Lịch sử loài người từ khi phân chia thành giai cấp đã mang lại cho chúng ta nhiều bằng chứng cho thấy việc hình thành được một thiết chế dân chủ sẽ có tác động to lớn như thế nào đến diện mạo chung của xã hội, đến sự tăng trưởng kinh tế và giải phóng năng lực sáng tạo của con người. Song lịch sử cũng chứng minh rằng, hiệu quả tác động của dân chủ đến sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội lại phụ thuộc một cách quyết định vào sự hoàn thiện của hệ thống chính trị với tư cách là cơ chế thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội tương ứng.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Lịch sử loài người từ khi phân chia thành giai cấp đã mang lại cho chúng ta nhiều bằngchứng cho thấy việc hình thành được một thiết chế dân chủ sẽ có tác động to lớn như thếnào đến diện mạo chung của xã hội, đến sự tăng trưởng kinh tế và giải phóng năng lựcsáng tạo của con người Song lịch sử cũng chứng minh rằng, hiệu quả tác động của dânchủ đến sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội lại phụ thuộc một cách quyết định vào sựhoàn thiện của hệ thống chính trị với tư cách là cơ chế thực hiện quyền lực chính trị trong
xã hội tương ứng
Nhận rõ mối quan hệ giữa dân chủ và hệ thống chính trị nói chung, giữa quá trình hìnhthành nền dân chủ XHCN với việc hoàn thiện hệ thống chính trị của thời kỳ quá độ lênCNXH nói riêng, các văn kiện được Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng ta thông qua đãxem việc đổi mới hệ thống chính trị bằng cách dân chủ hoá toàn diện hệ thống đó nhằmtừng bước hình thành nền dân chủ XHCN là nhiệm vụ cấp bách của quá trình đổi mới
Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta - như Cương lĩnh đượcĐại hội VII thông qua và Hiến pháp 1992 khẳng định dưới hình thức pháp lý của quanđiểm đó - bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể khác của nhân dân
Sau gần chục năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước - trong đó có hệthống chính trị, “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã coi trọng các hình thứctập hợp đa dạng nhằm mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân thực hiệnnhiệm vụ chính trị, đẩy mạnh các hoạt động xã hội, chăm lo và bảo vệ lợi ích thiết thực
Trang 2của nhân dân Sự tham gia của Mặt trận và các đoàn thể trong công tác xây dựng luậtpháp, chính sách, xây dựng chính quyền các cấp, thực hiện các chính sách kinh tế - xãhội ngày càng được tăng cường” (4 - 9, tr 13 - 14).
Trong khi đánh giá cao thành tựu của việc đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội củanhân dân như vậy, Đảng ta cũng thấy rằng, Mặt trận và các đoàn thể còn lúng túng trongnội dung và phương thức hoạt động; tình trạng quan liêu, dân chủ hình thức trong các tổchức đó còn nặng nề đã làm hạn chế đáng kể việc phát huy tiềm năng sáng tạo của cácthành viên Mặt trận và các đoàn thể trong quá trình đổi mới Do vậy, tiếp tục đổi mới tổchức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội vẫn là một đòi hỏi bức thiết ở nước tahiện nay
Vấn đề đó càng trở nên cấp bách hơn, khi chúng ta nhất quán thực hiện chính sách pháttriển kinh tế nhiều thành phần, xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước theo định hướng XHCN Quá trình ấy tất yếu dẫn đến sự phân hoá sâu sắc về cơ chế
xã hội, về tâm lý, tư tưởng, tình cảm trong nhân dân Vì vậy vấn đề đặt ra là bằng cáchnào phát huy được dân chủ rộng rãi, đúng hướng để quy tụ được sức mạnh của các nhómngười, các tầng lớp, các giai cấp và cả cộng đồng dân tộc để thực hiện thành công sựnghiệp đổi mới làm cho nhân dân thực sự trở thành chủ thể sáng tạo lịch sử một cách tíchcực và chủ động Bởi vậy, mức độ thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng văn minh” tuỳ thuộc một cách quyết định vào việc giải pháp đúng đắn câu hỏinêu trên
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu nội dung và giải pháp đổi mới các tổ chức chính trị
- xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Trang 3theo định hướng xã hội chủ nghĩa trở thành nhiệm vụ chín muồi và cấp thiết cả về lý luận
Trong các công trình khoa học của mình, những tác giả đã đề cập tới một loạt vấn đềliên quan tới lý luận chung về đổi mới, dân chủ và dân chủ XHCN, những nhân tố chếđịnh sự hình thành và phát triển nền dân chủ XHCN, cơ chế tổng quát “ Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý củaNhà nước cũng như tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội Thông qua
đó, các tác giả đã nêu ra nhiều kiến nghị có giá trị nhằm đẩy mạnh quá trình đổi mới ởnước ta
Tuy vậy, đến nay không phải mọi vấn đề lý luận về đổi mới hệ thống chính trị nóichung, đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội nói riêng đã được giải quyết Công cuộc đổi mới càng được triển khai về chiều rộng và chiều sâu càng đặt ra
(1) Xem: Chính trị và hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.Chương trình khoa học công nghệ KX 05; Hoàng Văn Hảo: Dân chủ hoá các tổ chứcchính trị - xã hội - một phương hướng cơ bản để tăng cường quyền lực của nhân dân ởnước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1 - 1993; Phạm Ngọc Quang: vấn đềquyền lực và cơ chế thực hiện quyền lực trong kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Tạp chí
Trang 4Nghiên cứu lý luận, số 1 - 1993: Phạm Ngọc Quang: Hồ Chí Minh với những nguồn lựctrí tuệ của Đảng, Tạp chí thông tin lý luận, số 4 - 1993; Đặng Quang Uẩn: Nhân dịp kỷniệm cách mạng Tháng Mười nghĩ về mối quan hệ giữa Đảng và giai cấp trong thời kỳthoái trào của chủ nghĩa xã hội, Tạp chí thông tin lý luận, số 11 - 1993; Đào Duy Cận -Khoa Minh - Đỗ Nguyên Phương - Đậu Thế Biểu - Nguyễn Thế Phấn: Những vấn đề lýluận của CNXH ở Việt Nam, tập III - chính sách xã hội và hệ thống chính trị; Đỗ NguyênPhương - Trần Ngọc Đường: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước phápquyền
nhiều vấn đề mới đòi hỏi giới lý luận phải nghiên cứu Đổi mới các tổ chức chính trị
-xã hội của nhân dân trong mối quan hệ với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là một trong những vấn đề như vậy.Chính vì vậy, người viết chọn đề tài này làm đối tượng trình bày trong luận án củamình với hy vọng góp phần khắc phục điểm trống đó về lý luận
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án.
Chọn đề tài này, người làm luận án nhằm nghiên cứu một cách tương đối hệ thống cácvấn đề có liên quan tới quá trình đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội trong mối tươngquan với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN; xác định nội dung cơ bản của đổi mới các tổ chức ấy; kiến nghị cácgiải pháp thích hợp để đổi mới tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động nhằm nâng caohiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình chuyển sang kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của luận án là:
Trang 5- Làm rõ khái niệm và cơ sở phân loại các tổ chức chính trị - xã hội
- Phân tích những tác động của nền kinh tế thị trường đến quá trình đa dạng hoá cơ cấu
xã hội, đến quá trình đa dạng hoá các tổ chức chính trị - xã hội Từ đó, làm sáng tỏ thựctrạng các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta, những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết
Phân tích, luận giải nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị
-xã hội trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường hiện nay
- Phân tích mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong tình hình hiện nay, mối quan hệgiữa quá trình đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội và vấn đề nhất nguyên chính trị trênnền tảng kinh tế thị trường; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đốivới các tổ chức chính trị - xã hội
4 Cái mới về khoa học của luận án.
Bằng việc nghiên cứu tương đối toàn diện vấn đề đổi mới các tổ chức chính trị - xã hộitrong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, luận án đã mang lạimột số điểm mới về mặt khoa học sau đây:
Một là, phân tích một cách có hệ thống để đi đến xác định khái niệm “Tổ chức chính trị
- xã hội”
Hai là, xác định những nhân tố chế định sự hình thành và hoạt động của các tổ chức
chính trị - xã hội
Ba là, phân tích những tác động của nền kinh tế - thị trường đối với các tổ chức
chính trị xã hội Từ đó tìm ra phương hướng nhằm đổi mới các tổ chức chính trị
-xã hội trong phần có liên quan tới quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
Trang 6Bốn là, phân tích và luận chứng về sự đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Luận án được thực hiện trên cơ sở những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về dân chủ, đổi mới hệ thống chínhtrị, về các tổ chức chính trị - xã hội Trên cơ sở đó, người viết đi sâu vào nghiên cứu thựctiễn đối với các tổ chức chính trị - xã hội để phân tích, khái quát rút ra những vấn đề cầnthiết phục vụ mục đích và yêu cầu của luận án
Người viết cố gắng vận dụng nguyên tắc phương pháp luận của triết học, phương pháplịch sử để tìm ra cách tiếp cận và giải quyết những vấn đề được đặt ra Các phương pháplôgic - lịch sử; so sánh - phân tích - tổng hợp; phương pháp hệ thống cũng được đặc biệtchú ý Từ lý luận soi sáng thực tiễn và ngược lại, từ thực tiễn rút ra những vấn đề lý luậnthiết thực, không giáo điều xơ cứng
Liên quan tới chủ đề của luận án, những luận điểm về mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế
và cơ cấu xã hội, giữa kinh tế và chính trị được người làm luận án đặc biệt quan tâm như
là những nền tảng phương pháp luận chủ yếu, trực tiếp nhất của toàn bộ quá trình thựchiện đề tài
Trong quá trình viết luận án, người viết cũng kế thừa thành quả nghiên cứu của giới lýluận xung quanh vấn đề này; có tham khảo các quan điểm của giới lý luận nước ngoài( kể cả giới lý luận không cộng sản)
6 Ý nghĩa của luận án.
