ bộ phận dân cư nào

Môi trường sử dụng điều trị ARV thấp, trung bình và cao nghĩa là các môi trường trong đó việc

điều trị ARV trong số những người đủ tiêu chuẩn điều trị ARV lần lượt là dưới 50%, 50-80% và cao

hơn 80%

Nơi có gánh nặng bệnh lao và HIV cao: nghĩa là những nơi mà người trưởng thành có tỷ lệ nhiễm

HIV ≥ 1% hoặc tỷ lệ nhiễm HIV trong số người mắc bệnh lao ≥ 5%

Tỷ lệ mới nhiễm HIV là số người mới nhiễm HIV trong một thời gian nhất định trong một nhóm đối

tượng cụ thể

Tỷ lệ hiện nhiễm HIVnghĩa là số người sống chung với HIV tại một thời điểm cụ thể và được thể

hiện như là tỷ lệ phần trăm của dân số

DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON (DPLTMC)

trong hướng dẫn này, tCYttG sẽ thảo luận ngoài phạm vi các điều khoản trước đó “Các Phương án

A, B, B+” thay vào đó, các hướng dẫn này đề xuất hai lựa chọn: (i) cung cấp điều trị ARV suốt đời cho các phụ nữ mang thai và cho con bú có HIV bất kể số lượng CD4 hoặc giai đoạn lâm sàng hoặc (ii)

cung cấp điều trị ARV (thuốc ARV) cho phụ nữ nhiễm HIV mang thai và cho con bú trong giai đoạn

có nguy cơ lây truyền và sau đó tiếp tục cung cấp điều trị ARV suốt đời cho phụ nữ đủ tiêu chuẩn

điều trị Ở những nơi mà không thể cung cấp điều trị ARV suốt đời cho tất cả phụ nữ nhiễm HIV

Trang 16

mang thai và cho con bú, sự khác biệt giữa dự phòng (thuốc ARV được cung cấp trong một khoảng thời gian hạn chế trong thời kỳ có nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con để dự phòng lây nhiễm cho mẹ con) và điều trị (Điều trị ARV được cung cấp cho cả sức khỏe bà mẹ, dựa trên tiêu chuẩn điều trị hiện nay cho người trưởng thành và để ngăn chặn lây truyền dọc) vẫn còn là vấn đề quan trọng.

Thuốc ARV cho phụ nữ có HIV trong thời gian mang thai và cho con bú là để chỉ một phác đồ

thuốc ARV ba trong một được cung cấp cho các bà mẹ có HIV chủ yếu như là phương pháp dự phòng trong thời gian mang thai và cho con bú (nếu cho con bú) để ngăn chặn lây nhiễm HIV từ mẹ sang con trong Phương án này, phác đồ cho mẹ tiếp tục kéo dài suốt đời sau khi sinh hoặc sau khi dừng cho con bú chỉ khi bà mẹ đủ tiêu chuẩn điều trị ARV cho sức khỏe của chính mình dựa trên số lượng CD4 hoặc giai đoạn lâm sàng Hướng dẫn trước đây của tCYttG đề cập đến vấn đề này được

gọi là Phương án B.

Cung cấp điều trị ARV suốt đời cho tất cả phụ nữ mang thai và cho con bú có HIV liên quan đến

các phương pháp tiếp cận trong đó các phụ nữ mang thai nhiễm HIV nhận được một phác đồ thuốc ARV ba trong một không phụ thuộc vào số lượng CD4 hoặc giai đoạn lâm sàng, cho cả sức khỏe bà

mẹ và để ngăn chặn lây truyền dọc HIV và cho cả lợi ích dự phòng HIV Hướng dẫn trước đây của

tCYttG đề cập đến vấn đề này được gọi là Phương án B+.

Trang 17

Lời cảm ơn

LỜI CẢM ƠN

Anthony Harries (Hiệp hội Chống Lao và Bệnh Phổi Quốc tế, Vương quốc Anh) và Gottfried

Hirnschall (Chương trình HIV, tổ chức Y tế thế giới) đồng chủ trì quá trình hướng dẫn.

Nhóm xây dựng Hướng dẫn cho người trưởng thành

Đồng chủ tịch: Serge eholie (ANePA/ Bệnh viện treichville, Abidjan, Bờ Biển Ngà) và Stefano Vella

(Istituto Superiore di Sanita, Ý)

GRADE Methodologist: Elie AKL (Đại học Beirut Mỹ, Li-băng).

Pedro Cahn (Fundacion Huesped, Argentina), Alexandra Calmy (Đại học Geneva, thụy Sĩ), Frank

Chimbwandira (Bộ Y tế, Malawi), David Cooper (Đại học New South Wales và Bệnh viện St Vincent, Úc), Judith Currier (trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục AIDS lâm sàng UCLA, Mỹ), Francois Dabis

(trường Y tế Công cộng (ISPeD), trường Đại học Bordeaux Segalen, Pháp), Charles Flexner (Đại

học Johns Hopkins, Hoa Kỳ), Beatriz Grinsztejn (Fundagao Oswaldo Cruz (FIOCRUZ), Brazil), Diane Havlir (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Charles Holmes (trung tâm nghiên cứu bệnh

truyền nhiễm Zambia, Zambia), John Idoko (Cơ quan Quốc gia về Kiểm soát AIDS, Nigeria), Kebba Jobarteh (trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, Mozambique), Nagalingeswaran

Kumarasamy (Y.R trung tâm Gaitonde Nghiên cứu và Giáo dục AIDS, Ấn Độ), Volodymyr Kurpita

(Network All-Ukrainian của người sống chung với HIV, Ukraina), Karine Lacombe (Agence Nationale

de Recherche sur le Sida et les Hepatites Virales ( ANRS), Pháp), Albert Mwango (Bộ Y tế, Zambia),

Leonardo Palombi (Chương trình DReAM, Cộng đồng Sant’egidio, Rome, Ý), Anton Pozniak (Bệnh viện Chelsea và Westminster, Vương quốc Anh), Luis Adrian Quiroz (Derechohabientes Viviendo

con VIH del IMSS (DVIMSS), Mexico), Kiat Ruxrungtham (Đại học Chulalongkorn, Bệnh viện tưởng

niệm Vua Chulalongkorn, thái Lan), Michael Saag (Đại học Alabama ở Birmingham, Hoa Kỳ),

Gisela Schneider (Học viện Đức vì Nhiệm vụ Y tế, Đức), Yanri Subronto (Universitas Gadjah Mada, Indonesia) và Francois Venter (Đại học Witwatersrand, Nam Phi).

Nhóm xây dựng Hướng dẫn sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Đồng chủ tịch: elaine Abrams (trung tâm quốc tế về chăm sóc AIDS và Chương trình điều trị (ICAP),

Đại học Columbia, Mỹ) và Denis Tindyebwa (Mạng lướiChăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi AIDS tại

Châu Phi, Uganda)

GRADE Methodologist: Joerg Meerpohl (trung tâm Cochrane Đức, trung tâm Đại học Y tế,

Freiburg, Đức)

Renaud Becquet (Internationale Institut de Sante Publique d’epidemiologie et de Developpement, Universite Bordeaux Segalen, Pháp), Deborah Birx (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, Mỹ), Benjamin Chi(trung tâm nghiên cứu bệnh truyền nhiễm Zambia, Zambia) , Mark

Cotton (Đại học Stellenbosch, Nam Phi), Nonhlanhla Dlamini (Cục Y tế Quốc gia, Nam Phi), Rene

Ekpini (Quỹ Nhi đồng LHQ, New York), Carlo Giaquinto (Đơn vị bệnh truyền nhiễm Paedatric và

Đơn vị thử nghiệm lâm sàng Azienda Ospedaliera di Padova, Ý), Diana Gibb (Hội đồng Nghiên cứu

y tế Đơn vị thử nghiệm lâm sàng, Vương quốc Anh), Sabrina Bakeera-Kitaka (Đại học Makerere

và Bệnh viện giới thiệu quốc gia Mulago, Uganda), Louise Kuhn (Đại học Columbia, Mỹ), Evgenia

Maron (Quỹ Phụ nữ từ thiện của Astra, Liên bang Nga),Babalwa Mbono (mothers2mothers, Nam

Phi), James McIntyre (Đại học Cape town, Nam Phi), Lynne Mofenson (Viện Y tế Quốc gia, Hoa Kỳ), Angela Mushavi (Bộ Y tế và Phúc lợi trẻ em, Zimbabwe), Ryan Phelps (Cơ quan Phát triển Quốc

Trang 18

tế Hoa Kỳ, Mỹ), Jorge Pinto (Đại học Liên bang Minas Gerais, Brazil), Andrew Prendergast (Đại học Queen Mary London, Vương quốc Anh), Thanyawee Puthanakit (Đại học Chulalongkorn, thái Lan), Atiene Sagay (Ðại học Jos, Nigeria ), Roger Shapiro (trường Y tế công cộng Harvard, Mỹ), GeorgeSiberry (Viện Y tế Quốc gia, Hoa Kỳ), Landry Tsague (Quỹ Nhi đồng LHQ, Zambia), Thorkild Tylleskar (Đại học Bergen, Na Uy), Paula Vaz (Fundagao Ariel Glaser ngược o SIDA Pediatrico, Mozambique), Evgeny Voronin (trung tâm Nhi khoa AIDS của Nga, Liên bang Nga) và Linhong Wang (trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh trung Quốc, trung Quốc).

Nhóm xây dựng Hướng dẫn Cung cấp dịch vụ và hoạt động

Đồng chủ tịch: Kevin De Cock (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, USA) và

Yogan Pillay (Cục Y tế Quốc gia, Nam Phi).

