Chương 1: KINH TẾ VI MÔ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP Mục tiêu: Cung cấp cho người học những kiến tức tổng quan về kinh tế học nói chung, kinh tế học vi mô nói riêng,
Trang 1Chương 1: KINH TẾ VI MÔ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ
CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP
Mục tiêu: Cung cấp cho người học những kiến tức tổng quan về kinh tế học nói chung, kinh tế học vi mô nói riêng, đối tương, nội dung và phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô, hiểu rõ những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, bản chất
và phương pháp của sự lựa chọn kinh tế tối ưu, sự khan hiếm của các nguồn lực và hiệu quả kinh tế, các mô hình kinh tế và mười nguyên lý kinh tế học
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1.1 Kinh tế học là gì?
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế học do mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu khác nhau
Quan điểm thứ nhất: Kinh tế học nghiên cứu cách thức xã hội giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản (sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? SX cho ai?)
Quan điểm thứ hai: Kinh tế học là một môn khoa học xã hội, nghiên cứu các hành vi ứng xử của các tác nhân trong nền kinh tế
Quan điểm thứ ba: Kinh tế học là một môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu các mối quan hệ giữa sản xuất, lưu thông, tiêu dùng Trên cơ sở đó tìm ra mối quan
hệ tối ưu để phục vụ cho sản xuất và đời sống
Quan điểm thứ tư: Kinh tế học nghiên cứu các sự kiện, các hoàn cảnh và xu hướng phát triển của nó để có những chính sách phù hợp
Quan điểm thứ năm: Kinh tế học là môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu cách thức các xã hội sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm sao cho có hiệu quả nhất nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng cạnh tranh
Quan điểm thứ sáu: Kinh tế học là khoa học nghiên cứu về những vấn đề về con người và xã hội về sự lựa chọn như thế nào để sử dụng những nguồn lực khan hiếm nhằm sản xuất ra những hàng hoá có giá trị và phân phối cho các thành viên trong xã hội để tiêu dùng
Với các quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng: kinh tế học là môn khoa học của sự lựa chọn, nó nghiên cứu và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản nhằm khai thác và sử dụng các nguồn lực khan hiếm sao cho có hiệu quả nhất và phân phối những sản phẩm làm ra cho mọi thành viên trong xã hội
1.1.2 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
- Kinh tế học thực chứng
Kinh tế học thực chứng liên quan đến cách lý giải khoa học, các vấn đề mang tính nhân quả Kinh tế học thực chứng là một cách tiếp cận của kinh tế học, nó mô tả, giải thích các hiện tượng, sự kiện, hoàn cảnh kinh tế một cách khách quan và khoa học
Ví dụ: Giá dầu mỏ trên thế giới tăng vào đầu thế kỷ 21 là do cầu về dầu mỏ tăng cao nhưng cung về dầu mỏ tăng ít hoặc giảm
- Kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến việc đánh giá chủ quan của các cá nhân Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến quan điểm đạo lý chính trị ở một quốc gia Nó đưa ra những lời chỉ dẫn, khuyến cáo theo tiêu chuẩn cá nhân Hay nói cách khác, kinh tế học chuẩn tắc hoàn toàn mang tính chủ quan
Trang 2Ví dụ: Có nên lấy của người giàu chia cho người nghèo không? Đây là một đạo lý Nếu có thì nên lấy bằng cách nào? Chắc chắn là phải dùng thuế Thuế cao hay thấp thuộc kinh tế học chuẩn tắc
Dĩ nhiên kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc có quan hệ mật thiết với nhau, có ý nghĩa lớn trong thực tiễn sản xuất và đời sống Cho nên khi nghiên cứu về kinh tế học, bạn luôn luôn nhớ tới sự phân biệt giữa các nhận định thực chứng
và chuẩn tắc Nhiều nội dung của kinh tế học chỉ nhằm lý giải cách thức vận hành của nền kinh tế Nhưng mục tiêu của kinh tế học thường là cải thiện hoạt động của nền kinh tế