Trang 7Với kết quả mà luận án đạt được, người viết hy vọng góp phần vào nhận thức đúng vịtrí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đề xuất ý kiến để đổi mới tổ chức và hoạtđộng của chúng thích hợp với quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đang được tiếnhành ở nước ta.
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy vàđịnh hướng quá trình đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội
7 Kết cấu của luận án.
Luận án gồm lời mở đầu, hai chương với 4 tiết, kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo
Trang 8Trong quá trình viết nên những trang sử vàng chói lọi đó, các tổ chức chính trị - xã hội
có những cống hiến vô cùng to lớn Song, khi cách mạng chuyển giai đoạn, vấn đề xâydựng CNXH đã nằm trong chương trình nghị sự hàng ngày của cả dân tộc, các tổ chứcchính trị - xã hội đó ngày càng tỏ ra bất cập Từ chỗ là đòn xeo, là động lực của sự pháttriển xã hội, một số tổ chức đó trở thành lực cản hay ít ra cũng không hoàn thành tốt chứcnăng động lực của mình - trên con đường đạt tới mục tiêu XHCN Bởi vậy, việc đổi mớichúng đã trở thành mệnh lệnh của cuộc sống
Song, đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân không thể là kết quả hoạtđộng tự phát, nó chỉ có thể là kết quả hoạt động tự giác trên cơ sở nhận thức khoa học vềnhững vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành và phát triển của các tổ chức đó Bởivậy, việc làm sáng tỏ về mặt lý luận cơ bản một số vấn đề liên quan tới khái niệm “tổchức chính trị - xã hội” là công việc cần thiết
I Khái niệm tổ chức chính trị - xã hội.
1 Tổ chức chính trị - xã hội với tư cách là một phạm trù của khoa học chính trị.
Để hình thành khái niệm khoa học về “tổ chức chính trị - xã hội”, trước hết cần làm rõkhái niệm “nhân dân”
Từ việc tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người cho đến giữa thế kỷXIX, C.Mác đã rút ra kết luận: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội
là một quá trình lịch sử tự nhiên” (1 - 1, tr 20).Tính lịch sử tự nhiên trong quá trình pháttriển xã hội có nghĩa: một là, sự phát triển của xã hội là sự thống nhất giữa liên tục vàgián đoạn, sự chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xãhội khác là những cột mốc đánh dấu sự gián đoạn đó; hai là, sự phát triển xã hội nói
Trang 9chung, sự chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khácnói riêng là do các quy luật khách quan chi phối.
Phát hiện đó của Mác là một trong những cơ sở để hình thành quan điểm duy vật vềlịch sử Được soi sáng bởi quan điểm khoa học nêu trên, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xãhội khoa học đã nhìn thấy ở quần chúng nhân dân như là động lực cơ bản thúc đẩy sựphát triển của lịch sử Theo các ông, mọi sự kiện lớn lao trong đời sống xã hội, mọi biếnđổi cách mạng xảy ra trong lịch sử sẽ không thể thành công, nếu không có sự tham giatích cực của quần chúng
Quan điểm vừa nêu của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đánh dấu bước ngoặt trong sự pháttriển của nhận thức lý luận về vai trò của quần chúng đối với sự phát triển xã hội
Thật vậy, trong quan điểm của những học giả thuộc giai cấp bóc lột, quần chúng chỉ làmột lực lượng tiêu cực, là bày cừu ngoan ngoãn, là phương tiện và vĩ nhân cần đến đểthực hiện ý đồ chính trị của mình Các - Lây - Lơ - nhà triết học, nhà sử học Anh thế kỷtrước cho rằng: Lịch sử thế giới, lịch sử sự nghiệp của con người ta trong thế giới nàythực chất là lịch sử, sự nghiệp của các vĩ nhân Tất cả những cái gì đã được hoàn thành
ở trên đời này đều là kết quả vật chất bên ngoài, là sự diễn biến trong thực tiễn và là hiệnthân của những tư tưởng bên trong của các vĩ nhân được phái xuống cuộc đời, lịch sử của
họ là lịch sử thế giới (48) Các - Lây - Lơ đã bộc lộ quan điểm duy tâm chủ quan củamình khi xem xét nguồn gốc, động lực phát triển của xã hội
Trước đó, các nhà khai sáng Pháp cũng cho rằng, hoạt động tự giác của những nhân vậtkiệt xuất là động lực chủ yếu của mọi biến cố lịch sử Đối với họ, quần chúng chỉ lànhững con rối trong tay các vĩ nhân Ngay đến Hê - Ghen, một nhà triết học biện chứngxuất sắc đã được Mác và ăng ghen đánh giá rất cao, cũng rơi vào thuyết định mệnh khi
Trang 10xem xét sự phát triển thế giới Theo Hê - ghen, cái quyết định sự phát triển của thế giớinói chung, của xã hội nói riêng là “tinh thần thế giới”, là “ý niệm tuyệt đối”.
Trong thời đại ngày nay, quan điểm phủ nhận vai trò của quần chúng nhân dân tronglịch sử được che đậy dưới bộ áo mới Đó là thuyết kỹ trị Theo thuyết này, những nhàkhoa học và những nhà quản trị tài ba mới là lực lượng điều khiển nhà nước và sự vậnđộng của xã hội nói chung
Như vậy, tất cả những nhà triết học duy tâm xưa và nay đều không hiểu được vai tròcủa quần chúng nhân dân trong lịch sử Tuy ở mỗi thời đại, lý luận của họ có mangnhững hình thức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một: Tuyệt đối hoá vai trò của các vĩnhân hay của một nhóm người như là chủ thể chân chính duy nhất của các quá trình lịchsử
Phê phán triệt để những quan điểm sai lầm trên đây, trong khi không phủ nhận vai trò
to lớn của các vĩ nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin dứt khoát khẳng định rằng, chính nhân dânbằng lao động sáng tạo của mình đã tạo ra - một cách trực tiếp hay gián tiếp - toàn bộ giátrị vật chất và tinh thần của nhân loại; lịch sử của xã hội loài người và lịch sử sáng tạocủa bản thân quần chúng
Trang 11Bằng việc làm sáng tỏ nội dung xã hội của khái niệm “quần chúng nhân dân”, chủnghĩa Mác - Lênin đã đi tới khẳng định sự thay đổi tính chất và cơ cấu tạo thành kháiniệm đó trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, những từ “dân cư”, “nhân dân”, “quần chúngnhân dân” không có sự phân biệt.Trong các hình thái đối kháng giai cấp, quần chúngnhân dân không bao gồm những nhóm người, những giai cấp đang tiến hành đườnglối chống lại nhân dân Theo nghĩa đó, Lê nin nêu ra định nghĩa sau đây:
“Khái niệm quần chúng nhân dân có thể thay đổi tuỳ theo tính chất của đấu tranh Khái niệm quần chúng sẽ thay đổi theo các nghĩa người ta hiểu quần chúng là đa số và hơnnữa chẳng những chỉ là đa số công nhân, mà là đa số tất cả những người bị bóc lột; ngườicách mạng không thể hiểu khác thế được; bất kỳ một nghĩa nào khác của chữ đó cũng trởthành không thể hiểu được” (2 - 2, tr 617)
Cùng với việc xoá bỏ giai cấp bóc lột khi có các điều kiện cần thiết đã chín muồi, trongchủ nghĩa xã hội ở nấc thang phát triển cao của nó, khái niệm “quần chúng nhân dân” sẽbao gồm tất cả các nhóm xã hội khác nhau trong xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, bộ phận cốt lõi của quần chúng nhân dân ở mọigiai đoạn phát triển lịch sử bao giờ cũng là những người lao động - nhân tố quan trọngnhất của lực lượng sản xuất Bởi vậy, Lê nin nhấn mạnh rằng, khi sử dụng danh từ “quầnchúng nhân dân”, Mác không làm lu mờ sự khác nhau giữa các giai cấp bằng danh từnày, mà ông luôn luôn làm nổi bật lực lượng có khả năng tiến hành cách mạng đến cùng.Chủ nghĩa Mác - Lênin phân biệt rạch ròi nhân dân cách mạng - những người nhất trí
về tư tưởng và tổ chức, có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh giải quyết những nhiệm vụ
Trang 12chín muồi vì sự tiến bộ xã hội với những quần chúng - mà xét về vị trí của mình - họ cóquan tâm đến những cải cách xã hội nhưng không tham gia vào cuộc đấu tranh chính trịtích cực.
Do tính lịch sử của nó, có thể cùng là một giai cấp hay tập đoàn xã hội, trong giai đoạnnày họ thuộc vào “nhân dân”, nhưng sang giai đoạn khác họ lại đứng đối lập với nhândân; và ngược lại Chẳng hạn, vào thế kỷ XVII - XVIII giai cấp tư sản là giai cấp cáchmạng Nó nêu cao ngọn cờ chống phong kiến để giải phóng sức sản xuất góp phần thúcđẩy phát triển xã hội Khi đó, họ không chỉ là một bộ phận cấu thành “nhân dân” mà còn
là lực lượng tiên tiến, lãnh đạo nhân dân Sau khi giành được chính quyền và củng cố vịtrí thống trị của mình, giai cấp tư sản trở thành lực lượng chủ yếu bóc lột những ngườilao động Nó trở thành kẻ thù của nhân dân
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, “nhân dân” là những ai?