GRADE methodologist: Holger Schunemann (Khoa Khoa học Y tế, Đại học McMaster, Canada) Tsitsi Mutasa Apollo (Bộ Y tế và Phúc lợi trẻ em, Zimbabwe), Yibletal Assefa (Bộ Y tế, ethiopia), Paula Braitstein (Đại học Y khoa Indiana,USA), Zengani Chirwa (Bộ Y tế, Malawi), Bùi Đức Dương (Bộ Y tế,Việt Nam), Ade Fakoya (Quỹ toàn cầu phòng, chống AIDS, Lao và Sốt rét, thụy Sĩ), Robert Ferris (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, USA), Ronaldo Hallal (Departamento de DSt, Aids e Hepatites Virais, Brazil), Eihab Ali Hassan (Liên bang Bộ Y tế, Sudan), David Hoos (trung tâm Quốc

tế về Chăm sóc AIDS và Chương trình Điều trị, Đại học Columbia, Mỹ), Barbara Milani (Médecins Sans Frontieres (MSF), thụy Sĩ), Christine Nabiryo (tổ chức Hỗ trợ AIDS (tASO ), Uganda), Natalia Nizova (Bộ Y tế, Ukraina), Anupam Pathni (Liên Đoàn Kế Hoạch Hóa Gia Đình Quốc tế Nam Á, Ấn Độ), Elliot Raizes (trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, USA), Kenly Sekwese (Chiến dịch Học chữ và Vận động Điều trị, Zambia), Larissa Stabinski (Văn phòng điều phối AIDS toàn cầu Hoa Kỳ, USA), Miriam Taegtmeyer (trường Y học Nhiệt đới Liverpool, Vương quốc Anh), Wim Van Damme (Viện Y học Nhiệt đới, Bỉ), Eric van Praag (tổ chức Sức khỏe gia đình quốc tế (FHI), Cộng hòa tanzania), Mean Chhi Vun(Bộ Y tế, Campuchia), Larry Westerman (trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, USA), Steve Wignall (Quỹ Sáng kiến tiếp cận Y tế Clinton (CHAI), Indonesia) và Anna Zakowicz (Mạng lưới toàn cầu của những người sống chung với HIV

(GNP+), Châu Âu)

Nhóm xây dựng Chỉ đạo Chương trình

Đồng Chủ tịch: tsitsi Apollo (Bộ Y tế và Phúc lợi trẻ em, Dimbabwe) và Adeeba Kamarulzaman (Đại

học Malaya, Malaysia)

Ihab Adbelrahman (Bộ Y tế và Dân số, Ai Cập), John Aberle-Grasse (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Yibeltal Assefa (Bộ Y tế, ethiopia), Rob Baltussen (Đại học Radboud Nijmegen, Hà Lan), Anton Best (Bộ Y tế, Barbados), John Blandford (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Sergiy Filippovych (Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV / AIDS ở Ukraine, Ukraine), Eric Goemaere (tổ chức bác sĩ không biên giới MSF, Nam Phi), Dirceu Greco (BộY

tế, Brazil), Timothy Hallett (Đại học Imperial College London, Vương quốc Anh), Priscilla Idele (Quỹ Nhi đồng LHQ, New York), Ushma Mehta (tư vấn viên độc lập,Nam Phi), Irene Mukui (Chương trình quốc gia về kiểm soát AIDS & StI, Kenya), Jean Paul Moatti (Viện Y tế và Nghiên cứu Y học INSeRM, Đại học Université de la Méditerranée, Pháp Pháp), Natalia Nizova (Bộ Y tế, Ukraina), Ole Frithjof Norheim (Đại học Bergen, Na Uy), Asia Russell (Dự án tiếp cận Sức khỏe toàn cầu GAP, Mỹ), Kenly Sikwese (Dự án tác động sức khỏe tích cực, Zambia), Jerome Singh (trung tâm Chương trình Nghiên cứu AIDS tại Nam Phi, Nam Phi), Petchsri Sirinirund (Bộ Y tế công cộng, thái Lan), John Stover (Viện tương lai, Hoa Kỳ), Aliou Sylla (Bộ Y tế, Mali), Wim Van Damme (Viện Y học Nhiệt đới, Bỉ), Stefan Weinmann (tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ GmbH Đức), Annemarie MJ Wensing

(Đại học Y trung ương tại Utrecht, Hà Lan)

Trang 19

Lời cảm ơn

Quan sát viên tại Hội nghị Nhóm phát triển Chỉ đạo chương trình: Bernhard Schwartländer

(UNAIDS)

Hội đồng bình duyệt bên ngoài

Michelle Adler (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Isabelle Andrieux-Meyer (tổ chức bác sĩ không biên giới MSF, thụy Sỹ), Xavier Anglaret (Chương trình PACCI du site ANRS

de Côte d’Ivoire, Bờ Biển Ngà), Marcelo Araujo de Freitas (Bộ Y tế, Brazil), Pamela Bachanas (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Shaiful Bahari Ismail (trường Đại học Sains

Malaysia, Malaysia), Pierre Barker (Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill, Mỹ), David Barr (Quỹ hợp

tác phòng chống HIV tại trung tâm tides, Hoa Kỳ), Jose Gerard Belimac(Chương trình quốc gia

về phòng chống và kiểm soát AIDS & StI Philippines), Soumia Benchekroun (Đại học Bệnh viện

trung tâm Centre Hospitalier Universitaire Ibn Sina de Rabat, Maroc), Marc Bulterys (trung tâm

kiểm soát và phòng chống dịch bệnh, trung Quốc), Helen Bygrave (tổ chức bác sĩ không biên giới MSF, Nam Phi), Carlos F Cáceres (Đại học niversidad Peruana Cayetano Heredia, Peru), Georgina

Caswell (Mạng lưới toàn cầu của những người sống chung với HIV, Nam Phi), Alexander Chuykov (tổ chức chăm sóc sức khỏe AIDS Healthcare Foundation, Liên bang Nga), Polly Clayden (tổ chức

Điều trị HIV, HIV i-base, Vương quốc Anh), Suzanne Crowe (Viện Burnet, Hoa Kỳ), Margarett Davis (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Chris Duncombe (Quỹ Bill & Melinda

Gates, Hoa Kỳ), Marhoum El Filali (Bệnh viện Đại học lbn Rochd, Ma-rốc), Wafaa El-Sadr (trung tâm quốc tế về chăm sóc và điều trị AIDS, Hoa Kỳ), Carlos Falistocco (SIDA y etS del Ministerio de Salud

de La Nacion, Argentina), Donna Futterman (Bệnh viện Nhi ở Montefiore, Hoa Kỳ), Elvin Geng

(Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Charles Phillips (Đại học Queensland, Úc), Giovanni

Guidotti (Chương trình DReAM, Cộng đồng Sant’egidio, Ý), Bertrand Kampoer (Nhân viên tư vấn

Sức khỏe, Cameroon), Jonathan Kaplan (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ),

Sairankul Kassymbekova (trung tâm quốc gia về AIDS, Ca-dắc-xtan), Tamil Kendall (Quỹ trudeau Fondation, Mexico), Karusa Kiragu (UNAIDS), Emily Koumans (trung tâm kiểm soát và phòng

ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Richard Lester (Đại học British Columbia, Canada), Oyun Lkhagvasuren (Quỹ Giáo dục và Nghiên cứu Sức khỏe Geneva, thụy Sĩ), Rangsima Lolekha (Bộ Y tế Công cộng,

thái Lan), Yolisa Mashologu (Hội đồng Nghiên cứu Khoa học con người, Nam Phi), Edward Mills

(Đại học Ottawa, Canada), Thomas Minior (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ), Julio Montaner

(Đại học British Columbia, Canada), Lydia Mungherera (tổ chức Hỗ trợ Bệnh nhân AIDS, Uganda),

Joseph Murungu (Bộ Y tế, Zimbabwe), Anthony Mutiti (Bệnh viện trung ương Kitwe, Zambia),

Jean Nachega (Viện Y tế công cộng Johns Hopkins Bloomberg, Hoa Kỳ), Steave Nemande (tổ chức Alternatives-Cameroun, Cameroon), John Nkengasong (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Siobhan O’Connor (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, Hoa Kỳ), Sylvia Ojoo (Đại học Maryland, Mỹ), Nittaya Phanuphak (trung tâm nghiên cứu AIDS, thái Lan), Christian Pitter (tổ chức AIDS Nhi đồng elizabeth Glaser, Hoa Kì), Praphan Pranuphak (trung tâm nghiên

cứu AIDS, Hội Chữ thập đỏ thái Lan), Helena Rabie (Đại học Cape town và Đại học Stellenbosch,

Nam Phi), Gilles Raguin (tổ chức liên đới mạng điều trị GIP esther, Pháp), Peter Saranchuk (tổ chức Bác sĩ không biên giới, Nam Phi), Erik Schouten (Khoa học Quản lý Y tế, Malawi), Jason Sigurdson (UNAIDS), Mariangela Simao (UNAIDS), Annette Sohn (tReAt Asia/amfAR – Quỹ Nghiên cứu AIDS, thái Lan), Luis Soto-Ramirez (Học Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia Salvador Zubirán, Mexico), Wendy

Stevens (tổ chức National Health Laboratory Services, Nam Phi), Omar Sued (Fundacion Huésped, Argentina), Fatiha Terki (Chương trình Lương thực thế giới, thụy Sĩ), Tengiz Tsertsvadze (Đại học

Quốc gia tbilisi, Georgia), Emilia Valadas (Clínica Universitária de Doenças Infecciosas e Parasitárias,

Bồ Đào Nha), Helena Walkowiak (Khoa học Quản lý Y tế, Hoa Kỳ), Alice Welbourn (tổ chức

Salamander trust, Vương quốc Anh), Robin Wood (Đại học Capetown, Nam Phi), Zhao Yan (trung

tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh trung Quốc,trung Quốc), Yazdan Yazdanpanah (Đại học Paris Diderot, Pháp), José M Zuniga (Hiệp hội quốc tế Chăm sóc Bệnh nhân AIDS, Hoa Kỳ) và Sheryl Zwerski (Viện Y tế Quốc gia, Mỹ).

Trang 20

Hội đồng đánh giá hệ thống và chứng cứ theo GRADE

Các nhà đánh giá chứng cứ và GRADE: Isabelle Andrieux-Meyer (tổ chức bác sĩ không biên giới MSF, thụy Sĩ), Andrew Anglemyer (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Till Barnighausen (Viện Y tế công cộng Đại học Harvard, Hoa Kỳ), Heiner Bucher (Đại học Bệnh viện Basel, thụy Sĩ), Krista Chaivachati (Đại học Y dược Yale, Mỹ), Larry Chang (Đại học Johns Hopkins, Mỹ), Tamara Credo (Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (Nam Phi), Andrea De Luca (Bệnh viện Đại học Siena, Ý), Didier Koumavi Ekouevi (Chương trình PACCI, Pháp), Elvin Geng (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Tara Hovarth (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Andreas Jahn (Bộ y tế, Malawi), Alexander Kay (Đại học Stanford, Mỹ), Gail Kennedy (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Joy Oliver (trung tâm Cochrane Nam Phi), Rosanna Peeling (Viện Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London, Vương quốc Anh), Martina Penazzato (tư vấn viên tCYttG, thụy Sĩ), Heike Raatz (Đại học Bệnh viện Basel, thụy Sĩ), George Rutherford (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Nandi Siegfried (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Alicen Spaulding (Đại học Minnesota, Mỹ), Amitabh Suthar (tư vấn viên tCYttG, thụy Sĩ), Joseph Tucker (Viện y tế Đại học Bắc Carolina, trung Quốc), Gavrilah Wells (Đại học California tại San Francisco, Mỹ) và Zara Shubber (Đại học

Hoàng gia Luân Đôn, Vương quốc Anh)

