1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHU CẦU TIN VÀ ĐẢM BẢO THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI

14 490 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 183,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhiệm vụ thu thập, bổ sung, xử lý và cung cấp tài liệu, thông tin về các lĩnh vực khoa học cơ bản liên quan đến các vấn đề kinh tế, chính trị và quan hệ kinh tế quốc tế của thế giới

Trang 1

NHU CẦU TIN VÀ ĐẢM BẢO THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO

NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN KINH TẾ

VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI

ThS Nguyễn Thị Kim Dung*

Nhu cầu thông tin KH&CN là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, xuất phát

từ lòng ham hiểu biết và khám phá thế giới khách quan Nhu cầu thông tin KH&CN nói riêng, nhu cầu tin nói chung còn là nguồn gốc, mục tiêu hướng tới của hoạt động TT-TV Vì thế việc

đi sâu nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin KH&CN cho người dùng tin là một việc làm không thể thiếu đối với các cơ quan thông tin-thư viện nói chung, Thư viện Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (KT&CTTG) nói riêng Nghiên cứu nhu cầu tin là cơ sở để Thư viện hiểu được người dùng tin của mình, giúp Thư viện xây dựng định hướng phát triển vốn tài liệu, xác định phương pháp xử lý thông tin, hệ thống tra cứu tìm tin và tổ chức phục vụ người dùng tin đạt hiệu quả Từ nhận định đó, cán bộ thư viện có thể tác động giúp cho người dùng tin xây dựng được những nhu cầu tin đúng đắn, hợp lý, phù hợp với yêu cầu của họ

Với nhiệm vụ thu thập, bổ sung, xử lý và cung cấp tài liệu, thông tin về các lĩnh vực khoa học cơ bản liên quan đến các vấn đề kinh tế, chính trị và quan hệ kinh tế quốc tế của thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập, giảng dạy của cán bộ trong và ngoài Viện KT&CTTG, cán bộ cấp cao và sinh viên các trường đại học Để hoàn thành tốt vai trò của mình Thư viện Viện KT&CTTG cần phải đặt ra những kế hoạch phát triển mới trong hoạt động của mình, nắm rõ nhu cầu tin của người dùng tin và đáp ứng tốt thông tin cho người dùng tin, đảm bảo cung cấp thông tin luôn mới, kịp thời và chính xác

1 Khái quát về Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới

Viện KT&CTTG trực thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 96/HĐBT ngày 9/9/1983 của Hội đồng Bộ trưởng Với tư cách là một trong những cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và chính trị thế giới, Viện đã xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình là: “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế thế giới dưới giác độ của kinh tế chính trị học Mác - Lê nin, nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm, quy luật và cơ chế vận động của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó đóng góp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước; phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy về kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế ở trong nước”

* Giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Trang 2

Viện KT&CTTG hiện có 64 cán bộ Trong đó có 4 Phó giáo sư, 13 Tiến sĩ, 18 Thạc sĩ, 25

Cử nhân, 02 Cao đẳng, 01 trung cấp và 1 phổ thông trung học Số cán bộ này được đào tạo từ các trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngoại giao, Báo chí tuyên truyền, Đại học KHXH & NV, Đại học Văn hóa Hà Nội…Ngoài Ban lãnh đạo của Viện và Tạp chí, Viện được chia thành 13 phòng chức năng sau: Phòng biên tập - trị sự; Phòng hành chính tổng hợp; Phòng quản lý khoa học & đào tạo; Phòng nghiên cứu các nước đang phát triển; Trung tâm nghiên cứu an ninh chiến lược quốc tế; Phòng nghiên cứu chính trị quốc tế; Phòng nghiên cứu kinh tế quốc tế; Phòng nghiên cứu các nước phát triển; Phòng nghiên cứu các nền kinh tế chuyển đổi; Phòng nghiên cứu các tổ chức và thể chế quốc tế; Phòng nghiên cứu toàn cầu hóa và hội nhập; Trung tâm nghiên cứu tiểu vùng Sông Mêkông mở rộng; Thư viện