1.1.3 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học có hai bộ phận quan trọng đó là kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô Kinh
tế vi mô là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế trong một nền kinh tế Kinh tế vi mô nghiên cứu chi tiết các bộ phận cấu thành bức tranh lớn, còn kinh tế vĩ mô tìm hiểu
để cải thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, quan tâm tới bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế và quan tâm tới mục tiêu kinh tế của một quốc gia
a Kinh tế học vi mô
Kinh tế vi mô nghiên cứu các hành vi cụ thể của từng cá nhân, từng doanh nghiệp trong việc lựa chọn và quyết định ba vấn đề kinh tế cơ bản cho mình đó là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai để có thể đứng vững và phát triển cạnh tranh trên thị trường
Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học, nó nghiên cứu và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của các tế bào trong nền kinh tế, tức là nó nghiên cứu các hành vi, các hoạt động của từng đơn vị kinh tế đơn lẻ (doanh nghiệp, hộ gia đình, trang trại, các chủ đất)
Ví dụ: Hộ nông dân, doanh nghiệp nên sản xuất cái gì? Tại sao doanh nghiệp A lựa chọn chỉ tuyển thêm 6 lao động hay chỉ sản xuất lượng sản phẩm tối ưu (Q*) là
100 Tất cả những vấn đề trên thuộc lĩnh vực của các nhà kinh tế học vi mô
b Kinh tế học vĩ mô
Kinh tế vĩ mô nghiên cứu hành vi của Nhà nước khi giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai trên tổng thể mỗi quốc gia
Kinh tế học vĩ mô là một môn khoa học xã hội, khoa học của sự lựa chọn Nó nghiên cứu và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản ở tầm quốc gia và nhấn mạnh đến mối quan hệ tương tác trong nền kinh tế tổng thể
Ví dụ: Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu vấn đế sản lượng và tăng trưởng kinh tế, giá cả và lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế…
c Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Kinh tế vi mô nghiên cứu những vấn đề về tiêu dùng cá nhân, cung - cầu, sản xuất, chi phí, lợi nhuận, cạnh tranh của từng tế bào kinh tế, nghiên cứu chi tiết các quyết định của cá nhân về hàng hoá cụ thể, còn kinh tế vĩ mô tìm hiểu để cái thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, quan tâm đến mục tiêu kinh tế của cả một quốc gia như: tăng tưởng kinh tế, vấn đề lạm phát, thất nghiệp…
Kinh tế vĩ mô sẽ tạo ra hành lang an toàn, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế vi mô Sự phát triển của kinh tế vĩ mô nó tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, kìm chế lạm phát ở mỗi quốc gia nào đó
Như vậy: Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt
Trang 3nhau mà bổ sung cho nhau tạo thành hệ thống kiến thức của kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Thực tế đã chứng minh kết quả của kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào hành vi của kinh tế vi mô, kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp, của các tế bào kinh tế
1.2 DOANH NGHIỆP VÀ BA VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN 1.2.1 Doanh nghiệp
a Khái niệm
Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh có quyền quyết định đối với thu nhập và hoàn toàn chịu trách nhiệm về bất cứ sự thua lỗ nào trong kinh doanh
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ theo đúng luật pháp nhằm đáp ứng cầu thị trường, xã hội để đạt hiệu quả cao
về kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
b Phân loại doanh nghiệp
Tùy theo mục đích nghiên cứu người ta thường dựa vào một số tiêu thức sau đây để phân loại doanh nghiệp
Theo ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh (ngành kinh tế kỹ thuật): doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng cơ bản, doanh nghiệp dịch vụ thương mại
Theo cấp quản lý: doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương
Theo hình thức sở hữu: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các công ty Theo quy mô sản xuất kinh doanh: doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp quy mô vừa, doanh nghiệp quy mô nhỏ