Các nhà lập mô hình: Andrea Ciaranello (Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Mỹ), Anne Cori (Đại học Hoàng gia Luân Đôn, Vương quốc Anh), Mary-Ann Davies (Đại học Cape town, Nam Phi), Jeffrey Eaton (Đại học Hoàng gia Luân Đôn, Vương quốc Anh), Matthias Egger (Đại học Berne, thụy Sĩ), Christophe Fraser (Đại học Hoàng gia Luân Đôn, Vương quốc Anh), Timothy Hallett (Đại học Hoàng gia Luân Đôn, Vương quốc Anh), Daniel Keebler (trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ DSt/ NRF Nam Phi, Đại học Stellenbosch, Nam Phi), Nicolas Menzies (Viện Y tế Cộng đồng Havard, Mỹ), Paul Revill (Đại học York, Vương quốc Anh), Michael Schomaker (Đại học Cape town, Nam Phi), John Stover (Viện tương lai, Mỹ) và Peter Vickerman (Viện Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London,

Vương quốc Anh)

Hội đồng đánh giá giá trị và xác định ưu tiên: Alice Kate Armstrong (Hiệp hội Hỗ trợ trẻ em nhiễm HIV, Nam Phi), Laura Ferguson (Viện Sức khỏe toàn cầu, Đại học Nam California, Mỹ), Adam Garner (Mạng Lưới Những Người Sống Chung Với HIV, Mỹ), Carolyn Green (tư vấn viên Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV/AIDS, Vương Quốc Anh), Amy Hsieh (Mạng Lưới Những Người Sống Chung Với HIV, Mỹ), Nick Keeble (Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV/AIDS, Vương Quốc Anh), Gitau Mburu (Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV/AIDS, Vương Quốc Anh), Florence Ngobeni (Hiệp hội Hỗ trợ trẻ em nhiễm HIV, Nam Phi), Mala Ram (Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV/ AIDS, Vương Quốc Anh), Anja Teltschik (Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV/AIDS, Vương Quốc Anh) Robert Worthington (Kwantu, Vương Quốc Anh), vàNhómTham Khảo Cộng đồng TCYTTG.1

Christoforos Mallouris (tư vấn viên tCYttG) đã phối hợp hỗ trợ tư vấn công việc với Liên minh

Phòng, chống HIV/AIDS quốc tế và Mạng lưới toàn cầu những người sống chung với HIV

MANet+), Malawi), Mabel Bianco (Quỹ Nghiên cứu của Phụ nữ (FeIM), Argentina), Tung Bui (Mạng lưới Youth Voice Count, thái Lan), Michaela Clayton (Liên minh AIDS and R cho Nam Phi, Namibia), Lee Hertel (Mạng lưới toàn cầu những người nghiện, Mỹ), Ruth Mery Linares Hidalgo (Ciudad Quesada, Costa Rica), Noreen Huni (trung tâm hỗ trợ tâm lý (RePSSI), Nam Phi), Matthew Kavanagh (Dự án tiếp cận Sức khỏe toàn cầu GAP, Mỹ), JoAnne Keatley (Đại học California tại San Francisco, Mỹ), Sharonann Lynch (tổ chức bác sĩ không biên giới, Mỹ), Babalwa Mbono (Mothers to Mothers (M2M), Nam Phi), Gitau Mburu (Liên minh Quốc tế về phòng chống HIV/AIDS, Vương quốc Anh), Othoman Mellouk (Diễn đàn toàn cầu về MSM và HIV, Maroc), Luís Mendão (Hiệp hội Điều trị Bệnh nhân AIDS châu Âu, Bồ Đào Nha), Noah

Metheny (Diễn đàn toàn cầu về MSM và HIV, Mỹ), Carlo Oliveras (Hiệp hội Hỗ trợ Điều trị Caribbean, Puerto Rico), Rachel Ong (tổ chức Cộng đồng Quỹ toàn cầu về hỗ trợ ngăn ngừa AIDS, bệnh lao và bệnh sốt rét, Singapore), Asia Russell (Dự

án tiếp cận Sức khỏe toàn cầu GAP, Mỹ), Leickness Simbayi (Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Con người, Nam Phi), Felly

Nkweto Simmonds (Hội đồng Dân số, Zambia), Lucy Stackpool-Moore (Liên hiệp Quốc tế Kế hoạch hóa Sinh đẻ, Vương

quốc Anh), Ruth Morgan Thomas (Dự án Global Network of Sex Workers Projects, Vương quốc Anh) và Mary Ann Torres

(Hội đồng quốc tế các tổ chức Dịch vụ cho bệnh nhân AIDS, Canada).

Trang 21

Lời cảm ơn

Nhân viên và tư vấn viên TCYTTG

Andrew Ball và Philippa Easterbrook (Khoa HIV) đã phối hợp làm việc với Cadi Irvine (tư vấn

viên, Khoa HIV) trong quá trình phát triển chính sách chỉ đạo tổng thể Meg Doherty (Khoa HIV)

đã giám sát việc cung cấp các dịch vụ y tế lâm sàng Bốn nhóm phát triển chỉ đạo được hỗ trợ bởi

Eyerusalem Kebede Negussie (Cố vấn viên Nhóm Phát triển Chỉ đạo Cung cấp Dịch vụ Hoạt động, Khoa HIV), Lulu Muhe và Nathan Shaffer (Cố vấn viên Nhóm Phát triển Chỉ đạo Sức khỏe cho Bà

mẹ và trẻ em, Khoa Sức khỏe cho trẻ em, Vị thành niên, Bà mẹ và Khoa HIV), Marco Vitoria (tư

vấn viên Nhóm Phát triển Chỉ đạo Người trưởng thành, Khoa HIV) và Joseph Perriëns (tư vấn viên

Nhóm Phát triển Chỉ đạo Chương trình, Khoa HIV) tất cả các nhóm trên cấu thành Ban lãnh đạo

tCYttG

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tư vấn viên của tCYttG dưới đây, những người đã có những

đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và viết các hướng dẫn chỉ đạo: Jhoney Barcarolo (Chỉ đạo cho Giám đốc Chương trình), Shaffiq Essajee (Sức khỏe Bà mẹ và trẻ em), Martina Penazzato (Sức khỏe Bà mẹ và trẻ em) và Amitabh Suthar (Cung cấp Dịch vụ Hoạt động và Người trưởng

thành) Ian Grubb đã hỗ trợ toàn bộ các hoạt động viết hướng dẫn chỉ đạo.David Breuer thực hiện

biên tập kĩ thuật văn bản Các tư vấn viên sau cũng tham gia vào quá trình phát triển hướng dẫn:

April Baller, Sally Girvin, Kathi Fox, Elizabeth Marum, Priya Shetty và Michelle Williams.

Các nhân viên tCYttG dưới đây cũng đã đóng góp phát triển chỉ đạo: Rachel Baggaley (Khoa HIV), Silvia Bertagnolio (Khoa HIV), Jesus García Calleja (Khoa HIV), Agnes Chetty (Văn phòng tCYttG tại Đông Địa trung Hải), Irina Eramova (Văn phòng tCYttG tại Châu Âu), Nathan Ford (Khoa HIV), Masami Fujita (Văn phòng tCYttG tại tây thái Bình Dương), Haileyesus Getahun (trung tâm

Phòng chống Bệnh lao), Vincent Habiyambere (Khoa HIV), Chika Hayashi (Khoa HIV), Masaya

Kato (Văn phòng tCYttG tại tây thái Bình Dương), Lali Khotenashvili, (Văn phòng tCYttG tại

Châu Âu), Ying-Ru Lo (Văn phòng tCYttG tại tây thái Bình Dương), Frank Lule (Văn phòng tCYttG tại châu Phi), Vivia Mangiaterra (Phòng Nghiên cứu Sức khỏe Sinh sản), Hernan Julio Montenegro (Phòng Chính sách Y tế, Phát triển và Dịch vụ), Lisa Nelson (Phòng HIV), Morkor Newman (Văn

phòng tCYttG tại châu Phi), Boniface Dongmo Nguimfack (Phòng HIV), Linh Nguyen (trung tâm Phòng chống Bệnh lao), Kevin O’Reilly (Phòng HIV), Brian Pazvakavambwa (Văn phòng tCYttG

tại châu Phi), Razia Pendse (Văn phòng tCYttG tại Đông Nam Á), Françoise Renaud-Théry (Phòng HIV), Bharat B Rewari (Văn phòng tCYttG tại Đông Nam Á), Nigel Rollins (Phòng Sức khỏe Bà mẹ, trẻ am và Vị thành niên), Anita Sands (Phòng Y dược và Dược phẩm thiết yếu), Yves Souteyrand

(Văn phòng tCYttG tại Đông Địa trung Hải), Isseu Diop Toure (Văn phòng tCYttG tại châu Phi),

Annette Verster (Phòng HIV), Gundo Weiler (Phòng HIV) và Stefan Wiktor (trung tâm phòng

chống Bệnh dịch và Đại dịch) Các bác sĩ hỗ trợ tCYttG bao gồm: Grace Akol, Hanna Yemane

Berhane và Jayne Ellis.

Hayet Souissi và Jasmin Leuterio đã hỗ trợ các công việc hành chính ở tCYttG.Oyuntungalag

Namjilsuren, Sarah Russell vàGlenn Thomas chịu trách nhiệm công việc giao tiếp, liên lạc

Maryann-Nnenkai Akpama, Afrah Al-Doori, Adriana De Putter, Lydia Mirembe Kawanguzi và Ophelia Riano hỗ trợ bổ sung công việc hành chính và quản lý

Các nhà tài trợ:

Nguồn vốn thực hiện công việc này được các nhà tài trợ sau cung cấp: trung tâm kiểm soát và

phòng ngừa dịch bệnh, Quỹ Bill & Melinda Gates, tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ, Quỹ Hợp nhất UNAIDS, Khuôn khổ Giải trình Kết quả, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ và một số nguồn quỹ

khác từ nhân viên tCYttG tCYttG cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các tổ chức đã dành thời gian, đóng góp hỗ trợ để phát triển các chỉ đạo hướng dẫn này

Trang 23

Lời nói đầu

LỜI NÓI ĐẦU

Trong ấn bản này, lần đầu tiên TCYTTG ban hành các hướng dẫn tổng hợp cho việc sử dụng thuốc kháng virut sao chép ngược trong công tác dự phòng và điều trị lây nhiễm HIV Những hướng dẫn này hướng tới tham vọng tạo nên được tác động như mong muốn, nhưng lại đơn giản hóa trong cách tiếp cận và dựa trên bằng chứng có căn nguyên chắc chắn Những hướng dẫn này tận dụng nhiều xu hướng mới đây, trong đó phải kể tới cơ chế điều trị được ưa chuộng là

cơ chế được đơn giản hóa thành một liệu pháp điều trị kết hợp trong đó người bệnh chỉ phải sử dụng một viên thuốc liều dùng cố định mỗi ngày, đây cũng là cách điều trị an toàn và tiết kiệm chi phí hơn cả.