Chúng ta chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng XHCN Những ai là chủ thể của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước tahiện nay cũng chính là các chủ thể của những hình thức sở hữu khác nhau Do vậy cần cókhái niệm đúng về nhân dân Nhân dân là cộng đồng người Việt Nam “tán thành côngcuộc đổi mới, vì độc lập dân tộc, phấn đấu thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến lên dân giàunước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Lấy đại nghĩa dân tộc làm điểm tương đồng,đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau mà không trái với lợi ích chung, cùng nhauxoá bỏ mặc cảm, hận thù, hướng về tương lai” (4 - 9, tr 60)
Việc nắm vững khái niệm “nhân dân” với những nội dung nêu trên là tiền đề cần thiết
để hiểu sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của quầnchúng nhân dân trong lịch sử
Trang 13Chúng ta sẽ thấy rõ hơn tính khoa học của quan điểm đó, khi làm sáng tỏ mối quan hệgiữa hoạt động của quần chúng nhân dân với sự tác động của quy luật xã hội Những quyluật này chỉ nảy sinh và tác động thông qua hoạt động của con người Hơn nữa, tính xácsuất thống kê như là một trong những đặc trưng vốn có của mọi quy luật xã hội Chonên, các quy luật xã hội chỉ được thực hiện và thực hiện thông qua hoạt động của sốđông, của quảng đại quần chúng nhân dân Đặc trưng khách quan đó của quy luật xã hộiquy định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong việc hiện thực hoá các quyluật xã hội thành sự biến đổi thực tế đời sống của con người.
Vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử được biểuhiện ở chỗ:
Một là, sự vận động của lịch sử là kết quả hoạt động của con người đang theo đuổi những
nhu cầu, những mục đích nhất định Mức độ thu hút quần chúng vào hoạt động nhằm thựchiện nhu cầu, mục tiêu nào đó tuỳ thuộc một cách quyết định vào mức độ của tính phổ biếntrong nhu cầu, mục tiêu đã được đặt ra Nhu cầu, mục tiêu biến đổi xã hội càng mang tínhphổ quát, càng mang tính nhân dân bao nhiêu, số lượng quần chúng tham gia vào hoạt động
để đạt nhu cầu, mục tiêu đó càng đông đảo bấy nhiêu Như vậy, vai trò quyết định của quầnchúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử biểu hiện trước hết ở vai trò quyết định của
ý chí nhân dân trên cơ sở phù hợp của nó với tính tất yếu khách quan của xã hội
Hai là, tự bản thân tư tưởng dù có mang tính phổ biến, mang tính quần chúng cũng không
thay đổi được hiện thực Muốn thay đổi được hiện thực xã hội, tư tưởng đó phải biến thànhxung lực kích thích hoạt động tích cực của quần chúng Hoạt động thực tiễn nói chung, hoạtđộng thực tiễn cách mạng nói riêng bao giờ cũng mang tính quần chúng đông đảo Cáchmạng là ngày hội của quần chúng Nếu không như vậy, không có bất kỳ một sự biến đổi cách
Trang 14mạng căn bản nào đối với tiến trình lịch sử của dân tộc cũng như thời đại lại có thể được thựchiện.
Ba là, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử thay thế của các phương thức
sản xuất, trong đó người lao động bao giờ cũng là nhân tố cơ bản, quan trọng nhất, cáchmạng nhất của lực lượng sản xuất Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuấtquyết định sự thay thế của các quan hệ sản xuất và của thiết chế xã hội dựa trên quan hệsản xuất đó Nói cách khác, quần chúng nhân dân là nhân tố quan trọng nhất trong việcsáng tạo ra các giá trị vật chất và là động lực của sự thay đổi xã hội
Bốn là, chính trong hoạt động của mình, một mặt, bản thân quần chúng nhân dân là
người sáng tạo ra những giá trị tinh thần với tư cách là những kinh nghiệm được tích luỹ
từ hoạt động thực tiễn, với tư cách là sự phản ánh những nhu cầu, khát vọng vươn tới cáichân, cái thiện, cái mĩ của bản thân mình; mặt khác, hoạt động của quần chúng nhân dân
sẽ cung cấp những cứ liệu, đặt ra những đòi hỏi kích thích hoạt động sáng tạo của đội ngũtrí thức trong xã hội Với nghĩa đó, quần chúng nhân dân bằng tất cả những hoạt động đadạng của họ là người trực tiếp và gián tiếp sáng tạo ra những giá trị tinh thần nhân loại.Những điều nêu trên càng đúng, khi nói về những giai đoạn phát triển có tính cáchmạng trong lịch sử loài người Lịch sử đã mang lại nhiều cứ liệu xác đáng để chứng minhrằng, không một giai cấp nào có thể tiến hành một cuộc cách mạng ít nhiều triệt để đi tớithắng lợi hoàn toàn mà lại không có sự tham gia đông đảo cuả quần chúng Cách mạng tưsản Pháp 1789, cách mạng Tháng Mười Nga 1917, cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam1945 đã cho ta thấy điều đó
Trang 15Trong khi khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân với tư cách là lực lượng sángtạo ra lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không phủ nhận vai trò to lớn của những vĩnhân trong tiến trình đó.
“Vĩ nhân” mà ta nói ở đây là những con người vĩ đại về khả năng trí tuệ, về khả năngnắm bắt quy luật khách quan, khả năng thu hút quần chúng để tổ chức thực tiễn nhằmbiến đổi hiện thực xã hội theo chiều hướng tiến bộ
Hoạt động của số đông, của quần chúng muốn có hiệu quả, tất yếu phải có tổ chức,phải có lãnh đạo Điều này càng trở nên bức thiết, khi nói tới hoạt động của quầnchúng nhằm thực hiện những biến đổi có tính cách mạng đối với xã hội Lênin đãtừng chỉ ra rằng, công cuộc cải biến cách mạng càng sâu sắc bao nhiêu, càng triệt đểbao nhiêu, số lượng quần chúng được thu hút vào cũng rộng rãi bấy nhiêu
Để làm cho triệu người như một, tất cả mọi người đều hành động theo một phươnghướng duy nhất, việc hình thành các tổ chức, thu hút quần chúng vào các tổ chức có vị tríđặc biệt quan trọng
“Tổ chức” là một khái niệm đa nghĩa và nhiều tầng Trong khuôn khổ của luận án này,
“tổ chức” trước hết được xem xét với tư cách là một thực thể xã hội
Tiếp cận với “tổ chức” từ giác độ như vậy, có thể hiểu “tổ chức” - đó là những cấu tạomang tính tập thể Nó bao gồm một lượng nhất định các cá nhân liên kết lại trên cơ sởnhững nhu cầu, mục đích chung của các thành viên Tổ chức - đó là một kiểu liên kết xãhội được lập ra nhằm đạt những mục đích mà riêng từng cá nhân không thể đạt được Vìvậy, tổ chức, việc hình thành tổ chức là con đường chủ yếu để hiện thực hoá ý chí tập thể.Những yêu cầu hoạt động chung trên cơ sở đoàn kết những người có cùng lợi ích lại vớinhau là một động lực dẫn tới việc tạo ra những tổ chức khác nhau Kinh nghiệm thường
Trang 16ngày cho thấy, một thiểu số được tổ chức có cơ hội thành công hơn là một số đông khôngdược tổ chức Một tổ chức cho phép phối hợp hành động của nhiều cá nhân sẽ làm choviệc đạt mục đích trở nên dễ dàng hơn Vì vậy, tổ chức là một công cụ cơ bản để phốihợp ý chí và hành động tạo ra sức mạnh được luỹ thừa so với sức mạnh của các cá nhân.Diễn đạt sức mạnh to lớn do tổ chức mang lại trong quá trình cách mạng hoá hiện thực,Lênin nói rằng, hãy cho tôi một tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm đảo lộn nướcNga.
Như vậy, tổ chức - đó là một cơ cấu tập thể dựa trên những nhu cầu và mục đích chung nào đó, có sự phân công hoạt động bên trong ít nhiều rõ rệt và được hướng tới mục đích nhất định mà để đạt được mục đích ấy, nó phải phối hợp hoạt động của nhiều người.
Tổ chức do con người lập ra, con người là nhân tố chủ yếu cấu thành tổ chức Là sảnphẩm của con người, tổ chức, do đó, không thể không phụ thuộc vào con người, vàonhững đức tính và năng lực hoạt động của con người Song, đến lượt nó, khi bám rễ chặttrong cuộc sống, thì chính tổ chức quyết định lại con người Tổ chức, trong sự hoạt độngcủa nó, làm nảy nở ở con người những đặc tính nhất định, nó đào luyện con người Khảnăng và hiệu lực hoạt động của con người phụ thuộc vào tổ chức Tổ chức tạo ra chấtlượng mới Các Mác viết: “Hệt như sức chiến đấu của một đơn vị kỵ binh hoặc sức đềkháng của một tiểu đoàn bộ binh đều khác về bản chất với tổng số những sức mạnh cánhân của từng người kỵ binh hay của từng người chiến sĩ riêng lẻ, tổng số những sức cơgiới của từng công nhân riêng lẻ cũng khác với sức cơ giới được tạo ra khi họ làm việckết hợp và đồng thời với nhau trong cùng một công tác không thể phân chia Vấn đề là
Trang 17không những phải tăng sức sản xuất cá nhân lên, mà còn phải dùng phương pháp luậnhiệp tác để tạo một sức sản xuất mới, chỉ hoạt động như một tập thể” (1 - 2, tr 22, 23).Sức mạnh con người là ở tổ chức Chỉ có trong tổ chức và thông qua tổ chức, thông quaquan hệ với những người khác và với sự vật, con người mới hiểu được mình là gì vàmình có thể làm được những gì.
Con người từ khi thoát thai từ động vật sống trong các bộ lạc, bộ tộc mà ta gọi là chế
độ cộng sản nguyên thuỷ đã có những sở thích khác nhau, một số người thích đi hái quả,một số người thích đi săn bắn Như vậy ta có thể kết luận rằng, ngay trong chế độ cộngsản nguyên thuỷ, tổ chức xã hội sơ khai đã hình thành Khi xã hội phân chia thành giaicấp, quần chúng nhân dân lao động chịu đầy cảnh áp bức, bất công
Lịch sử xã hội loài người chỉ ra rằng, trong buổi đầu của các chế độ xã hội trướcCNXH, các giai cấp thống trị đều tranh thủ nhân dân và chúng cũng đáp ứng phần nàonhững nhu cầu của nhân dân Nhưng sau đó chúng không thể và không muốn thoả mãnnhững lợi ích chính đáng của đa số nhân dân Quần chúng nhân dân tự tập hợp lập ra các
tổ chức của mình để đấu tranh chống lại giai cấp thống trị, bóc lột Và tất nhiên theo tiếntrình lịch sử, tính chất xã hội của các tổ chức đó ngày càng tăng Hơn nữa, các tổ chức đóđấu tranh không chỉ đòi những quyền lợi trước mắt, mà còn muốn lật đổ chế độ cũ, xâydựng chế độ xã hội mới với những thiết chế chính trị tương ứng Điều đó nói lên tính chấtchính trị của các tổ chức đó
Trong các xã hội có giai cấp, bên cạnh những tổ chức theo đuổi những mục tiêu chínhtrị rõ rệt, cũng có các tổ chức phi chính trị
Khái niệm “tổ chức chính trị - xã hội” mới xuất hiện trong những năm gần đây Trongcác từ điển chưa nêu ra định nghĩa “tổ chức chính trị - xã hội” Việc đưa ra khái niệm này
Trang 18nhằm nhấn mạnh hai tính chất: tính chất chính trị và tính chất xã hội của các tổ chức quầnchúng và để phân biệt với các tổ chức quần chúng không mang tính chất chính trị.
Để có quan niệm chuẩn xác về khái niệm “tổ chức chính trị - xã hội”, trước hết phảihiểu chính trị là gì?
Liên quan đến đề tài luận án, khi tiếp cận với phạm trù “chính trị”, cần quán triệt bốnnguyên tắc phương pháp luận nền tảng: Một là, “chính trị là biểu hiện tập trung của kinhtế” (2 - 7, tr 349); hai là, “chính trị là quan hệ giữa các giai cấp” (2 - 8, tr 87 - 88); ba là,chính trị là sự tham gia của nhân dân vào những công việc của nhà nước; bốn là, chính trị
là mối quan hệ giữa các quốc gia
Vận dụng bốn nguyên tắc trên vào việc hiểu tính chất chính trị của một tổ chức dướichế độ XHCN, ta thấy, biểu hiện rõ nhất tính chính trị của các tổ chức do Đảng, Nhànước và nhân dân lao động nước ta lập ra là đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhânthông qua đội tiên phong chính trị của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiệnmục tiêu XHCN như là định hướng chỉ đạo của sự phát triển xã hội ở nước ta Điều đóquy định định hướng hoạt động, định hướng tổ chức của các tổ chức Dù có tập hợp rộngrãi đến đâu, dù phải thoả mãn nhu cầu và lợi ích đa dạng đến như thế nào của các tầnglớp nhân dân lao động, mọi hoạt động của các tổ chức phải phù hợp với lợi ích cơ bản vàlâu dài của dân tộc: tiến lên CNXH
Tính chính trị trong các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân còn có nghĩa, nó ra đờinhằm tập hợp, thu hút các bộ phận khác nhau trong cơ cấu xã hội tham gia vào công việcNhà nước; tham gia vào việc xây dựng, bảo vệ Nhà nước của nhân dân và vì nhân dân.Các tổ chức ấy kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi làm suy yếu các cơ quanquyền lực của nhân dân
Trang 19Là những loại hình tổ chức mang tính chất kép, ngoài tính chính trị như đã nêu trên,các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân còn mang tính quần chúng, tính xã hội rộngrãi của nó.
Biểu hiện rõ nhất của tính quần chúng là ở chỗ, các tổ chức đó là tổ chức tự nguyệncủa nhân dân, trước hết là nhân dân lao động trong các thành phần kinh tế Vì vậy, mọinội dung hoạt động của các tổ chức phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, từ lợi ích của đôngđảo nhân dân Mọi phương thức hoạt động phải thu hút được đông đảo nhân dân thamgia Nói cách khác, các tổ chức chính trị - xã hội phải từ nhân dân, vì nhân dân và donhân dân
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta có thể hiểu “tổ chức chính trị - xã hội”trong thời kỳ quá độ ở nước ta tổ chức hợp pháp, của những cộng động người trong cơcấu xã hội dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hoạt động Nólấy hoạt động chính trị - xã hội làm phương thức chủ yếu để tập hợp, giáo dục, tổ chứchành động của các thành viên và nhằm gây ảnh hưởng đối với quyền lực chính trị để bảo
vệ lợi ích chính đáng của các thành viên trong tổ chức phù hợp với việc thực hiện hoámục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”
Như bất kỳ một định nghĩa nào khác, định nghĩa vừa nêu về tổ chức chính trị - xã hộicủa nhân dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay cũng chỉ có thể kháiquát được những nội dung bản chất nhất Nó chỉ rõ nguồn gốc hình thành, nguyên tắc tổchức và hoạt động, mục tiêu chính trị - xã hội cơ bản của các tổ chức đó Tuy còn rấtnghèo nàn so với hiện thực được phản ánh, nhưng việc nắm vững ba nội dung cơ bản đó
đủ cho phép chúng ta phân biệt một tổ chức chính trị - xã hội với những tổ chức xã hộithuần tuý
Trang 20Trong quan niệm của chúng tôi, chỉ có những tổ chức thoả mãn nội dung cơ bản củađịnh nghĩa này mới là tổ chức chính trị - xã hội và là thành viên của hệ thống chính trịtrong thời kỳ quá độ hiện nay ở nước ta.
2 Những nhân tố chế định sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị
-xã hội
Các tổ chức chính trị - xã hội do con người lập ra Nhưng, sự ra đời, tồn tại và phát triểncủa chúng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, tự phát, không phải là sản phẩm duy ý chí của
cá nhân nào Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến những nhân tố chính chế định sự hình thành
và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội
a Sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trước hết được quy định bởi cơ cấu kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế.
Các tổ chức chính trị - xã hội là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Kiến trúcthượng tầng của xã hội do toàn bộ những quan hệ sản xuất - tức cơ sở hạ tầng - của xã hộiquy định Cơ sở kinh tế nào sẽ có kiến trúc thượng tầng ấy Do vậy, khi nghiên cứu các tổchức chính trị - xã hội đòi hỏi phải nghiên cứu trong tính quy định và chế ước của kinh tế.C.Mác đã từng nhấn mạnh: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả kiến trúc thượng tầng đồ sộcũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” (1-3, tr 439) Lợi ích và quyền lực chính trị của mộtgiai cấp, một tầng lớp, một nhóm xã hội, thậm chí của một cá nhân, xét đến cùng đều bị chiphối từ vị trí của nó trong nền kinh tế - sản xuất xã hội, trước hết trong chế độ sở hữu vàphân phối lợi ích vật chất Hoạt động chính trị và các tổ chức, thiết chế nhằm thực hiệnquyền lực chính trị hướng trước hết vào việc duy trì, bảo vệ lợi ích, quyền lực kinh tế Do
đó, cái tất yếu kinh tế trở thành lôgíc khách quan của mọi vận động chính trị Theo Lênin
“Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”, “là mối quan hệ giữa các giai cấp” Do vây,
Trang 21việc xác định đúng trạng thái hiện tồn của nền kinh tế, của cơ cấu thành phần kinh tế, của
cơ cấu kinh tế quốc dân, sự chín muồi của các nhân tố và tương ứng với nó, là sự chín muồicủa cơ cấu xã hội - giai cấp thực hiện là cơ sở để nghiên cứu các tổ chức chính trị - xã hộicủa nhân dân
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu còn tồn tại nhiều thành phần V.I.Lênin đã chỉrõ: “Trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh củaCNTB và CNXH” (2 - 8, tr 248).Các thành phần kinh tế này vốn thuộc về nhiều hìnhthái xã hội khác nhau, dựa trên nhiều quan hệ sản xuất với chế độ sở hữu khác nhau.Bản thân sự tồn tại của các thành phần kinh tế cũng mang tính quá độ Tính chất quá độcủa một thành phần kinh tế biểu hiện ở cả quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phânphối và cả ở sự tồn tại đan xen, liên kết của nó với các thành phần kinh tế khác trên cáclĩnh vực
Kinh tế hàng hoá nhỏ, cá thể được Nhà nước thừa nhận, hướng dẫn, giúp đỡ, được liên kếtvới các xí nghiệp quốc doanh và tập thể, được hướng vào con đường hợp tác bằng nhữnghình thức đa dạng và bước đi thích hợp từ thấp đến cao với những quy mô và trình độ phùhợp với từng ngành nghề, từng vùng kinh tế cụ thể
Kinh tế tư bản tư nhân mặc dù vẫn dựa trên sự bóc lột giá trị thặng dư, nhưng không cònhoàn toàn giống như dưới chế độ TBCN Trong điều kiện đi lên CNXH, đây là “một thứ chủnghĩa tư bản được giai cấp công nhân tự giác cho phép tồn tại và hạn chế” (2-9, tr 343, 344).Chủ nghĩa tư bản này, theo Lênin, không những không đáng sợ mà còn “đáng mong đợi” Nóchịu sự kiểm kê và kiểm soát của Nhà nước vô sản, thực hiện sự liên kết, liên doanh với cácthành phần kinh tế khác Cùng với tư bản tư nhân, tư bản nhà nước là một hình thức kinh tếquá độ có ý nghĩa trọng yếu trong việc chuyển nền kinh tế tiểu nông lên CNXH
Trang 22Bên cạnh những thành phần kinh tế tương đối thuần khiết đó, trong quá trình đổi mớikinh tế hiện nay ngày càng ra đời nhiều thành phần hỗn hợp hơn Đó là những cơ sở liêndoanh, liên kết giữa hai hay một số thành phần kinh tế trong nước với nhau hay giữatrong nước với nước ngoài.
Như vậy, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sự tồn tại khách quan của nhiều thành phầnkinh tế và sự đồng hành phát huy tác dụng của các thành phần giai cấp, các tầng lớp xãhội; thợ thủ công tập thể và cá thể; nông dân hợp tác xã và cá thể; trí thức và viên chức;tiểu chủ, tiểu thương và tư sản trong nước cũng như tư sản nước ngoài đang đầu tư vàoViệt Nam trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là một thực trạng kinh tế - xã hộikhách quan
Xét về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ, quá trình phát triển kinh tế và phân công laođộng xã hội, phân ngành trong sản xuất - kinh doanh ngày càng phong phú, đa dạng Điềunày tất yếu đưa đến sự đa dạng cơ cấu xã hội theo nghề nghiệp Ví dụ, giai cấp côngnhân, xét theo cơ cấu nghề nghiệp, có công nhân công nghiệp, công nhân nông nghiệp,công nhân dịch vụ Ngay công nhân công nghiệp cũng còn phân ra làm nhiều loại: côngnhân công nghiệp nặng, công nhân công nghiệp nhẹ Quá trình chuyên môn hoá và hiệnđại hoá càng cao, quá trình đa dạng hoá cơ cấu nghề nghiệp càng tăng
Cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu nền kinh tế còn quy định tính chất, bản chất của cácmối quan hệ xã hội khác như cơ cấu xã hội - dân số được hình thành một cách kháchquan trên cơ sở đặc trưng về giới tính và lứa tuổi Thuộc loại cơ cấu này có những cộngđồng xã hội mang tính đặc thù được gọi là cộng đồng xã hội nhân khẩu (thanh niên, phụ
nữ, người già, người về hưu, cựu chiến binh )
Trang 23Sự biến động của cơ cấu xã hội gắn liền và được quy định bởi sự biến động của cơ cấukinh tế, của cơ cấu thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế cạnh tranh nhau phát triển.
Từ đó dẫn đến cơ cấu xã hội biến động và phát triển trong mối quan hệ vừa đấu tranh,vừa liên minh; vừa có sự phân hoá, vừa có sự xích lại gần nhau Đấu tranh và liên minh lànhững quá trình tất yếu trong xã hội có giai cấp Trong thời kỳ quá độ, đấu tranh giai cấpkhông phải với mục đích chủ yếu là loại trừ nhau càng sớm càng tốt, mà là cùng giúpnhau phát triển lực lượng sản xuất theo đúng hướng, hoạt động sản xuất kinh doanh theođúng pháp luật, xây dựng tính cộng đồng, hữu ái, khắc phục khó khăn để xây dựngCNXH Trong quá trình đấu tranh và liên minh ấy, các giai cấp, các tầng lớp xã hội cần
có tổ chức của mình Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tổ chức chính trị - xã hội là
để đáp ứng yêu cầu đó Chính sự biến động không ngừng của các thành phần kinh tế và
cơ cấu kinh tế đã quy định tính chất “động” của các tổ chức chính trị - xã hội Sự biến đổicủa các tổ chức chính trị - xã hội phụ thuộc vào cơ sở kinh tế - xã hội Chẳng hạn, trướcĐại hội VI, giai cấp công nhân Việt Nam có tổ chức của mình là Tổng công đoàn ViệtNam Đại hội VI đã quyết định đổi tên thành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam Năm
1990, Luật công đoàn được ban hành có ghi rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hộirộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam”.Trước đây, trong cơchế quan liêu bao cấp, khái niệm công nhân đồng nhất với những người lao động côngnghiệp trong biên chế nhà nước Nay, trong cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh
tế khác nhau, Công đoàn phải thu hút vào mình tất cả những người lao động trong lĩnhvực hành chính sự nghiệp, công nghiệp, dịch vụ - bất luận họ thuộc thành phần kinh tếnào Từ đó, hình thức Công đoàn phải đổi mới Trong hệ thống Công đoàn Việt Nam đangxuất hiện hình thức nghiệp đoàn Vấn đề này có ý nghĩa rất lớn; nó chỉ ra rằng, không nên
Trang 24coi các tổ chức chính trị - xã hội là bất di, bất dịch Nó có thể phù hợp, phát huy tác dụngtrong điều kiện này, nhưng không thể tồn tại trong những điều kiện khác Nó là một phạmtrù “động” cả về hình thức thể hiện, chức năng và phương thức hoạt động (vấn đề này cònđược đề cập kỹ ở phần sau).
b Hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân cũng bị quy định bởi mục tiêu, chiến lược, sách lược cách mạng trong từng thời kỳ, bởi trạng thái của thiết chế chính trị và nền dân chủ.
Thích ứng với giai đoạn lấy mục tiêu chống đế quốc làm nhiệm vụ hàng đầu, chúng tathành lập ra các tổ chức phản đế của nhân dân (Mặt trận phản đế Đông Dương, Hội côngnhân phản đế, Đoàn thanh niên phản đế, ) Khi cần tập trung mọi lực lượng nhằm chĩamũi nhọn vào bọn phản động nhất trong đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, ta lập ra Mặt trậnbình dân, Mặt trận Liên Việt hoặc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có Mặttrận Tổ quốc ở miền Bắc, Mặt trận Dân tộc giải phóng và liên minh các lực lượng dântộc, dân chủ ở miền Nam, thậm chí có Đảng nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam
Đó là những hiện tượng mang tính sách lược cách mạng
Trong thời kỳ trước đổi mới, thích ứng với thiết chế chính trị mang tính tập trung tuyệtđối, quan liêu, dân chủ mang nặng tính hình thức là một hệ thống các tổ chức chính trị -
xã hội đơn điệu về hình thức; nghèo nàn về nội dung; quan hệ mệnh lệnh, hành chính hoátrong phương thức hoạt động
Khi thực hiện đổi mới hệ thống chính trị nhằm hình thành từng bước một thể chế dânchủ, hình thành và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, cả hình thức tổ chức, phương thứchoạt động, chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội cũng ngày càng phong phú, đadạng
Trang 25c Sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội còn bị quy định bởi trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhân dân.
Lênin đã từng nói: “Người mù chữ sẽ đứng ngoài chính trị”, và “chúng ta cần khoahọc kinh tế để không bị chết đói, cần chính trị để khỏi tự giết mình trước đó” Văn hoá làhiện tượng xã hội thể hiện năng lực của con người trong công cuộc chế ngự thiên nhiên,cải tạo xã hội và hoàn thiện bản thân mình Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật giúpnhân dân hiểu cần làm gì và làm như thế nào và để đạt mục tiêu đó, con người cần đượcliên kết lại thành những tổ chức ra sao, các tổ chức ấy hoạt động bằng phương tiện gì Như vậy, rõ ràng là cả hình thức tổ chức, phương thức và phương tiện hoạt động, nhữngmục tiêu của các tổ chức chính trị - xã hội cũng bị quy định một cách chặt chẽ bởi trình
độ văn hoá, khoa hoc kỹ thuật của xã hội
d Các tổ chức chính trị - xã hội ra đời và hoạt động còn bị quy định bởi tính chung về lợi ích phù hợp với giới tính và lứa tuổi cũng như vị trí xã hội cụ thể của các thành viên cấu thành tổ chức.
Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân vàkết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân Nhu cầu củathanh niên, phụ nữ, người già ngoài những điểm chung giống nhau, họ có những đòihỏi riêng về lợi ích, về nhu cầu Chẳng hạn, thanh niên cần việc làm, vui chơi, giải trí;phụ nữ cần sự bình đẳng với nam giới, cần có nhu cầu đảm bảo lợi ích trong nuôi, dạycon cái Chính là để đảm bảo lợi ích của họ, Đoàn thanh niên; Hội phụ nữ đã ra đời
e Hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cũng bị quy định bởi những mối quan hệ quốc tế hiện thực với tất cả tính đa dạng của nó.
Trang 26Chính trị, hệ thống chính trị nói chung và các tổ chức chính trị - xã hội nói riêng chịuảnh hưởng sâu sắc của mối quan hệ quốc tế Bởi lẽ “Chính trị là mối quan hệ giữa cácquốc gia” Liên quan đến điều vừa nêu, việc chú ý tới những quan hệ quốc tế hiện thựcvới tất cả tính đa dạng của nó cũng là cơ sở để hình thành các tổ chức chính trị - xã hộicủa quốc gia phù hợp với bối cảnh quốc tế.
Mỗi một quốc gia là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng thế giới Mặc dùcác nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, nhưng không thể tách biệt nhau Sự liênquan đến nhau không những trong hợp tác mà cả trong đấu tranh vì những lợi ích hai bêncùng quan tâm Chẳng hạn, để đấu tranh vì hoà bình, thế giới đã lập ra Hội đồng hoà bìnhthế giới Và ở nước ta tổ chức Uỷ ban bảo vệ hoà bình đã ra đời Hay thế giới có Hộisinh viên thế giới, nước ta cũng thành lập Hội sinh viên Việt Nam Trên thực tế, quátrình quốc tế hoá không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế mà trên tất cả các lĩnh vực, kể cảlĩnh vực tổ chức chính trị - xã hội
Trên đây là những nhân tố chính chế định sự hình thành và hoạt động của các tổ chứcchính trị - xã hội Mỗi người thường tồn tại trong nhiều quan hệ xã hội khác nhau vớinhững nhu cầu, khát vọng đa dạng của mình Do vậy, một người có thể tham gia vàonhiều tổ chức khác nhau
Các tổ chức do con người lập ra Nhưng để bảo đảm các tổ chức đó thật sự là tổchức quần chúng tự nguyện, chúng phải tuân theo những nguyên tắc tổ chức nhấtđịnh Nguyên tắc tổ chức xuất phát từ tính chất chính trị - xã hội của chúng đó là:
- Các tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức tự nguyện Sự ra đời, tồn tại và phát triển của
tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của một giai cấp, tầng lớp xã hội hay của
Trang 27nhóm người Đây là loại tổ chức phi chính phủ, nó không chấp nhận bất cứ một sự cưỡngbức nào
- Các tổ chức chính trị - xã hội phải tự chủ về tài chính để đảm bảo tính độc lập tương đốicủa chúng Nhưng trong điều kiện của thời kỳ qúa độ lên CNXH, một loạt tổ chức chính trị
- xã hội do Đảng hay Nhà nước lập ra không chỉ vì nhu cầu của các thành viên trong các tổchức đó, mà còn nhằm góp phần tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chủ trương, chínhsách của Nhà nước Do vậy, sự hỗ trợ kinh phí từ phía Đảng hay Nhà nước đối với các tổchức đó là cần thiết
- Các tổ chức chính trị - xã hội phải tự quản Sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý củaNhà nước đối với các tổ chức đó cũng chỉ nhằm nâng cao khả năng tự quản của chúng màthôi
3 Những chức năng cơ bản của các tổ chức chính trị - xã hội.
Mỗi tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ và chức năng riêng Dưới hình thức kháiquát nhất, chúng có những chức năng cơ bản sau:
a Các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tập hợp quần chúng nhân dân nhằm đấutranh và bảo vệ lợi ích chính đáng của thành viên trong tổ chức mình Đây là chức năng
cơ bản nhất của các tổ chức chính trị - xã hội
Thoát thai khỏi động vật, con người hoạt động có mục đích rõ ràng: nhằm thoả mãnmột nhu cầu, nhằm đạt một lợi ích nhất định Lợi ích vừa là mục đích của hoạt động, vừa
là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của con người Tham gia hoạt động trong một haynhiều tổ chức thích hợp luôn luôn là nhu cầu, là lợi ích của mỗi người Chính vì lợi íchcủa giai cấp mình, tầng lớp mình và của bản thân mỗi con người mà họ đã lập ra tổ chức
Trang 28của mình Đến lượt nó, các tổ chức đó phải chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng cho thànhviên của mình.
Mỗi con người sống và hoạt động trong một hoàn cảnh cụ thể Do vậy, nhu cầu lợi íchcủa mỗi con người, của mỗi tầng lớp, mỗi giai cấp ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời đạilịch sử là khác nhau Chẳng hạn, cùng dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng lúc đầu cuộcđấu tranh tập thể của công nhân chống bọn chủ đề giành được những điều kiện có lợi choviệc bán sức lao động, để cải thiện tình cảnh vật chất của mình tất yếu là cuộc đấu tranhtheo nghề nghiệp Các tổ chức nghiệp đoàn ra đời
Sự xuất hiện các công đoàn trong các nước tư bản chủ nghĩa châu Âu và châu Mỹ gắnliền với sự xuất hiện giai cấp vô sản công nghiệp, với bước đầu của cuộc đấu tranh giaicấp của giai cấp đó chống lại giai cấp tư sản xảy ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Lúc bấy giờ, các công đoàn nhằm mục tiêu tương trợ Dần dần chức năng của công đoànđược mở rộng, các công đoàn ngày càng trở thành những tổ chức ổn định hơn, vững chắchơn Những tổ chức liên hiệp toàn quốc theo ngành và theo nghề bắt đầu xuất hiện, tiếptheo là sự xuất hiện những trung tâm công đoàn toàn quốc đầu tiên Hiện nay, trong cácnước tư bản phát triển, của công đoàn đã đạt được những thắng lợi nhất định trong việccải thiện tình cảnh kinh tế của những người lao động Ở nhiều nước, tuần lễ lao độngđược rút ngắn, thời gian nghỉ phép có lương được kéo dài Các công đoàn hiện đanghoạt động tích cực trong lĩnh vực chính trị, ngày càng kiên quyết đấu tranh bảo vệ dânchủ, hoà bình, bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc
Khi giai cấp công nhân đã nắm chính quyền, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiếtgiai cấp công nhân phải tổ chức ra công đoàn Công đoàn là trợ thủ của Đảng cộng sản; làbánh xe răng cưa nối liền Đảng và Nhà nước; là trường học quản lý các công việc nhà
Trang 29nước và xã hội Đồng thời, Lênin nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống lại sự hà lạm củanhà nước vô sản đối với lợi ích của giai cấp công nhân như là một bộ phận cấu thànhnhiệm vụ của công đoàn.
Lênin cũng chỉ ra sự cần thiết của việc thanh niên, phụ nữ phải tổ chức ra các đoàn thể củamình để quy tụ sức mạnh của quần chúng theo lứa tuổi, giới tính nhằm phát huy vai trò của
họ trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, của Nhà nước và đấu tranh bảo vệ lợi ích chínhđáng của các thành viên trong tổ chức của mình
Như vậy, chức năng cơ bản của các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân là đấu tranhbảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên trong tổ chức mình Chẳng hạn, khi đề cậptới vai trò và nhiệm vụ của công đoàn, Lênin viết: “Nhiệm vụ chủ yếu của công đoàn làbảo vệ lợi ích của quần chúng lao động, theo nghĩa trực tiếp nhất và chính xác nhất của từđó” (2 - 7, tr 427)
Khi thực hiện chức năng này, điều quan trọng là không phải bằng những lời nói mĩmiều, bằng khẩu hiệu, mà phải đem lại quyền lợi thiết thân cho các thành viên Nếukhông bảo đảm lợi ích chính đáng của thành viên tất yếu các thành viên sẽ thờ ơ, lãnhđạo, xa lánh các tổ chức đó
Lợi ích của quần chúng thể hiện ở nhiều mặt, có lợi ích vật chất, có lợi ích tinh thần; cólợi ích của từng người, từng tầng lớp, từng tập thể, từng địa phương, từng đơn vị và cảnước; có lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Trong mối quan hệ đa dạng, phức tạp củalợi ích, phải thấy lợi ích trực tiếp của cá nhân người lao động là động lực mạnh nhất, làmối quan tâm thường xuyên của mối người Các tổ chức chính trị - xã hội phải quan tâmtới tất cả những lợi ích đó của thành viên thuộc tổ chức mình
Trang 30Tham gia hoạt động trong một hoặc nhiều tổ chức thích hợp luôn luôn là nhu cầu, là lợiích của mỗi người, đồng thời cũng là nhu cầu và lợi ích của cách mạng Do vậy, các tổchức chính trị - xã hội của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH có trách nhiệm thựchiện tốt chức năng bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên Thể hiện chức năng đó,Báo cáo tình hình nhiệm vụ tại Đại hội VI của Công đoàn Việt Nam đã xem việc bảo vệlợi ích người lao động là chức năng cơ bản và hàng đầu của công đoàn Thực tế cuộcsống đã xác nhận tính đúng đắn của quan điểm đó Sau này Nghị quyết 8b của Ban chấphành Trung ương ĐCSVN (khoá VI) về đổi mới công tác quần chúng và Hội nghị lần thứ
5 BCH Tổng công đoàn (tháng 4 - 1990), tiếp đó là Luật công đoàn mới đã đưa chứcnăng “bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động” lên số một trong hệ thống ba chứcnăng
b Khi nói đến chính trị không thể không nói đến chủ thể quyền lực chính trị và tươngquan giữa các chủ thể đó (bao gồm các giai cấp, tập đoàn, các lực lượng, nhóm và các cánhân ) Các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong thành phần chủ thể của hệ thống chínhtrị, tham gia vào đời sống chính trị của đất nước Giữa các chủ thể này có quan hệ và tácđộng lẫn nhau xoay quanh lợi ích và quyền lực chính trị; chúng được biểu hiện trong hoạtđộng chính trị với các sắc thái mâu thuẫn, xung đột, đấu tranh, thoả hiệp, liên minh, hợptác và phân hoá Tham gia vào đời sống chính trị hoặc tự giác, có tổ chức; hoặc tự phát vàphân tán là các giai cấp, các nhóm, tầng lớp; là các đảng phái, nhà nước, các lực lượng vàcác cá nhân Cơ sở xã hội của đời sống chính trị là số đông quần chúng mà bất cứ mộtlực lượng nào đang ở vị trí trung tâm của đời sống chính trị đều phải tranh thủ với nhữngđộng cơ, mục đích khác nhau
Trang 31Chức năng này của các tổ chức chính trị - xã hội thể hiện rõ nhất trong điều kiện củaCNXH Thật vậy, sau khi lật đổ chế độ cũ, quần chúng nhân dân lao động đã trở thànhchủ nhân của đất nước, cùng nhau xây dựng chế độ xã hội của mình Cách mạng XHCN
là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất trong lịch sử Cách mạng XHCN có mụctiêu xoá bỏ mọi sự tha hoá do chế độ chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất sinh ra
để tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự phát triển tự do và toàn diện của con người.Muốn vậy, điều kiện tiên quyết là giai cấp công nhân phải được tổ chức thành chínhđảng tiên phong của mình Đó là Đảng Cộng sản Chỉ có Đảng Cộng sản được vũ trangbằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phản ánh đúng đắn những quy luật phát triểnkhách quan của xã hội mới có thể đưa ra đường lối cách mạng mang tính khoa học Dựatrên đường lối đúng đắn đó, phong trào công nhân sẽ thực hiện được sự chuyển hoá từ tựphát sang tự giác - một yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của CNXH
Nhưng chỉ riêng một mình đội tiên phong không thể thực hiện việc chuyển lên CNCS.Lênin chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quầnchúng nhân dân” (2-5, tr 64) CNXH không chỉ là xã hội vì con người, mà còn là xã hội
do con người Theo nghĩa đó, cùng với sự ra đời của Đảng cộng sản, việc nâng cao tínhchủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định đốivới thắng lợi của CNXH
Trong thời kỳ cách mạng XHCN, vai trò quần chúng nhân dân với tư cách là lực lượngchủ yếu sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, là động lực của cách mạng vẫnkhông giảm đi, trái lại, ngày càng tăng lên
Trong khi thực hiện quyền lực, bên cạnh việc tổ chức thành Nhà nước nhân dân lao độngcòn sử dụng các tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi không thuộc nhà nước Các tổ chức ấy có
Trang 32chức năng là tham gia quản lý xã hội, tham gia các cộng việc nhà nước, giải quyết các vấn đềkinh tế - xã hội và văn hoá xã hội phù hợp với luật pháp và điều lệ của từng tổ chức Lêninchỉ rõ: “Hoàn toàn cần thiết phát triển, mở rộng, tăng cường các công đoàn tham gia quản
lý sản xuất” (2-7, tr 42) Hoặc khi nói về phụ nữ, Lênin chỉ rõ: “Không thể thu hút đượcquần chúng tham gia chính trị, nếu không lôi cuốn phụ nữ tham gia chính trị” (2 - 7, tr.463)
Ở đây cũng cần nói thêm rằng, mỗi quốc gia đều có chính sách đối nội và chính sáchđối ngoại của mình Chính vì thế, các tổ chức chính trị - xã hội còn có chức năng tích cựctham gia vào việc hình thành chính sách đối ngoại, đoàn kết với các lực lượng và tổ chứcquốc tế hoạt động vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.Trên phạm vi toàn cầu, các giai cấp tương ứng của mỗi quốc gia có những địa vị kinh tế,chính trị, xã hội mang những đặc điểm chung Họ dễ đồng tình ủng hộ lẫn nhau Ngàynay khi cách mạng khoa học - kỹ thuật càng phát triển, thông tin mở rộng, hiện tượngquốc tế hoá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ngày nay phổ biến, các tổ chức chínhtrị - xã hội tương ứng của mỗi nước ngày càng xích lại gần nhau, giúp đỡ nhau, ủng hộnhau là vấn đề có tính quy luật Hầu hết các tổ chức chính trị - xã hội có tổ chức quốc tếcủa mình Và các tổ chức này ngày càng có vai trò quan trọng đối với các sự kiện chínhtrị quốc tế, khu vực và của mỗi quốc gia
Các nhà tư tưởng tư sản và các nhà hoạt động xã hội theo xu hướng cải lương, cơ hộitrước đây cũng như hiện nay bao giờ cũng cho rằng, các tổ chức xã hội của nhân dân cầnphải trở thành những tổ chức “không đảng phái”, “độc lập” với ảnh hưởng và sự lãnh đạocủa đảng Thực tế chính trị ở tất cả các nước thuộc những thể chế chính trị khác nhau đãlàm bộc lộ rõ tính chất lừa bịp, mị dân của họ Đảng chính trị là một trong những công cụ
Trang 33quan trọng nhất mà nhờ đó giai cấp (hay một tầng lớp riêng của nó) đấu tranh cho lợi íchcủa mình Khác với các giai cấp đã xuất hiện một cách tự phát, các đảng chính trị do conngười lập ra và hoạt động một cách tự giác để đạt đến mục đích nhất định Đảng chính trịbao giờ cũng theo đuổi mục đích giành hoặc củng cố quyền lực chính trị, cố gắng giànhảnh hưởng lãnh đạo đối với đời sống chính trị và các tổ chức xã hội, ra sức giành và giữvững chính quyền để thực hiện đường lối của mình Do vậy, các tổ chức chính trị - xã hộicủa nhân dân bao giờ cũng chịu ảnh hưởng chính trị của đảng này hay đảng khác và gópphần vào việc thực hiện một chính sách nhất định.
c Các tổ chức chính trị - xã hội còn có chức năng giáo dục, nâng cao trình độ mọi mặtcủa đoàn viên, hội viên và nhân dân
Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử Do vậy, việc nâng cao trình độ dântrí là một nhiệm vụ tất yếu của bất cứ chế độ xã hội nào muốn phát triển đi lên Với nghĩa
đó, các tổ chức phải quan tâm tới việc nâng cao trình độ dân trí đặc biệt trong thời đạicách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, đòi hỏi đó càng trở nên cấp bách Ở đây, chỉxin đề cập đến chức năng giáo dục của các tổ chức chính trị - xã hội đối với các đoànviên, hội viên của mình
Chúng ta đã biết, tổ chức do con người tạo nên và bao gồm những con người Tổ chứcmạnh khi từng con người mạnh, từng người mạnh thì tổ chức mạnh Các tổ chức chính trị
- xã hội do nhân dân lập ra và hoạt động vì dân Để các tổ chức hoạt động có hiệu quả, tấtyếu mọi thành viên cấu thành nó phải ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình Các
tổ chức chính trị - xã hội mạnh là do ý thức giác ngộ của quần chúng Các tổ chức chínhtrị - xã hội mạnh khi nào quần chúng hiểu mọi việc, có thể suy xét về mọi việc, hoặc làmmọi việc nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội một cách có ý thức Do vậy, một chức năng
Trang 34không thể thiếu được của các tổ chức chính trị - xã hội là giáo dục nâng cao trình độ mọimặt cho đoàn viên, hội viên Chức năng này tăng lên trong điều kiện cách mạng XHCN -một cuộc cách mạng đòi hỏi tính tích cực, chủ động, sáng tạo cao từ phía đội tiên phongcũng như bản thân quần chúng.
Ba chức năng trên có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau Chúng takhông thể coi nhẹ chức năng nào Tuỳ theo tính chất và đặc điểm của từng tổ chức,tuỳ theo từng điều kiện lịch sử cụ thể, một chức năng nào đó trong ba chức năng vừanêu được xem là cơ bản nhất Trong nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường ởnước ta hiện nay thì lợi ích vật chất là động lực trực tiếp Vì vậy, công tác vận động,
tổ chức phong trào quần chúng phải nhằm chăm lo bảo vệ lợi ích thiết thân của nhândân Từ đó mà thực hiện được sự kết hợp hài hoà các lợi ích; gắn quyền lợi với nghĩa
vụ công dân; bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất của con người mới
4 Cơ sở phân loại các tổ chức chính trị - xã hội.
Hiện nay, trong phạm vi một quốc gia cũng như trên toàn thế giới, các tổ chức xã hội củanhân dân phát triển mạnh mẽ Ngoài những tổ chức có tính truyền thống, ngày càng xuấthiện nhiều tổ chức mới ứng với các loại hình tổ chức khác nhau cần có phương thức tổchức, hoạt động và lãnh đạo khác nhau Do vậy, việc phân loại các tổ chức chính trị - xãhội là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng
Để việc phân loại có kết quả, cần xuất phát từ những cơ sở nhất định
a Căn cứ vào cơ sở kinh tế - xã hội của các tổ chức.
Theo quan điểm mác xít, kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị,pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật với những thể chế tương ứng với nó
Trang 35như nhà nước, đảng phái, các tổ chức tôn giáo, các đoàn thể chính trị, xã hội được hìnhthành và phát triển trên cơ sở kinh tế Như vậy, các tổ chức chính trị - xã hội cũng do cơ
sở kinh tế quy định Sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần đã quy định một cơ cấu
xã hội giai cấp đa dạng và phức tạp Trong thời kỳ quá độ lên CNXH không phải chỉ cógiai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức mà có những giai cấp khác liên quanđến người sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế cá thể, tư nhân
Các giai tầng xã hội có quan hệ với các thành phần kinh tế, nhưng không phải tươngứng với mỗi thành phần kinh tế có một giai cấp xã hội Tuy nhiên, mỗi thành phần kinh
tế vẫn có một tập đoàn xã hội hay một giai cấp nhất định tiêu biểu cho nó Một giai cấphay một tập đoàn xã hội lại thường có tổ chức chính trị - xã hội của mình để đấu tranhbảo vệ lợi ích của họ Tương ứng với thành phần kinh tế chủ đạo là giai cấp chủ đạo và
tổ chức chính trị - xã hội chiếm vị trí nòng cốt Chính vì thế, tổ chức Công đoàn, Hộinông dân phải là những tổ chức nòng cốt trong hệ thống các tổ chức chính trị - xã hộitrong thời kỳ quá độ lên CNXH
b Dựa trên tính chất của các tổ chức đó.
Tính chất của các tổ chức chính trị - xã hội trước hết liên quan đến nội dung giai cấpcủa các tổ chức đó Bởi vì, nói đến tính chất của một tổ chức chính trị - xã hội trước hếtphải nói đến nó là tổ chức của ai, vì ai, phục vụ ai? Nó là tổ chức của giai cấp thống trị,bóc lột hay là của nhân dân lao động? Ở đây cũng cần lưu ý: có tổ chức của nhân dân laođộng nhưng đã bị lũng đoạn, tha hoá nhằm phục vụ cho bọn phản động Trong thực tếcách mạng nước ta và cách mạng thế giới không ít tổ chức mang danh của nhân dânnhưng thực chất đã phản lại sự nghiệp của nhân dân Ở Ba Lan cuối những năm 80 củathế kỷ này, giai cấp công nhân và tổ chức của nó là công đoàn đã trở thành một tổ chức
Trang 36chính trị như là một đảng đủ sức lật đổ cả một chế độ xã hội do Đảng cộng sản lãnh đạo
để giành lấy chính quyền
c Khi phân loại còn cần chú ý tới tính tích cực xã hội của nó.
Theo nghĩa rộng, tính tích cực xã hội bao hàm những hoạt động có ích về mặt xã hội của con người trong tất cả mọi lĩnh vực sinh hoạt của xã hội: kinh tế, xã hội, chính trị vàtinh thần Theo nghĩa hẹp, người ta dùng thuật ngữ “tính tích cực xã hội” khi nói về “tínhtích cực xã hội và chính trị” trong lĩnh vực xã hội Trong xã hội có giai cấp đối kháng,tính tích cực xã hội theo nghĩa hẹp là những biểu hiện của sự hoạt động có ích về mặt xãhội nhằm củng cố sự thống nhất, sự cố kết của một cộng đồng xã hội nhất định Tính tíchcực của giai cấp thống trị và tầng lớp thống trị là nhằm duy trì và củng cố quyền lực củamình trong xã hội và những trật tự hiện hành Nó biểu lộ trong hoạt động của các tổ chức,các phong trào chính trị và xã hội hết sức khác nhau (từ những tổ chức và phong trào cực
kỳ phản động kiểu phát xít và tương tự, cho đến những tổ chức và phong trào tự do chủnghĩa, từ thiện) Tính tích cực xã hội của giai cấp công nhân và của các giai cấp và cáctầng lớp bị áp bức khác là nhằm đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng của mình CNXH đã tạo ra những khả năng tích cực xã hội của con người phát triển trước hếttrong lĩnh vực chủ yếu nhất - trong lao động Đồng thời, CNXH cũng tạo địa bàn rộnglớn cho sự nảy nở của tính tích cực xã hội trong hoạt động văn hoá (vì mọi giá trị tinhthần đều phục vụ quần chúng lao động) cũng như trong mọi lĩnh vực khác của đời sống
xã hội Tính tích cực xã hội của tất cả mọi người có một khuynh hướng thống nhất về cơbản, phù hợp với lợi ích của toàn thể xã hội với tư cách là một chỉnh thể Nói cách khác,tính tích cực xã hội đó chỉ có thể nhằm củng cố và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội với tưcách là một chế độ xã hội
Trang 37d Cơ sở thứ tư để phân loại các tổ chức chính trị - xã hội là căn cứ vào tôn chỉ, mục đích của các tổ chức đó Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mục đích các tổ chức của
giai cấp và tầng lớp thống trị là bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai cấp thống trị, bóc lột,các tổ chức tiến bộ của nhân dân lao động nhằm chống lại chính sách phản động của bọnbóc lột đang thống trị, đòi quyền lợi cho mình (tất nhiên là cả quyền lợi chính trị, kinh tế,văn hoá )
Dưới CNXH, các tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức của dân, phấn đấu chodân, bênh vực quyền lợi của dân; tham gia vào quá trình quản lý xã hội và nhà nước; chịu
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản nhằm xây dựng và bảo vệ chính quyền Nhà nước, gópphần đắc lực vào việc xây dựng chế độ XHCN; đấu tranh chống lại những phần tử phảnđộng, lạc hậu Tất nhiên, mục đích đó có góc độ khác nhau ứng với các tổ chức khácnhau
Dựa vào căn cứ trên, đến nay, các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta có thể được phânloại như sau:
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam vớicác đoàn thể nhân dân, các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dântộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện khối đại đoàn kết dântộc Mặt trận là cơ sở chính trị xã hội của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản ViệtNam là người lãnh đạo Mặt trận, đồng thời cũng là thành viên của Mặt trận
+ Các tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; Hộinông dân Việt Nam; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội liên hiệp phụ nữViệt Nam; Đội thiếu niên, Nhi đồng tiền phong Hồ Chí Minh; Hội cựu chiến binhViệt Nam Các tổ chức mang tính chính trị xã hội rõ rệt Đó là các tổ chức của từng
Trang 38giai cấp và của các bộ phận khác nhau trong nhân dân lao động do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo; là người đại diện cho lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân laođộng tham gia quản lý nhà nước và xã hội; là trường học XHCN của đoàn viên và hộiviên và là nòng cốt của phong trào quần chúng.
+ Một số hội nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác có liên quan trực tiếp hay giántiếp tới chính trị
Như đã được đề cập trong phần trên, không phải tất cả các hội và các tổ chức xã hộiđều nằm trong hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội Chỉ có những hội nào, tổ chức nàomang sắc thái chính trị ít nhiều rõ rệt Chẳng hạn, các hội khoa học - kỹ thuật, văn họcnghệ thuật, kinh tế, luật học là những tổ chức chính trị - xã hội Các hội nghề nghiệp tậphợp những người lao động chân tay và trí óc để giáo dục, vận động họ tham gia tích cựcvào các phong trào hành động cách mạng, hăng hái đưa nghị quyết của Đảng vào cuộcsống Hội nghề nghiệp góp phần thực hiện chiến lược vượt qua tình trạng nước nghèo vàkém phát triển, từng bước thực hiện dân giàu nứơc mạnh, văn minh, hiện đại Các hộinghề nghiệp góp phần to lớn trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng không ngừng trình độnghiệp vụ cho hội viên và bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ
Các hội hữu nghị với tư cách là những tổ chức phi chính phủ tham gia hợp tác với các
tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới về khoa học, công nghệ; về kinh tế - xã hội; vềvăn học nghệ thuật; về hữu nghị sẽ góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế, văn hoá của đấtnước và đáp ứng yêu cầu hoà nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta
II Thực trạng và vấn đề của các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta.
1 Sự ra đời và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tiến trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 39* Sự ra đời của các tổ chức chính trị - xã hội.
Nước ta hơn một nghìn năm đã từng bị phong kiến bên ngoài xâm lược Sự nghiệp vẻ vangcủa Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung trongcuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Nhưng dướicác chế độ phong kiến suy tàn, do tính chất phản dân của nó, vai trò của quần chúng bị giaicấp phong kiến cố tình làm lu mờ đi
Các triều đại phong kiến liên tiếp đổi thay; chính quần chúng là người quyết định sựbiến đổi ấy, nhưng cuối cùng họ vẫn bị áp bức, bị khinh rẻ, bị coi là những kẻ ngu đần.Trong thời gian nước ta bị đế quốc Pháp xâm lược, nhiều nhà ái quốc Việt Nam cũng
đã kêu gọi quần chúng đứng lên chống Pháp giành độc lập, nhưng phần lớn trong số họkhông hiểu rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp của chính quần chúng nhândân
Thấm nhuần sâu sắc những bài học kinh nghiệm của hàng ngàn năm đấu tranh dựngnước và giữ nước, xuất phát từ khát vọng đấu tranh cho độc lập dân tộc mà Nguyễn áiQuốc đã sớm nhận thức đúng đắn vai trò quyết định của nhân dân trong sự nghiệp cáchmạng lớn lao làm thay đổi căn bản tính chất chế độ xã hội để đi tới giải phóng con người.Ngay từ những ngày đầu, sau khi tìm thấy ở cách mạng vô sản như là giải pháp duy nhất
có thể có để thực hiện triệt để lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng con người,Nguyễn ái Quốc đã kiên quyết khẳng định rằng, sự nghiệp giải phóng nhân dân chỉ có thể
do bản thân nhân dân thực hiện
Có được nhận thức đúng đắn đó, một phần rất quan trọng là do Người thấy rõ tiềmnăng cách mạng to lớn của nhân dân ta nói riêng, của nhân dân Đông Dương nói chung
dù họ đã và đang bị đế quốc và phong kiến tìm mọi cách làm tê liệt tinh thần cách mạng
Trang 40ấy Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã khẳngđịnh: “không! người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi.
Sự đầu độc có hệ thống của bọn thực dân không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng củangười Đông Dương” (3 -1, tr 9) Theo Người, muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, một
là, phải dựa vào quần chúng nhân dân, nhất là công nhân, nông dân; hai là, phải có mộtđảng tiên phong theo chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo
Bởi vậy, Người đã thúc đẩy việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta qualớp thanh niên được giác ngộ dân tộc và giai cấp Từ một nhóm bí mật chín người, chỉtrong hơn bốn tháng (đến tháng 6 năm 1925) Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồngchí đã chính thức tuyên bố thành lập và bắt đầu mở rộng các hoạt động Sự kiện đó đã mở
ra một bước ngoặt quan trọng trong phong trào yêu nước của nhân dân Từ đây phongtrào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phong trào đấu tranh của quần chúngcông nông và thanh niên, học sinh đã phát triển lên một bước mới dưới sự lãnh đạo củaHội thanh niên cách mạng đồng chí
Sự phát triển của phong trào công nhân trong những năm 1928 - 1929 đòi hỏi cấp báchphải có một Đảng cộng sản mới có sức tập hợp, tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân
và các lực lượng yêu nước tiến bộ để đưa cách mạng Việt nam tiến lên những bước mới.Trong tình hình đó, những phần tử tiên tiến trong Hội Việt Nam thanh niên cách mạngđồng chí đã lần lượt hình thành nên hai tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng và
An Nam cộng sản Đảng Ở Trung Kỳ có Đông Dương cộng sản liên đoàn Ngày 03 02
-1930, ba tổ chức cộng sản đã thống nhất thành một Đảng cộng sản duy nhất - Đảng Cộngsản Việt Nam