2 Thư viện Viện kinh tế và chính trị thế giơi

Thư viện Viện KT&CTTG là một bộ phận gắn liền với sự phát triển của Viện ngay từ những ngày đầu thành lập Thư viện đóng vai trò chủ chốt trong việc lưu giữ và cung cấp thông tin khoa học chuyên ngành kinh tế thế giới, quan hệ kinh tế quốc tế và chính trị quốc tế cho các cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện Với 5 cán bộ trong đó có 01 Thạc sĩ Thư viện, 02 Cử nhân Thư viện, 02 Cử nhân Ngoại ngữ Ngoài Lãnh đạo Thư viện, Thư viện gồm các phòng sau: Phòng Bổ sung, Phòng Nghiệp vụ, Phòng Tra cứu, Phòng đọc

 Nguồn lực thông tin khoa học & công nghệ của Thư viện

Thư viện Viện KT&CTTG hiện có 24.904 tài liệu được tổ chức thành 3 kho tài liệu như

sau:

- Kho 1: Kho chứa tài liệu mới bao gồm sách, báo, tạp chí…từ những năm 1990 trở lại đây Với 2 ngôn ngữ chính là tiếng Việt và tiếng Anh Kho 1 có tổng số tài liệu là 14.935 tính đến tháng 12/2008, trong đó: Sách tiếng Việt: 5.475 cuốn; Sách tiếng Anh: 4.070 cuốn; Tạp chí: 4.255 cuốn; Báo: 600 cuốn; Luận án: 60 cuốn; Tư liệu: 475

- Kho 2: Kho tài liệu cũ là những loại sách, tạp chí, tư liệu cắt dán từ những năm 1990 trở

về trước và các sách tiếng Nga - nguồn tài liệu ít người sử dụng cũng được đưa vào trong kho

này Kho cũ có 9.698 tài liệu bao gồm: Sách tiếng Việt: 4.493 cuốn; Sách tiếng Anh: 2.116

cuốn; Sách tiếng Nga: 1.537; Tạp chí: 1.212 cuốn; Tư liệu: 340 cặp ba dây

- Kho 3: Kho chứa tài liệu nội sinh có khoảng 400 đầu sách

Ngoài ra Thư viện còn có 41 tài liệu ebook bằng ngôn ngữ tiếng Anh mới được bổ sung năm 2009 từ Công ty Nam Hoàng, 230 sách, tạp chí điện tử toàn văn lưu giữ dưới file định dạng

pdf, file ảnh và file word

Trang 3

3 Đặc điểm người dùng tin tại Thư viện Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

Qua khảo sát và điều tra thực tế tại Thư viện Viện KT&CTTG tôi chia đối tượng phục vụ chính của Thư viện thành 3 nhóm Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu trong Viện; Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu ngoài Viện; Nhóm 3: Sinh viên các trường đại học

 Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu trong Viện (chiếm 62%)

Nhóm người dùng tin này bao gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, và cán bộ văn phòng của Viện

học thuộc các phòng: quản lý khoa học & đào tạo; nghiên cứu các nước đang phát triển; nghiên cứu an ninh chiến lược quốc tế; nghiên cứu chính trị quốc tế; nghiên cứu kinh tế quốc tế…của Viện Họ là những người có trình độ học vấn cao và được đào tạo có hệ thống về một lĩnh vực nhất định Phẩm chất tâm lý đặc biệt của nhóm đối tượng này là trung thực, nhạy bén, linh hoạt, kiên trì và bền bỉ

sự, Phòng Hành chính tổng hợp, Thư viện Các phòng này là những phòng có nhiệm vụ biên tập thông tin, cung cấp thông tin…hỗ trợ cho các cán bộ trong Viện hoàn thành quá trình nghiên cứu

Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu ngoài Viện (chiếm 18%)

Nhóm người dùng tin này là các cán bộ nghiên cứu, các học viên cao học, nghiên cứu sinh…họ đến từ các viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, từ Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương…với mục đích tìm kiếm thông tin phục vụ cho việc hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sĩ, các luận văn thạc sĩ…

Nhóm 3: Sinh viên các trường đại học (chiếm 20%)

Đây là nhóm đối tượng thường xuyên lên sử dụng Thư viện Viện KT&CTTG Họ là sinh viên của các trường Đại học Ngoại thương, Học viện Quan hệ quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Thương mại Đặc điểm của nhóm đối tượng này: Cần tìm tòi các công trình nghiên cứu để nâng cao kiến thức, bổ sung thông tin, hoàn thiện quá trình tự học, tự nghiên cứu của họ, đáp ứng nhu cầu xã hội khi ra trường