Hướng dẫn này cũng sử dụng bằng chứng cho thấy liệu pháp kháng virut sao chép ngược mang lại

nhiều lợi ích Với phương pháp điều trị đúng hướng, đúng thời điểm, những người nhiễm HIV giờ đây có thể có một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh Liệu pháp điều trị này cũng giúp bảo vệ vợ/chồng của họ và con cái của họ giảm thiểu tối đa nguy cơ lấy nhiễm.

Những hướng dẫn này cũng thể hiện một bước tiến vượt bậc làm động lực để đạt được các mục tiêu và

thành tựu to lớn hơn nữa Ở Châu Phi, vùng đất phải chịu gánh nặng của đại dịch HIV, theo thống kê đến cuối năm 2012, hiện đã có khoảng 7,5 triệu người bệnh đang được điều trị HIV so với chỉ 50,000 người

được điều trị vào thập kỷ trước Trên thế giới, hiện có khoảng 9,7 triệu người đang được điều trị HIV, so với mục tiêu 15 triệu người được điều trị HIV cho đến 2015 thì đây là một mục tiêu trong tầm tay Các thành tựu hiện nay thể hiện quy mô của chương trình can thiệp y tế cộng đồng trong việc cứu người đang được

mở rộng một cách nhanh nhất trong lịch sử.

Con đường chủ yếu để đẩy nhanh quá trình điều trị là bắt đầu điều trị sớm, cách này đã được đề xuất

trong bản hướng dẫn Các bằng chứng thể hiện rằng, điều trị sớm mang lại tác động kép, vừa giúp kéo

dài tuổi thọ của người bệnh lại vừa có thể giảm nguy cơ truyền nhiễm virut sang người khác.

Điều trị sớm mang lại những hiệu quả xa hơn như giảm các nhu cầu hoạt động trong các chương trình Hướng dẫn còn chỉ ra rằng phụ nữ mang thai và trẻ em dưởi năm tuổi nên bắt đầu điều trị ngay khi phát hiện bệnh Hướng dẫn còn đề xuất thêm rằng kết hợp liều ngày dùng một lần nên áp dụng cho tất cả

người bênh trong độ tuổi trưởng thành, bao gồm cả những bệnh như bệnh lao, bệnh viêm gan và các

bệnh đồng nhiễm khác.

Các đề xuất khác trong hướng dẫn giúp các chương trình điều trị tiến gần hơn tới nơi ở của họ; giải quyết các kết quả xét ngiệm, kết hợp điều trị HIV với việc khám thai, bệnh lao, sự phụ thuộc thuốc và các dịch

vụ khác; và sử dụng đa dạng các dịch vụ của cán bộ y tế và các dịch vụ chăm sóc đi kèm.

Các nước yêu cầu TCYTTG đơn giản hóa các hướng dẫn sử dụng thuốc kháng virut sao chép ngược Tôi tin rằng phải để thỏa mãn yêu cầu đó thì các hướng dẫn này sẽ phải đi trên cả một con đường dài Họ

yêu cầu các khuyến cáo sử dụng cho các nhóm tuổi và các nhóm dân số Họ kết hợp các khuyến cáo lâm sàng với các hướng dẫn hoạt động và chương trình trong các khía cạnh quan trọng của điều trị và chăm sóc, từ xét nghiệm thông qua tuyển chọn và giữ lại , và từ việc chăm sóc bệnh nhân HIV nói chung đến

quản lý các hiện tượng cộng lây nhiễm.

Các hướng dẫn mới này đòi hỏi các chương trình phải thay đổi đáng kể Các chương trình này cần tăng đầu tư Bản thân tôi luôn tin rằng tương lai của cuộc chiến chống lại HIV vẫn duy trì theo tiêu chí từ trước đến nay: đó là , lòng tin kiên định tạo nên thành công và các thành tựu để đương đầu với thử thách mới.

Trang 24

TCYTTG ước tính rằng nếu chúng ta làm được những việc này, chúng ta sẽ đạt được những thành tựu

to lớn nhất từ trước đến nay: việc triển khai các hướng dẫn trên toàn cầu sẽ giúp ngăn ngừa được thêm gần 3 triệu người chết do HIV tính từ nay đến 2025 so với số người được cứu sống nếu sử dụng hướng dẫn

2010, và ngăn chặn 3,5 triệu ca lây nhiễm mới.

Những viễn cảnh ấy - điều mà chúng ta không thể nghĩ tới mấy năm trước – giờ đây lại có thể là động lực cần có để đẩy lùi đại dịch HIV Tôi khuyến cáo mạnh mẽ các quốc gia và các đối tác nắm bắt lấy cơ hội có một không hai này để đưa chúng ta tiến một bước tiến vượt bậc.

Tiến sĩ Margaret Chan

Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới

Trang 25

đi song hành với chương trình xét nghiệm, chăm sóc và điều trị HIV liên tục Các biện pháp can

thiệp về mặt hành vi, cấu trúc, y sinh học không liên quan tới việc sử dụng thuốc ARV không được

đề cập đến trong hướng dẫn này

Quá trình tổng hợp 2013 kết hợp và làm cân đối các đề xuất từ các tài liệu hướng dẫn của tCYttG

và các tài liệu khác , bao gồm các tài liệu hướng dẫn 2010 sử dụng liệu pháp kháng virut sao chép

ngược (ARt) cho các bệnh nhân là người trưởng thành và trẻ vị thành niên vị nhiễm HIV, cho các trẻ

sơ sinh và trẻ em bị nhiễm HIV, cho phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV và ngăn chặn lây nhiễm cho trẻ

sơ sinh Hướng dẫn toàn diện cung cấp các hướng dẫn sử dụng thuốc ARV cho các nhóm tuổi và các nhóm đối tượng: người trưởng thành, phụ nữ mang thai, bà mẹ đang cho con bú, trẻ vị thành niên, trẻ sơ sinh và các nhóm đối tượng đích Các hướng dẫn cũng nhằm củng cố và cập nhật các hướng dẫn lâm sàng và các hướng dẫn chương trình

Các hướng dẫn năm 2013 phản ánh những bước tiến quan trọng trong công tác đối phó với đại dịch HIV trong suốt ba năm qua.từ năm 2010, các công nghệ mới bao gồm xét nghiệm CD4 tại chỗ, tiếp cận các dịch vụ mới cho phép xét nghiệm HIV và giám sát điều trị đa dạng và tập trung Đơn giản,

an toàn hơn, điều trị hàng ngày, phác đồ điều trị thuốc ARV bằng một liều duy nhất đang trở thành liệu pháp điều trị thích hợp cho hầu hết các nhóm đối tượng và các nhóm tuổi vì chi phí hợp lý và

đang được áp dụng rộng rãi cho các nước có thu nhập thấp và trung bình Các quốc gia đang tiến

tới đẩy nhanh quá trình điều trị liều thuốc ba trong một và đơn giản hóa chương trình ngăn chặn

lây truyền HIV từ mẹ sang con nhằm kéo dài tuổi thọ cho phụ nữ mang thai và bà mẹ đang phải

sống chung với HIV và ngăn chặn lây nhiễm HIV giữa các trẻ sơ sinh Lợi ích của các thuốc ARV trong phòng HIVđang được công nhận: hơn nữa thuốc này còn cải thiện sức khỏe và kéo dài tuổi thọ cho người bệnh, thuốc ARV ngăn chặn sự lây lan của HIV qua đường tình dục, trong khi dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng ARV làm tăng sự ngăn chặn virut HIV và dự phòng sau phơi nhiễm HIV tiếp

tục đóng vai trò quan trọng quản lý phơi nhiễm HIV trong một nhóm đối tượng cụ thể và bao gồm

cả những người bị nhiễm HIV qua đường tình dục Mặc dù các quốc gia điều trị ARV ở mật độ khác nhau và thực hiện theo hướng dẫn của tCYttG năm 2010 theo cách khác nhau nhưng tất cả các

quốc gia này đều theo một xu hướng chung là điều trị HIV sớm

Đi theo đường lối của các hướng dẫn trước của tCYttG, tài liệu hướng dẫn tổng hợp 2013 dựa trên chương trình tiếp cận sức khỏe cộng đồng nhằm mở rộng quy mô sử dụng thuốc ARV trong điều

trị và ngăn ngừa HIV để cân nhắc tính khả thi và hiệu quả của các môi trường hạn chế tài nguyên

Các đề xuất lâm sàng mới trong bản hướng dẫn này giúp mở rộng tiêu chuẩn điều trị ARV cùng

với ngưỡng CD4 trong điều trị bắt đầu 500 tế bào /mm3 hay ít hơn đối với người trưởng thành, trẻ

vị thành niên và trẻ em Ưu tiên cho các bệnh nhân nhiễm HIVnặng và các bệnh nhân có nhiễm

HIV tiến triển nhanh và các bệnh nhân có thống kê CD4 350 tế bào/mm3 hay ít hơn Điều trị ARV

được đề xuất cho các bệnh nhân có lượng CD4 thấp cho một bộ phận người dân nhất định, bao

gồm những người bị bệnh lao (tB) đang sống chung với HIV, những người bị HIV và bị viêm gan B

và bệnh viêm gan cấp tính, các cặp bạn tình dương tính với HIV đối với các cặp bạn tình quan hệ

tình dục khác giới, phụ nữ mang thai và bà mẹ đang cho con bú, trẻ em dưới năm tuổi Cân đối

quá trình điều trị ARV cho người trưởng thành và trẻ em được đề xuất là có thể điều trị bất cứ lúc

nào, bằng quá trình điều trị ARV bậc một Quá trình điều trị ARV bậc một cần d4t cho liều dùng của người trưởng thành và trẻ vị thành niên Xét nghiệm tải lượng virut hiện nay đang được khuyến cáo trở thành phương pháp tiếp cận ưu tiên để kiểm tra các thành công trong sử dụng liệu pháp điều trị

Trang 26

ARV và những thất bại trong chẩn đoán điều trị, bổ sung việc kiểm tra lâm sàng và khả năng miễn dịch của các bệnh nhân điều trị bằng điều trị ARV.