Theo góc độ tài chính: doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp phi tài chính
c Quá trình kinh doanh và chu kỳ của doanh nghiệp
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình sản xuất kinh doanh và
tiêu thụ hàng hóa dịch vụ trên thị trường
Tuy nhiên mỗi một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ khác nhau thì quá trình kinh doanh cũng khác nhau
- Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hóa dịch vụ, quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm các khâu sau đây:
+ Điều tra xác định cầu của thị trường và xã hội để ra quyết định nên sản xuất cái gì? + Lựa chọn và chuẩn bị các yếu tố đầu vào để sản xuất hàng hóa dịch vụ + Phối hợp các yếu tố đầu vào theo một quy trình công nghệ nhất định để tạo ra nhiều sản phẩm, chất lượng cao, chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp nhất
+ Tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ và thu tiền về
- Đối với các doanh nghiệp thương mại, quá trình kinh doanh bao gồm các khâu sau:
+ Nghiên cứu cầu thị trường xã hội để quyết định kinh doanh hàng hóa dịch vụ nào + Tổ chức hệ thống mạng lưới để thu mua hàng
+ Tổ chức vận chuyển, bảo quản, đóng gói, tân trang sản phẩm + Tổ chức bán hàng để thu tiền về cho doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ
Trang 4+ Nghiên cứu nhu cầu mua, bán vay gửi ngoại tệ, nội tệ để quyết định lượng mua bán cho vay ngắn hạn và dài hạn
+ Quy định thủ tục cần thiết mua, bán vay gửi ngoại tệ, nội tệ để quyết định lượng cho vay ngắn hạn và dài hạn đảm bảo kinh doanh hạn chế mức rủi ro thấp nhất
+ Tổ chức mua bán, vay gửi theo thời gian quy định, tính toán lãi suất cho việc mua bán vay gửi theo đúng quy định
+ Bảo đảm an toàn tuyệt đối số tiền bán, mua, vay, gửi và kiểm tra việc thực hiện của các khách hàng
+ Phát hiện và sử lý kịp thời những rủi ro trong kinh doanh tiền tệ,và nhiều yếu tố rủi ro liên quan khác
Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng thời gian cần thiết để thực hiện quá
trình kinh doanh, nó bao gồm:
- Thời gian nghiên cứu thị trường và quyết định sản xuất (hàng hoá, dịch vụ)
- Thời gian chuẩn bị các yếu tố sản xuất (đầu vào) của hàng hoá , dịch vụ
- Thời gian tổ chức quá tình sản xuất hoặc bao gói chế biến và bán, mua thời hạn tiền gửi, tiền vay vv
Như vậy, chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp dài hay ngắn thường phụ thuộc vào các khâu của quá trình kinh doanh và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP
Bất luận một quốc gia nào, một doanh nghiệp nào, một hộ gia đình nào cũng phải nghiên cứu và giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản đó là: sản xuất cài gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai Để tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp phải giải quyết tốt ba vấn đề kinh tế cơ bản trên
1.2.1 Sản xuất cái gì
Trong kinh tế thị trường, sản xuất ra sản phẩm là để bán, để cung ứng cho thị trường,với mục đích nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng và thu được lợi nhuận cao Để đi đến quyết định sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá nào đó, trước hết các doanh nghiệp phải biết câu trả lời đó là; sản xuất cái gì, để từ đó đưa ra quyết định một cách đúng đắn
- Các căn cứ để đi đến quyết định sản xuất cái gì:
+ Nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ
+ Khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
+ Thông qua giá cả thị trường về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể biết
Một đặc điểm mà nhà sản xuất cần lưu ý là đối với sản xuất trong nông nghiệp, ngoài các căn cứ trên nhà sản xuất còn phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, vì đối tượng sản xuất trong nông nghiệp không phải là các vật vô tri, vô giác mà là các sinh vật sống, nó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên như độ ẩm, khí hậu, thổ nhưỡng và quy luật tự nhiên, quy luật sinh học