Trang 4

4 Nhu cầu thông tin khoa học và công nghệ của các nhóm người dùng tin tại Thư viện Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 của Chính phủ, tại mục 1, điều 2 của

Nghị định này: “Thông tin khoa học và công nghệ” là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri

thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội

và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ

Để tìm hiểu thực trạng nhu cầu thông tin KH&CN của người dùng tin tại Thư viện Viện KT&CTTG tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tế để quá trình nghiên cứu nhu cầu tin đảm bảo độ chính xác, khách quan

4.1 Nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu trong Viện

Đây là nhóm người dùng tin chính tại Thư viện Viện KT&CTTG, họ chiếm 62% trong tổng số người dùng tin của Thư viện Họ là những người có trình độ học vấn cao, có chuyên môn sâu về lĩnh vực nghiên cứu, lĩnh vực có liên quan Họ trực tiếp làm công tác nghiên cứu khoa học, triển khai các dự án nghiên cứu, họ vừa là người sử dụng thông tin vừa là người tạo ra thông tin thông qua các công trình nghiên cứu của mình Họ có thời gian tương đối ổn định dành cho việc nghiên cứu tài liệu Thông tin họ cần là những thông tin có bề sâu, chính xác, phản ánh đúng đối tượng, có giá trị, có tính logic cao, thông tin phải mới, mang tính thời sự Sách chuyên khảo, báo và tạp chí khoa học là những loại tài liệu có giá trị thông tin khoa học cao thường được nhóm người dùng tin này ưu tiên sử dụng; Ngoài ra họ cũng có nhu cầu sử dụng tài liệu điện tử để cập nhật được thông tin nhanh chóng, kịp thời Ngoài ngôn ngữ tiếng Việt, 100% nhóm đối tượng này có nhu cầu sử dụng tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Anh Nơi họ tìm tài liệu không chỉ có Thư viện mà có nhiều nguồn khác nhau để họ tìm kiếm thông tin, nhưng Thư viện vẫn là địa chỉ cần thiết nhất cho họ trong việc tìm kiếm tài liệu Qua khảo sát thời gian dành cho việc tìm kiếm tài liệu trong một ngày của nhóm đối tượng này, tôi có kết quả là 76% dành thời gian từ 1-3h tìm kiếm thông tin tại Thư viện, 85% người dùng tin dành từ 3-5h tìm kiếm thông tin tại nhà Do đặc thù công việc của họ là nghiên cứu, mà để hoàn thành một công trình nghiên cứu đòi hỏi lượng thời gian và công sức bỏ ra là rất lớn Vì thế họ tìm kiếm thông tin không chỉ

ở trên Thư viện mà ngay tại nhà họ vẫn tiến hành tìm kiếm thông tin Việc tìm kiếm thông tin tại nhà sẽ giúp họ thu nhận được các nguồn thông tin khá là đa dạng và phong phú qua Internet, qua các kênh truyền thanh, truyền hình…100% người dùng tin khi được hỏi đều trả lời là có nhu cầu tìm tài liệu, điều này chứng tỏ nhu cầu tìm tin để hoàn thành công trình nghiên cứu của họ là rất cao

Trang 5

Với câu hỏi Bạn quan tâm đến thông tin thuộc lĩnh vực nào? Tôi có được kết quả như

sau: Kinh tế quốc tế 20%; Hội nhập kinh tế quốc tế 23%; Thương mại đầu tư quốc tế 10%; Tài chính tiền tệ quốc tế 14%; Chính trị quốc tế 11%; An ninh và chiến lược quốc tế 15%; Thể chế quốc tế 7% Với số liệu này thì nhu cầu về Hội nhập kinh tế quốc tế chiếm tỉ lệ lớn nhất (23%),

có thể nói do việc hội nhập diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới và đang có những biến đổi mạnh mẽ, các mối quan hệ giữa các nước diễn ra phức tạp hơn không chỉ về kinh tế mà mặt chính trị cũng đáng được quan tâm Với thực tế đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin ở đây

