Cái tinh anh của các nghệ nhân Chămpa cổ đại vẫn còn thấpthoáng trong điệu múa của nữ thần Shiva trên khu tháp cổ ngậm ngùi: Dấu x “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” a x
Trang 1Chơng II Nội dung và phơng pháp sử dụng hệ thống kênh hình trong SGK lớp 10 THPT khoá trình
“LSVN từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
I Nội dung hệ thống kênh hình trong SGK lớp 10 THPT khoá trình Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ”
1 SGK lịch sử 10 chơng trình cơ bản
Hình 29 Rìu tay đá cũ Núi Đọ (Thanh Hoá) – SGK trang 71 SGK trang 71
Núi Đọ nằm trên hữu ngạn sông Chu, cách bờ sông bởi một dải đất hẹp
Đây là trái núi cổ, lớn, cao 158m, độ dốc thoải 20 - 250, từng là nơi c ngụ củangời nguyên thuỷ Rìu đá cũ núi Đọ là loại công cụ rất ít và hiếm đợc tìm thấynăm 1960, có niên đại cách ngày nay khoảng 30-40 vạn năm Loại rìu đá nàyhiện đang đợc trng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Quan sát rìu đá núi Đọ trong hình 29, ta thấy nó có hình hạnh nhân.Thông thờng loại rìu này dài 13 cm; rộng 10cm; dày 3,5 cm Kích thớc rìunhỏ, gọn, vừa cầm trong tay, phần dới đợc ghè đẽo qua loa là lỡi để chặt,cắt…Phần trên tròn trĩnh - là đốc cầm của rìu tay Khi cầm rìu tay, ngời tadùng lòng bàn tay nắm cán đốc, ngón tay cái tỳ lên một mặt đốc, còn bốnngón kia nắm chặt mặt đối diện Kỹ thuật chế tác loại công cụ này là kỹ thuậtghè đẽo trực tiếp từ hạch đá Hạch đá sau khi tách, các mảnh tớc đợc gia côngchút ít để trở thành những chiếc rìu tay Nó là công cụ đa năng để cắt, chặt,
bổ…nhằm phục vụ cuộc sống con ngnhằm phục vụ cuộc sống con ngời
Do con ngời bấy giờ còn đang ở buổi đầu, vừa thoát thai khỏi đời sốngloài vật, bàn tay cha thể khéo léo nh bàn tay ngời hiện đại, bộ óc và t duy chaphát triển cao Cho nên, việc chế tạo công cụ lao động còn hết sức thô sơ, đơngiản, biểu hiện một trình độ còn rất thấp kém Do đó, năng suất lao độngkhông cao, đời sống hoang dã, bấp bênh kéo dài đến hàng triệu năm Tuynhiên, việc tìm thấy rìu đá núi Đọ đã góp phần xác nhận sự xuất hiện của ngờitối cổ trên đất nớc ta
Hình 30 Lỡi cày đồng – SGK trang 71 SGK trang 74
Bên phải là hình lỡi cày đồng thời văn hoá Đông Sơn, đợc tìm thấy ởnhiều nơi ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nớc ta, hiện đang trng bày tại Bảo tànglịch sử Việt Nam Lỡi cày đồng Đông Sơn có nhiều loại, kích thớc khác nhau,thờng có hình cánh bớm, có sống giữa, hai bên có gờ nhỏ tạo nên sự chắc chắnbền vững cho lỡi cày Mũi cày nhọn, hình tam giác, đầu trên có lỗ để tra cán.Khi cày có thể dùng sức kéo của trâu bò hoặc của con ngời
Trang 2Hình bên trái là hình ảnh lỡi cày đồng thời An Dơng Vơng, đợc các nhàkhảo cổ hoc phát hiện năm 1965 tại khu di chỉ Cổ Loa (Đông Anh-Hà Nội).Loại lỡi cày này có nhiều tên gọi khác nhau: lỡi cày hình trái tim, hình bầudục, hình lá trầu Lỡi cày có độ dài khoảng 24,8 cm; rộng 18,9 cm; nặng 1,4
kg Phần trên lỡi cày có họng để tra cán
So với các công cụ đá, lỡi cày đồng ra đời có nhiều lợi ích Đây thực sự
là một sáng tạo to lớn của ngời đơng thời Nó chứng tỏ rằng: con ngời đã biếtthuần hoá và sử dụng động vật (trâu, bò…nhằm phục vụ cuộc sống con ng) vào canh tác nông nghiệp Chính
sự xuất hiện của lỡi cày đồng đã biến nền nông nghiệp trồng lúa thành nềnkinh tế chủ yếu của con ngời thời xa xa, góp phần nâng cao năng suất lao
động, tạo ra cuộc sống định c lâu dài của con ngời ở vùng đồng bằng Nó tạo
ra những tiền đề cho một cuộc chuyển biến lớn về sau
Hình 31 Một đoạn thành ngoại Cổ Loa – SGK trang 71 SGK trang 75
Khu di tích Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh - Hà Nội Đây là kinh đôcủa nớc Âu Lạc thời An Dơng Vơng Thành Cổ Loa có độ cao trung bình 5m,mặt trên thành rộng từ 6 đến 12m, chân thành rộng 20-30m Phía ngoài thành
đắp thẳng đứng, phía trong đắp đất thoai thoải Chân thành đợc kè đá vững chắc,nhất là đoạn ven sông, ven đầm Thân thành đợc đắp đất, rải gốm với các lớp dàymỏng khác nhau Cổ Loa đợc xây dựng giữa một vùng đất gần sông nớc và đầmlầy, có làng xóm với c dân lâu đời Thành gồm ba vòng khép kín, theo thứ tự từtrong ra ngoài là: thành nội, thành trung, thành ngoại Hình 31 trong SGK là ảnhchụp một đoạn thành ngoại của khu di tích Cổ Loa
- Thành nội: có hình chữ nhật, với chu vi 1650m Tơng truyền, đây lànơi thiết triều của vua Thục ngày xa
- Thành trung: là vòng thành khép kín, bao bọc phía ngoài thành nội cóchu vi 6500m
- Thành ngoại: cũng là một đờng cong khép kín, không có hình dáng rõrệt, dài khoảng 800m Thành ngoại có nhiều đoạn bị phá hoại nặng nề, nhiều
đoạn gần nh bị san bằng nhất là ở phía đông bắc (do mở rộng tuyến tàu HàNội-Lạng Sơn) Những đoạn thành còn lại cao trung bình 3-4m, chỗ cao nhấtgọi là gò Cột Cờ ở phía nam cao khoảng 8m Chân thành rộng khoảng 12-20m Ngoài cửa nam là cửa chung; cửa thành trung và thành ngoại còn có bacửa: cửa bắc, cửa đông và cửa tây nam Trong đó cửa đông là cửa nối liền vớisông Hoàng
Bên ngoài mỗi cửa thành đều có hào sâu bao quanh Các hào nối vớinhau và thông với sông Hoàng, đầm Cả Do đó, nớc sông Hoàng luôn đảm bảo
Trang 3cho hệ thống hào ở đây quanh năm có nớc Đồng thời, đây tạo thành mộtmạng lới giao thông đờng thuỷ rất luận lợi Ba vòng thành khép kín, kết hợpchặt chẽ với nhau tạo thành một công trình kiến trúc thống nhất, một căn sứquân sự mang tính phòng vệ vững chắc Cách bố trí thành nh vậy thể hiện trítuệ tài giỏi của con ngời thời đó
Hình 32 Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) – SGK trang 71 SGK trang 77
Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh QuảngNam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 69 km và cách thành cổ Trà Kiệu10km Đây là tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chămpa, trong một thung lũng có
đờng kính khoảng 2km bao quanh bởi núi đồi có độ cao từ 120 đến 350m,tách biệt hẳn với vùng dân c ở cách đó khá xa Đó là nơi tổ chức cúng tế củaVơng triều Chămpa cũng nh là nơi để lăng mộ của các vị vua Chăm hay hoàngthân quốc thích Thánh địa Mỹ Sơn đợc coi là một trong những trung tâm đền