- Quyết định sản xuất: Từ những căn cứ trên các doanh nghiệp lựa chọn và quyết định sản xuất những loại hàng hoá dịch vụ nào, với số lượng là bao nhiêu, chất lượng ra sao, khi nào cần sản xuất và cung ứng
Sản xuất cài gì là câu hỏi của cầu, trong nền kinh tế thị trường người ta chỉ
“bán cái thị trường cần chứ không bán cái mình có” khi quyết định sản xuất cái gì
chúng ta phải nghiên cứu thị trường, nó thông qua bỏ phiếu của người tiêu dùng, phiếu này không phải bằng lá phiếu mà bỏ bằng tiền, kết quả của các lá phiếu là những đơn đặt hàng cho các nhà sản xuất
1.2.2 Sản xuất như thế nào
Sản xuất như thế nào nghĩa là lựa chọn phương pháp sản xuất sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Một phương pháp sản xuất tốt nhất phải là phương pháp
Trang 5kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh để đầu ra nhanh nhiều, đảm bảo chất lượng và tiết kiệm được chi phí, cụ thể là:
- Xác định và lựa chọn đầu vào và đầu ra tối ưu
- Xác định và lựa chọn thiết bị, dụng cụ, công nghệ sản xuất hợp lý
- Bố trí sản xuất ở đâu để có lợi nhất
- Giao cho ngành nào, bộ phận nào là có hiệu quả nhất
Sản xuất như thế nào là câu hỏi có liên quan trực tiếp đến người sản xuất (câu hỏi của cung), lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất sao cho tiết kiệm được chi phí nhất, hạ giá thành sản phẩm Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản phẩm càng nhiều, đa dạng phong phú hơn, đòi hỏi chất lượng ngày càng cao, hình thức mẫu mã bao bì phù hợp đồng thời với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ trên thế giới Để đứng vững và phát triển trên thị trường, dành được lợi thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải luôn cải tiến, đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ của công nhân, trình độ quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm và giữ được uy tín của doanh nghiệp trên thương trường
1.2.3 Sản xuất cho ai
Quyết định sản xuất cho ai có nghĩa là ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra, nó liên quan đến phân phối thu nhập, khả năng thanh toán và địa chỉ bán hàng
Để có thể vừa kích thích mạnh mẽ sự phát triển sản xuất, vừa đảm bảo sự công bằng xã hội phải giải quyết tốt vấn đề phân phối thu nhập Về nguyên tắc cần phải bảo đảm cho mọi người lao động được hưởng và được lợi từ những hàng hoá
và dịch của doanh nghiệp đã tiêu thụ trong quá trình sản xuất kinh doanh, căn cứ vào những cống hiến của họ đối với quá trình sản xuất ra những hàng hoá dịch vụ ấy, đồng thời chú ý thoả đáng đến vấn đề xã hội đối với con người Nhìn chung các doanh nghiệp phải biết điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp với các thành viên, người lao động, người tiêu dùng và xã hội
1.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.3.1 Đối tượng môn học kinh tế học vi mô
- Nghiên cứu các hành vi hoạt động cụ thể của từng đơn vị kinh tế đơn lẻ, trên
cơ sở đó giúp cho việc lựa chọn và ra quyết định đúng đắn của các cá nhân trong nền kinh tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa độ thỏa dụng
- Nghiên cứu phát hiện tìm ra các quy luật kinh tế và sự tác động của các quy luật đó đến các tế bào trong nền kinh tế như thế nào?
- Nghiên cứu các hiện tượng, sự kiện, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng, trên
cơ sở đó có những kiến nghị với Chính phủ có chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp
1.3.2 Nội dung môn học
Môn học kinh tế học vi mô là môn học có nội dung rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên trong phạm vi của nội dung môn học tập bài giảng này chúng ta chỉ tập trung giải quyết những nội dụng cơ bản sau đây:
- Những vấn đề cơ bản của kinh tế học
- Lý thuyết cung cầu
- Lý thuyết hành vi người tiêu dùng
- Lý thuyết về sản xuất, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp
- Cạnh tranh và độc quyền
Trang 6- Thị trường yếu tố sản xuất
- Những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò Chính phủ
