Hiện nay trên thế giới xu thế toàn cầu hóa ngày càng được nhiều quốc gia chú trọng. Đặc biệt là việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới. Việt Nam cũng vậy, cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi xu hướng toàn cầu này. Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, tổ chức thương mại lớn nhất thế giới. Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang ngày càng mở rộng cánh cửa giao thương với các quốc gia trên thế giới thông gia hoạt động xuất nhập khẩu, mỗi nước đều có những lợi thể so sánh riêng của mình thì thủy sản cũng được coi là thế mạnh của Việt Nam và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là nền tảng quyết định thế mạnh đó. Và thực tế cũng đã cho thấy, hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã và đang chứng minh được vai trò và tầm quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 20122014 đạt 16%năm, trong đó khu vực ĐBSCL giữ vai trò quyết định. Hiện nay, thủy sản Việt Nam ngày càng được đánh giá cao trên thị trường quốc tế. Cả nước có khoảng hơn 700 nhà máy chế biến thủy sản quy mô công nghiệp, trong đó khu vực ĐBSCL có khoảng 300 doanh nghiệp lớn nhỏ. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng nhiều mặt hàng thủy sản vẫn có được chỗ đứng riêng cho mình và duy trì tốc độ tăng trưởng. Thủy sản Việt Nam luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng đang đứng trước nhiều khó khăn. Thị trường xuất khẩu thủy sản thế giới vẫn đang phải đối mặt với nền kinh tế toàn cầu chưa hoàn toàn thoát khỏi khủng hoảng. Tiêu dùng giảm, xu hướng tiết kiệm gia tăng, những rào cản kỹ thuật từ phía nhà nhập khẩu, đặc biệt là luật mới: Luật IUU (Quy định về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định) bắt đầu có hiệu lực từ 112010.
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay trên thế giới xu thế toàn cầu hóa ngày càng được nhiều quốc gia chú trọng Đặc biệt là việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới Việt Nam cũng vậy, cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi xu hướng toàn cầu này Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, tổ chức thương mại lớn nhất thế giới Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang ngày càng mở rộng cánh cửa giao thương với các quốc gia trên thế giới thông gia hoạt động xuất nhập khẩu, mỗi nước đều có những lợi thể so sánh riêng của mình thì thủy sản cũng được coi là thế mạnh của Việt Nam và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là nền tảng quyết định thế mạnh đó Và thực tế cũng đã cho thấy, hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long
đã và đang chứng minh được vai trò và tầm quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Trong các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2012-2014 đạt 16%/năm, trong đó khu vực ĐBSCL giữ vai trò quyết định Hiện nay, thủy sản Việt Nam ngày càng được đánh giá cao trên thị trường quốc tế Cả nước
có khoảng hơn 700 nhà máy chế biến thủy sản quy mô công nghiệp, trong đó khu vực ĐBSCL có khoảng 300 doanh nghiệp lớn nhỏ Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng nhiều mặt hàng thủy sản vẫn có được chỗ đứng riêng cho mình và duy trì tốc độ tăng trưởng Thủy sản Việt Nam luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng đang đứng trước nhiều khó khăn Thị trường xuất khẩu thủy sản thế giới vẫn đang phải đối mặt với nền kinh tế toàn cầu chưa hoàn toàn thoát khỏi khủng hoảng Tiêu dùng giảm, xu hướng tiết kiệm gia tăng, những rào cản kỹ thuật từ phía nhà nhập khẩu, đặc biệt là luật mới: Luật IUU (Quy định về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định) bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2010
Với những thách thức cùng những rào cảng nêu trên, xuất khẩu thủy sản của ta có thể vượt qua và tiếp tục phát triển được hay không? Chính vì vậy mà
đề tài “Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản của khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long giai đoạn 2014-2016” được thực hiện và qua đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho việc sản xuất, khai thác và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng
Trang 21.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu và phân tích hoạt động sản xuất cũng như hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 đến 2014,
từ đó đề xuất giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu thủy sản
cả về số lượng lẫn chất lượng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu chung về tình hình thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam
nói chung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng giai đoạn từ 2014
Số liệu thu thập và nghiên cứu chủ yếu được tổng hợp từ năm 2014 đến
2016 trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu hàng thủy sản
- Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao sản lượng và chất lượng thủy sản khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung
Trang 3Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam
từ nước ngoài khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Xuất siêu là khái niệm dùng mô tả tình trạng CCTM có giá trị lớn hơn 0
(zero) Nói cách khác, khi kim gạch xuất khẩu cao hơn nhập khẩu trong một thời gian nhất định, đó là xuất siêu
Nhập siêu là khái niệm dùng mô tả tình trạng CCTM có giá trị nhỏ hơn 0
(zero) Nói cách khác, khi kim ngạch xuất khẩu cao hơn xuất khẩu trong một thời gian nhất định, đó là nhập siêu
Quản trị xuất nhập khẩu là tổng hợp các hoạt động hoạch định chiến
lược và kế hoạch kinh doanh, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, từ khâu đầu đến cuối của chu kỳ kinh doanh (giao dịch, đàm phán hợp đồng; soạn thảo, ký hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng) nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất
Cán cân thương mại là một trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh
toán quốc tế CCTM ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoản thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch lớn hơn 0, thì CCTM có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì CCTM có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, CCTM ở trạng thái cân bằng
2.1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công
nghiệp hoá và hiện đại hoá
Thứ hai, xuất khẩu đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất
Trang 4khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và đang phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu thụ động chờ sự “thừa ra” của sản xuất, thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế cũng sẽ rất chậm chạp Hai là, coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều này có
tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ ba, xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi
Thứ tư, xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
Thứ năm, xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo
và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu
là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuât, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới
Thứ sáu, thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc đua cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tố chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường
Thứ bảy, xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của người dân Không những thế, xuất khẩu còn là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta
2.1.3 Các hình thức của xuất khẩu
Trên thị trường thế giới có nhiều cách để các doanh nghiệp có thể giao dịch với nhau Tuy nhiên, trong thực tế xuất khẩu thường có một số hình thức xuất khẩu chủ yếu sau:
- Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu do doanh nghiệp trong nước trực tiếp xuất khẩu hàng hóa cho một doanh nghiệp nước ngoài thông qua các
tổ chức của mình
Trang 5- Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu mà nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thông qua người thứ ba, người này là trung gian
- Xuất khẩu gia công ủy thác là hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hưởng phí ủy thác theo thỏa thuận của các xí nghiệp ủy thác
- Xuất khẩu ủy thác là hình thức xuất khẩu trong đó doanh nghiệp xuất khẩu đóng vai trò trung gian, đại diện cho nhà sản xuất kí kết hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu, sau đó doanh nghiệp được hưởng % theo lợi nhuận hoặc một số tiền nhất định, theo thương vụ hay theo kì hạn
- Phương thức mua bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người mua đồng thời là người bán, lượng hàng trao đổi với nhau có giá trị tương đương, người ta còn gọi phương thức xuất khẩu này là xuất khẩu liên kết hoặc phương thức hàng đổi hàng
- Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu mà hàng hóa không di chuyển
ra khỏi biên giới quốc gia mà được sử dụng ở các khu chế xuất hoặc doanh nghiệp bán sản phẩm cho các tổ chức nước ngoài ở trong nước
- Phương thức mua bán tại hội chợ triển lãm hội chợ là thị trường hoạt động định kì, được tổ chức vào một thời gian và một địa điểm cố định trong một thời hạn nhất định, tại đó người bán đem trưng bày hàng hóa của mình và tiếp xúc với người mua để kí hợp đồng mua bán