Các hướng dẫn nhấn mạnh rằng thuốc ARV nên được sử dụng trong chăm sóc người HIV một cách liên tục và rộng rãi Các khuyến cáo mới bổ sung cung cấp các hướng dẫn về xét nghiệm và tư vấn HIV trong cộng đồng cũng như xét nghiệm HIV đối với trẻ vị thành niên Ngoài những khuyến cáo mới, các bản tóm tắt và tài liệu liên quan đến các hướng dẫn hiện thời của tCYttG được đưa ra phục

vụ cho việc xét nghiệm và tư vấn HIV, ngăn ngừa HIV, chăm sóc tổng quát đối với người bị nhiễm HIV, quản lý đồng nhiễm và các căn bệnh khác thường gặp, và kiểm tra và giám sát các độc chất trong thuốc Một vài khuyến cáo hiện nay cần được cập nhật, và các khuyến cáo mới sẽ cần được xem xét, cân nhắc trong một vài năm tới, khi có thêm các bằng chứng mới

Việc mở rộng điều kiện điều trị ARV và những lựa chọn trong việc sử dụng thuốc ARV giúp tạo ra những cơ hội mới để cứu sống bệnh nhân, cải thiện các kết quả lâm sàng và giảm thiểu tỉ lệ nhiễm HIV, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức cho các nhà hoạch định chính sách và những người thực thi ở rất nhiều quốc gia Những hướng dẫn thực hiện trong năm 2013 đưa ra những khuyến cáo để tăng cường các khía cạnh quan trọng trong chăm sóc liên tục đối với bệnh nhân HIV

và tăng cường liên kết với hệ thống y tế Hướng dẫn này tập trung vào các chiến lược để tăng cường khả năng giữ lại để chăm sóc và tham gia thường xuyên điều trị ARV và vào việc phân cấp để có thể cung cấp điều trị ARV cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, cho các trung tâm sức khỏe bà mẹ

và trẻ em, các trung tâm lao và các dịch vụ để điều trị tình trạng phụ thuộc vào thuốc Hướng dẫn thực hiện cũng hướng đến mối quan hệ mật thiết giữa các khuyến cáo lâm sàng mới đối với việc phục vụ trong phòng thí nghiệm và hệ thống cung cấp thuốc ARV và các bệnh khác

Hướng dẫn đặc biệt được phát triển cho các quản lý chương trình HIV hướng đến việc quyết định và lập kế hoạch cho việc sử dụng mang tính chiến lược thuốc ARV trong bối cảnh các quy trình quản

lý quốc gia, dịch bệnh HIV, năng lực của các hệ thống y tế, các nguồn tài chính có sẵn và cân nhắc tới các quyền con người và dân tộc Những cân nhắc thực hiện đặc biệt liên quan đến các quản lý chương trình được đưa ra đối với những khuyến cáo mới quan trọng Một chương đưa ra kết luận

về việc kiểm tra và đánh giá sẽ cung cấp những hướng dẫn sơ bộ trong kiểm tra việc thực hiện các khuyến cáo mới

Quá trình rà soát lại các hướng dẫn 2013 diễn ra theo các thủ tục do Hội đồng Xem xét các Hướng dẫn của tCYttG tạo ra Các khuyến cáo hoạt động và lâm sàng mới trong các hướng dẫn dựa trên cách tiếp cận GRADe (Phân độ các Khuyến cáo, Đánh giá, Phát triển và Lượng giá) để xem xét lại các bằng chứng đưa ra và các quyết định Mô hình, tư vấn chuyên nghiệp và các trường hợp cụ thể tại các quốc gia đã góp phần đưa ra hướng dẫn lâm sàng, hướng dẫn thực hiện và hướng dẫn quy trình Quy trình đã phát hiện ra những bất cập lớn trong hiểu biết, giúp hướng dẫn các nghị trình nghiên cứu trong tương lai Ngoài những khuyến cáo mới dựa trên hệ thống GRADe thì các hướng dẫn cũng tóm tắt những khuyến cáo hiện tại trong các hướng dẫn khác của tCYttG Hầu hết những khuyến cáo đó đều được phát triển dựa trên hệ thống GRADe hoặc sự sửa đổi trong đánh giá của GRADe về độ mạnh và chất lượng của bằng chứng

Độc giả chủ yếu của những hướng dẫn này là những người quản lý chương trình HIV quốc tế, đặc biệt là ở các quốc gia có mức thu nhập trung bình và thấp Các hướng dẫn được mong chờ sẽ chỉ dẫn việc đưa ra quyết định cấp quốc gia cũng như lập kế hoạch tăng cường sử dụng liệu pháp ARt Chúng cũng có giá trị to lớn đối với các nhà lâm sàng học cũng như đối với việc ưu tiên các cơ sở phát triển, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các đối tác thực hiện khác trong suốt những năm tiếp theo

Những hướng dẫn năm 2013 là một bước đi quan trọng trong việc thành công đối với tiếp cận phổ cập thuốc ARV trong điều trị và ngăn ngừa HIV, tăng hiệu quả, tác động và tính bền vững lâu dài của các chương trình sử dụng ARV, đồng thời giúp nhận ra mục tiêu cơ bản trong việc chấm dứt đại dịch HIV

Trang 27

Tư vấn và xét nghiệm HIV

Chủ đề và

Xét nghiệm dựa vào cộng

đồng • Đối với dịch toàn thể trên diện rộng, nên tiến hành tư vấn và xét nghiệm HIV dựa vào cộng đồng kết hợp cung cấp các dịch vụ dự

phòng, chăm sóc và điều trị, bên cạnh việc tư vấn và xét nghiệm

HIV bởi nhà cung cấp dịch vụ (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng

chứng thấp).

• trong tất cả các vùng dịch, nên tiến hành tư vấn và xét nghiệm HIV dựa vào cộng đồng cho nhóm đối tượng đích đồng thời kết hợp dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị, bên cạnh việc

tư vấn và xét nghiệm HIV bởi nhà cung cấp dịch vụ (khuyến cáo

mạnh, chất lượng bằng chứng thấp).

• Nên tiến hành tư vấn và xét nghiệm, kết hợp dự phòng, chăm sóc và điều trị cho trẻ vị thành niên trong nhóm đối tượng đích

ở mọi khu vực dân cư (dịch bệnh trên diện rộng, thấp và tập

trung) (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng rất thấp).

• Nên tiến hành tư vấn và xét nghiệm, kết hợp dự phòng, chăm sóc và điều trị cho toàn bộ trẻ vị thành niên trong khu vực dịch

bệnh trên diện rộng (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng

quyết định liệu, khi nào, bằng cách nào và tiết lộ cho ai (khuyến

cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng rất thấp).

Trang 28

Khi nào bắt đầu điều trị ARV cho người có HIV

Chủ đề và

Khi nào bắt đầu điều trị

ARV ở người lớn và trẻ vị

thành niêna

• trước hết, nên điều trị ARV cho mọi cá nhân có triệu trứng lâm sàng HIV vừa hoặc nặng (giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 của tCYttG) và cá nhân có số lượng CD4 ≤ 350 tế bào/mm3 (khuyến

cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình).

• Nên điều trị ARV cho mọi cá nhân nhiễm HIV với số lượng CD4

> 350 tế bào/mm3 và ≤500 tế bào/mm3 không theo giai đoạn

bệnh của tCYttG (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng

trung bình).

• Nên điều trị ARV cho mọi cá nhân nhiễm HIV không theo giai đoạn bệnh của tCYttG hoặc số lượng tế bào CD4 theo những trường hợp sau:

• Các cá nhân nhiễm HIV và bệnh tB dương tính (khuyến cáo

mạnh, chất lượng bằng chứng thấp).

• Các cá nhân đồng nhiễm HIV và HBV có bằng chứng của bệnh

gan mạn tính nặng (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng

thấp).

• Các cặp bạn tình nhiễm HIV thuộc nhóm dị nhiễm nên điều trị ARV để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm cho bạn tình chưa lây

nhiễm (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng thấp).

Khi nào điều trị ARV cho

phụ nữ mang thai và cho

con bú

• toàn bộ phụ nữ mang thai và cho con bú nhiễm HIV nên áp dụng ARV ba thuốc (ARt), ít nhất duy trì trong giai đoạn có nguy

cơ truyền từ mẹ sang con Phụ nữ đáp ứng các tiêu chí điều trị

nên tiếp tục điều trị điều trị ARV suốt đời (khuyến cáo mạnh, chất

lượng bằng chứng trung bình).

• Vì lý do chương trình, đặc biệt tại những nơi có dịch toàn thể, toàn bộ phụ nữ mang thai và cho con bú nên điều trị ARV suốt đời (khuyến cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)

• Ở một số quốc gia, với phụ nữ không đủ điều kiện điều trị ARV

do sức khỏe của họ, cần cân nhắc dừng áp dụng liệu pháp ARV

sau khi đã kết thúc giai đoạn lây truyền từ mẹ sang con (khuyến

cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)

Trang 29

ARV và thời gian điều trị

áp dụng cho phụ nữ cho

con bú

Vẫn áp dụng những khuyến cáo và nguyên tắc chính của năm

2010, gồm:

Cơ quan y tế trung ương và địa phương nên quyết định xem có cần

tư vấn và hỗ trợ các dịch vụ y tế cho các bà mẹ biết đã bị nhiễm HIV cho cả phụ nữ đang cho con bú và điều trị liệu pháp ARV hoặc phòng tránh cho con bú có xét đến các hoàn cảnh cụ thể

Ở những nơi mà chính quyền địa phương đã xác định rằng các dịch

vụ y tế dành cho bà mẹ, trẻ em sẽ phát triển chủ yếu và hỗ trợ cho giai đoạn đang cho con bú cũng như các biện pháp can thiệp bằng ARV là một chiến lược có khả năng cao nhất giúp các trẻ sơ sinh sinh

ra bởi các bà mẹ đã được xác định là bị nhiễm HIV có cơ hội sống sót

mà không bị nhiễm HIV ở tỉ lệ cao nhất:

• Các bà mẹ nhiễm HIV (và những đứa trẻ chưa nhiễm HIV hoặc chưa biết tình trạng bệnh) thì không nên cho con bú trong vòng

6 tháng đầu, nên bổ sung bằng thức ăn phù hợp sau đó, và tiếp tục cho bú sau 12 tháng tuổi Nên dừng cho con bú sau khi có

thể cung cấp phác đồ ăn đủ dinh dưỡng cho trẻ (khuyến cáo

mạnh, chất lượng bằng chứng cao đối với 6 tháng đầu; chất lượng bằng chứng thấp đối với 12 tháng sau).

Khi nào điều trị ARV cho

trẻ em • toàn bộ trẻ em nhiễm HIV nên được điều trị ARV trước 5 tuổi, không theo giai đoạn bệnh hoặc số lượng tế bào CD4 của

tCYttG

• trẻ chẩn đoán nhiễm HIV trong năm đầu đời (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình)

• trẻ bị nhiễm HIV trong khoảng thời gian từ 1 năm đến dưới 5

năm (khuyến cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng rất thấp).

• Nên điều trị ARV cho toàn bộ trẻ nhiễm HIV trên 5 năm tuổi với

số lượng tế bào CD4 ≤ 500 tế bào/mm3 không theo giai đoạn bệnh của tCYttG

• Số lượng CD4 ≤ 350 tế bào/mm3 (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình )

• trẻ nhiễm HIV trong khoảng thời gian từ 1 năm đến dưới

5 năm tuổi (khuyến cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng

• Nên điều trị ARV cho trẻ sơ sinh dưới 18 tháng tuổi đã được chẩn

đoán lâm sàng nhiễm HIV (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng

chứng thấp)

Trang 30

Khi nào bắt đầu điều trị ARV

• thuốc ARV bậc một gồm hai chất ức chế phiên mã ngược tương

tự nucleoside (NRtIs) và nhóm ức chế phiên mã ngược không nucleoside (NNRtI)

• tDF + 3tC (hay FtC) + eFV phối hợp cố định liều này được

đánh giá là một lựa chọn thích hợp để bắt đầu điều trị AARV

(khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình).

• Nếu tDF + 3tC (hay FtC) + eFV có chống chỉ định hay không

có sẵn, thì có thể dùng một trong ba phương án sau:

• AZt + 3tC + eFV

• AZt + 3tC + NVP

• tDF + 3tC(hay FtC) + NVP

(khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình).

• Các quốc gia nên ngừng sử dụng d4t cho các phác đồ điều trị bậc một do các độc tính lên hệ thống chuyển hóa đã được biết

rõ (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình)

Điều trị ARV bậc một cho

(khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng từ thấp tới trung bình: chất lượng bằng chứng trung bình nếu áp dụng cho người trưởng thành nói chung, nhưng lại ở mức thấp khi áp dụng cho một bộ phận đặc biệt các phụ nữ mang thai, đang cho con bú và trẻ sơ sinh)

• Những trẻ sơ sinh có mẹ đang điều trị ARV và đang bú sữa mẹ cần phải được điều trị chương trình dự phòng 6 tuần cho trẻ sơ sinh hàng ngày bằng NVP Những trẻ sơ sinh đang ăn sữa ngoài cần điều trị dự phòng bốn đến sáu tuần bằng thuốc NVP hàng ngày (hay dùng thuốc AZt hai lần trên ngày) Nên điều trị dự phòng cho trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh hay ngay sau khi phát

hiện trẻ nhiễm HIV (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng

trung bình đối với trẻ đang bú sữa mẹ; khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng thấp đối với trẻ em đang ăn sữa ngoài).

Trang 31

một cho trẻ dưới 3 tuổi • Nên sử dụng cơ chế điều trị dựa trên LPV/r làm phác đồ điều trị ARV bậc một cho tất cả các trẻ em bị nhiễm HIV dưới 3 năm tuổi

(36 tháng tuổi) bao gồm cả việc phơi nhiễm NNRtI Nếu LPV/r không khả thi, nên bắt đầu điều trị bằng phác đồ điều trị dựa

trên NVP (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình )

• Ở những nơi có thể theo dõi được tải lượng virut, NNRtI nên được dùng thay cho LPV/r sau khi duy trì được khả năng ức chế

virut (khuyến cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)

• Áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ em dưới ba tuổi bị nhiễm HIV, phác đồ ABC + 3tC + AZt được khuyến cáo dùng cho trẻ em bị tăng tB trong quá trình điều trị ARV mà chứa NVP hay LPV/r Một khi phác đồ điều trị tB kết thúc, quá trình điều trị này cần phải

dừng và bắt đầu lại từ đầu (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng

chứng trung bình)

• Áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ em dưới ba tuổi bị nhiễm HIV, khung sườn điều trị NRtI cho phác đồ điều trị ARV là ABC + 3tC

hay AZt + 3tC (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng thấp)

Điều trị ARV bậc một cho

trẻ từ 3 tuổi trở lên • Áp dụng cho trẻ em bị nhiễm HIV từ 3 tuổi trở lên (kể cả trẻ vị thành niên), eFV là NNRtI thích hợp cho điều trị bậc một và NVP

cũng có thể dụng thay thế (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng

chứng thấp).

• Áp dụng cho trẻ em nhiễm HIV từ 3 tới 10 tuổi (và trẻ vị thành niên cân nặng dưới 35kg), khung sườn điểu trị NRtI cho quá trình điều trị ARV là một trong những phác đồ dưới đây, theo trình tự ưu tiên:

• ABC + 3tC

• AZt hay tDF + 3tC (hay FtC)

(khuyến cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)

• Cho trẻ vị thành niên bị nhiễm HIV (10 đến 19 tuổi) cân nặng từ 35kg trở lên, khung sườn điều trị NRtI cho phác đồ điều trị ARV phải ngang bằng với người trưởng thành và thuộc một trong những phác đồ dưới đây, theo trình tự ưu tiên:

Trang 32

Kiểm soát kháng thuốc ARV và dự đoán điều trị thất bại

Chủ đề và

tất cả đối tượng • tải lượng virut trong máu là dấu hiệu kiểm soát thích hợp nhất

cho việc chẩn đoán và xác nhận điều trị thất bại (khuyến cáo

mạnh, chất lượng bằng chứng thấp)

• Nếu tải lượng virut khó kiểm tra, dựa vào số lượng CD4 và các

dấu hiệu lâm sàng để chẩn đoán điều trị thất bại (khuyến cáo

mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình)

Điều trị ARV bậc hai: Điều chỉnh sang phác đồ ARV nào

Chủ đề và

Chuyển sang phác đồ ARV

nào đối với người trưởng

thành và trẻ vị thành niên

• Phác đồ điều trị ARV bậc hai cho người trưởng thành gồm hai chất ức chế phiên mã ngược tương tự nucleoside (NRtIs) + Chất

ức chế protease (PI)

• Khuyến nghị sử dụng chuỗi NRtI bậc hai dưới đây:

• Sau khi phác đồ điều trị bậc một bằng tDF + 3tC (hoặc FtC) thất bại, sử dụng AZt + 3tC làm khung sườn điều trị NRtI bậc hai

• Sau khi phác đồ điều trị bậc một bằng AZt hay d4t + 3tC thất bại, sử dụng tDF + 3tC (hay FtC) làm khung sườn điều trị NRtI bậc hai

• Sử dụng khung sườn điều trị NRtI làm cố định liều điều trị là một

hướng điều trị hợp lý (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng

trung bình)

• Liều cố địnhđiều trị bền nhiệt AtV/r và LPV/r là lựa chọn PI thích

hợp cho điều trị ARV bậc hai (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng

• Sau khi phác đồ điều trị bậc một bằng LPV/r thất bại, trẻ em dưới

3 tuổi vẫn cần duy trì điều chị bậc một, và phải tiến hành các

biện pháp tăng cường mức tuân thủ điều trị (khuyến cáo có điều

kiện, chất lượng bằng chứng rất thấp)

• Sau khi điều trị bậc một bằng LPV/r thất bại, trẻ em trên 3 tuổi nên được chuyển sang phác đồ điều trị bậc hai bao gồm một

NNRtI kết hợp với hai NRtI; eFV là NNRtI khuyên dùng (khuyến

cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)

• Sau khi điều trị bậc một bằng ABC hoặc tDF + 3tC (hay FtC) thất bại, phương án khung sườn NRtI khuyên dùng cho điều trị ARV

bậc hai là AZt+3tC (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng

thấp)

• Sau khi thất bại khi điều trị bằng phác đồ bậc một chứa AZt hay d4t+3tC (hay FtC), thì phương án khung sườn NRtI khuyên dùng cho điều trị ARV bậc hai là ABC hay tDF+3tC (hay FtC)

(khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng thấp)

Trang 33

tất cả các nhóm đối tượng • Chương trình quốc gia cần xây dựng chính sách cho liệu pháp

ARt bậc ba (khuyến cáo có điều kiện, chất lượng bằng chứng thấp)

• Phác đồ điều trị bậc banên bao gồm các loại thuốc mới với ít nguy cơ kháng chéo với phác đồ sử dụng trước đó, chẳng hạn như chất ức chế integrase, nhóm ức chế phiên mã ngược không

nucleoside và chất ức chế protease (khuyến cáo có điều kiện, chất

Cân nhắc đặc biệt đối với

trẻ em Cần tạo ra chiến lược để cân bằng các lợi ích và rủi ro đối với trẻ em khi điều trị bậc hai thất bại.Với trẻ lớn hoặc trẻ vị thành niên , những

người có nhiều lựa chọn điều trị hơn, có thể xây dựng phác đồ điều trị ARV bậc ba phù hợp với các loại thuốc mới được sử dụng trong điều trị người lớn như etV, DRV và RAL.Với trẻ điều trị theo phác đồ điều trị bậc hai , điều trị theo ARV mới không có kết quả nên tiếp tục với một phác đồ dung nạp Nếu điều trị ARV dừng lại, nhiễm trùng cơ hội vẫn còn cần phải được ngăn chặn, các triệu chứng thuyên giảm và đau cần phải được khống chế

Triển khai và cung cấp dịch vụ

Chủ đề và

Các biện pháp can thiệp

để tối ưu hoá việc tuân thủ

nối • Ở những nơi có dịch toàn thể , ARV cần được bắt đầu và duy trì cho phụ nữ mang thai, phụ nữ sau khi sinh và ở trẻ sơ sinh tại cơ

sở chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, với liên kết và giới thiệu chăm sóc HIV đang diễn ra ĐIỀU tRỊ ARV ở những nơi thích hợp

(khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng rất thấp )

• trong những khu vực có tỉ lệ nhiễm HIV và lao cao, nên áp dụng điều trị ARV cho các bệnh nhân HIV kết hợp điều trị lao, với mối

liên hệ chăm sóc bệnh nhân HIV và ARt (khuyến cáo mạnh, chất

lượng bằng chứng rất thấp )

• trong những khu vực có tỉ lệ nhiễm HIV và lao cao, phương pháp điều trị bệnh lao có thể được cung cấp cho những người nhiễm HIV ở khu vực chăm sóc bệnh nhân HIV, nơi có thể chẩn đoán

bệnh lao (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng rất thấp )

• ARV cần được khởi xướng và duy trì ở những người nhiễm HIV tại nơi chăm sóc , nơi thiết lập điều trị thay thế opioid (OSt) được

cung cấp (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng rất thấp)

Trang 34

Hoạt động và cung cấp dịch vụ (tiếp theo )

Chủ đề và

Phân cấp điều trị và chăm

sóc Các Phương án sau đây cần được xem xét phân cấp để bắt đầu và duy trì ARt

• Bắt đầu điều trị ARV tại các bệnh viện kết hợp duy trì điều trị

ARV tại các cơ sở y tế ngoại vi (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng

tổ chức cộng đồng) giữa các lần thăm khám lâm sàng thường

xuyên (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình)

Chuyển giao nhiệm vụ • Các bác sĩ không chuyên, nữ hộ sinh và điều dưỡngđã được đào

tạocó thể bắt đầu phác đồ điều trị ARV bậc một (khuyến cáo

mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình)

• Các bác sĩ không chuyên, nữ hộ sinh và điều dưỡng đã được

đào tạo có thể duy trì điều trị ARV (khuyến cáo mạnh, chất lượng

bằng chứng trung bình)

• Cán bộ y tế cộng đồng được đào tạo và giám sát có thể phân chia điều trị ARV giữa các lần thăm khám lâm sàng thường

xuyên (khuyến cáo mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình)

Hướng dẫn dành cho các nhà quản lý chương trình

Chủ đề và

Hướng dẫn cho các nhà

quản lý chương trình Để quyết định về việc bằng hiện các khuyến cáo lâm sàng và hoạt động, chúng tôi khuyến nghị rằng :

• Các cơ quan nhà nước nên sử dụng một quá trình minh bạch, cởi

mở và hiểu biết Quá trình này cần phải có sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan, bao gồm cả sự tham gia có ý nghĩa của cộng đồng bị ảnh hưởng, và xem xét cụ thể đề nghị được đưa ra thảo luận

• Quá trình đưa ra quyết định phải xem xét dữ liệu trên phương diện dịch tễ học HIV ở cấp quốc gia và địa phương, tình hình thực hiện chương trình điều trị ARV hiện tại và bối cảnh kinh tế

xã hội, chính sách và pháp lý, bao gồm cả ngân sách, yêu cầu nguồn nhân lực và tác động hệ thống y tế khác Nội dung thứ hai có thể xác định đầu vào và hệ thống nào hiện đang có sẵn

và khu vực nào đòi hỏi đầu tư bổ sung

• Quá trình đưa ra quyết định phải xem xét tới vấn đề đạo đức, công bằng và nhân quyền, tác động và hiệu quả chi phí, lợi ích

và rủi ro của Phương án triển khai thay thế

Trang 36

1.1 Nền tảng và Bối cảnh

Tổ chức Y tế Thế giới lần đầu tiên ban hành hướng dẫn về việc sử dụng ARV trong điều trị nhiễm HIV

ở người trưởng thành và trẻ vị thành niên vào năm 2002 (1) và sử dụng thuốc ARV trong dự phòng LTMC năm 2004 (2) Tới năm 2006, những hướng dẫn này được cập nhật bổ sung (3-5), đưa vào khái

niệm phương pháp tiếp cận sức khỏe cộng đồng, cân bằng và đơn giản hóa các cơ chế điều trị ARV

(6) Những ấn bản cùng các tài liệu cập nhật này, gần đây nhất trong năm 2010 (7-9) đã đưa ra hướng

dẫn quan trọng cho các nước nơi ngày càng có thêm nhiều chương trình ARV quốc gia trong suốt thập

kỷ vừa quan Năm 2013, lần đầu tiên TCYTTG sửa lại và kết hợp những nội dung này cùng các tài liệu hướng dẫn khác về ARV vào một bộ tài liệu tổng hợp, hoàn chỉnh tập trung chủ yếu vào hướng dẫn phương pháp sử dụng các loại thuốc ARV trong công tác dự phòng và điều trị HIV cho mọi nhóm tuổi

và nhóm dân số, nhờ nhân rộng chương trình chăm sóc liên tục dành cho người nhiễm HIV

Những hướng dẫn này được cập nhật cuối năm 2012, đầu năm 2013 Các cơ chế ARV hiện có, ngay cả

ở những quốc gia nghèo nhất, vẫn an toàn, đơn giản và hiệu nghiệm cũng như rẻ tiền hơn trước kia rất nhiều Những chiến lược và phương pháp xét nghiệm mới đang cho phép chẩn đoán HIV sớm hơn, trong những giới hạn môi trường rộng lớn hơn, và, ngày càng có thêm nhiều công nghệ mới, dễ tiếp cận hơn về mặt tài chính, phục vụ công tác giám sát những người nhận được ART Các quốc gia hiện đang chuyển đổi sang sử dụng các phác đồ điều trị dùng thuốc ba trong một và lập các chương trình phục vụ dự phòng LTMC được đơn giản hóa, nhấn mạnh vào chăm sóc sức khỏe lâu dài cho phụ nữ có thai và các bà mẹ đang sống chung với HIV cũng như trẻ em nhiễm HIV Các bằng chứng quan trọng gần đây đã chỉ ra rằng các loại thuốc ARV mang lại những lợi ích đáng kể trong phòng chống lây nhiễm

HIV (10) Mặc dầu các quốc gia đang trong các giai đoạn sử dụng ARV khác nhau và thực hiện theo các hướng dẫn năm 2010 (7-9) khác nhau và trong công tác nghiên cứu, vẫn còn tồn tại những lỗ hổng

quan trọng, nhưng dẫu vậy, hiện nay vẫn có một xu hướng trên phạm vi toàn cầu, nhân rộng khả năng tiếp cận và điều trị sớm

Mở rộng các tiêu chuẩn điều trị ARV và những lựa chọn sử dụng thuốc ARV tạo ra những cơ hội để cứu sống tính mạng và giảm thiểu lây nhiễm HIV nhưng cũng đặt ra những thách thức đáng kể về mặt kỹ thuật, hoạt động, quy trình, và đạo đức cho những nhà hoạch định chính sách và các cơ quan thực hiện tại nhiều quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Những thách thức này bao gồm thực hiện một chiến lược kết hợp nhiều phương pháp để đảm bảo có thể chẩn đoán nhiễm HIV một cách nhanh chóng hơn,

ở cả mức độ cơ sở y tế và trong cộng đồng Đồng thời, cần có mối liên hệ hiệu quả và liên kết giữa các

cơ sở chăm sóc, các phương pháp đổi mới, tập trung để thực hiện các dịch vụ điều trị ARV và hỗ trợ hiệu quả cùng các biện pháp can thiệp nhằm đảm bảo rằng người nhiễm H được chăm sóc về lâu về dài Ngoài ra, các công cụ giám sát trong phòng thí nghiệm có tính tin cậy cao, được đảm bảo về mặt chất lượng, giá thành phải chăng, cùng đội ngũ cán bộ y tế có năng lực và các nguồn cung cấp thuốc liên tục cũng là những yếu tố đóng vai trò thiết yếu

Ở cấp độ chương trình, các quốc gia thường phải đối mặt với những khó khăn trong việc tiếp cận những người cần thuốc ARV nhất Các quốc gia này có thể phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn trong việc phân bổ các nguồn lực còn hạn chế và quyết định những đối tượng ưu tiên của chương trình, để có thể tận dụng một cách tốt nhất thuốc ARV phục vụ công tác dự phòng và điều trị kết hợp

GIỚI THIỆU

1.

Trang 37

1 Giới thiệu

với những phương pháp dự phòng HIV khác Các chương trình quốc gia về HIV có thể cần phải chứng

minh mức đầu tư ngày càng nhiều vào các chương trình ARV bằng cách đánh giá chi phí và lợi ích mang lại cũng như chứng minh mức độ ảnh hưởng lên tỉ lệ hiện mắc, tỉ lệ tỉ vong và tỉ lệ lây nhiễm HIV

1.2 Căn cứ của những hướng dẫn tổng hợp

Những hướng dẫn tổng hợp đưa ra nhiều lợi ích có thể đoán trước như sau:

Hướng dẫn về việc sử dụng ARV được trình bày trong bối cảnh của chăm sóc, điều trị và dự

phòng HIV liên tục Ngoài việc đưa ra những khuyến cáo về việc sử dụng lâm sàng các loại thuốc

ARV trong điều trị bệnh, những hướng dẫn này còn tập trung chủ yếu vào các khía cạnh chính của công tác chăm sóc người HIV

Những hướng dẫn này tập trung vào việc sử dụng thuốc ARV cho mọi nhóm tuổi và mọi quần thể Những hướng dẫn riêng trước kia của TCYTTG về sử dụng điều trị ARV cho người lớn và trẻ vị

thành niên nay được kết hợp lại với hướng dẫn dành cho chăm sóc trẻ em và dự phòng LTMC, cân

đối các phác đồ điều trị bằng ARV và các phương pháp điều trị trong phạm vi có thể đối với các

nhóm tuổi và nhóm dân số

Hài hòa các hướng dẫn mới và cũ Việc tổng hợp cho phép các khuyến cáo mới hài hòa với những

khuyến cáo sẵn có trong hướng dẫn cũ của TCYTTG

Việc tổng hợp gia tăng mức thống nhất của các phương pháp tiếp cận cũng như mối liên hệ

giữa nhiều cơ sở Những khuyến cáo tổng hợp giúp tạo ra mối liên hệ và gia tăng tính thống nhất,

nhất quán giữa các phương pháp tại nhiều môi trường khác nhau nơi được cung cấp các loại thuốc ARV và các dịch vụ có liên quan, kể cả chăm sóc HIV đặc biệt, chăm sóc ban đầu, chăm sóc trên nền tảng cộng đồng, các dịch vụ y tế dành cho bà mẹ và trẻ em, các dịch vụ TB và các dịch vụ khác cho người sử dụng thuốc

Thông tin cập nhật kịp thời và toàn diện hơn Những hướng dẫn tổng hợp cho phép đưa vào

những kỹ thuật khoa học mới mẻ, về mặt lâm sàng, hoạt động và chương trình, trong việc sử dụng các loại thuốc ARV, được rà soát một cách toàn diện hai năm một lần đối với các nhóm dân số, nhóm tuổi và cơ sở

1.3 Mục tiêu

Mục tiêu của những hướng dẫn tổng hợp này là:

Cung cấp các khuyến cáo lâm sàng dựa trên bằng chứng, đươc cập nhật, theo phương pháp

tiếp cận công đồng để cung cấp ARV cho điều trị và dự phòng HIV trong điều kiện chăm sóc

HIV liên tục, tập trung vào những nơi có hệ thống y tế bị hạn chế về năng lực và nguồn lực

Đưa ra hướng dẫn về các vấn đề chủ chốt trong hoạt động và cung cấp dịch vụ, cần phải được giải quyết để gia tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ HIV, tăng cường các chương trình chăm sóc liên tục cho người HIV và đưa việc cung cấp thuốc ARV vào các hệ thống y tế; và

Đưa ra hướng dẫn cho các chương trình cho các nhà hoạch định tại cấp độ quốc gia, về cách

áp dụng, định mức ưu tiên và thực hiện những khuyến cáo lâm sàng và hoạt động cũng như

giám sát việc thực hiện và tác động của các chương trình đó

Trang 38

1.4 Độc giả chính mục tiêu

Hướng dẫn này chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý chương trình quốc gia về HIV Đồng thời, những đối tượng độc giả sau cũng có thể quan tâm tới tài liệu này như:

Các ban tư vấn quốc gia về dự phòng và điều trị HIV;

Các nhà quản lý chương trình quốc gia về lao;

Các nhà quản lý các chương trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ sơ sinh, trẻ em và sức khỏe sinh sản;

Các bác sĩ lâm sàng và các nhà cung cấp dịch vụ y tế;

Các nhà quản lý các dịch vụ phòng thí nghiệm quốc gia;

Những người sống chung với HIV và các tổ chức cộng đồng; và

Các cơ quan, tổ chức quốc tế, song phương, hỗ trợ về mặt tài chính và kỹ thuật cho các chương trình HIV tại những cơ sở hạn chế về nguồn lực

1.5 Phạm vi và thành phần

Hướng dẫn này tập trung vào các khía cạnh về mặt lâm sàng, hoạt động và chương trình sử dụng thuốc ARV trong dự phòng và điều trị HIV (Hình 1.1)

1.5.1 Các chương giới thiệu

Hướng dẫn này gồm nhiều chương giới thiệu

Chương 1: Mô tả nền tảng, bối cảnh, căn cứ và mục tiêu của tài liệu hướng dẫn và đối tượng độc giả

mục tiêu

Chương 2: Vạch ra những nguyên lý chỉ đạo của hướng dẫn.

Chương 3: Mô tả các phương pháp và quy trình phát triển hướng dẫn.

Chương 4: Trình bày định dạng sử dụng để đưa ra những khuyến cáo mới.

1.5.2 Hướng dẫn lâm sàng

Những khuyến cáo trong Chương 5, 6, và 7 tập trung vào các khía cạnh sử dụng thuốc ARV trong dự phòng và điều trị HIV cho mọi nhóm tuổi và nhóm đối tượng thông qua chương trình chăm sóc liên tục từ việc chẩn đoán HIV cho tới chăm sóc và điều trị HIV

Chương 5: Tổng hợp các biện pháp xét nghiệm và tư vấn HIV, có liên hệ với những hướng dẫn hiện

hành của TCYTTG Bên cạnh đó, chương này tóm lược các phương pháp sử dụng thuốc ARV để dự phòng lây truyền HIV (biện pháp phòng bệnh HIV trước và sau phơi nhiễm và sử dụng thuốc ARV trong phòng bệnh cho các cặp bạn tình dị nhiễm), trong phạm vi bối cảnh có sự kết hợp toàn diện trong dự phòng HIV, có liên hệ với những hướng dẫn hiện hành của TCYTTG Lưu ý rằng những hướng dẫn này không tập trung vào các biện pháp can thiệp phòng chống bệnh về mặt hành vi, cấu trúc và y sinh không liên quan khi sử dụng thuốc ARV

Chương 6: Tổng hợp những loại hình chăm sóc HIV chung cho các cá nhân từ khi họ được chẩn

đoán là nhiễm HIV cho tới khi bắt đầu điều trị bằng ART, kể cả thực tiễn để kết nối những người chẩn đoán bị nhiễm HIV với công tác chăm sóc và điều trị HIV, các thành phần của một gói chăm sóc chung và chuẩn bị cho các cá nhân bắt đầu liệu pháp ART

Trang 39

1 Giới thiệu

Chương 7: Gồm khuyến cáo về sử dụng điều trị ARV cho người trưởng thành (gồm cả phụ nữ đang

mang thai và cho con bú), trẻ vị thành niên, trẻ em, kể cả những khuyến cáo được cập nhật áp dụng cho đa số các nhóm quần thể về thời điểm tối ưu để bắt đầu liệu pháp điều trị ARV (khi nào thì bắt đầu); những khuyến cáo cập nhật về những cơ chế điều trị hiệu quả nhất, khả thi bậc một và bậc hai (bắt đầu bằng bậc nào và chuyển sang bậc nào); những khuyến cáo cập nhật về cách thức giám sát

độ kháng thuốc và mức độc tính của ARV; và trao đổi về điều trị ARV bậc 3

Chương 8: Tóm lược các phương pháp trong công tác phòng và quản lý các hình thức lây nhiễm HIV

cơ hội chung, các loại cộng lây nhiễm và mắc nhiều bệnh cùng lúc, có liên hệ với những hướng dẫn hiện hành của TCYTTG

1.5.3 Hướng dẫn hoạt động và thực hiện dịch vụ

Chương 9: Đưa ra các khuyến cáo trong sáu lĩnh vực hoạt động và thực hiện dịch vụ chính yếu, nơi

cần đưa ra hành động để tăng cường hơn nữa các chương trình ARV và đảm bảo tính hiệu quả và

bền vững của các chương trình trong hệ thống y tế Những lĩnh vực này bao gồm: Giữ lại để chăm

sóc, gắn bó với ART; các nguồn nhân lực; các mô hình thực hiện dịch vụ, tập trung vào phân cấp

điều trị ARV tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và đưa điều trị ARV vào các chương trình

điều trị TB, chăm sóc tiền sinh sản, và các chương trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em cũng như các dịch vụ phụ thuộc vào thuốc; các dịch vụ phòng thí nghiệm và quản lý nguồn cung ứng

thuốc

1.5.4 Hướng dẫn dành cho các nhà quản lý chương trình

Chương 10: Nhằm mục đích hỗ trợ các quốc gia trong quá trình hoạch định và lập chương trình

Việc thực hiện sẽ bao gồm kết hợp nhiều chính sách khác nhau, tùy vào bối cảnh địa phương, trong

đó có số người người nhiễm HIV và cường độ nhiễm HIV; các cách thức lây truyền; việc tổ chức và

năng lực của các hệ thống y tế; thu nhập tương đối; và mức độ phủ sóng hiện tại của các biện pháp can thiệp Chương này đề ra các bước nhằm đảm bảo các quy trình hoạch định công bằng, bao hàm

và minh bạch ở mức độ quốc gia; thảo luận về các thông số cần xem xét khi đánh giá và áp dụng

những khuyến cáo toàn cầu đó vào các quốc gia; và đề xuất những công cụ phục vụ công tác dự

toán và lập kế hoạch Những cân nhắc về việc thực hiện trong hệ thống y tế và, cụ thể là thảo luận

về những khuyến cáo chủ chốt trong hướng dẫn

1.5.5 Giám sát và đánh giá

Chương 11: Đưa ra hướng dẫn về việc đánh giá những khuyến cáo mới, chủ chốt trong những

hướng dẫn này Chương này đề ra nhiều tiêu chí đánh giá có thể được dùng để theo dõi việc thực

hiện những khuyến cáo mới này và những tiêu chí để giám sát hiệu quả hoạt động của các chương trình trong phạm vi chăm sóc liên tục Chương 11 cũng nhấn mạnh các cơ hội đưa ra bởi những

khuyến cáo mới này để rà soát lại và tăng cường các hệ thống giám sát và đánh giá

Trang 40

• Chăm sóc HIV toàn diện

• Khi nào bắt đầu điều trị

ARV (điều trị ARV bậc1)

• Bắt đầu điều trị với ARV

nào

• Cách giám sát (đáp ứng

với điều trị và độc tính của

ARV)

• Chuyển sang điều trị ARV

nào (điều trị ARV bậc 2)

• Nguồn nhân lực

• Phòng thí nghiệm và dịch

vụ chẩn đoán

• Các hệ thống quản lý mua sắm và cung ứng

Làm thế nào để quyết định làm gì, ở đâu

Ngày đăng: 23/08/2016, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Thành phần của hướng dẫn tổng hợp - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Hình 1.1 Thành phần của hướng dẫn tổng hợp (Trang 40)
Bảng 5.1 Tóm tắt các phương pháp xét nghiệm cho trẻ sơ sinh (27) - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 5.1 Tóm tắt các phương pháp xét nghiệm cho trẻ sơ sinh (27) (Trang 72)
Bảng 5.2 Tóm tắt khuyến cáo xét nghiệm và tư vấn HIV cho vùng dịch toàn thể - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 5.2 Tóm tắt khuyến cáo xét nghiệm và tư vấn HIV cho vùng dịch toàn thể (Trang 75)
Bảng 7.15  Các loại độc tính liên quan đến các thuốc ARV bậc một, hai và ba - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 7.15 Các loại độc tính liên quan đến các thuốc ARV bậc một, hai và ba (Trang 136)
Bảng 7.16 Các tương tác thuốc ARV chính và khuyến cáo xử lý a - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 7.16 Các tương tác thuốc ARV chính và khuyến cáo xử lý a (Trang 142)
Bảng 7.19  Phân tích so sánh: ATV/r so với LPV/r so với DRV/r - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 7.19 Phân tích so sánh: ATV/r so với LPV/r so với DRV/r (Trang 147)
Bảng 8.1 trình bày các khuyến cáo. Tham khảo Phụ lục trên mạng (www.who.int/hiv/pub/ - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 8.1 trình bày các khuyến cáo. Tham khảo Phụ lục trên mạng (www.who.int/hiv/pub/ (Trang 155)
Bảng 9.3 Bảng kiểm tóm tắt các vấn đề quản lý cung ứng dược phẩm - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 9.3 Bảng kiểm tóm tắt các vấn đề quản lý cung ứng dược phẩm (Trang 198)
PHỤ LỤC 2. Sơ đồ  khuyến cáo 2013 đối với người lớn - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
2. Sơ đồ khuyến cáo 2013 đối với người lớn (Trang 231)
PHỤ LỤC 3. Sơ đồ khuyến cáo 2013 đối với phụ nữ - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
3. Sơ đồ khuyến cáo 2013 đối với phụ nữ (Trang 232)
A  Xem Phụ lục 5: Sơ đồ chẩn đoán sớm đối với trẻ nhỏ - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
em Phụ lục 5: Sơ đồ chẩn đoán sớm đối với trẻ nhỏ (Trang 233)
PHỤ LỤC 4. Sơ đồ khuyến cáo 2013 đối với trẻ em - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
4. Sơ đồ khuyến cáo 2013 đối với trẻ em (Trang 234)
PHỤ LỤC 5. Sơ đồ chẩn đoánsớm ở trẻ sơ sinh - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
5. Sơ đồ chẩn đoánsớm ở trẻ sơ sinh (Trang 235)
Bảng 3. Liều đơn giản của thuốc viên, thuốc dung dịch uống dùng 2 lần mỗi ngày cho trẻ Thuốc - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 3. Liều đơn giản của thuốc viên, thuốc dung dịch uống dùng 2 lần mỗi ngày cho trẻ Thuốc (Trang 246)
Bảng 5. Liều đã được đơn giản hóa cho thuốc dự phòng isoniazid (INH) và co-trimoxazole (CTX) Thuốc - VỀ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI RÚT SAO CHÉP NGƯỢC TRONG DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Bảng 5. Liều đã được đơn giản hóa cho thuốc dự phòng isoniazid (INH) và co-trimoxazole (CTX) Thuốc (Trang 248)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w