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu kinh tế học vi mô, người ta thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thông kê kinh tế
- Phương pháp cân bằng nội bộ
- Phương pháp toán kinh tế
- Phương pháp mô hình hóa
- Phương pháp tiếp cận cận biên
Trong đó, phương pháp tiếp cận cận biên (lý thuyết biên) là phương pháp quan trọng nhất Nội dung cơ bản của phương pháp này là: nhìn nhận xem xét các quyết định của các tác nhân trong nền kinh tế đều có điểm dừng tối ưu Tại đó, người sản xuất hoặc là tối thiểu hóa chi phí khi lựa chọn đầu vào hoặc là tối đa hóa lợi nhuận khi lựa chọn đầu ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh; người tiêu dùng tối
đa hóa lợi ích khi sử dụng hàng hóa dịch vụ; còn Chính phủ tối đa hóa phúc lợi công cộng khi lựa chọn chính sách
Khi tiến hành lựa chọn, các tác nhân đều mong muốn tối đa hóa lợi ích ròng thông qua việc so sánh phần lợi ích thu được và phần chi phí bỏ ra để sản xuất (hoặc tiêu dùng) thêm một đơn vị sản phẩm
1.4 LÝ THUYẾT LỰA CHỌN
1.4.1 Những vấn đề cơ bản về lý thuyết lựa chọn
a Lý thuyết lựa chọn
- Lý thuyết lựa chọn là tìm cách lý giải cách thức những nhân vật khác nhau
sử dụng để đưa ra quyết định của mình
Khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn là chi phí cơ hội Theo quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng; nghĩa là để có nhiều hơn một loại hàng hoá nào đó, chúng ta phải hy sinh ngày càng nhiều các loại hàng hoá khác Do vậy người ta lý giải hành vi kinh tế bằng các luận chứng rằng; các tác nhân kinh tế
sẽ lựa chọn và đưa ra quyết định của mình bằng cách cân nhắc, tính toán, so sánh lợi ích do sự lựa chọn đó đem lại và chi phí tính theo những cơ hội đã bị bỏ qua
- Sự lựa chọn là hết sức cần thiết bởi các nguồn lực là có giới hạn Một doanh nghiệp chỉ có số vốn nhất định, đất đai đối với người nông dân cũng có giới hạn…nếu chúng được sử dụng vào mục đích này thì không thể sử dụng vào mục đích khác
- Sự lựa chọn có thể thực hiện, vì một nguồn lực khan hiếm có thể sử dụng vào mục đích này hay mục đích khác Đôi khi có một nhân tố khan hiếm nhất, khi lựa chọn người ta phải tập trung vào nguồn lực khan hiếm đó Đối với người nông dân miền núi thì đất đai không phải là khan hiếm, mà yếu tố khan hiếm đối với họ là vốn, công nghệ - kỹ thuật, còn đối với người nông dân miền đồng bằng thì vốn, công nghệ - kỹ thuật không phải là khan hiếm, mà yếu tố khan hiếm đối với họ là đất đai
b Mục tiêu của sự lựa chọn
Sự lựa chọn được thực hiện trên cơ sở những mục tiêu của những tác nhân kinh tế: + Lựa chọn của cá nhân tiêu dùng là để tối đa hoá lợi ích
+ Lựa chọn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là để tối đa hoá lợi nhuận
+ Lựa chọn của Chính phủ là để tối đa hoá phúc lợi công cộng
Trang 7Trong kinh tế thị trường thì kinh doanh phải thu được lợi nhuận để tồn tại và
có điều kiện phát triển cạnh tranh trên thị trường Khi theo đuổi mục tiêu của mình, các doanh nghiệp phải thường xuyên chạy theo những cơ hội khác nhau, một quyết định đã được thực hiện, những cơ hội trong tương lai cũng thay đổi Trước khi đầu
tư, những cơ hội mà chúng ta có thể lựa chọn bao gồm cả những phương án cho các công trình đầu tư khác nhau Khi dự án đã được thực hiện, nhà máy đã được xây dựng, máy móc thiết bị đã được lắp đặt, khi đó cơ hội để sử dụng vốn đầu tư vào các hoạt động khác sẽ không còn nữa, những phương án được lựa chọn chỉ bao gồm việc
sử dụng vốn đã được chôn chặt hoặc huỷ bỏ công trình đã được đầu tư
1.4.2 Bản chất và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu
a Bản chất
Những quyết định của từng cá nhân và doanh nghiệp có ảnh hưởng đến toàn
bộ nền kinh tế Do đó khi nghiên cứu lý thuyết lựa chọn chúng ta phải hiểu bản chất của mọi sự lựa chọn kinh tế; chẳng hạn như tại sao lại lựa chọn phương án này, sản phẩm này mà không phải là là phương án khác, sản phẩm khác Để sản xuất bất cứ một hàng hoá nào chúng ta đều phải sử dụng các yếu tố sản xuất (các đầu vào), nhưng các yếu tố đầu vào mà chúng ta sử dụng lại khan hiếm, điều đó đòi hỏi chúng