- Tạm nhập tái xuất là loại hàng hóa trở lại ra nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất, nước tái xuất trả tiền nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu
- Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hóa (thường
là trả nợ) được kí theo nghị định thư của hai Chính phủ
2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2.2.1 Các nhân tố khách quan
Mỗi doanh nghiệp, công ty đều hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh tạo những tiền đề thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng môi trường kinh doanh không thuận lợi sẽ mang lại cho doanh nghiệp không ít khó khăn Sau đây là một số công
cụ mà các quốc gia thường sử dụng để quản lý, hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của quốc gia mình
2.2.1.1 Thuế quan
Thuế quan xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu Thuế quan xuất khẩu làm cho giá cả hàng hóa quốc tế cao hơn giá cả
Trang 6trong nước Thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý hoạt động xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho quốc gia mình đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả cảu hoạt động xuất khẩu, góp phần bảo vệ cho sự phát triển sản xuất của hàng hoá trong nước Nếu chính phủ muốn khuyến khích xuất khẩu một mặt hàng nào đó, họ sẽ giảm thuế xuất khẩu nhằm mục đích cho nhiều nhà doanh nghiệp hơn tham gia vào hoạt động xuất khẩu Còn ngược lại nếu hạn chế xuất khẩu một mặt hàng nào đó, chính phủ sẽ tăng thuế, điều này sẽ hạn chế lượng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động này Hiện nay các mặt hàng thủy sản chủ yếu đang được nhà nước khuyến khích xuất khẩu nhằm giải quyết các vấn đề xã hội nên được miễn thuế xuất khẩu
2.2.1.2 Hạn ngạch xuất khẩu (quota)
Hàng rào phi thuế quan đầu tiên phải kể đến là hạn ngạch xuất khẩu (quota) bởi được xem là xem là công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hóa Hạn ngạch được hiểu như quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất khẩu từ một thị trường nội địa trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép
Quota xuất khẩu là một trong những công cụ trước đây cũng được áp dụng cho hàng hóa thủy sản làm hạn chế khả năng xuất khẩu
2.2.1.3 Trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là một trong những biện pháp có tác dụng mở rộng thúc đẩy xuất khẩu đối với những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu Chính phủ có thể tự cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước, bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản vay ưu đãi với các bạn hàng nước ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài
- Các hiệp định thương mại mà quốc gia tham gia
- Các quy định nhập khẩu hàng hóa của quốc gia mà mình tham gia hoạt
động xuất khẩu
- Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan tới xuất khẩu như
luật bảo hiểm quốc tế, luật vận tải quốc tế, các quy định về giao nhận ngoại
thương
Trang 72.2.2 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những đặc điểm, tiềm năng của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động cũng như hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu, tuy nhiên những nhân tố sau đây là quan trọng và nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp
2.2.2.1 Cơ chế quản lý của doanh nghiệp
Cơ chế tổ chức bộ máy hợp lý sẽ giúp cho các nhà quản lý sử dụng tốt nguồn nhân lực của công ty, nâng cao hiệu quả kinh doanh Còn nếu bộ máy cồng kềnh, sẽ hạn chế nguồn lực và làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.2.2 Nhân tố con người
Trình độ chuyên môn, năng lực làm việc của mỗi thành viên trong doanh nghiệp là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nói về tiềm lực trong doanh nghiệp, nhân tố con người là nhân tố quan trọng nhất.Trong hoạt động xuất khẩu từ khâu nghiên cứu thị trường, tìm kiếm nguồn hàng, khách hàng đến công tác giao dịch đàm phán ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được thực hiện bởi những cán bộ nhanh nhạy, năng động, trình độ chuyên môn cao thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao
2.2.2.3 Khả năng vốn và khả năng áp dụng tiến bộ khoa học-công nghệ
Vốn là yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh, công ty có vốn kinh doanh càng lớn thì cơ hội giành được những hợp đồng trong kinh doanh sẽ càng trở nên dễ dàng hơn Vốn của công ty ngoai nguồn vốn tự có thì nguồn vốn huy động cũng có vai trò rất lớn trong hoạt động kinh doanh
Thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật thực chất cũng là nguồn vốn của công ty (vốn hiện vật) Việc trang bị và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ tác động trực tiếp đến chất lượng hàng hoá của doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp đưa ra đối với khách hàng và khả năng phục vụ của doanh nghiệp đối với khách hàng
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập từ website của Bộ Tài Chính, Tổng cục hải quan, Tổng cục thống kê, bộ Thông tin Thương mại Việt Nam (Viet Nam Business New), các trang website đáng tin cậy khác…
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp mô tả số liệu: Nêu lên ý nghĩa của các thông số để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá các yếu tố đang xem xét hoặc phân tích
Trang 8 Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu
cơ sở (chỉ tiêu gốc)
* So sánh bằng số tuyệt đối
Là kết quả của phép trừ giữa chỉ số của năm phân tích so với năm gốc của các chỉ tiêu kinh tế để thấy được quy mô và số lượng của xu hướng phát triển Phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc
0
1 y y
Trong đó: y0 : là chỉ tiêu kỳ gốc
y1: là chỉ tiêu kỳ phân tích
y: là chênh lệch tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế
* So sánh bằng số tương đối
Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:
- Số tương đối động thái: Số tương đối động thái biểu hiện sự so sánh mức độ của hiện tượng ở 2 thời kỳ hay 2 thời điểm khác nhau nhằm phản ánh
rõ hơn tình hình của hiện tượng ở thời kỳ hay thời điểm nghiên cứu
- Số tương đối kết cấu: Số tương đối kết cấu là tỷ lệ so sánh giữa số tuyệt đối của từng bộ phận cấu thành nên tổng thể với số tuyệt đối của tổng thể hiện tượng nghiên cứu nhằm nghiên cứu cấu thành của hiện tượng Nếu kết cấu thay đổi sẽ thấy được nguyên nhân thay đổi bản chất của hiện tượng trong các điều kiện khác nhau
Trang 9CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦY SẢN KHU VỰC
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2014 ĐẾN 2016
3.1 PHÂN TÍCH SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CẢ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2014 ĐẾN 2016
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế
và phát triển trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau của các quốc gia Hoạt động xuất nhập khẩu là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh
qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong giai đoạn 2012 – 2014, tăng trưởng xuất khẩu tăng dần qua các năm, lần lượt là 5,25%, 5,42% và 5,98% dù tình hình kinh tế khó khăn, ngành Nông nghiệp vẫn tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế Đối với mặt hàng thủy sản nói riêng, vẫn khá ổn định và vững chắc thể hiện thông qua sự tăng lên của kim ngạch xuất khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hóa (Tổng cục Thống kê, 2014)
Năm 2012, theo đánh giá chung sản xuất thủy sản tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong đó có những nguyên nhân chính như kinh tế thế giới chưa hồi phục, nguyên liệu đầu vào tăng cao, dịch bệnh đối với tôm, cá tra và nghêu diễn biến phức tạp ngay từ đầu năm cùng với bão và áp thấp nhiệt đới nhiều Trong khi đó, mặc dù nhiều hộ nuôi cá tra gặp khó khăn về vốn, giống và đầu
ra nhưng diện tích nuôi cả nước vẫn đạt 5,6 nghìn ha, tăng khoảng 1,8% so với năm 2011, sản lượng cá ước đạt 1,19 triệu tấn, tăng 3,4 % với năng suất bình quân là 274 tấn/ha, thấp hơn so với năm 2011 (305 tấn/ha) Cũng trong năm
2012, theo số liệu Thống kê Hải quan cho thấy con số xuất khẩu thủy sản đạt
6,15 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kì năm 2011 (Tổng cục Hải quan, 2012)
Năm 2013, mặc dù thời tiết không thuận lợi, nhiều mưa bão, giá xăng dầu tăng làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động khai thác thủy sản Tuy nhiên, được sự quan tâm, tạo điều kiện của các bộ, ngành và chính quyền các địa phương nên sản lượng thủy sản khai thác 2013 vẫn tăng, ước tính đạt 2,7 ngàn tấn, tăng 3,3% so với năm trước Sự tăng lên của ngành thủy sản đã kéo cả
“đoàn tàu” nông nghiệp đạt mức 27,5 tỷ USD kim ngành xuất khẩu, tăng nhẹ
so 0,7% so với năm 2012 Xuất khẩu thủy sản tiếp tục là “điểm sáng” với kim ngạch xuất khẩu xuất khẩu tháng 12 ước đạt 617 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu cả năm đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kì năm ngoái Mỹ tiếp tục là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất, chiếm 21,89% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản
Trang 10Theo số liệu thống kê của Bộ đưa ra, kim ngạch xuất khẩu tháng 12/2014 đạt 628,8 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2014 đạt 7,84 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là mức xuất khẩu kỷ lục của
2012 ĐBSCL tiếp tục khẳng định thế mạnh sản xuất thủy sản của mình, đặc biệt là thủy – hải sản đạt thắng lợi lớn
Năm 2012 các tỉnh ĐBSCL đưa diện tích nuôi thủy sản lên 795.000 ha, tăng 5.000 ha so năm 2011 với sản lượng đạt 2,4 triệu tấn và cùng cả nước hướng đến mục tiêu xuất khẩu thủy sản đạt 6,5 tỷ USD năm 2012 (Tổng cục thủy sản, 2012)
Năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn vùng đạt khoảng 2 tỷ USD tương đương sản lượng khoảng 1,5 triệu tấn, chiếm 53% về lượng và 32% về kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước
Năm 2013 ĐBSCL đã đạt sản lượng 2,2 triệu tấn thủy sản trên diện tích nuôi đạt 795.000 ha, chiếm 89% diện tích và 92,5% sản lượng các tỉnh phía Nam, trong đó có 650.000 ha tôm sú với sản lượng 310.000 tấn; 5.000 ha cá tra với sản lượng trên 1 triệu tấn
Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 riêng khu vực ĐBSCL là kim ngạch xuất khẩu vùng ĐBSCL đạt khoảng hơn 4 tỷ USD Trọng đó, vùng kinh tế trọng điểm khu vực chiếm 36,7% ĐBSCL nằm trong 3 khu vực có nhiều địa phương xuất khẩu “tỷ USD” nhất cả nước với tỷ lệ 26% tương ứng với kim ngạch xuất khẩu
Bước sang năm 2014, trong chín tháng đầu năm 2014, tổng sản lượng thủy sản vùng ĐBSCL đạt 2,8 triệu tấn, tăng 140.000 tấn so cùng kỳ năm ngoái Trong 2,8 triệu tấn kể trên, có 1 triệu tấn thu được từ khai thác và 1,8 triệu tấn do nuôi trồng, tổng giá trị 34.500 tỷ đồng Hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau dẫn đầu với sản lượng đạt 830.000 tấn, chiếm gần 30% tổng sản lượng toàn vùng Lượng thuỷ sản nói trên là nguồn nguyên liệu dồi dào cung
Trang 11ứng cho các nhà máy trong vùng chế biến và đã xuất khẩu đạt giá trị trên 3,4
tỷ USD, tăng 19% so cùng kỳ năm 2013
3.2.2 Hoạt động xuất khẩu thủy sản
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có nhiều lợi thế nuôi trồng thủy sản Trong những năm qua, ngành thủy sản của khu vực có mức tăng trưởng ổn
định, sản lượng nuôi trồng chiếm 65% so với cả nước
Xuất khẩu thủy sản khu vực năm 2012, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổng kim ngạch ước đạt gần 6,15 tỷ USD tăng 0,7% so với cùng kì năm 2011, mặc dù chưa đạt được mục tiêu đề ra trước đó là 6,5 tỷ USD nhưng con số này cũng đã chứng minh được sự nổ lực vượt khó của toàn ngành trong năm 2012 đầy khó khăn Năm 2012 có thể nói là năm nhiều thách thức đối với ngành nuôi trồng thủy sản khu vực, người nuôi thì lao đao với dịch bệnh xảy ra tại nhiều vùng nuôi, giá cả lên xuống thất thường, doanh nghiệp đối mặt với tình trạng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và hoạt động sản
xuất cầm chừng…
Bước sang năm 2013, tính đến cuối tháng 12, ĐBSCL thu hoạch với sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn, giảm 3% đưa xuất khẩu thủy sản đạt 6,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu cá tra đạt hơn 1,522 tỷ USD, chiếm 25,7% giảm 0,2% so với cùng kì năm 2012 và là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai sau tôm Ước giá trị xuất khẩu năm 2013 đạt 1,8 tỷ USD
Nhìn chung trên địa bàn cả nước Theo số liệu thống kê của Bộ đưa ra, giá trị xuất khẩu thủy sản cả năm 2014 ước tính đạt gần 7,1 tỷ USD, tăng 6,5%
so với cùng kì năm ngoái Trong đó, giá trị nuôi trồng thủy sản ước đạt hơn
115 nghìn tỷ và giá trị khai thác thủy sản ước đạt hơn 73 nghìn tỷ đồng (Bộ NN&PTNT)
Trước những khó khăn và rào cản của các quốc gia nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ tăng thuế chống bán phá giá, Nhật Bản tăng cường kiểm tra dư lượng kháng sinh đối với mặt hàng xuất khẩu tôm, ngành xuất khẩu thủy sản cả nước nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng đang phải đối mặt và nhìn nhận trở ngại trước mắt khó có thể đạt được mục tiêu 6,7 tỷ USD đến cuối năm
3.2.3 Những thị trường xuất khẩu chính
Trong nhiều năm qua, hàng thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ra thị trường thế giới Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 12/2014 dạt 628,8 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu thủy sản
2014 đạt 7,84 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là mức xuất khẩu kỷ lục của ngành thủy sản Về thị trường xuất khẩu, các mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất khẩu sang 165 quốc gia và vùng lãnh thổ Mỹ, EU,