đài chính của đạo Hinđu ở khu vực Đông Nam á, và là di sản duy nhất củathể loại này ở Việt Nam
Cả thung lũng là một quần thể kiến trúc độc đáo của những ngôi đềntháp uy nghiêm, hùng tráng từng lu dấu một thời huy hoàng của các vị vuaChăm Theo các tài liệu lịch sử, Mỹ Sơn từng là Thánh đô, là trung tâm tôngiáo quan trọng và tiêu biểu nhất của vơng quốc Chămpa từ thế kỷ IV đến thế
kỷ XV Tơng truyền, cứ mỗi vị vua Chăm lên ngôi đều phải đến Mỹ Sơn làm
lễ thánh tẩy và dâng cúng một ngôi tháp thờ thần bổn mạng của mình VuaBhadra Varman II là ngời đầu tiên xây dựng đền tháp tại Mỹ Sơn vào cuối thế
kỷ IV Các đời vua tiếp nối nhau đã tiếp tục cho xây dựng thêm nhiều đềntháp trong suốt thời gian trị vì của mình Thung lũng Mỹ Sơn trở thành thánh
địa với quần thể 71 ngôi đền tháp hài hoà mà độc đáo, thể hiện đầy đủ nhữngnét đặc trng nhất về sinh hoạt văn hoá, đời sống và tín ngỡng của ngờiChămpa xa Hàng ngàn bức phù điêu, tợng đá, bia đá…nhằm phục vụ cuộc sống con nglà sự kết tinh của nghệthuật điêu khắc, kiến trúc độc đáo riêng biệt của ngời nghệ nhân Chăm tàinăng
Có thể nói, đền tháp Mỹ Sơn là một hình ảnh điển hình của lịch sử, làmột kho tàng bí mật đối với nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc Cạnhnhững ngôi tháp sừng sững rêu phong là dấu vết các ngôi đền, tờng tháp đãthành phế tích Hiện chỉ còn 20 ngôi tháp, mà phần lớn cũng đổ nát, đang đ ợctrùng tu Số còn lại đã không tránh khỏi sự tàn phá khắc nghiệt của thời gian
và bom đạn chiến tranh Len lỏi qua các lối mòn, giữa những ngôi tháp cổ,trong mênh mông vắng lặng của núi rừng, nhặt một mảnh võ của gạch đá cổrơi trên nền tháp hoang, chúng ta nh đợc chạm vào quá khứ, cảm nhận đợc
Trang 4một giai đoạn lịch sử thăng trầm của Vơng quốc Chămpa Và khi mặt trời
đang lùi dần sau ngọn núi, rải những tia nắng cuối ngày xuống thung lũng tạonhững khoảng tối sáng nằm đan xen trong từng hốc gạch, cổng đền, bệ cửa…nhằm phục vụ cuộc sống con ngcác bức tợng vũ nữ Chăm nh cựa mình thức giấc từ trong huyền thoại cổ xa
Hoang vu nh những ngọn gió nam oi nồng thổi trên đỉnh núiMahaparvata, nhng cái hồn của Chămpa vẫn còn phảng phất đâu đó trên cỏgai và cây dại Cái tinh anh của các nghệ nhân Chămpa cổ đại vẫn còn thấpthoáng trong điệu múa của nữ thần Shiva trên khu tháp cổ ngậm ngùi:
Dấu x
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” a xe ngựa hồn thu thảo Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dơng”
Hình 33 ấm đất nung (thế kỷ VIII) – SGK trang 71 SGK trang 78
Vơng quốc Phù Nam là một trong ba Nhà nớc xuất hiện lần đầu tiêntrên lãnh thổ Việt Nam thời cổ đại Sự xuất hiện và phát triển của Vơng quốcnày gắn liền với sự ra đời và phát triển của văn hoá óc Eo ở Nam Bộ-nền vănhoá lớn, phát triển ở khu vực phía nam nớc ta vào đầu công nguyên óc Eovốn là tên một cánh đồng phẳng và thấp trải rộng trên địa bản hai tỉnh AnGiang và Kiên Giang Nền văn hoá nổi tiếng này đựoc định danh sau cuộckhai quật đầu tiên do Loui Malleret (Pháp) tiến hành năm 1944 tại óc Eo.Ngay khi những tài liệu khảo cổ đợc công bố trên tập san của trờng Viễn
Đông Bác Cổ, ngời ta đã coi đó là những dấu vết của Vơng quốc Phù Nam,một quốc gia cổ đại đợc biết từ trớc quan th tịch cổ Trung Quốc và văn minhtrên bia ký
ở Vơng quốc Phù Nam, nghề thủ công khá phát triển, đặc biệt là nghềlàm gốm Ngời ta đã làm đủ các đồ dùng đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngàynh: bình, vò, ấm, đĩa, chai…nhằm phục vụ cuộc sống con ngHoa văn trên gốm Phù Nam khá đặc biệt, có thểchia làm 5 mẫu chính:
+ Đờng răng lợc kép vẽ hình uốn lợn đều đặn
+ Đờng nửa tròn xoáy nối nhau
+ Văn xơng lá cây
+ Xen kẽ đờng uốn lợn, đờng gãy khúc với dải băng song song ởphía trên dới
+ Văn sóng nớc
Hình 33 trong SGK là một cổ vật của Vơng quốc Phù Nam Chiếc ấm
đất nung này có xơng gốm màu xám thẫm, mịn Loại mịn mỏng hơn khoảng5mm; loại thô dày hơn khoảng 10mm Chúng đều có độ nung rất cao áo gốmdày dặn, có màu xám, không có gốm mộc ấm có vòi cao, để đỡ tràn nớc rangoài Cổ ấm nhỏ, có viền loe phía trên nên dễ cầm nắm
Trang 5Hiện nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều loại gốm tại đây với nhữngnét đặc sắc hiếm có, phản ánh cuộc sống của c dân trên sông nớc Nét đặc sắcnày cho thấy một kỹ nghệ gốm, một nền văn hóa gồm Phù Nam, phân biệt rõrệt với gốm các vùng, các sứ láng giềng.
Hình 34 Đền thờ Hai Bà Trng ở Mê Linh-Vĩnh Phúc – SGK trang 71 SGK trang 84
Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng bị đàn áp năm 43, nhân dân ta vớilòng tiếc thơng và biết ơn vô hạn đã lập đền thờ Hai Bà ở nhiều nơi Chỉ tínhriêng mấy tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ đã có tới trên 200 di tích Riêng nơithờ Hai Bà Trng đã có ba ngôi đền chính: đền Hạ Lôi (Mê Linh – SGK trang 71Vĩnh Phúc);
đền Hát Môn (Phúc Thọ-Hà Tây); đền Đồng Nhân (quận Hai Bà Trng-HàNội) Bức ảnh chụp trong SGK là đền thờ Hai Bà Trng tại làng Hạ Lôi, xã MêLinh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Tơng truyền, đền đợc xây dựng trên nềnnhà cũ (quê cha) của Hai Bà Trng, trớc đây vốn là vùng đất bãi trồng dâu nuôitằm Ngôi đền đã đợc tu sửa qua nhiều thời kỳ Ban đầu đền đợc xây dựng bằngtre lá Đến thời nhà Đinh (968- 979) đền đợc xây lại bằng gạch Năm 1889,
đền đợc trùng tu lớn và đổi hớng nh ngày nay
Đền Hạ Lôi ở gần cửa sông Hồng, cách đền Chèm 9km về phía tây Đâycũng là nơi đóng đô sau khi Hai Bà Trng giành đợc tự chủ cho đất nớc Đền đợcxây dựng theo kiểu nội công, ngoại quốc, xung quanh là tờng gạch Khu sângạch rộng 900 m2 Cửa đều nhìn ra hớng tây nam là Tam Quan Kiến trúc của
đền có sự kết hợp giữa các mái cong, cột gỗ cổ truyền với những cột gạch đợctrát vữa theo kiến trúc hiện đại Trong đền còn lu giữ nhiều cổ vật quý giá, đặcbiệt là 30 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến từ thời Lê Cảnh Hng(1787-1788) đến thời Khải Định (1916-1925)
Để tởng nhớ Hai Bà, hàng năm nhân dân làng Hạ Lôi vẫn mở hội vàongày Mồng 6 tháng Giêng âm lịch, theo truyền thuyết là ngày Hai Bà Trngkhao quân Trong ngày hội có nhiều trò vui nh: đánh cờ, đánh đu…nhằm phục vụ cuộc sống con ng ng quannhtrọng hơn cả là đám rớc tập trận, diễn tả không khí luyện quân thời khởi nghĩaHai Bà Trng Để cử hành rớc tập trận, dân làng chọn 150 nam thanh và 150thiếu nữ đóng là quân Hai Bà Trng, tham gia rớc kiệu Hai Bà từ đền đi vòngxuống chân đê sông Hồng ra bờ sông, xuống sông lấy nớc rồi lại quay về đền,vừa đi vừa hát khúc hát tơng truyền từ đời Hai Bà Trng đặt ra để cổ vũ quânsỹ
Trong tiềm thức văn hoá Việt Nam, Hai Bà Trng mãi mãi là những ngờianh hùng dân tộc mở đầu cho truyền thống anh hùng, bất khuất, trung hậu,
đảm đang của ngời phụ nữ Việt Nam Trong dân gian còn lu truyền nhiều bàithơ vịnh Hai Bà Trng Dới đây là một trong những bài thơ đó:
Trang 6Phải đánh vì ch
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ng giặc đến nhà Xếp nghề kim chỉ giở can qua
Đền xong nghĩa cả, em cùng chị Trả đợc thù chung nớc lẫn nhà Một thủa Mê Linh nền kiếm kích Ngàn năm Lãng Bạc dấu hơng hoa Anh hùng sá kể câu thành bại Quắc thớc ra gì tớng Phục Ba”
(Khuyết danh) [30,213]
Hình 35 Lợc đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938 – SGK trang 71 SGK trang 86
Sông Bạch Đằng có tên nôm là sông Rừng, vì hai bên bờ sông nhất làphía tả ngạn toàn là rừng rậm Hạ lu sông thấp, độ dốc không cao nên ảnh h-ởng của thuỷ triều lên xuống rất mạnh, chênh nhau đến 3m Khi triều lên,lòng sông rộng mênh mông đến hàng nghìn mét, sâu tới chục mét Biết rõquân địch sẽ kéo vào nớc ta theo đờng sông Bạch Đằng, Ngô Quyền sai quânchặt hàng ngàn cây gỗ dài, đẽo nhọn đầu và bịt sắt, đem đóng xuống lòngsông Bạch Đằng ở những nơi hiểm yếu, gần cửa biển Lúc nớc triều lên bãicọc chìm trong một biển nớc mênh mông Phía trên bãi cọc ngầm, Ngô Quyềncòn bố trí một lực lợng thuỷ binh ẩn nấp hai bên bờ sông Nhiều thuyền đợcdấu kín trong cá bụi lau sậy Hàng ngàn quân bộ, cung nỏ sẵn sàng, ngày đêmmai phục bên cạnh các vách núi
Ngô Quyền đích thân cầm quân ra trận
Vào một ngày ma rét giữa mùa đông năm 938, Lu Hoằng Tháo cầm đầuthuỷ quân Nam Hán tiến vào cửa sông Bạch Đằng đánh chiếm nớc ta Đợi chonớc triều lên ngập hết bãi trận địa cọc, Ngô Quyền cho một số thuyền nhỏ ranhử đánh địch Quân ta vờ rút chạy, Hoằng Tháo hăm hở thúc quân đuổi theo,vợt qua trận địa bãi cọc ngầm của ta Ngô Quyền chỉ huy quân ta cầm cự vớigiặc Khi nớc triều rút, ông mới ra lệnh phản kích Những mũi tên từ vách đávun vút lao ra nh ma, hàng trăm thuyền bất ngờ xuất hiện Quân giặc hoảnghốt quay đầu tháo chạy Ra đến gần cửa sông, đúng lúc nớc triều rút mạnh.Bãi cọc ngầm nhô lên Quân ta dồn sức tấn công Quân từ phía thợng lu đánhxuống, quân mai phục từ hai bên bờ đánh tạt ngang Đội hình thuyền địch rốiloạn, xô vào nhau, va phải bãi cọc ngầm bị thủng vỡ, đắm rất nhiều Thuyền
địch không sao thoát ra khỏi biển đợc Quân địch bỏ cả chèo lái, nhảy xuốngsông, phần bị giết, phần chết đuối, thiệt hại đến quá nửa Hoằng Tháo bỏmạng nơi đây Vua Nam Hán đang điều quân tiếp viện, nghe tin con bị giết,hoảng hốt rụng rời, vội rút quân về nớc
Trang 7Trong lịch sử dân tộc, chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938
là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất, lừng lẫy nhất Nó ghi vào lịch
sử nh một mốc sơn chói lọi, một vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu ,“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ”chấm dứt hẳn thời kỳ nhân dân ta bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, mở ra thời
kỳ mới- thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho đất nớc
Hình 36 Hình rồng và hoa dây (chùa Phật Tích-Bắc Ninh) – SGK trang 71 SGK trang 93
Chùa Phật Tích có tên chữ là Vạn Phúc Tự, thuộc thôn Phật Tích, xãPhật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, vốn là một đại danh lam có từ thời
Lý Chùa đợc xây dựng năm Thái Bình thứ t, tức năm 1057 đời Lý ThánhTông trên núi Lạn Kha Kiến trúc chạm khắc đá trong chùa có nghệ thuật rất
độc đáo
Hình rồng và hoa dây trên thớt tròn ở chùa Phật Tích là một nét đặc sắctrong nghệ thuật điêu khắc đơng thời Hoa dây bao quanh một hình rồng trungtâm là hoa sen và hoa cúc Mỗi bông hoa dù sen hay cúc đều nở gọn trongvòng một dây uốn tròn trổ nhiều lá mọc đối Hoa đợc nhìn dới nhiều góc độnên rất phong phú, đều nở rực rỡ và xếp xen kẽ nhau Hoa sen trong mỹ cảmdân tộc là biểu thị sự thanh tao, trong sạch Trong Phật thoại và cả triết lý làdấu hiệu âm Còn hoa cúc biểu thị cho sự đạo mạo, là dấu hiệu của dơng, biểutrng cho mặt trời Hoa sen và hoa cúc chạm khắc xen kẽ, thể hiện sự tơi mátlại toát lên tính cân bằng và hoà hợp giữa hai yếu tố khác biệt để tạo nên sựthống nhất về cuộc sống và cầu phúc cho cuộc sống
Trên các mảng chạm hoa dây ở chùa Phật Tích, ở mỗi cuống hoa lại cómột hình ngời nhỏ bé đang leo trèo trên dây hoa, theo nhiều t thế ngộ nghĩnh,
đều mặc váy ngắn và cởi trần Các chi tiết trên mặt rất rõ ràng, thân ở thếnghiêng nhng mặt lại nhìn quay thẳng ra Những hình ngời ấy đều rất nhỏ, ng-
ời xem không để ý sẽ rất dễ bỏ qua Nó luôn gắn bó với hoa sen và hoa cúc
Trên thớt tròn chúng ta đang quan sát có các hoạ tiết hình cánh hoa đầuuốn ngửa, xếp tựa lng vào nhau thành một dải bao quanh lấy khung hình ởviền ngoài cùng Trung tâm của phiến đá chạm là một hình rồng uốn lợn - conrồng đặc trng của thời Lý Rồng đợc tạc mình trơn, toàn thân uốn khúc, thắttúi từ to đến nhỏ, uyển chuyển nh một ngọn lửa Rồng có mào lửa, đầu rồng tỷ
lệ cân đối với thân rồng, chân rồng thanh mảnh thờng có 3 móng Rồng cuộntròn trong hình các hoa dây nở rộ đợc chạm khắc rất tinh tế
Hình 37 Lợc đồ các địa danh diễn ra những trận đánh lớn
(thế kỷ X-XV) - SGK trang 100
Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của các cuộc đấu tranh chốngngoại xâm với những chiến công oanh liệt huy hoàng trong suốt quá trình dựng
Trang 8nớc và giữ nớc Thiên anh hùng ca chống ngoại xâm trong mấy nghìn năm đãchứng minh sức sống kỳ diệu của dân tộc ta Trong 5 thế kỷ đầu xây dựng nềnphong kiến độc lập tự chủ, lịch sử dân tộc đã chứng kiến nhiều chiến thắnghuy hoàng gắn liền với các địa danh đã đi vào tiềm thức của nhân dân ta.
Lợc đồ hình 37 trong SGK đã ghi lại các chiến thắng chống ngoại xâmcủa dân tộc ta từ thế kỷ X đến thế kỷ XV Đờng biên giới phía bắc, phía tây làbiên giới ngày nay Đầu thế kỷ thứ XV, địa giới nớc ta dần mở rộng vào nam,tới tận vùng Quảng Nam, giáp Vơng quốc Vi-giay-a
Năm 1077, trên bờ nam sông Nh Nguyệt - đoạn sông Cầu chảy quahuyện Yên Phong - Bắc Ninh ngày nay, Lý Thờng Kiệt đã đánh tan 30 vạnquân Tống, làm thất bại âm mu khuyếch trơng thanh thế của Tể Tớng Vơng
An Thạch Từ năm 1258 đến năm 1285 quân Mông - Nguyên ba lần xâm lợcnớc ta Đại Việt phải đơng đầu với một thử thách vô cùng hiểm nghèo Dới sựlãnh đạo của các vua Trần, Thái S Trần Thủ Độ cùng hàng loạt các tớng tàigiỏi, đặc biệt là Hng Đạo Vơng Trần Quốc Tuấn, nhân dân ta đã đoàn kết cầm
vũ khí chống giặc Năm 1258, quân ta đánh địch ở Đông Bộ Đầu (nay thuộc
Ba Đình-Hà Nội) tái chiếm Thăng Long Trong lần thứ hai, ta đã làm nênnhững chiến thắng oai hùng ở Hàm Tử, Chơng Dơng (nay thuộc Thờng Tín -
Hà Tây); Vạn Kiếp (Chí Linh - Hải Dơng) đánh tan 50 vạn quân địch thu đợcthắng lợi giòn giã Và với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, quân Mông-Nguyên đá phải từ bỏ hoàn toàn mộng xâm lợc nớc ta Trong 10 năm diễn rakhởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã lãnh đạo nghĩaquân làm nên chiến thắng vang dội ở Chi Lăng - Xơng Giang (Lạng Sơn) giếttớng Liễu Thăng, tạo đợc uy thế đa đến thắng lợi cuối cùng
Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, những chiến thắng oaihùng là sự hội tụ từ lòng đoàn kết, trí thông minh, sự quả cảm của nhân dân ta
Nó là sức mạnh sáng ngời, đã để lại nhiều bài học quý báu cho thế hệ chúng
ta, là ngọn nguồn làm nên những vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ”Ngô Thì Sỹ trong Việt sử tiêu ám đã khẳng định: Ngô Tiên Chúa cả phá quân
Lu Hoằng Tháo, Trần Hng Đạo bắt sống Ô Mã Nhi đều ở sông Bạch Đằng và
đều là những võ công lừng lẫy nhất ở nớc ta Danh tớng các vị hào kiệt ấy đời
đời còn mãi với ngàn thu sông núi Dấu vết hôi tanh của giặc Hán, giặcNguyên cũng còn mãi vơi nớc non ta, làm sao rửa hết đợc Giang sơn của nớcNam này đã đợc định rõ trong sách trời Giặc Bắc dẫu có cậy trí lớn lực mạnh
để chiến cứ, thì rốt cuộc lấy đợc cũng không thể nào giữ đợc…nhằm phục vụ cuộc sống con ng
Hình 38 Bia tiến sỹ trong Văn Miếu (Hà Nôi) – SGK trang 71 SGK trang 102
Trang 9Đây là bức ảnh chụp bia tiến sỹ ở Văn Miếu – SGK trang 71 Quốc Tử Giám (HàNội).
Văn Miếu- Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phúhàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long thờinhà Lý Trớc kia là nơi dựng các tấm bia ghi tên những ngời đỗ tiến sỹ và thunhận các học trò giỏi Nay là địa điểm tham quan du lịch và còn là nơi các sỹ
tử đến cầu may“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” trớc mỗi mùa thi Theo sử cũ, Văn Miếu đợc xây dựng tháng
8 năm Canh Tuất (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp t ợng Chu Công, Khổng Tử, Tứ Phối, vẽ tranh thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng
-tế Đến năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, có thể coi đây là ờng đại học đầu tiên ở nớc ta Ban đầu trờng chỉ dành riêng cho con vua và cácbậc quyền quý, sau đó mở rộng thu nhận cả con cái thờng dân có sức học xuấtsắc Quần thể kiến trúc Văn Miếu- Quốc Tử Giám đợc bố cục đăng đối từngkhu, từng lớp theo trục bắc nam, mô phỏng tổng thể khu Văn Miếu thờ Khổng
tr-Tử ở quê hơng Khúc Phụ- Sơn Đông- Trung Quốc Tuy nhiên, quy mô và kiếntrúc ở đây đơn giản hơn nhiều và theo phơng thức nghệ thuật truyền thống dântộc
Văn Miếu-Quốc Tử Giám hiện còn lu giữ 82 tấm bia tiến sỹ, trong đóghi rõ họ tên, quê quán 130 tiến sỹ của 82 khoa thi (từ năm 1442 đến 1779),gồm 81 khoa thi triều Lê và 1 khoa thi triều Mạc 82 tấm bia này đợc đặt trong
4 gian nhà ở hai bên hồ Thiên Quang Giữa hai gian nhà bia trái, phải có haitoà đình bia xây dựng năm 1613, trong đó có để 2 tấm bia của những khoa thi
đầu tiên thời Lê năm 1442 và 1448
Bia đợc khởi dựng năm 1484 dới triều vua Lê Thánh Tông, nhằm biểudơng nhân tài, khuyến khích việc học tập đơng thời và hậu thế Bia đợc dựngsau khoa thi hoặc từng đợt sau nhiều khoa thi Bia tiến sỹ đợc khắc trên loại đámàu xanh, kích thớc không giống nhau, đợc chạm khắc hoa văn tinh xảo Trênmỗi tấm bia khắc một bài văn bằng chữ Hán với nội dung ca ngợi công đứcnhà vua, nêu lý do mở khoa thi, mục đích dựng bia, số lợng thí sinh, họ tênchức vụ ngời đợc giao trách nhiệm tổ chức cuộc thi, ngời dựng bia và nhữngngời tổ chức khoa thi đó Bia tiến sỹ đợc đặt trên lng rùa đá- một trong bốnlinh vật theo quan niệm ngời xa Ngời xa đặt bia tiến sỹ trên lng rùa thể hiện
sự tôn trọng, tôn vinh ngời hiền tài và coi đó là yếu tố trờng tồn mãi mãi tronglịch sử dân tộc Mỗi thời kỳ, rùa đá mang một dáng vẻ riêng 82 tấm bia trongVăn Miếu- Quốc Tử Giám đợc chia làm 3 loại:
Trang 10+ 14 tấm bia khắc từ năm 1484 đến năm 1536: kích thớc bia nhỏ, tránbia khắc hình hoa, lá, mây, trăng Rùa có đầu ngẩng cao, dáng mỏ chim, khốitròn trải chuốt.
+ 25 tấm bia đợc dựng năm 1653: nghệ thuật trang trí phong phú hơn,trán bia xuất hiện hình rồng trầu mặt nguyệt Rùa đá có hình cổ rụt, đầu hơichúc, mặt bẹt, sống mũi uốn cao
+ 43 tấm bia dựng từ năm 1717 đến năm 1780: đề tài trang trí sinh
động, gắn liền với hiện thực, rùa đá có cổ ngắn, mai cong vồng lên và có gòsống lng, có chạm hình 6 cạnh
Bia tiến sỹ trong Văn Miếu- Quốc Tử Giám thuộc loại t liệu hiện vật, tliệu gốc là nguồn sử liệu quý giá để nghiên cứu lịch sử, văn hoá, giáo dục vànghệ thuật điêu khắc Việt Nam
Hình 39 Chùa Một Cột (Hà Nội) – SGK trang 71 SGK trang 104
Chùa Một Cột là công trình kiến trúc nổi tiếng, gồm ngôi chùa và toà
đài xây giữa hồ vuông, nằm trong quần thể chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức phía tây Hoàng ThànhThăng Long thời Lý, nay thuộc quận Ba Đình- Hà Nội bên phải lăng Chủ tịch
Hồ Chí Minh
Theo Đại Việt sử ký toàn th, chùa đợc xây dựng vào năm Kỷ Sửu niênhiệu Sùng Hng Đại Bảo thứ nhất, tức năm 1049 đời Lý Thái Tông Tơng truyền,vua Lý Thái Tông chiêm bao thấy Phật Quan âm dắt vua lên ngự toạ trên toàsen Quần thần cho là điềm gở, nhà s Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột
đá, làm toà sen của Phật Quan âm nh trong mộng Chùa xây xong, đài sennghìn cánh đỡ toà phật sắc hồng, trong đặt tợng vàng lấp lánh Các nhà s đếnlàm lễ, đi vòng quanh chùa niệm phật cầu phúc cho vua sống lâu, vì thế đặttên là chùa Diên Hựu, nhân dân ta quen gọi là chùa Một Cột
Chùa Một Cột hình vuông mỗi bề 3m, mái cong dựng trên cột đá hìnhtrụ cao 4m, với đờng kính 1,2m Trụ đá gồm hai khối, gắn rất khéo thoạt nhìn
nh một khối đá liền Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôichùa đợc đặt trên một cột đá ở đây có sự kết hợp táo bạo của trí tởng tợnglãng mạn đầy thi vị qua hình tợng hoa sen và những giải pháp hoàn hảo về kếtcấu kiến trúc gỗ bằng hệ thống mộng giằng, đặc biệt là sử dụng các cột chốngchéo lớn từ cột lên sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ
nh đờng lợn của cánh sen, thiết lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đốixứng ảo Cùng với ao hình vuông phía dới có thể là biểu hiện của đất Ngôichùa nh vơn lên với một ý niệm cao cả: lòng nhân ái soi tỏ thế gian Khối kiếntrúc gỗ đá đợc phù trợ bởi cảnh quan mang lại sự tinh khiết, thanh lịch Cảm
Trang 11giác thanh cao của kiến trúc nh chia sẻ, hoà đồng với trời nớc, với màu xanhcủa cây lá, khiến con ngời nh rũ sạch u phiền, đạt tới sự trong sáng của tâmhồn nh nhà s Huyền Trang đã viết:
Mối duyên chẳng bợn, ngăn lòng tục
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
Phiền nhiễu khuây lòng rộng nhãn quan”
Chùa Một Cột đã qua nhiều lần sửa chữa Ngày 11.9.1954, trớc khi rútquân ra khỏi miền bắc, quân Pháp đã cho nổ mìn phá huỷ Đài Liên Hoa Khitiếp quản thủ đô, Chính phủ đã cho làm lại, tới tháng 4.1955 thì hoàn thành và
đã trở thành một di tích tiêu biểu của thủ đô Hà Nội
Hình 40 Tháp chùa Phổ Minh (Nam Định) – SGK trang 71 SGK trang 104
Chùa Phổ Minh còn gọi là chùa Tháp thuộc địa phận thôn Tức Mặc, xãLộc Vợng, ngoại thành Nam Định, cách thành phố khoảng 5km về phía bắc.Sau khi vơng triều Trần đợc thành lập, liên tục trong mấy chục năm nhiềucung điện, đền miếu, dinh thự, chùa chiền đợc xây dựng trên đất này Ngôichùa nguyên đợc xây từ thời Lý và đã đợc mở rộng, trùng tu vào năm 1262.Tuy đã nhiều lần tu bổ nhng chùa vẫn giữ đợc nhiều dấu tích nghệ thuật củathời Trần Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm: 9 gian Tiền Đờng; 3 gianThiêu Hơng; toà Thợng Điện cũng 3 gian nhng rộng hơn, xếp theo hình chữ
công
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” Bộ cửa gian giữa nhà Tiền Đờng gồm bốn cánh bằng gỗ lim to dày,chạm rồng sóng nớc hoa lá Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu mặt trờitrong khuân hình lá đề, đợc coi là một tác phẩm điêu khắc khá hoàn mỹ Cũng
nh đôi sấu đá trên bậc Tam Quan và đôi rồng trên bậc gian giữa Tiền Đờng,
bộ cánh cửa này còn giữ đợc những dấu ấn của nghệ thuật chạm khắc thờiTrần
Trong chùa có bày tợng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, tợng Trúc LâmTam Tổ dới bóng trúc và một số tợng Phật sơn son thiếp vàng đẹp lộng lẫy.Chùa có chuông lớn đúc năm Cảnh Thịnh thứ t (1796) vốn là một trong AnNam tứ đại khí của nớc ta Sau Thợng Điện, cách một sân hẹp có ngôi chùadài 11 gian; ở giữa là 5 gian nhà tổ; bên trái là 3 gian nhà tăng; bên phải là 3gian điện thờ Hai dãy hành lang nối Tiền Đờng ở phía trớc với ngôi nhà 11gian ở phía sau
Kiến trúc thời nhà Trần đợc bảo tồn khá nguyên vẹn ở đây là tháp PhổMinh
Tháp chùa Phổ Minh dựng năm 1305, niên hiệu Hng Long thứ mời ba
đời vua Trần Anh Tông Tháp gồm 14 tầng cao khoảng 21m, có hình chóp
đáy vuông, mỗi cạnh dài 5,1m Các tầng tháp đều có mái cong bốn phía, trổ
4 cửa vòm cuốn Giữa các tầng là gờ mái nhỏ Tầng thứ nhất và bệ nền bằng
Trang 12đá có các hình chạm nông nh hoa lá, sóng nớc, mây trời Tầng tháp này cóhai lớp cánh sen, lớp dới chúc xuống, lớp trên ngửa lên nh đỡ lấy tháp hìnhvuông Lòng tháp tầng một có đặt bệ thờ, vòm trần đắp nổi đôi rồng uốn l -
ợn giữa một vòng tròn Các tầng trên xây bằng gạch nung màu đỏ, chạmkhắc hình rồng rất đẹp Trên cùng là búp đa hình bầu rợu Bệ tháp đợc đặtgiữa một ô vuông, mỗi chiều rộng gần 9m, ăn sâu dới đất khoảng 0,5m Xungquanh là 4 bức tờng hoa, 4 góc xây cột trụ đắp đèn lồng Trọng lợng tháp nặngkhoảng 700 tấn, dựng trên vùng đất chiêm trũng Trải qua gần 7 thế kỷ, thápPhổ Minh vẫn đứng vững minh chứng cho tài nghệ kiến trúc của cha ông ta
Hình 41 Lan can đá chạm rồng tại thềm điện Kính Thiên (Hà Nội)
Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thểcác di tích của thành cổ Hà Nội Trớc điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới cột
cờ Hà Nội, phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc; hai phía đông tây có tờng bao
quanh Điện Kính Thiên là một kiến trúc gỗ gồm hai nếp hình chữ nhị “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” Nhàlàm kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái với các góc đao cong Bờ nóc của cả hainếp nhà đều đắp nổi đôi rồng chầu mặt nhật Quanh điện có sân rồng đợc xâylan can bao cả bốn phía Mặt trớc, hớng chính nam của điện đợc xây hệ thốngbậc lên bằng những phiến đá hộp lớn Thềm điện gồm 10 bậc, có 4 rồng đáchia làm 3 lối lên đều nhau tạo thành thềm rồng Hình 41 trong SGK là haitrong bốn rồng đá đó
Đôi rồng đá này đợc tạo tạc vào thế kỷ XV, mang phong cách chạmkhắc đá thời Lê Nếu ở thời Lý, rồng mình trơn, toàn thân uốn khúc, uyểnchuyển nh một ngọn lửa bay lợn giữa sóng nớc mây trời Đầu rồng tỷ lệ cân
đối với thân rồng, chân rồng thanh mảnh thờng có 3 móng Sang thời Trần,hình rồng đã mang nhiều nét thay đổi, thân rồng vẫn có nét rắn lợn nh thời Lýsong trau truốt và uy nghi hơn Hình rồng thời Lê khác với hai triều đại trớc cónhững nét ảnh hởng của hình rồng đời Minh (Trung Quốc) và trở thành hình t-ợng tợng trng cho uy quyền phong kiến
Hình rồng chụp trong SGK đợc tạo tạc đẹp kiểu tợng tròn, có dáng mậpkhoẻ Rồng dài 5m, uốn 7 khúc Đầu rồng to, mình lớn, có sừng dựng, thân cóvẩy, lng nh hàng vây cá, chân có 5 móng quặp trông rất dữ tợn Hình rồng
Trang 13không có nét mềm mại nh thời Lý, Trần mà trở nên uy nghi đờng bệ hơn Cóthể nói, hình tợng con rồng là tợng trng cho uy quyền phong kiến, thể hiện ớc
vọng truyền thống của dân tộc con Rồng cháu Tiên“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” và phản ánh trình độ
điêu khắc của nhân dân ta thời Lê mang tính chắc khoẻ với những nét độc đáo,
kỹ thuật điêu luyện
Hình 42 Di tích thành nhà Mạc (Lạng Sơn) – SGK trang 71 SGK trang 107
Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, thành nhà Mạc (có nơi gọi
là thành Quốc Công) đợc xây dựng trên những địa điểm tiền tiêu, do một viêntớng nhà Mạc chỉ huy với mục đích để phòng thủ Những thành luỹ này thờnglợi dụng địa hình tự nhiên nh hai sờn núi sẽ tạo thành một tuyến phòng thủkiên cố Hiện nay, thành nhà Mạc còn có một số di tích ở Cao Bằng, LạngSơn, Tuyên Quang
Hình 42 trong SGK là một phần di tích thành nhà Mạc ở chân núi TôThị – SGK trang 71 Vọng Phu, gần thị xã Lạng Sơn Dấu tích còn lại gồm hai đoạn tờngxây bằng đá giữa hẻm núi Hiện nay, di tích thành nhà Mạc ở Lạng Sơn đã đợcxếp hạng di tích lịch sử quốc gia và đợc đầu t, tôn tạo để phục vụ du lịch thamquan
Hình 43 Phủ Chúa Trịnh (tranh vẽ thế kỷ XVII) – SGK trang 71 SGK trang 109
Quần thể phủ Chúa Trịnh đợc xây dựng trên một diện tích rất rộng,trong đó khu chính ở phía tây nam hồ Hoàn Kiếm ngày nay Sau đó có thêmnhiều công trình kiến trúc tiến dần sang phía đông và phía đông nam Các nhànghiên cứu cho rằng quần thể kiến trúc này gồm 52 cung điện lớn nhỏ khácnhau Đơng thời, kiến trúc chính của phủ Chúa Trịnh hình chữ nhật, có tờngbao bọc xung quanh Có hai cửa ra ngoài là Chính Môn (phía nam) và Tuyên
Vũ Môn (phía đông trông ra hồ Hoàn Kiếm) Ven hồ, Chúa Trịnh cho xâydựng nhiều nguyệt đàn, thuỷ tạ, dựng Tả Vọng Đình trên gò rùa (nền tháp rùangày nay) Đặc biệt là Lầu Ngũ Long đợc xây dựng bên hồ khoảng đầu thể kỷXVIII, mang hình năm con rồng, dát bằng các mảnh sứ và có đá cẩm thạchxây cuốn xung quanh Phủ Chúa Trịnh là một dãy lâu đài nguy nga, đồ sộ, xen
kẽ nhiều sắc thiên nhiên tô điểm cho phủ Chúa càng thêm lộng lẫy Năm
1787, Lê Chiêu Thống đã thiêu huỷ công trình này Bức tranh trong SGK làbức vẽ một phần của phủ Chúa Trịnh Đó là Phủ Đờng (Chính Sự Đờng) nằm
ở trung tâm của Vơng phủ Công trình này bao gồm:
+ Sân điện rộng lớn nằm chính giữa toà Chính Sự Đờng Thềm gác haitầng bày nghi trợng, vũ khí, chiêng trống, nghi vệ Phía sau là toà Trung Đ-ờng, Nghị Sự Đờng, Hậu Đờng, Tỉnh Đờng
Trang 14+ Phía hữu có viên chức Phó Câu Kê, Cai Hợp, Thủ Hợp và Tớng Thần.Lại tiếp đến Hữu Xuyên Đờng, Kính Thiên Lâu (xem sao, tế trời đất).
+ Phía tả có Ty Phó Câu Kê xá nhân (coi xét trong phủ Tả Xuyên ờng)…
Đ-Quần thể phủ Chúa Trịnh đợc xây dựng trong suốt thời gian dài 1749), đợc coi là công trình kiến trúc hoành tráng bậc nhất Thăng Long thời đó
(1592-Tranh vẽ trong SGK trang 109 diễn tả hội chầu ở phủ chúa Trịnh Chúangự trên võng vàng tầng hai của Chính Sự Đờng Dới sân rộng, các quan lạicủa lục phiên đang đợi lệnh chúa Chính quyền chúa Trịnh với thực quyền củamình đã chi phối tình hình chính trị Đàng Ngoài trong một thời gian dài
Hình 44 Cặp chân đèn gốm hoa lam đầu thế kỷ XVII – SGK trang 71 SGK trang 112
Trong quá trình phát triển của nghệ thuật gốm ở Việt Nam từ thời Lý,nghệ thuật chế tạo đồ gốm của nớc ta đã tiến một bớc khá dài, đạt đến trình độcao về kỹ thuật sản xuất cũng nh nghệ thuật trang trí và tạo hình Tiêu biểucho phong cách nghệ thuật gốm, phải kể tới gốm hoa lam- sản phẩm gốmthịnh hành suốt thời Lê – SGK trang 71Nguyễn với đặc trng hoa văn phong phú
Gốm hoa lam là chất liệu tinh lọc, sạch mịn, tạo dáng đẹp, nhiệt độnung cao, loại hình đa dạng (bình, lọ, âu, liễn, đĩa, chân đèn…) không nhữngthông dụng ở trong nớc mà còn đợc trao đổi buôn bán khá rộng rãi ở nớcngoài Cấu tạo hình dáng đồ gốm hoa lam nói chung thể hiện một cách nhuầnnhuyễn, thanh chắc Cốt đất màu trắng xám, đãi lọc sạch mịn, ngoài cốt phủmen màu xanh lam với một kỹ thuật nhúng men đều tay Men lam đợc dànmỏng đều trên đồ gốm Hoa văn trang trí trên đồ gốm rất đa dạng nh: hìnhsen, cúc, rồng phợng, mây vân tản hoặc đề tài về con ngời, loài vật…
Cặp chân đèn gốm hoa lam trong SGK là một tác phẩm nghệ thuật độc
đáo tiêu biểu cho phong cách gốm đầu thế kỷ XVII Chân đèn có dáng thoncao, phân thành ba phần chính: cổ đèn, thân đèn và đế đèn Phần giữa (thân
đèn) là chỗ phình to nhất có trang trí hình rồng lớn đắp nổi uốn lợn trên vânmây Hình rồng mang phong cách thời Lê khá dữ tợn, biểu trng cho uy quyềnphong kiến ở phần trên (cổ đèn) có dạng hình ống, dáng thon thả, ở giữa hơithu nhỏ, loe khá đều về hai phía với các viền nổi có bố cục thay đổi linh hoạt.Phần dới là những cánh sen ngửa đợc phân đôi bởi một đờng gờ nổi Hai phíatrên có hình khắc vạch, rồng cuộn trong cánh sen đối xứng ngợc chiều nhau
Đế đèn chia ra nhiều tầng vững chãi có đắp nổi các hoạ tiết hoa lá, cây cỏ Có
Trang 15thể nói, chân đèn là sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm hoa lam đầu thế kỷXVII.
Sự xuất hiện của đồ gốm hoa lam với những đặc điểm độc đáo về tạodáng và trang trí vừa thanh đẹp, vừa có ý nghĩa sử dụng thực tế cao, đã đợcnhiều ngời trong và ngoài nớc yêu thích Cho đến nay, nhiều viện bảo tàngtrên thế giới vẫn còn lu giữ, trng bày, giới thiệu đồ gốm hoa lam nớc ta nh:Ixtanbun (Thổ Nhĩ Kỳ); bảo tàng Mạc Phủ, Đức Xuyên (Nhật Bản) Đó là
điều đáng tự hào cho nghệ thuật gốm Việt Nam
Hình 45 Thơng cảng Hội An (Tranh vẽ cuối thế kỷ XVIII)
- SGK trang 113
Khép mình trong eo biển miền trung, bên dòng sông Thu Bồn trầmmặc, Hội An đợc xem là thành phố cổ kính, có nhiều hấp dẫn nh một cô gáiduyên dáng nhất của bán đảo Đông Dơng từ nhiều thế kỷ cho đến tận bây giờ.Thơng cảng Hội An hình thành trong khoảng thế kỷ XV-XVI, thịnh đạt trongthế kỷ XVII-XVIII Nhng trớc đó từ rất lâu, vùng đất Hội An đã nằm trong địabàn phân bố của văn hoá tiền Sa Huỳnh và là một cảng thị trọng yếu của vơngquốc Chămpa Hội An là trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong, là mộttrong những thơng cảng sầm uất của vùng biển Đông Nam á Nhờ vào vị trí
địa lý thuận lợi nên hàng hoá từ bốn phơng trong nớc tụ về thơng cảng Hội
An Rồi lại từ Hội An, hàng hoá trong nớc với những sản phẩm nổi tiếng nh:tơ tằm, gốm sứ, trầm hơng…đợc thuyền buôn của các nớc chuyển đến Đông
á, Nam á và một số nớc phơng tây Hàng hoá nớc ngoài cũng từ Hội An đợctoả khắp mọi miền đất nớc Tàu thuyền của Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan,Philippin, Inđônêxia, Malaixia, ấn Độ, hà Lan, Pháp…hàng năm cập bến mở
hội chợ từ bốn đến sáu tháng liền Thế kỷ XVII, Hội An có phố Nhật , phố“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
khách”, thơng điếm Hà Lan…và đó là một trung tâm giao lu kinh tế rộng lớn,
một đô thị, thơng cảng có tầm cỡ quốc tế Gần đây ngời ta cũng vừa khám phá
đợc ở không xa Hội An, cách Cù Lao Chàm khoảng 7 hải lý một chiếc tàubuôn chìm 500 năm, và đã vớt đợc khoảng 150.000 cổ vật vô giá của ViệtNam mà phần lớn là đồ gốm Minh chứng này đã khẳng định thêm tầm cỡ củathơng cảng Hội An trong tiến trình lịch sử
Sau đó, do cửa sông Thu Bồn bị phù sa bồi lấp, tàu lớn không vào đợc,
các thuyền buôn phải theo sông Hàn để vào Đà Nẵng Do vậy Hội An chỉ còn“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
là một thành phố nhỏ hiền lành, trầm mặc soi mình trên dòng sông xanh biếc” Cùng với chính sách bế quan toả cảng“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” của nhà Nguyễn và nhữngbiến động lịch sử, Hội An tuy mất đi vị trí của một thơng cảng song nó vẫn là
Trang 16di sản văn hóa độc đáo, đa dạng có tầm vóc quốc tế Vì vậy, cuối năm 1999,UNESCO công nhận khu phố cổ Hội An là di sản văn hóa thế giới Đây là sựkhẳng định vị trí và sự góp mặt của di sản văn hoá Hội An trong khi tàng disản văn hoá nhân loại.
Hình 46 Lợc đồ trận Ngọc Hồi - Đống Đa – SGK trang 71 SGK trang 118
Đây là lợc đồ diễn biến của kháng chiến chống Thanh (1789) với cáctrận đánh tiêu biểu là Ngọc Hồi, Đống Đa Trên lợc đồ, ký hiệu lá cờ xanhnằm trong ô màu trắng là nơi quân Tây Sơn tập kết Lá cờ trắng nằm trong ômàu đen là đại bản doanh của địch Mũi tên màu xanh là hớng tiến công củaquân Tây Sơn Mũi tên nét đứt màu đen là ký hiệu quân Thanh rút chạy Kýhiệu ô vuông trắng với hai gạch chéo là các đồn địch bị tiêu diệt Hình các tamgiác ngợc chiều nhau là cầu phao qua sông Hồng
Nhận đợc tin quân Thanh xâm lợc, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế gấprút chuẩn bị ra bắc Quân sỹ chia làm 5 đạo, tiến công quyết liệt, tiêu biểu làchiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa
+ Trận Ngọc Hồi: đồn Ngọc Hồi có vị trí then chốt trong hệ thốngphòng ngự của địch, nằm án ngữ con đờng thiên lý (đờng số 1), cách ThăngLong khoảng 12km (nay thuộc Thanh Trì-Hà Nội) Đồn có khoảng 3 vạn quân
đóng giữ do phó tớng Hứa Thế Hanh chỉ huy Hệ thống phòng ngự của đồn rátkiên cố, xung quanh cắm nhiều chông sắt, chôn nhiều địa lôi, trên mặt thành
đặt nhiều đại bác Sau khi tiêu diệt đồn Hà Hồi (cách Thăng Long 20km), mờsáng mùng 5 tết, đại quân của Quang Trung tiến gấp về Ngọc Hồi Mở đầu,hơn 100 voi chiến của ta chia hai cánh tả hữu đồng loạt tiến lên 600 chiến sỹcảm tử chia làm 20 toán, cứ 10 ngời dao ngắn dắt hông, cùng nhau khiêng mộttấm mộc lớn, bên ngoài quấn rơm ớt xông lên phía trớc Phía sau có 20 chiên
sỹ khác theo sau kết thành những bức tờng di động đại bác, cung nỏ, hoả mù
của địch bắn ra tới tấp khói toả mù trời“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” nhng không ngăn nổi bớc tiến củaquân cảm tử áp sát chân luỹ, nghĩa quân bỏ lá chắn, xông vào giáp chiến vớigiặc Quân Thanh hoảng loạn, tháo chạy bị tiêu diệt rất nhiều Số còn lại tháochạy về kinh thành, gặp quân Tây Sơn án binh ở Văn Điển, vội vàng chạy về
Đầm Mực bị quân ta mai phục tiêu diệt gọn
+ Trận Đống Đa: sáng mùng 5 tết Kỷ Dậu, đại quân của đô đốc Longchỉ huy vợt Chơng Đức (Chơng Mỹ), vòng lên Nhân Mục đánh thẳng vào đồnKhơng Thợng (Đống Đa) Quân Tây Sơn bao vây bốn mặt, rồi xông thẳng vào
đồn, đốt lửa thiêu cháy doanh trại giặc Quân Thanh bị chết rất nhiều, chỉ huygiặc là Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử trên gò Đống Đa
Trang 17Từ Ngọc Hồi, Đống Đa quân Tây Sơn thừa thắng xông lên, tiến thẳngkinh thành Thăng Long Tôn Sỹ Nghị hoảng sợ, không kịp mặc áo giáp, ngựakhông kịp thắng yên chạy qua sông Hồng trốn về nớc Quân giặc thấy chủ t-ớng bỏ chạy nh rắn mất đầu, hoảng loạn không kém, chen chúc qua cầu phaochạy trốn Cầu phao bị gãy, giặc rơi xuống sông chết đuối nhiều không kểxiết Tra mùng 5 tết, Quang Trung ngồi trên lng voi, áo bào sạm khói súngdẫn đại quân tiến vào Thăng Long trong niềm hân hoan của nhân dân:
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
Đầy thành già trẻ mặt nh hoa Chung vai sát cánh cùng nhau nói
Cố đô vẫn thuộc núi sông ta”
Hình 47 Tợng đài Quang Trung (Quy Nhơn-Bình Định)
- SGK trang 120
Hình 47 trong SGK là ảnh chụp tợng đài Quang Trung, hiện đặt tạicông viên Quang Trung (thành phố Quy Nhơn- Bình Định) Tợng đài hoànthành năm 1976, cách đây hơn 30 năm, do hoạ sỹ Lu Giang Thanh thiết kế T-ợng đài làm bằng bê tông, cốt thép gồm hai phần rõ rệt: Quang trung cỡi ngựa
và đế tròn có khắc phù điêu Cả tợng đài đặt trong đài phun nớc với khônggian hoa viên độc đáo của thành phố
So với các tợng đài Quang Trung hiện có tại Việt Nam, thì tợng đài này
có ý nghĩa rất đặc biệt - nó đợc xây dựng ngay trên mảnh dất quê hơng củangời anh hùng áo vải Phong thái của một vị Hoàng đế đợc thể hiện rõ nét, uynghi, lẫm liệt, đảm bảo cân đối hài hoà giữa ngời và ngựa, giữa các bộ phận vớinhau Tợng tạc vua Quang Trung mặc áo giáp chiến, tay phải cầm gơm cỡi ngựatrong uy thế chiến thắng Ngựa chồm cao vơn hai chân khỏi mặt đất Phần đế t-
ợng đài đợc khắc hai mảng phù điêu với hai chủ đề: tụ nghĩa“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” và hà“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” nh binh ”
Mảng phù điêu tụ nghĩa“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” diễn tả cảnh nhân dân khắp nơi giúp đỡ nghĩa quân
Tây Sơn Mảng phù điêu hành binh“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ” mang nội dung theo đúng nghĩa của nó,trong đó nổi bật lên ngời phụ nữ cỡi voi xung trận- chính là nữ tớng Bùi thịXuân Tợng đài mang dòng chữ: nguyễn huệ- quang trung, đã trởthành một biểu tợng đẹp của thành phố Quy Nhơn
Hiện nay, tợng đài bị xuống cấp nhiều, nhiều mảng bê tông bị bóc tách,
lộ ra cả cốt thép bên trong Dự án nâng cấp tợng đài Quang Trung đang đợctriển khai do các nghệ nhân làng đúc đồng Ngũ Xá- Hà Nội thực hiện Công
Trang 18trình sẽ hoàn thành khoảng giữa tháng 7 năm 2007 để phục vụ FESTIVALTây Sơn- Bình Định.
Hình 48 Tợng La Hán chùa Tây Phơng (Hà Tây) – SGK trang 71 SGK trang 123
Chùa Tây Phơng có tên là Sùng Phúc Tự, cao khoảng 50m dựng trên núiCâu Lậu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây Chùa đợc xây dựnglần đầu vào đời Cao Biền (thế kỷ IX) đến niên hiệu Chính Hoà khi Tây PhơngTrịnh Tạc đi qua đây đã cho sửa lại chùa và xây thêm Tam Quan Sau đó chùalại bị phá, đến năm 1794 dới triều Tây Sơn, chùa đợc xây dựng lại trên nềnchùa cũ Chùa Tây Phơng là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc tiêubiểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê, với nhiều di vật quý giá, trong đóphải kể tới 18 pho tợng La Hán Hình 48 trong SGK là tợng vị Tổ thứ III Th-
ơng Na Hoà Tu (bên trái) và tợng vị Tổ thứ XVI La Hầu La Đa (bên phải)
Thơng Na Hoà Tu (Sanakavàsa) theo phật thoại cùng với 500 vị La Hánphần lớn c trú tại phơng bắc nớc Ca Thấp Di La Tên Thơng Na Hoà Tu xuấtphát từ một loại cỏ thiêng và một loại áo lạ tên gọi là Thơng Na Khi nào cóbậc thánh nhân ra đời thì loại cỏ này ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trớc.Khi còn ở kiếp trớc, ngài đã lấy loại cỏ thiêng này tết thành áo Ngài ở trongbụng mẹ 6 năm mới sinh hạ, khi sinh ra đã có áo mặc sẵn trên thân, thân mìnhcao lớn dần thì áo mặc cũng rộng ra cho phù hợp Khi Thơng Na Hoà Tu xuấtgia thì áo đó trở thành pháp phục, đến khi sắp nhập diệt ngài nguyện để lại áocho đến khi đạo pháp của đức Thích Ca huyền tận thì áo đó mới mục nát Do
đó, tên cỏ và tên áo trở thành tên ngời Trong chùa Tây Phơng, tợng Thơng NaHoà Tu bày ở gian bên phải cao 115cm, là một ông già luôn lo toan ngồi chânthõng chân co vắt ngang, một tay để lên đùi còn tay kia thu trong bọc, áo mặcnhiều nếp lợn để hở bộ ngực gầy giơ xơng Tợng có đôi mắt sụp, miệng mím,
ít nói nhng nghĩ nhiều…đã tạo nên hình tợng một ông già khắc khổ sống bằngnội tâm
Bức tợng bên trái- tợng La Hầu La Đa tôn giả cao 127cm, đợc bày bênphải tợng Tổ thứ XIII, mang chân dung một cụ già Việt Nam, có thân hìnhgầy gò, mặt nhỏ dài, gò má cao, môi mỏng vừa phải Tợng La Hầu La Đa ngồitrên phiến đá, hai chân thả chạm đất, cây gậy tích trợng để dựa vai do tay tráigiữ không phải để tăng sự vững chắc mà chỉ nhằm tăng thêm uy thế Bàn tayphải xoè ra để úp trên đùi để lộ ra những móng tay dài, đôi bàn tay trông rõtừng đốt xơng bên trong Khuân mặt hơi ngửa có vẻ ngạo nghễ, miệng mímvới môi mỏng thể hiện tài ăn nói trơn tru Đôi mắt nheo nheo với chiếc mũihơi hếch tạo ra một vẻ đăm đăm Các nếp nhăn và các khối ghồ ghề trên thân
Trang 19biểu hiện sự mệt mỏi, đến cả những nếp nhăn trên áo cũng gợi sự trăn trở vàcách ngồi cũng có cái gì đó rất nặng nề Tợng La Hầu La Đa là tợng duy nhấtchít khăn cùng với cùng với toàn thân cân đối muốn gợi sự quyền quý, oai vệ.Con hơu nằm bên trái tợng, quay cổ và ngóc đầu hớng về phía Tổ nh sự chờ
đợi vỗ về Theo phật thoại, La Hầu La Đa tôn giả (Ràhulata) cùng với 1100 vị
La Hán khác c trú tại Tất Lợi Dơng Châu Cù La Hầu La Đa là tên một hànhtinh theo lịch ấn Độ Theo truyền thuyết, ngài sinh ra vào lúc nguyệt thực nên
có tên là Chớng Nguyệt Cha ngài là thái tử Sitđácta Gôttama, tức là Đức Phậtsau này La Hầu La Đa là ngời thông minh, có tài thuyết pháp, là một trongmời đại đệ tử của nhà Phật
Hình 49 Lợc đồ các đơn vị hành chính Việt Nam thời Minh Mạng
- SGK trang 126
Sau khi lật đổ triều đại Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn ánh lên ngôi vualấy hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn, lấy Phú Xuân (Huế) làm kinh đô củacả nớc Dới triều Nguyễn, sự nghiệp thống nhất đất nớc đã hoàn thành Lãnhthổ nớc ta trải dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm cả ĐàngTrong và Đàng Ngoài Dới thời Gia Long, vẫn duy trì các đơn vị hành chính
nh cũ
Năm 1831-1832 Minh Mạng- vị vua thứ hai triều Nguyễn đã tiến hànhmột cuộc cải cách hành chính địa phơng, xoá bỏ các tổng, trấn, đổi các dinhthành tỉnh Bấy giờ cả nớc chia thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên Năm
1831, đổi các trấn phía bắc thành 18 tỉnh: Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh,Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hng Yên, Hải Dơng, Hà Nội,Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hng Hoá, Thái Nguyên, LạngSơn, Cao Bằng
Năm 1832, đổi các dinh, trấn phía nam thành 12 tỉnh: Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Phiên An (Gia
Định), Biên Hoà, Định Tờng, An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên
Đứng đầu tỉnh là các chức Tổng Đốc (phụ trách 2-3 tỉnh) và Tuần Phủ(phụ trách một tỉnh, dới quyền Tổng Đốc) Giúp việc có hai ty là: Bố Chính sứ
ty và án Sát sứ ty Hệ thống hành chính Trung Ương và địa phơng đợc phânbiệt rõ ràng, quyền hành tập trung hơn nữa vào tay vua Điều đáng chú ý làcác chức đứng đầu tỉnh thờng là các võ quan cao cấp Dới tỉnh là phủ, huyện,châu, tổng, xã Chính quyền tổng, xã đợc tổ chức chặt chẽ nhằm đảm bảoquyền lực Nhà nớc và giải quyết các khó khăn một cách kịp thời Theo thống
kê năm 1840, cả nớc có 90 phủ, 379 huyện, 1.742 tổng, 18.265 xã Các đơn vịhành chính này đợc giữ đến cuối thời Nguyễn
Trang 20Lợc đồ trong SGK thể hiện tên gọi, địa điểm các đơn vị hành chính thờiMinh Mạng Biên giới trong lợc đồ chính là đờng biên giới ngày nay.
Hình 50 Đánh vật (tranh Đông Hồ ) – SGK trang 71 SGK trang 128
Thế kỷ XVIII-XIX trong nhân dân xuất hiện nhiều loại tranh dân một sáng tạo đặc biệt của nền hội hoạ dân tộc, mà tiêu biểu là tranh Đông Hồ.Làng tranh Đông Hồ xa thuộc tổng Hồ, huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc; naythuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tranh Đông Hồ thờng
gian-lu hành ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ vào dịp tết Nguyên Đán hàng năm,nên cũng gọi là tranh tết Tranh in trên giấy điệp, loại giấy bản thủ công kíchthớc 70 * 25cm, quét phủ một lớp hồ trộn với bột điệp trắng làm cho mặt giấy
đanh lại, trắng óng ánh Tranh Đông Hồ mộc mạc, giản dỵ, dễ hoà nhập vào
đời sống văn hoá với những hình ảnh gần gũi, sống động Bức tranh Đánh“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
vật -” SGK trang 128 là một ví dụ nh thế
Bức tranh diễn tả ngày hội vui xuân nh ca dao xa: Tháng Giêng là“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”
tháng ăn chơi - Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè” với màu sắc sống động tự nhiên thuận mắt ta, ra mắt ng“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ời” Trên nền vàng ấm đợc lấy từ hoa hoè hay
quả dành dành, bức hoạ nổi bật với 8 nhân vật- chính xác hơn là 8 đô vật cởitrần, đóng khố, cùng với những dây pháo đỏ tơi ngày tết Hai ngời ngồi xembên trái, bên phải bức tranh đang háo hức dõi theo trận đấu Trung tâm bứctranh là ba đôi vật đang ở những t thế khác nhau, khiến ngời xem nh đợc hìnhdung thấy toàn cảnh của cuộc đấu vật suốt từ đầu đến cuối Hai ngời góc bêntrái vui vẻ ôm vai nhau bớc vào cuộc đấu Hai ngời bên phải đang vật nhautrong t thế ngang tài ngang sức Còn hai ngời ở giữa diễn tả cảnh kẻ thắng ng-
ời thua sau keo vật Nh vậy, bức tranh có cảnh mở đầu, có diễn biến và có cảkết thúc Màu hồng của da thịt đợc nghệ nhân khéo tô điểm cùng nụ cời vuitrong mùa xuân mới Tiếng pháo nổ không những cổ vũ cho sự chiến thắng
mà còn làm tăng thêm khí thế hồ hởi của ngày hội vui
Bức tranh đơn giản (không chỉ bởi màu sắc và cả hoạ tiết), dí dỏm, vuimắt Nó phản ánh cảnh sinh hoạt vui tơi, lành mạnh trong đời sống văn hoátinh thần của ngời lao động, đồng thời nói lên tinh thần thợng võ của dân tộc
ta tự ngàn xa
Có thể nói, tự nhiên bằng những nét to đậm và khúc chiết đã tạo nên vẻ
đẹp khoẻ khoắn, vui tơi, có ít nhiều ngây ngô chất phác nhng vẫn bộc lộ nétduyên đằm thắm của tranh Đông Hồ Một nhà nghiên cứu tranh dân gian đã
nhận xét: Tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam là chứng cớ vô danh trong sự t“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX” ơi mát của những hài hoà, trong tính tự nhiên của sáng tạo Tranh đó đã là sự