ta phải lựa chọn như thế nào để đạt tối ưu trong giới hạn của nguồn lực cho phép
- Sự lựa chọn đúng đắn cho phép chúng ta thu được nhiều lợi ích nhất từ những nguồn lực mà chúng ta có Lợi ích ở đây phải xét đến cả về mặt kinh tế, xã hội , an toàn và an ninh quốc gia…nhưng trong doanh nghiệp thì lợi ích kinh tế bao giờ cũng phải được ưu tiên, nó là tiêu chuẩn của sự lựa chọn
- Bản chất của sự lựa chọn kinh tế là căn cứ vào nhu cầu vô hạn của con người, của xã hội, của thị trường, từ đó đề ra các quyết định tối ưu cho ba vấn đề kinh tế cơ bản trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có
b Phương pháp lựa chọn kinh tế
- Đường năng lực sản xuất là đường mô tả tất cả các kết hợp hàng hoá dịch
vụ X và Y mà nền kinh tế có thể sản xuất với ràng buộc về các nguồn lực sản xuất và công nghệ Trong một khoảng thời gian nào đó luôn có một giới hạn nhất định của nguồn lực cho phép và trình độ khoa học - công nghệ Việc lựa chọn các quyết định kinh tế tối ưu đều phải nằm trên đường giới hạn năng lực sản xuất hiện có
Đường giới hạn khả năng sản xuất là đường biểu diễn các tổ hợp (các mức phối hợp) tối đa giữa các loại hàng hóa dịch vụ mà nền kinh tế hoặc doanh nghiệp có thể sản xuất được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có
Ví dụ: Khả năng sản xuất có thể thay thế lẫn nhau giữa lương thực và quần áo
Biểu 1: Giới hạn khả năng sản xuất giữa lương thực và quần áo
(nghìn tấn)
Quần áo (nghìn bộ)
A
B
C
D
E
F
150
140
120
90
50
0
0
10
20
30
40
50
Theo quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng thì khi xã hội muốn có thêm một mặt hàng thì phải hy sinh ngày càng nhiều mặt hàng khác Từ các khả năng sản xuất cho phép chúng ta sẽ chọn tại điểm nào thì tốt nhất cho mong muốn của chúng ta
Nếu chúng ta minh hoạ tất cả những khả năng sản xuất bằng đồ thị chúng ta sẽ được đường giới hạn khả năng sản xuất
Trang 8- Qua đường năng lực cho ta thấy:
+ Những điểm nằm ngoài đường
năng lực sản xuất thì không thể đạt được
+ Những điểm nằm trong đường
năng lực sản xuất thì không khai thác hết
tiềm năng nguồn lực của doanh nghiệp
(Không mong muốn)
+ Những điểm nằm trên đường
năng lực sản xuất là điểm hiệu quả, đại diện
cho việc lựa chọn kinh tế tối ưu
Tất cả những điểm nằm trên đường cong năng lực sản xuất đều cho ta hiệu quả vì nó tận dụng hết năng lực sản xuất Một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên giới hạn năng lực sản xuất của nó Những điểm có hiệu quả nhất trước hết là điểm nằm trên đường năng lượng sản xuất và điểm đó phải thoả mãn tối đa các nhu cầu của xã hội và con người mong muốn
Đường giới hạn của năng lực sản xuất sẽ giúp chúng ta ứng dụng để tìm kiếm sự lựa chọn tối ưu Nguồn lực càng khan hiếm thì việc lựa chọn càng chặt chẽ khó khăn, cạnh tranh càng gay gắt thì việc lựa chọn càng phức tạp, cần khai thác để
sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực hiện có để thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường và xã hội để thu được lợi nhuận cao, đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội, giúp cho con người lựa chọn tối ưu nhu cầu của cuộc sống, sự thích nghi và phát triển của mình trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh cụ thể
1.5 ẢNH HƯỞNG CỦA QUY LUẬT KHAN HIẾM, LỢI SUẤT GIẢM DẦN, CHI PHÍ CƠ HỘI NGÀY CÀNG TĂNG, HIỆU QUẢ KINH TẾ 1.5.1 Ảnh hưởng của qui luật khan hiếm
- Nguồn lực luôn bị hạn chế, tài nguyên ngày một khan hiếm và cạn kiệt Trong thực tế cuộc sống đã cho chúng ta thấy mọi hàng hoá đều không cho không vì nguồn lực luôn bị hạn chế, tài nguyên ngày một khan hiếm và cạn kiệt Mặc
dù có nhiều người giàu lên nhưng trên thế giới vẫn còn hàng tỷ người đang sống nghèo khổ
- Mức sản xuất tăng cao hơn nhưng cũng mang theo nó mức tiêu dùng ngày càng cao, tình trạng khan hiếm càng gay gắt
- Nhu cầu ngày càng tăng cao hơn, càng đa dạng và phong phú, nhu cầu về chất lượng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao như: con người muốn có điều hoà nhiệt