Nhu cầu tin còn thể hiện rất rõ trong các vấn đề họ quan tâm đó là về khu vực kinh tế mà

họ đang quan tâm chiếm khoảng 74% nhu cầu tin hiện nay Trong đó thông tin về Các nền kinh

tế phát triển được quan tâm hàng đầu (34%) Đó là điều tất yếu mà hiện nay không chỉ Viện mà nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cũng rất quan tâm Mục đích nghiên cứu vấn đề này để thấy rõ được tình hình kinh tế của các nước phát triển diễn ra như thế nào để từ đó có thể học tập kinh nghiệm của các nước đi trước nhằm đưa ra được các phương hướng, giải pháp cho nền kinh tế Việt Nam Ngoài ra không chỉ vấn đề liên quan đến các nước phát triển mới được quan tâm nhiều mà các vấn đề liên quan đến Tiểu vùng Mê kông mở rộng cũng được quan tâm (32%) Đây là lĩnh vực mới trong các đề tài nghiên cứu của Viện nhưng thu hút sự chú ý, quan tâm của rất nhiều người Với các nền kinh tế đang phát triển có 23%, các nền kinh tế chuyển đổi là 11%

Các loại hình tài liệu ở đây được nhóm người dùng tin này sử dụng nhiều đó là tài liệu bằng sách và báo, tạp chí Trong đó thì báo, tạp chí được tìm kiếm nhiều hơn vì các thông tin có trong đó luôn được cập nhật thường xuyên và như vậy nó sẽ đáp ứng tốt những đòi hỏi mà người dùng tin cần Qua điều tra nhu cầu sử dụng loại hình tài liệu của nhóm này thì có tới 88% người dùng tin sử dụng báo, tạp chí; 73% là sách; các loại tài liệu khác là 13%

Hình thức tìm kiếm thông tin được người dùng tin sử dụng chủ yếu tại Thư viện thì 91% người dùng tin có nhu cầu tra cứu thông tin trên máy tính, vì thời gian để tìm thấy tài liệu cần là nhanh hơn, không người dùng tin nào có nhu cầu sử dụng hệ thống mục lục để tra cứu Vì vậy

mà các cán bộ thư viện đang cố gắng đưa các thông tin cần thiết nhất liên quan đến tài liệu vào

cơ sở dữ liệu để việc tìm tin đạt hiệu quả cao hơn

Ngoài các cán bộ nghiên cứu thì những người dùng tin làm công việc hành chính, văn phòng (Phòng biên tập - trị sự, Phòng Hành chính - tổng hợp, Thư viện) của Viện lại có nhu cầu tin thấp hơn rất nhiều Họ chỉ có nhu cầu tìm đọc các báo, tạp chí bằng tiếng Việt, báo điện tử mang tính chất giải trí về các thông tin liên quan đến đời sống xã hội

Như vậy, nhìn một cách khách quan và cụ thể thì ta có thể thấy nhu cầu về tài liệu, thông tin của nhóm cán bộ nghiên cứu trong Viện khá đa dạng Nhóm người dùng tin này thích ứng tốt

Trang 6

được với những biến động mạnh mẽ của nền kinh tế - chính trị của thế giới Nhu cầu tin cũng ảnh hưởng rất lớn từ những biến động trên thế giới, cụ thể ở đây nhu cầu tin về vấn đề Nghiên cứu kinh tế quốc tế và Hội nhập kinh tế quốc tế được người dùng tin này quan tâm nhiều nhất Các vấn đề khác cũng được quan tâm để phù hợp với các đề tài mà họ nghiên cứu Từ đó mà Thư viện càng thấy rõ hơn chức năng, vai trò của mình trong sự thành công của các công trình nghiên cứu khoa học ở đây

4.2 Nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu ngoài Viện

Nhóm đối tượng này như đã nói ở trên họ là các cán bộ nghiên cứu, các học viên, các nghiên cứu sinh đang học và làm luận văn cao học, luận án tiến sĩ của các cơ sở đào tạo của của các Viện thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam như: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đông Bắc

Á, Viện Nghiên cứu Châu Âu,…Vì thế họ cũng là những người dùng tin có trình độ học vấn cao, nhóm người dùng tin này chiếm tỉ lệ thấp nhất 18% tổng số người dùng tin của Thư viện

Nhóm người dùng tin này chỉ sử dụng Thư viện Viện KT&CTTG khi vấn đề nghiên cứu của họ không được đáp ứng tại các Thư viện của Viện nơi họ công tác, hoặc thông tin họ cần không thể tìm được ở các nguồn khác, vì thế khi họ tra cứu được thông tin mình cần qua các cơ

sở dữ liệu của mà Thư viện đưa lên mạng LAN, ngay lập tức họ sẽ tới thư viện đế thu thập thông tin Nên mức độ sử dụng Thư viện Viện KT&CTTG của họ là không thường xuyên Tuy nhiên khi được hỏi về thời gian dành cho việc tìm kiếm tài liệu trong một ngày của nhóm đối tượng này, kết quả có 52% người dùng tin dành thời gian từ 1-3h tìm kiếm thông tin tại Thư viện, 90% người dùng tin dành từ 3-5h tìm kiếm thông tin tại nhà

Các lĩnh vực mà họ quan tâm trong thành phần vốn tài liệu mà Thư viện có: Kinh tế quốc

tế 22%; Hội nhập kinh tế quốc tế 22%; Tài chính tiền tệ quốc tế 18%; Thương mại đầu tư quốc

tế 10%; Chính trị quốc tế 12%; An ninh và chiến lược quốc tế 8%; Thể chế quốc tế 8% Với số liệu này chúng ta có thể thấy hai lĩnh vực mà nhóm người dùng tin này quan tâm nhiều nhất là Kinh tế quốc tế ; Hội nhập kinh tế quốc tế (22%) Lĩnh vực họ ít quan tâm nhất là An ninh và chiến lược quốc tế; Thể chế quốc tế (8%)

Khi được hỏi về khu vực kinh tế mà họ đang quan tâm thì có tới 36% người dùng tin trả lời là họ quan tâm đến thông tin về Các nền kinh tế phát triển; Các nền kinh tế đang phát triển là 30% và các vấn đề liên quan đến Tiểu vùng Mê kông mở rộng cũng được tìm kiếm 22% Các nền kinh tế chuyển đổi là 12%

Với nhóm đối tượng này thì có tới 85% người dùng tin sử dụng tài liệu điện tử, đó là các eBooks (sách điện tử) được Thư viện mua trong 2 năm trở lại đây, đã được thư viện xử lý và đưa

ra phục vụ toàn văn, người dùng tin có thể tra cứu trực tiếp qua mạng LAN, tìm kiếm trong cơ

sở dữ liệu CDS/ISIS mà Thư viện đã xây dựng thông qua đường link liên kết để có thể xem toàn

Trang 7

văn tài liệu Chẳng hạn như các sách: Contemporary Iran: Economy, Society, Politics Ebook

English2 2009, 401.pg; 21st Century Management - A Reference Handbook Vol 1 Ebook

English2 2008, 606.pg; 21st Century Management - A Reference Handbook Vol 2 Ebook

English2 2008, 615.pg; Understanding Wall Street Ebook English2 2009, 385.pg…

Một số ít người dùng tin khác có thêm nhu cầu sử dụng tài liệu là tư liệu và tạp chí khoa học về các lĩnh vực kinh tế và chính trị thế giới

Có thể nói so với nhóm dùng tin là cán bộ nghiên cứu trong Viện thì nhóm người dùng tin này có nhu cầu tìm kiếm thông tin tại Thư viện cũng rất cao, và thông tin lưu giữ dưới dạng các eBooks được họ sử dụng nhiều nhất

4.3 Nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là sinh viên các trường đại học

Nhóm đối tượng này đều là những người còn trẻ, họ chưa có kinh nghiệm trong nghiên cứu, đang học tập, tìm hiểu về ngành nghề, nên việc tìm kiếm thông tin của họ chủ yếu là phục

vụ cho công tác học tập, vì thế các tài liệu họ cần là những tài liệu mang tính chất tham khảo căn bản về chuyên ngành kinh tế và quan hệ quốc tế Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài, các thông tin chuyên đề, sưu tập chuyên đề, luận án của các cán bộ nghiên cứu là những tài liệu hết sức bổ ích đối với họ Ngoài ra họ còn muốn hiểu biết về tất cả các lĩnh vực do đó họ muốn thủ thư giới thiệu những cuốn sách hay nhất, có liên quan đến vấn đề mà họ quan tâm Bên cạnh đó

họ đến Thư viện để giải trí sau những giờ học tập, nghiên cứu căng thẳng, họ đến đọc báo, tạp chí…để cập nhật khai thác thông tin phù hợp với thực tế đang diễn ra, phục vụ cuộc sống Vì thế sinh viên thường có nhu cầu tin hiện đại Với nhóm người dùng tin này Thư viện chỉ cấp thẻ đọc, thời gian sử dụng thẻ là 3 tháng, hết 3 tháng sinh viên phải đến làm lại thẻ

Theo điều tra về lĩnh vực thông tin mà nhóm người dùng tin này quan tâm thì: Kinh tế quốc tế là 9%; Hội nhập kinh tế quốc tế 31%; Thương mại đầu tư quốc tế 13%; Tài chính tiền tệ quốc tế 28%; Chính trị quốc tế 6%; An ninh và chiến lược quốc tế 2%; Thể chế quốc tế 11% Với kết quả điều tra thu được có thể thấy nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là sinh viên về Hội nhập kinh tế quốc tế chiếm 31%, lĩnh vực về Tài chính tiền tệ quốc tế cũng rất được quan tâm chiếm 28% Nhìn chung do sinh viên đến Thư viện từ rất nhiều trường Đại học khác nhau nên các lĩnh vực của mỗi sinh viên ở từng trường cũng có sự khác nhau; Ngôn ngữ được sinh viên sử dụng để tìm kiếm thông tin và đọc tài liệu chủ yếu vẫn là tiếng Việt (100%) và tiếng Anh (10%), còn ngôn ngữ khác hầu như không được sử dụng; Lượng thời gian mà sinh viên dành cho việc lên Thư viện là khá lớn khoảng 61% dành từ 1-3h để sử dụng thư viện, và thời gian tìm kiếm tài liệu ở nhà cũng được sinh viên tận dụng để có thể tìm thấy tài liệu phù hợp cho mình, điều này cũng phản ánh việc học tập của họ khá nghiêm túc

Trang 8

Tóm lại qua việc thống kê và phản ánh nhu cầu tin của ba nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu trong Viện, cán bộ nghiên cứu ngoài Viện và sinh viên tại Thư viện Viện KT&CTTG chúng ta có thể thấy được rằng nhu cầu thông tin KH&CN của người dùng tin ở đây tương đối cao Các vấn đề được quan tâm phong phú và đa dạng điều đó là rất phù hợp với sự phát triển của kinh tế hiện nay Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Thư viện có thể đảm bảo yêu cầu

mà người dùng tin đưa ra nhằm phục vụ tốt nhu cầu tin của họ

5 Đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ cho người dùng tin tại Thư viện Viện Kinh

tế và Chính trị Thế giới

Khi nghiên cứu được nhu cầu thông tin KH&CN của người dùng tin tại Thư viện Viện KT&CTTG, chúng ta cần tìm hiểu việc đảm bảo thông tin KH&CN để cung cấp cho người dùng tin ở đây có đầy đủ, kịp thời, nhanh chóng và chính xác

5.1 Đảm bảo về vốn tài liệu

Thư viện tiến hành sưu tầm, thu thập tài liệu thông qua nguồn bổ sung từ các nhà sách tư nhân, Công ty Phát hành Báo chí TƯ, Xunhabasa - Công ty xuất nhập khẩu sách báo…và các nguồn trao đổi, biếu tặng, lưu chiểu Để hoạt động bổ sung không lãng phí, đáp ứng tốt nhu cầu của người sử dụng, trước khi tiến hành bổ sung, Thư viện thường gửi các danh mục sách mới của các nhà xuất bản cho Ban lãnh đạo, các Trưởng, Phó phòng trong Viện để các phòng đề xuất nguồn tài liệu mình cần với Thư viện Trên cơ sở các phòng ban lựa chọn tài liệu, Thư viện sẽ thống kê xem các tài liệu nào có nhu cầu mượn nhiều, bằng nguồn kinh phí được cấp hàng năm Thư viện sẽ tiến hành bổ sung tài liệu từ cao xuống thấp cho đến khi hết kinh phí theo thứ tự ưu tiên

Hiện mỗi đầu sách ở Thư viện chỉ có một cuốn duy nhất Nên khi có hai nhu cầu tìm hiểu

về một vấn đề của một cuốn sách thì tất yếu sẽ xảy ra trường hợp thiếu tài liệu cho quá trình nghiên cứu Chính vì thế mà Thư viện không cho phép bạn đọc ngoài Viện được mượn tài liệu

về nhà, mà chỉ được phép mượn và đọc tài liệu ngay tại chỗ

Nguồn tài liệu nội sinh: tại Thư viện nguồn tài liệu này chủ yếu là các đề tài nghiên cứu khoa học dưới dạng tài liệu in; các sưu tập thông tin chuyên đề; Các đề tài cấp Viện, Bộ, Nhà nước; Tài liệu hội thảo, hội nghị có liên quan đến các vần đề mà Viện quan tâm; hay những bản báo cáo đi thực tế của cán bộ trong Viện đi ra nước ngoài sau đó về viết báo cáo gửi lại cho Viện Ngoài ra Thư viện còn có 2 số Tạp chí chuyên ngành do Viện xuất bản được lưu giữ khá đầy đủ để phục vụ người dùng tin Đó là tạp chí Vietnam Economic Review, Tạp chí những vấn

đề KT&CTTG

Trang 9

Từ năm 2008 Thư viện được cấp một khoản kinh phí dành cho việc bổ sung tài liệu điện

tử, tuy nguồn kinh phí không nhiều nhưng cũng giúp Thư viện bổ sung thêm loại hình tài liệu mới vào kho tài liệu của mình Nguồn tài liệu điện tử ở đây chính là các eBook, ngôn ngữ của tài liệu hoàn toàn bằng tiếng Anh

Vì vậy việc đảm bảo tốt nguồn lực thông tin tại Thư viện Viện KT&CTTG đòi hỏi cán bộ thư viện cần phải nắm vững, nắm rõ nhu cầu của người dùng tin để sưu tầm tài liệu cho phù hợp

5.2 Bộ máy tra cứu tìm tin của Thư viện

Bộ máy tra cứu là tập hợp các công cụ và phương tiện cho phép tìm, cung cấp các tài liệu, thông tin dữ kiện phù hợp với diện đề tài bao quát của Thư viện, đáp ứng yêu cầu tin của người dùng tin Thư viện hiện tổ chức 2 hệ thống mục lục tra cứu là mục lục chữ cái tên sách, tên tác giả và mục lục chủ đề Bên cạnh đó người dùng tin có thể tra cứu tài liệu trên máy tính qua các CSDL Thư viện xây dựng Khi khảo sát thực tế thì trên 90% người dùng tin không có nhu cầu tra tìm tài liệu theo hệ thống mục lục của Viện, họ thường tra cứu trên các cơ sở dữ liệu (CSDL) của Thư viện, vì thế Thư viện không còn phục vụ người dùng tin tìm tin trên hệ thống mục lục nữa Các CSDL mà Thư viện Viện đã xây dựng để tra cứu là: CSDL Sách tiếng Việt, tiếng Anh; CSDL Sách tiếng Nga; CSDL bài trích báo - tạp chí…Ngoài ra hàng năm Thư viện còn tiến hành xây dựng danh mục thông báo sách mới và thư mục chuyên đề phục vụ người dùng tin tra cứu nhanh, hiệu quả

5.3 Công tác phục vụ người dùng tin

Hoạt động tổ chức phục vụ người dùng tin được tiến hành tại Phòng đọc của Thư viện Phòng đọc ở đây được chia làm 2 phòng cụ thể đó là Phòng đọc sách, báo, tạp chí và Phòng đọc tài liệu nội sinh Tại Thư viện chỉ phục vụ bạn đọc tại chỗ dưới hình thức kho kín Chỉ có cán bộ trong Viện mới được phép mượn tài liệu về nhà với số lượng tối đa là 5 tài liệu/ tháng và được gia hạn thêm với điều kiện phải mang tài liệu đến Thư viện trong thời hạn quy định và tài liệu

đó chưa có bạn đọc khác yêu cầu; Bạn đọc ngoài Viện chỉ được mượn và đọc tài liệu tại chỗ Mỗi lần mượn tối đa 2 tài liệu, nếu muốn mượn tiếp phải trả tài liệu đã mượn; Nếu có nhu cầu photo, bạn đọc phải liên hệ Thủ thư để đăng ký pho to Đối với bạn đọc trong Viện họ không cần phải có thẻ thư viện vì mỗi cán bộ nghiên cứu đã được cấp một Sổ mượn tài liệu, cán bộ ngoài Viện có thể dùng giấy giới thiệu, chứng minh thư để sử dụng thư viện

Bộ phận phục vụ luôn đảm bảo phục vụ tài liệu nhanh nhất cho bạn đọc, hạn chế tối đa việc từ chối tài liệu, thái độ phục vụ ân cần, nhiệt tình, niềm nở, thể hiện người cán bộ thư viện

có văn hoá, có trình độ trong môi trường thư viện hiện đại

5.4 Một số nhận xét và đánh giá

Trang 10

5.4.1 Điểm mạnh

5.4.1.1 Người dùng tin và nhu cầu tin

Nhìn chung số lượng người dùng tin tại Thư viện Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới không phải là quá lớn, nhưng đối tượng mà Thư viện phục vụ ở đây cũng khá đặc biệt và nó mang đúng tính chất của một Thư viện chuyên ngành Nên người dùng tin ở đây là những người

có nhu cầu tìm hiểu về các vấn đề kinh tế và chính trị của thế giới, họ là những người có trình độ học vấn cao, có trình độ về tin học và ngoại ngữ

5.4.1.2 Về đảm bảo thông tin cho người dùng tin

- Vốn tài liệu: Vốn tài liệu của Thư viện luôn được bổ sung hàng năm dựa trên những khảo

sát, đánh giá của Thư viện về tình hình sử dụng tài liệu cũng như nhu cầu cập nhật thông tin, tài liệu mới cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu cụ thể mà theo các hướng đề tài đã đặt ra

- Bộ máy tra cứu: Hệ thống tra cứu của Thư viện được chú trọng phát triển, bên cạnh bộ máy

tra cứu truyền thống đã tồn tại từ lâu, thì Thư viện đã sử dụng bộ máy tra cứu hiện đại nhằm trợ giúp cho người dùng tin có thể tìm kiếm thông tin được nhanh chóng, hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian tìm kiếm tài liệu

- Công tác phục vụ bạn đọc: Tuy là Thư viện nhỏ nhưng các phòng ban vẫn được chia cụ

thể, đặc biệt ở đây có hai phòng đọc nhằm phục vụ cho việc đọc tài liệu tại chỗ của người dùng tin Các phòng ban phần nào đã làm tốt các nhiệm vụ của mình trong việc giải quyết nhu cầu tin của người dùng tin trong thời gian qua Thư viện đã nối mạng toàn bộ hệ thống máy tính của Thư viện nhằm phục vụ tốt hơn cho cả cán bộ và người dùng tin

5.4.2 Điểm yếu

Bên cạnh những kết quả mà Thư viện Viện KT&CTTG đã đạt được trong thời gian qua thì vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới nhằm nâng cao được chất lượng phục vụ người dùng tin tại đây và đảm bảo nguồn thông tin cho họ

Vốn tài liệu: Việc xây dựng vốn tài liệu ở Thư viện Viện KT&CTTG còn phụ thuộc

nhiều vào nguồn kinh phí được cấp, hiện tại kinh phí để mua sách, báo của Thư viện chưa lớn, đặc biệt từ năm 2008 đến nay, kinh phí cấp cho việc bổ sung tài liệu của Thư viện giảm xuống hơn 1 nửa Nếu như năm 2007 Thư viện được cấp 200triệu để bổ sung tài liệu tiếng Việt, thì năm 2008, 2009 số kinh phí này chỉ còn 90triệu, đối với báo-tạp chí kinh phí được cấp là 35triệu, tài liệu điện từ năm 2008 (35triệu), 2009 (40triệu) Việc cắt giảm kinh phí bổ sung của Thư viện được giải thích là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam sẽ tiến hành bổ sung tập trung cho tất cả các Viện thuộc Viện để tránh trùng lặp, lãng phí kinh phí Tuy nhiên công việc này từ năm

Ngày đăng: 23/08/2016, 03:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w