độ, ti vi, tủ lạnh, ô tô những tài nguyên để thoả mãn nhu cầu lại có hạn, ngày một khan hiếm và cạn kiệt như đất đai, khoáng sản, hải sản
- Với sự tác động của qui luật khan hiếm, vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra một cách nghiêm túc, đó là đòi hỏi tất yếu của nhu cầu ngày càng tăng và tài nguyên ngày một khan hiếm
1.5.2 Tác động của quy luật lợi suất giảm dần
- Quy luật lợi suất giảm dần
Khối lượng đầu ra có thêm ngày càng giảm khi ta liên tiếp bỏ ra những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi và một số lượng cố định của một đầu vào khác
Ví dụ: Với diện tích đất canh tác là cố định ( 5 sào Bắc bộ để trồng lúa)
- Nếu ta bỏ vào 1 lao động thì cho sản lượng: 800 kg
- Nếu ta bỏ vào 2 lao động thì cho sản lượng: 1000 kg
- Nếu ta bỏ vào 3 lao động thì cho sản lượng: 1100 kg
C
D
E
F
90
120
50
150
L
T
Q
A
0
10 2
0
40 50
A
3
0
H 1.1 Đường giới hạn khả năng
sản xuất
Trang 9Ta thấy lao động thứ nhất đạt được 800 kg, lao động thứ 2 sản lượng chỉ tăng
200 kg ít hơn lao động thứ nhất, lao động thứ 3 sản lượng chỉ tăng 100 kg ít hơn đơn
vị lao động thứ 2 Quy luật này giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở để đầu tư, bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý
- Lợi suất theo quy mô không đổi
Là sự tăng lên cân đối với quy mô sản xuất; khi tất cả các đầu vào đều tăng thu một tỷ lệ và đầu ra cũng tăng theo một tỷ lệ đó
Trong thực tế của sản xuất thì sự tăng lên tương ứng của đầu vào và đầu ra chỉ có thể trong thời gian đầu Nếu tiếp tục tăng thêm đầu vào nữa đến một lúc nào
đó sẽ làm cho năng xuất giảm xuống và lúc đó tỷ lệ tăng đầu ra không tương ứng với đầu vào
Như vậy quy luật lợi suất giảm dần sẽ giúp cho các doanh nghiệp tính toán, lựa chọn đầu tư các đầu vào một cách tối ưu
1.5.3 Ảnh hưởng của quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng và hiệu quả kinh tế
a Ảnh hưởng của quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
- Khi xã hội muốn có thêm một lượng mặt hàng này, xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác
- Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng giúp chúng ta tính toán và lựa chọn sản xuất cái gì, với số lượng là bao nhiêu để có lợi nhất
b Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm duy nhất của kinh tế vĩ mô, là điều kiện sống còn đối với các doanh nghiệp vì hiệu quả kinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của nó đề đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí là thấp nhất
Theo quan điểm của kinh tế vi mô về hiệu quả kinh tế như sau:
- Tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn năng lực sản xuất là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực
- Số lượng hàng hoá đạt được trên đường giới hạn năng lực sản xuất càng tín cùng có hiệu quả cao
- Sự thoả mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hoá theo nhu cầu của thị trường trong giới hạn năng lực sản xuất cho ta đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
- Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
- Sự đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất cho
ta khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và tích luỹ hơn
1.6 CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ VÀ MƯỜI NGUYÊN LÝ CỦA KINH TẾ HỌC 1.6.1 Các mô hình kinh tế
Một câu hỏi đặt ra đối với các nhà kinh tế học là tại sao một số nước có các điều kiện tương đối tương đồng nhau nhưng có nước phát triển, có nước đang phát triển và có nước chậm phát triển Khi nghiên cứu vấn đề này các nhà kinh tế học cho rằng nước nào lựa chọn mô hình hoạt động phù hợp với từng thời kỳ thì nước đó phát triển và ngược lại Chính vì thế nắm được thế mạnh và nhược điểm của từng mô hình kinh tế giúp chúng ta lựa chọn phù hợp và có biện pháp khai thác thế mạnh, hạn chế những nhược điểm để thúc đẩy kinh tế, xã hội đất nước phát triển
a Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung (chỉ huy, mệnh lệnh)
Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản đều do Nhà nước quyết định Trong thực tiễn nền kinh tế hoạt động theo mô hình trên đã bộc lộ những điểm mạnh của nó, đó là: tất cả mọi vấn đề đều do Nhà nước thống nhất tập trung quản lý nên các vấn đề kinh tế lớn được giải quyết dễ dàng hơn
Trang 10(như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng); quan hệ giữa con người với nhau bình đẳng, bác ái; hạn chế phân hóa giàu nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội Tuy nhiên các quốc gia hoạt động theo mô hình này cũng thấy được những hạn chế của nó: bộ máy quản
lý cồng kềnh, quan liêu, bao cấp; kế hoạch không sát với thực tế; người sản xuất và người tiêu dùng không có quyền tự do lựa chọn nên tính năng động và chủ động không cao; chậm đổi mới công nghệ; phân phối mang tính chất bình quân nên không kích thích người lao động; khai thác và sử dụng nguồn lực khan hiếm kém hiệu quả…; nền kinh tế chậm phát triển, thậm chí có những nước kinh tế tụt hậu
b Mô hình kinh tế thị trường
Chúng ta hiểu mô hình kinh tế thị trường ở đây là không có sự can thiệp của chính phủ, có nghĩa là hoạt động theo kiểu thị trường tự do Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường quyết định dưới sự dẫn dắt của bàn tay vô hình (giá cả thị trường) Thông qua tín hiệu giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường, các tác nhân kinh tế sẽ đưa ra quyết định sản xuất, tiêu dùng tối ưu nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế cho mình
Với những đặc trưng cơ bản đó mà mô hình này có những ưu điểm chủ yếu là: người sản xuất và người tiêu dùng được tự do lựa chọn nên tính năng động và chủ động sáng tạo cao hơn; thường xuyên đổi mới công nghệ và kích thích nâng cao năng suất, chất lượng; hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh; phi tập trung hóa các quyền lực trên các phương diện các quyết định cho các chủ thể sản xuất; khai thác và
sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường cũng đã nảy sinh nhiều khuyết tật (mặt trái) cần phải quan tâm đó là: coi lợi nhuận là trên hết nên dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, hệ thống sinh thái bị phá vỡ; mâu thuẫn ngày càng cao giữa quan
hệ kinh tế với quan hệ truyền thống; tệ nạn xã hội nảy sinh; phân hóa giàu nghèo và bất công
xã hội ngày càng tăng; các nhu cầu công cộng khó được thực hiện; chịu nhiều rủi ro (đạo đức, kinh tế, xã hội)…
c Mô hình kinh tế hỗn hợp
Mô hình kinh tế hỗn hợp là mô hình kết hợp hài hòa giữa mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và mô hình kinh tế thị trường Mô hình này vừa phát huy được nhân tố khách quan (các quy luật kinh tế thị trường) lại vừa coi trọng các nhân tố chủ quan (vai trò của Chính phủ) Do đó nó khai thác được thế mạnh và hạn chế đến mức thấp nhất nhược điểm của hai mô hình trên nên thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh,
ổn định
Hiện nay, người ta cho rằng mô hình này là hiệu quả nhất và được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên tùy điều kiện cụ thể của mỗi nước mà vận dụng vai trò của thị trường và Chính phủ cho phù hợp Bởi vì nếu Chính phủ quá áp đặt ý muốn chủ quan của mình sẽ bóp méo quy luật của thị trường, hạn chế tự do cạnh tranh, làm cho nền kinh tế đi chệch quỹ đạo của sự phát triển Ngược lại, nếu Chính phủ buông lỏng quản lý sẽ là cơ hội cho sự nảy sinh và phát triển các khuyết tật của nền kinh tế thị trường
1.6.2 Giới thiệu Mười nguyên lý của kinh tế học
Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu phương thức xã hội quản lý nguồn lực khan hiếm Trong hầu hết các xã hội, nguồn lực được phân bổ không phải bởi
một nhà hoạch định duy nhất ở Trung ương mà thông qua các hoạt động qua lại của hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp Vì thế, nhà nghiên cứu kinh tế muốn xem mọi người ra quyết định như thế nào trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng