Trong nhóm ngành ứng dụng này nổi bật các ngànhđào tạo Báo chí – Truyền thông, Quan hệ quốc tế được xã hội đặc đặc biệt coi trọng trong xuhướng đất nước đang phát triển mạnh và xã hội đa
Trang 1ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV
PGS.TS Võ Văn Sen
TS Nguyễn Ngoc ThơTrường Đại học KHXH&NVVới mục tiêu xây dựng thành một đại học định hướng nghiên cứu vào năm 2020,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh đã và đangđầu tư nhiều công sức trong việc kiến lập những nền tảng quan trọng cho chiến lược đào tạo vànghiên cứu gắn với phát triển cộng đồng, lấy nhu cầu và mục tiêu cộng đồng làm nền tảng và
là động lực để phát triển Bài viết này đi từ thực trạng và các thành tựu tiêu biểu nhất trong đàotạo và NCKH tại nhà trường trong 5 năm vừa qua đến triển vọng phát triển đến năm 2020 tầmnhìn 2030, qua đó cũng xác định những thuận lợi và khó khăn do môi trường đại học mangđến
1 THỰC TRẠNG VÀ THÀNH TỰU ĐÀO TẠO PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
a Là một trường đại học công lập thuộc hệ thống ĐHQG-HCM, và với lịch sử gần 60năm, Trường ĐHKHXH&NV đã từ lâu trở thành một trong hai trường đại học hàng đầu củaViệt Nam trong lĩnh vực KHXH&NV Trường đã trở thành sự lựa chọn hàng đầu của học sinhsinh viên khối KHXH, KHNV trong suốt mấy chục năm qua, là chiếc nôi đào tạo của rất nhiềunhân tài trong xã hội thuộc tất cả các lĩnh vực xã hội trên cả nước Tính riêng từ sau năm 1975cho đến nay, nhà trường đã đào tạo sinh viên có nguồn gốc từ 64 tỉnh thành trong cả nước vàsinh viên học, học viên nước ngoài từ 73 quốc gia/khu vực trên thế giới Cho đến thời điển hiệntại (năm 2014), Nhà trường đang triển khai đào 27 ngành, phân thành 58 chuyên ngành cấp đạihọc thuộc 28 khoa/bộ môn trực thuộc Trường; tổng cộng 39 chương trình đào tạo Sau đại học,trong đó có 26 chương trình thạc sĩ và 13 chương trình tiến sĩ
Trong lĩnh vực đào tạo cử nhân, có thể phân thành ba nhóm ngành gồm:
• Nhóm các ngành khoa học xã hội cơ bản (gọi tắt là nhóm KHXH cơ bản) bao gồm haitiểu nhóm truyền thống (Văn học, Ngôn ngữ, Lịch sử, Địa lý, Triết học) và tiểu nhóm cácngành mới (Nhân học, Xã hội học, Giáo dục, Tâm lý học, Văn hóa học) Đây là nhóm cácngành có truyền thống lâu đời hoặc là các ngành đang thu hút sự chú ý cao của cộng đồng (đặc
Trang 2biệt là mảng Sau Đại học), đã và đang đóng góp quan trọng trong việc định hình và duy trìdanh tiếng của Trường ĐHKHXH&NV đối với cộng đồng.
• Nhóm các ngành khoa học xã hội ứng dụng (nhóm KHXH ứng dụng), bao gồm cácngành Báo chí-truyền thông, Công tác xã hội, Du lịch, Lưu trữ-Quản trị văn phòng, Quan hệquốc tế, Thư viện –Thông tin, Đô thị học Trong nhóm ngành ứng dụng này nổi bật các ngànhđào tạo (Báo chí – Truyền thông, Quan hệ quốc tế) được xã hội đặc đặc biệt coi trọng trong xuhướng đất nước đang phát triển mạnh và xã hội đang hòa nhập chung với dòng chảy chung củathế giới; hoặc là ngành đào tạo mới có triển vọng phát triển cao và hiện đang là “đặc sản” của
cả nước (Đô thị học); Lực lượng chuyên gia, giảng viên của nhóm ngành này đang được tíchcực đào tạo ở trong và ngoài nước, một bộ phận không nhỏ đã hoàn thiện học tập và đang đónggóp quan trọng cho công tác đào tạo Nhóm ngành này đã liên tục giữ “quán quân” về điểm thituyển đầu vào của cả trường (Báo chí – Truyền thông, Quan hệ quốc tế, Tâm lý học )
• Nhóm các ngành ngữ văn nước ngoài và khu vực học, bao gồm Ngữ văn (NV) Anh,
NV Pháp, NV Đức, NV Nga, NV Trung Quốc, NV Ý, NV Tây Ban Nha, Đông phương học,Nhật Bản học, Hàn Quốc học, Việt Nam học Nhóm này có thể phân thành các ngành truyềnthống (NV Anh, NV Pháp, NV Nga) và nhóm các ngành được thành lập từ khoảng trên dưới
20 năm trở lại đây (NV Trung Quốc, NV Ý, NV Tây Ban Nha, Đông phương học, Nhật Bảnhọc, Hàn Quốc học, Việt Nam học) Nhóm ngành này thu hút số lượng đông đảo sinh viên dotính chất đáp ứng cầu nhân lực của xã hội thời mở cửa và phát triển mạnh của hội nhập quốc tế.Yếu tố hiểu biết văn hóa, xã hội và ngôn ngữ khu vực và thế giới hiện đang là thế mạnh củanhóm ngành này
Do nhu cầu cấp thiết của cộng đồng xã hội, Trường ĐHKHXH&NV hiện đang triển khaiđào tạo cả hai loại hình đào tạo chính quy và hệ vừa làm vừa học (VLVH) Trong ba năm(2012, 2013 và 2014), Nhà trường đã tiếp nhận 8.677 sinh viên hệ chính quy và gần 5.350 sinhviên hệ VLVH; trong khi đó Nhà trường đã cấp bằng tốt nghiệp cho hơn 7.163 cử nhân đãhoàn thành chương trình đào tạo chính quy, gần 5.000 cử nhân hệ VLVH Đối với hệ đào tạoVLVH, Nhà trường đã mở một số lớp đào tạo ở khắp các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộtheo nhu cầu chuẩn hóa kiến thức khối cán bộ - viên chức địa phương Trong số 5.345 sinhviên hệ VLVH có 3.943 người tại các địa bàn Tp HCM và 1.402 người học ở các tỉnh thànhphía Nam
Bảng 1: Số lượng SV nhập học và tốt nghiệp trong các năm 2012, 2013 và 2014:
Loại hình Nhập học/
Tốt nghiệp
Trang 3Trong lĩnh vực đào tạo Sau Đại học, trong 5 năm gần nhất (2010 – 2014) Nhà trường đãtrực tiếp đào tạo 974 học viên Cao học có nơi sinh tại các tỉnh phía Nam và 204 học viên cónơi sinh tại các tỉnh phía Bắc nhưng đang công tác tại phía Nam Bên cạnh đó, từ năm 2008đến nay Nhà trường đã và đang đào tạo 359 nghiên cứu sinh đang là cán bộ, viên chức, giảngviên các trường đại học, cao đẳng, các cơ quan ban ngành của khu vực phía Nam.
Bảng 3: Số lượng học viên cao học đang công tác tại khu vực phía Nam đã và đang được đào tạo tại Trường ĐHKHXH&NV
Trang 4tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và Nhànước hiện đang phát huy rất tốt năng lực tư duy và tri thức được đào tạo nền tảng tại Nhàtrường Nhiều cán bộ khác hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy chính trị,đoàn thể và các tổ chức xã hội tại các địa phương (cấp tỉnh/thành trở xuống) cũng như trong hệthống các trường, viện từ trung ương đến địa phương
Trường ĐHKHXH&NV là một trong những đơn vị có mạng lưới cựu sinh viên rộng rãi vàhoạt động có hiệu quả Với tính đặc thù là lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, các cử nhânhay thạc sĩ, tiến sĩ do Nhà trường đào tạo ra thường công tác nhiều hơn ở các cơ quan, tổ chứcvăn hóa, xã hội, tư tưởng (cơ quan Đảng, hệ thống chính quyền, các cơ quan thông tấn – báochí – đài truyền hình, đài truyền thanh, giới tư nhân và các tổ chức xã hội khác); chính vì thếnhững tác động trở lại của cựu sinh viên đối với Nhà trường là hết sức mật thiết Nhiều cựusinh viên là thành viên nòng cốt của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp đã đóng góp nhiều ýtưởng có giá trị cho việc định hướng phát triển đào tạo và NCKH của Nhà trường, đã trao rấtnhiều suất học bổng khuyến học cho sinh viên (có nhiều trường hợp lên đến hàng trăm triệuđồng), đồng thời có chính sách ưu tiên tuyển dụng sinh viên ra trường hay hỗ trợ sinh viên thựctập dưới nhiều hình thức Sự kết nối Nhà trường – mạng lưới cựu sinh viên thể hiện sống độngmối liên hệ Nhà trường - xã hội trong bối cảnh xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ, sức bật và sựphát triển của xã hội đang rất cần nền tảng giáo dục hiện đại đóng góp nhân lực và đường lối
b Nghị quyết TW 8, khóa XI đã nhấn mạnh đến mục tiêu thay đổi căn bản và toàn diện nềngiáo dục nước nhà, đảm bảo cung ứng đầy đủ và hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ sự phát triểncủa đất nước Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao ấy của xã hội, các nhóm ngành đào tạo tạiTrường ĐHKHXHNV đều đã đầu tư công sức cho việc cải tiến chương trình đào tạo theohướng song hành và kết hợp đào tạo cơ bản và đáp ứng nhu cầu xã hội Từ năm học 2012-2013Nhà trường đã ban hành quyết định bắt buộc các khoa/bộ môn đào tạo phải tổ chức lấy ý kiếnnhà tuyển dụng rộng rãi để làm cơ sở cho việc điều chỉnh chương trình đào tạo Cứ hai nămmột lần vào các năm số chẵn, các hội đồng khoa học đào tạo các Khoa/BM xem xét bổ sung,thay đổi chương trình đào tạo cho phù hợp với định hướng của Nhà trường Nhìn chung, việcđiều chỉnh chương trình đào tạo được thực hiện khá bài bản và bước đầu nhận được sự hưởngứng và hồi đáp tích cực của người học
Trang 5Hội thảo Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn KHXH trong nhà trường phổ thông tổ chức tại Đồng Tháp (tháng 11/2013)
Song song với cải tiến chương trình đào tạo là cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướngtích hợp kiến thức và phương pháp liên ngành, kết hợp lý thuyết, lý luận với tri thức xã hội,vừa cung cấp phương pháp luận và hệ thống tư duy khoa học vừa gắn kết với thực tiễn xã hội.Trong 3 tuần lễ cuối tháng 9/2014, Nhà trường đã triển khai 3 lớp tập huấn nâng cao phươngpháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá học tập cho đội ngũ CB-GV toàn trường với phần trìnhbày có hệ thống của các chuyên gia cũng như phần chia sẻ kinh nghiệm của các giảng viên có
uy tín do sinh viên đánh giá trong toàn Trường, bước đầu đã tác động tích cực đến nhận thức
và hành vi dạy và học tại Trường Trong tương lai gần, Nhà trường tiếp tục đầu tư cho mảngcông tác này nhằm đảm bảo mục tiêu đóng vai trò định hướng phát triển xã hội trên mặt trận tưtưởng và xã hội
Nhà trường cũng hết sức quan tâm đến việc tìm kiếm và triển khai các dự án phối hợp vớicác tổ chức quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tại khu vực phía Nam để nângcao chương trình, trình độ và phương pháp đào tạo Trong ba năm gần nhất, dưới sự tài trợ củanhiều nguồn quỹ quốc tế như Ford Foundation, DAAD, Japan Foundation, Korea Foundation,SIDA, Rosa Luxembourg v.v., nhiều chương trình nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứukhoa học đang triển khai tại Trường ĐHKHXH&NV, chẳng hạn như chương trình service-
Trang 6learning, chương trình nâng cao hiệu quả đào tạo Hàn Quốc học, chương trình nâng cao hợptác Việt-Nhật trong đào tạo và nghiên cứu v.v Nhà trường đã và đang áp dụng nhiều chươngtrình liên kết đào tạo với các đối tác nước ngoài có uy tín, chẳng hạn các chương trình 3+1,3+2, 2+2, chương trình đào tạo thạc sỹ Quản trị kinh doanh với ĐH Bỉ (UB), ĐH Stirling, ĐHNgoại ngữ Busan (Hàn Quốc), Trường Đại học Dục Đạt (Đài Loan) và Trường Đại học Khoahọc và Kỹ thuật điện tử Quế Lâm, Đại học Dân tộc Quảng Tây (Trung Quốc) v.v
Ngày 26/7/2013, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) đã tiếp tục tổ
chức “Hội nghị tổng kết đánh giá chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn AUN-QA giai đoạn 2009-2013”, một lần nữa khẳng định hướng đi của giáo dục đại học Việt Nam Đến thời điểm
năm 2013, Việt Nam có tất cả 21 chương trình được đánh giá theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA,trong số ấy, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh đã có 10 ngành đạt chuẩn AUN, riêng TrườngĐHKHXH&NV có hai ngành gồm Việt Nam học và Ngữ văn Anh(1) Trong những năm tiếptheo Nhà trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh mảng công tác này như là một cam kết nâng cao chấtlượng đào tạo phục vụ xã hội
Để thực hiện mục tiêu này, các trường đại học tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ quản
lý giáo dục đại học thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có đội ngũchuyên gia giảng dạy từ nước ngoài Đơn cử ĐHQG-HCM, trong suốt hai năm gần nhất đãphối hợp với UCLA (Mỹ) luân phiên mở lớp đào tạo Quản trị đại học nhằm hướng đến xâydựng đội ngũ quản lý tiến bộ, hiệu quả Thêm vào đó, hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị máy móchiện đại được trang bị để phù hợp với các phương pháp giảng dạy mới, hệ thống thư viện – thưviện điện tử và cổng thông tin – website không ngừng được hoàn thiện để phục vụ tối đa cáctiện ích cho nhà quản lý, người dạy và người học
Trong đó có thể kể Khoa Nhân học, nhờ sự hỗ trợ của Ford Foundation và lợi ích từ việchợp tác với các trường Đại học Toronto (Canada) và Đại học Washington (Mỹ), chương trìnhđào tạo và đội ngũ giảng viên của khoa này không ngừng được nâng cao Tương tự, với sự hợptác của Quỹ Rosa Luxembourg (Bỉ), các đơn vị Khoa Xã hội học và Khoa Công tác Xã hộikhông ngừng hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng gắn liền với thực tế và nhích gần hơnvới các chương trình đào tạo tại tiên tiến của thế giới Trong khi đó chính các hợp tác quốc tếqua cầu nối là Đại sứ quán Tây Ban Nha, số giảng viên thiện nguyện người bản xứ đã đến làmviệc và giảng dạy tại Bộ môn Tây Ban Nha, góp phần rất lớn trong việc khẳng định hiệu quảđào tạo và thúc đẩy phát triển ngành khoa học này tại trường Nhiều tổ chức quốc tế khác như
1 Các ngành khác gồm Công nghệ thông tin (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên); Điện tử Viễn thông, Kỹ thuật chế tạo, Kỹ thuật Hóa học và Kỹ thuật Xây dựng (Trường ĐH Bách khoa); Công nghệ thông tin, Công nghệ Sinh học và Quản trị kinh doanh (Trường ĐH Quốc tế);
Trang 7DAAD, Japan Foundation, Korea Foundation, SIDA, Rosa Luxembourg v.v đều có những đầu
tư cơ bản tại Trường ĐHKHXHNV để đẩy mạnh quá trình hoàn thiện mục tiêu đào tạo nhân tạiphục vụ đất nước
2 THỰC TRẠNG VÀ THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO KHOA HỌC
a Thực trạng và thành tựu
Phân tầng đại học là một trong 4 vấn đề mới cơ bản của Luật Giáo dục nước ta banhành năm 2013, theo đó, hệ thống các trường đại học của Việt Nam sẽ được phân tầng thànhcác cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học định hướng ứngdụng và cơ sở giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp Mỗi một loại hình trường đại học lại
có mục tiêu đào tạo khác nhau Theo Luật Giáo dục 2013, mục đích của việc phân tầng nàynhằm “phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo vànghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học; thực hiện quản lý nhà nước.”; nhằm “đánh giá
uy tín và chất lượng đào tạo; phục vụ công tác quản lý nhà nước và ưu tiên đầu tư từ ngân sáchnhà nước.” Bên cạnh cơ cấu và chất lượng của các hoạt động đào tạo, thì hoạt động khoa họccông nghệ và nghiên cứu khoa học là một tiêu chí xếp hạng quan trọng của hệ thống các đạihọc nghiên cứu Mục đích cuối cùng và cao nhất của việc xếp hạng đại học chính là địnhhướng xây dựng mục tiêu phục vụ xã hội
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục như vậy, với tính chất là một trung tâm lớn của ViệtNam về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, bắt đầu từ Chiến lược phát triển giai đoạn 2011-
2015, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tthành phố Hồ ChíMinh đã xác định tầm nhìn “trở thành một trường đại học định hướng nghiên cứu, từng bướctiến đến mục tiêu đại học nghiên cứu theo mô hình hiện đại của đại học thế giới, đóng vai trònòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học về các ngành KHXH&NV của Việt Nam và tại khuvực châu Á.”
Trang 8Mỗi năm có hàng chục lượt giáo sư nước ngoài đến giảng dạy và trình bày chuyên đề, giới thiệu thành tựu và phương pháp nghiên cứu khoa học mới tại Trường Trong ảnh là GS Linda Grove – GS Viện
Harvard-Yenching (Hoa Kỳ) đang trình bày tọa đàm, tháng 11/2014.
Nhà trường luôn ý thức về vị trí, tầm vóc và sứ mệnh của mình trong giáo dục – đào tạo
và nghiên cứu khoa học gắn với những vấn đề lý luận và thực tiễn của Việt Nam và thế giớitrên lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn Trong những năm qua, Trường ĐHKHXH&NV đã cónhiều nỗ lực cả về mặt thể chế và nguồn nhân lực để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa họccủa cả giảng viên, NCS, HVCH và sinh viên để thực hiện tầm nhìn hướng đến đại học nghiêncứu Để thúc đẩy nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong giảng viên, Nhà trường luôn có chínhsách khuyến khích cán bộ - giảng viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhucầu nghiên cứu và giảng dạy ngày càng cao của xã hội; kiên trì chính sách tập trung mọi nguồnlực có thể để đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội vànhân văn, bao gồm các chính sách khuyến khích hình thành và triển khai các nhóm nghiên cứu,các kế hoạch, đề án, đề tài nghiên cứu, khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu; tiếp tục đầu
tư cơ sở vật chất (phòng nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, thư viện, cơ sở dữ liệu phục vụnghiên cứu) và cơ chế hỗ trợ nghiên cứu (hành chính, pháp lý, chính sách khen thưởng), tiếptục chính sách khuyến khích nghiên cứu và công bố khoa học trong và ngoài nước bằng hìnhthức chi hỗ trợ khen thưởng Ngoài ra, thực hiện phương châm “giảng viên là nhà khoa học”,với 45 giáo sư và phó giáo sư, 195 tiến sĩ, 408 thạc sĩ (tháng 12 năm 2014) đang công tác tại 28Khoa, Bộ môn trực thuộc Trường (phân thành 58 chuyên ngành khoa học), 7 trung tâm nghiêncứu ứng dụng, 4 phòng nghiên cứu và thực nghiệm, Nhà Trường tận dụng mọi nguồn lực để
Trang 9triển khai nghiên cứu tất cả các bình diện, lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn để phục xãhội Đội ngũ các giảng viên – nhà khoa học này đã và đang tiến hành nhiều công trình nghiêncứu khoa học quan trọng, đóng góp quan trọng trong việc tăng cường tri thức khoa học và pháttriển xã hội, đặc biệt là tại khu vực Nam Bộ Thêm vào đó, với hơn 150 đối tác là các trườngđại học, viện nghiên cứu trên thế giới cùng hàng ngàn nhà khoa học quốc tế có uy tín, Nhàtrường còn là cầu nối và là đối tác học thuật quan trọng để tiếp nhận, đối thoại, đóng góp và ápdụng nhiều khung lý thuyết mới, phương pháp mới, cách tiếp cận mới và góc nhìn mới trongnghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn tại Việt Nam Nhiều GS, PGS, TS và giảng viên có uytín của Nhà trường thường xuyên gia vào các diễn đàn đại chúng (báo chí, truyền thành, truyềnhình) dưới nhiều hình thức khác nhau (thuyết giảng, tọa đàm, talkshow, phỏng vấn) đã thamgia phản biện xã hội, góp phần xây dựng và phát triển xã hội theo định hướng tiến bộ, vănminh và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Với tầm nhìn hướng đến đại học định hướng nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học công nghệtheo kế hoạch chiến lược 2011-2015 của Nhà trường bao gồm các nội dung: Dự án, đề tàinghiên cứu khoa học các cấp, Hội nghị/ Hội thảo khoa học, Lớp tập huấn/Tọa đàm khoa học,Công bố kết quả nghiên cứu khoa học, xây dựng năng lực nghiên cứu, và hợp tác nghiên cứukhoa học Đề tài nghiên cứu khoa học các cấp và các dự án nghiên cứu khoa học là kênhnghiên cứu và chuyển giao khoa học chủ yếu của đội ngũ giảng viên toàn Trường Trongnhững năm qua, nghiên cứu khoa học của Trường tăng về số lượng và chất lượng, gắn với đàotạo và hướng đến phục vụ xã hội Ngoài những đề tài nghiên cứu trong hệ thống Đại học Quốcgia và Bộ Khoa học Công nghệ, các nhà khoa học của Trường còn tham gia mạnh mẽ vàonhiệm vụ khoa học công nghệ của các Sở Khoa học Công nghệ của các tỉnh, thành để tăngcường hơn nữa sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn xã hội đồng thời trực tiếpmang hơi thở cộng đồng vào nghiên cứu, mang kết quả nghiên cứu và lý thuyết áp dụng vàothực tiễn Một số chủ đề nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2015 là sưu tầm và nghiên cứu di sảnHán-Nôm; Nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm; Nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới;Nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam và thế giới; Nghiên cứu lý luận văn hóa học, nghiên cứu vănhoá Việt Nam và thế giới; Nghiên cứu triết học và triết học ở Việt Nam; Nghiên cứu biến đổikhí hậu; Nghiên cứu Biển và Đảo Việt Nam; Nghiên cứu khu vực học (Việt Nam-Đông NamÁ-Hán học); Nam Bộ – Một thế kỷ phát triển từ truyền thống đến hiện đại (đầu thế kỷ 20-21);Lịch sử văn hóa Nam bộ qua khảo cổ học; Kinh tế-Văn hóa-Xã hội của cộng đồng ngư dânNam bộ, dân thương hồ Nam bộ, công nhân và an sinh xã hội các KCN, KCX; Phát triển kinhtế-xã hội nông thôn đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới; Nghiên
Trang 10cứu tri thức bản địa của các tộc người Nam bộ và Nam Tây Nguyên; Nghiên cứu các dạng thứctín ngưỡng dân gian Nam bộ và Tây Nguyên; Quy hoạch và phát triển du lịch các địa phương;Đổi mới phương pháp giáo dục KHXH các địa phương; Các hệ thống tư tưởng triết học Đông-Tây và lễ tục xã hội Việt Nam; Kinh điển học… Với sự hợp tác hiệu quả với các đối tác nước
ngoài, Trường đã thực hiện các dự án có tác động xã hội quan trọng như:“Phát triển tài nguyên giảng dạy và nghiên cứu văn học Hàn Quốc ở Việt Nam” do Korea Foundation tài trợ; Xây dựng và nâng cao năng lực đồng tham gia cho cộng đồng và chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường sống khu dân cư nghèo ở TP Hồ Chí Minh” do Rosa Luxemburg tài trợ, “Tập huấn về học tập và mạng lưới phục vụ” (Service– Learning)” năm II
do tổ chức United Board tài trợ; Chương trình thăng tiến giáo dục công tác xã hội) phối hợp
với ĐH San Jose State (Hoa Kỳ) do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ…
Trang 11Công tác tổ chức tọa đàm, hội nghị, hội thảo của Trường có những khởi sắc theo hướngtăng cường hội nhập quốc tế về khoa học, và gắn kết với xã hội Trong năm học 2013-2014,Trường đã ghi dấu ấn với các hội thảo lớn như: Dấu ấn Ấn Độ trong tiếp biến văn hóa ở Việt
Nam và Đông Nam Á (tổ chức 3/10/2013); Nghiện Internet: Những thách thức mới trong xã hội hiện đại (tổ chức ngày 23/11/2013); Phật giáo Nguyên thủy trong kỷ nguyên toàn cầu hóa (phối hợp với Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức ngày 18/1/2014), Phát triển kinh tế
- xã hội Đồng bằng sông Cửu Long (2/1/2014); Làng nghề và Phát triển Du lịch (phối hợp với Đại học Silapakon, Thái Lan tổ chức ngày 20-21/03/2014), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ
(phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Tín ngưỡng, tổ chức ngày27/4/2014); Chiến thắng Điện Biên Phủ - Những vấn đề lịch sử (phối hợp với ĐH Thủ Dầu
Một, tổ chức ngày 6/5/2014); Nghi lễ cộng đồng: Truyền thống và biến đổi (27/6/2014), 20 năm Hàn Quốc học ở Việt Nam – Nhìn lại để phát triển” (ngày 18/7/2014); Cây dừa tiềm năng
và giá trị” (phối hợp với Hiệp hội Dừa Việt Nam tổ chức ngày 29-30/8/2014), Nghệ thuật âm nhạc phương Đông – bản sắc và giá trị (phối hợp với ĐH Trà Vinh, Nhạc viện Tp.HCM, Cao
đẳng Văn hóa Nghệ thuật Tp.HCM, Trường TED SAIGON) ngày 18/12/2014 v.v.… Các hộithảo, tọa đàm trong năm 2014 Trường ĐHKHXH&NV hết sức chú ý sự kết nối với các địaphương Các hội thảo do TT NC Tôn giáo tổ chức đều có sự tham gia hoặc kết nối với các cơquan tôn giáo/quản lý tôn giáo (phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức hội thảoVESAK 2014; phối hợp với Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Việt Nam Tp.HCM tổchức các hội thảo Phật giáo, phối hợp với các địa phương Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu v.v
Trang 12tổ chức các hội thảo/tọa đàm chuyên môn tại các địa phương Tương tự, Nhà trường đã tiếnhành các tọa đàm chuyên môn Phát triển du lịch tại Bình Dương (tháng 6/2013), Tiền Giang(12/2013), tọa đàm về khảo cổ học tại Bình Dương (tháng 10/2014), tại Lâm Đồng (tháng12/2014), tại Gò Tháp Đồng Tháp (tháng 12/2014), tiến hành các phiên địa phương tại tại Bình
Dương (hội thảo Làng nghề và Phát triển Du lịch tháng 3/2014), tại An Giang (hội thảo Tín
ngưỡng thờ Mẫu tháng 4/2014), với ĐH Thủ Dầu Một Bình Dương (hội thảo Chiến thắng
Điện Biên Phủ - Những vấn đề lịch sử, tháng 5/2014) Xu hướng phối hợp với các địa phương
trong việc tổ chức các hoạt động khoa học hiện là một chủ trương rất được chú trọng tạiTrường ĐHKHXH&NV trong giai đoạn tiếp theo Theo dự kiến, Nhà trường sẽ phối hợp với
ĐH Thủ Dầu Một, ĐH Huế và ĐHKHXH&NV Hà Nội tổ chức hội thảo nhân sự kiện 40 nămthống nhất đất nước vào tháng 4 năm 2015, phối hợp với Viện Harvard-Yenching tổ chức hộithảo về Nhân học Biển tại Vũng Tàu (12/2015), phối hợp với ĐH Hawaii tổ chức Hội thảo vềVăn hóa Nho học vào tháng 5/2016 v.v
Hội thảo Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ tổ chức tại Lăng miếu Bà Núi Sam, Châu Đốc, An Giang,
tháng 4 năm 2014
Trang 13Hội thảo Làng nghề và phát triển Du lịch do Nhà trường phối hợp với ĐH Silpakorn Thái Lan, Sở
VH-TT-DL Bình Dương tổ chức vào tháng 3 năm 2014
Để khẳng định vị thế của một trung tâm nghiên cứu lớn về lĩnh vực khoa học xã hội vànhân văn, Nhà Trường đã tích cực đẩy mạnh công tác công bố khoa học đặc biệt nhấn mạnhđến công bố quốc tế qua các kênh tọa đàm, hội nghị, hội thảo, tập san, tạp chí, sách, báo…
Trường đang triển khai tổ chức xuất bản Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ (Chuyên san KHXH&NV, ISSN 1859-0128), Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn và các tuyển tập
chuyên đề phục vụ xã hội Ngoài ra, trang web Phòng QLKH-DA (www.qlkh.hcmussh.edu.vn)được nâng cấp và phát triển dần theo hướng trở thành Cổng thông tin khoa học chuyên nghiệp,hướng đến mục tiêu phục vụ khoa học cho cộng đồng Nhà trường đã năng động phối hợp vớicác nhà xuất bản để đưa các công trình nghiên cứu của Trường đến với xã hội Trong thời gianqua Ban xuất bản Trường ĐH KHXH&NV hỗ trợ giảng viên xuất bản rất nhiều công trình,nâng số công trình sách giáo khoa, sách chuyên khảo và tuyển tập khoa học của Nhà trườngtrong năm 2014 là 147 cuốn, tăng trưởng hơn 100% so với cùng kì năm 2013 Các tác phẩm
tiêu biểu có thể kể Lối sống và tư duy của cộng đồng người Việt vùng Tây Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của PGS.TS Trịnh Doãn Chính; Đón nhận truyện ngắn đương đại Nam Bộ (Embracing life contemporary short fiction from southern Vietnam) của TS Nguyễn Thị Kiều Thu (Khoa Ngữ văn Anh); Fukuzama & Nguyễn Trường Tộ - tư tưởng cái cách giáo dục của PGS TS Nguyễn Tiến Lực (BM Nhật Bản học); Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (bản tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Đức); Văn hoá người Việt vùng Tây Nam Bộ của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm; Đô thị học – lý thuyết và thực tiễn của PGS TS Nguyễn Minh Hoà; Giới và di dân – tầm nhìn châu Á của TS Nguyễn Thị Hồng Xoan; Quan điểm của các học giả Âu Mỹ về phong trào tôn giáo mới của PGS.TS Trương Văn Chung; Lý luận văn học
Trang 14nhập môn của GS.TS Huỳnh Như Phương; Nhớ về chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không năm 1972 của PGS.TS Hà Minh Hồng…
Nhận thức đội ngũ giảng viên – nhà khoa học Trường hiện có là động lực chủ yếu củatiến trình hướng đến đại học nghiên cứu, Trường ĐHKHXH&NV luôn có các chính sách kịpthời để khuyến khích, giải phóng mọi nguồn lực để đạt kết quả nghiên cứu cao nhất như:khuyến khích giảng viên tăng cường công bố bài viết trên tạp chí quốc tế có chỉ số ISSN vàthuộc danh mục ISI Trên tinh thần ấy, Trường ĐHKHXHNV đang thí điểm thực hiện chínhsách chi hỗ trợ công cố khoa học, trong đó ưu tiên cao nhất cho công bố khoa học quốc tế, từchi trả chi phí xuất bản (nếu có yêu cầu), chi hỗ trợ công bố với mức tiền cao và cộng giờnghiên cứu khoa học Công tác này bước đầu đã có những thành tích khích lệ với hàng năm cókhoảng 70-100 bài báo được đăng; khuyến khích giảng viên tham dự hội thảo trong nước vàquốc tế: hàng năm Trường cử hơn 200 lượt cán bộ giảng viên đi dự hội thảo khoa học hay tậphuấn ngắn hạn tại các nước trên thế giới Nhiều cán bộ - giảng viên đã xuất bản các bài viếttrên các tạp chí khoa học quốc tế thông qua kênh hội nghị, hội thảo; khuyến khích hình thànhcác nhóm nghiên cứu mạnh thông qua thực tiễn thực hiện đề tài các cấp; tổ chức các lớp tậphuấn để giảng viên tham gia bổ sung kiến thức Với tính đặc thù vốn có của khối khoa học xãhội và nhân văn, nhà trường đã bắt đầu gặt hái các kết quả tốt đẹp: đã có 3 công trình đăng trêncác tạp chí ISI, thậm chí có tạp chí có điểm IF cao đến 6-7 điểm Đơn cử, trường hợp TS PhạmGia Trân (Khoa Địa lý), người có đến 2 bài ISI (năm 2013), đã biết tận dụng quan hệ quốc tếvới các nhà khoa học nước ngoài, vận dụng phương pháp tiên tiến tiến hành nghiên cứu thựcnghiệm tại Việt Nam và mạnh dạn công bố quốc tế qua kênh hợp tác quốc tế với đồng nghiệpnước ngoài Trong năm 2014, một số GV trẻ đã nỗ lực công bố khoa học, bước đầu đã đạtthành tựu công bố ISI quốc tế Có thể nói đây là một hướng đi đúng đắn và đầy triển vọng vìgiới khoa học Việt Nam vẫn đủ tầm để tạo ra các sản phẩm khoa học có chất lượng, phù hợpvới chuẩn công bố quốc tế để phục vụ xã hội
Bảng 5: Số lượng các bài viết công bố khoa học các loại qua các năm 2012, 2013 và 2014.
Bài viết trên tạp chí ISSN chuyên ngành
Trang 15Bài viết in sách chuyên khảo, sách chuyên
đề, tuyển tập
Để quan sát rõ hơn những biến đổi trong công bố khoa học qua các năm 2012-2014, ta
có thể sát theo biểu đồ sau:
Biểu đồ 1: Tỉ lệ các loại hình công bố khoa học tại Trường ĐHKHXH&NV qua các năm
Tính riêng các công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế, số lượng các bài viết công bốtăng dần đều, năm sau cao gấp đôi năm trước:
Biểu đồ 2: Tỉ lệ các công bố trên tạp chí quốc tế qua các năm
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hội nhập quốc tế là một quy luật tồn tại tất yếu củacác cơ sở đào tạo Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, Nhà trường tích cực kết nối mời các
Trang 16diễn giả nước ngoài, học giả các chương trình quốc tế đặc biệt là từ các nước và vùng lãnh thổ
có nền giáo dục tiên tiến như Australia, Canada, Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản,Singapore, Hồng Kông v.v đến thuyết trình, tọa đàm khoa học tại trường; mở các lớp chuyên
đề cho giảng viên, sinh viên; tổ chức cho giảng viên, sinh viên giao lưu trao đổi học thuật, đẩymạnh tổ chức hội thảo quốc tế, chủ động đăng ký dự án quốc tế có quy mô liên kết nhân sựcao, rộng
Song song với công tác phát triển nghiên cứu khoa học trong đội ngũ giảng viên, Nhàtrường luôn chú trọng đẩy công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên gắn với nhu cầu xãhội Hàng năm, Trường đều dành kinh phí hỗ trợ cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu củasinh viên, trong đó ưu tiên hỗ trợ các đề tài có tính ứng dụng Đây là cơ sở để các em tham giagiải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên các cấp như Giải thưởng Nghiên cứu khoa học sinhviên cấp Trường, Giải thưởng Nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Thành Đoàn Tp Hồ ChíMinh – Eureka, Giải thưởng Nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Đại học Quốc gia, Giảithưởng Nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Bộ Khoa học Công nghệ, Giải thưởng Holcim v.v Với tính chất đặc thù của khối ngành KH XH&NV, việc ứng dụng sản phẩm NCKH của SVvẫn mang những nét đặc thù, song cũng không vì thế mà đóng góp xã hội lại bị hạn chế Trongsuốt ba năm liền của Giải thưởng Eureka cũng với tiêu chí phục vụ xã hội, SV TrườngĐHKHXH&NV cũng gặt hái được nhiều thành tựu đáng khích lệ Năm 2014, SV đã giànhđược 1 giải nhất (giải lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn), 2 giải nhì và 1 giải ba (trao giải
ngày 28/12/2014) Năm 2013, nhóm SV khoa Địa lý đã nghiệm thu xuất sắc đề tài Xây dựng Atlat điện tử TP.HCM, đã được NXB Giáo dục triển khai ứng dụng từ đầu năm 2014 Trên
thực tế, trong nhiều năm qua sinh viên của trường cùng tham gia dự thi các giải thưởng khoahọc thiên về công nghệ vẫn đạt những giải thưởng rất cao Thêm một minh chứng nữa, giảithưởng Holcim được triển khai nhiều năm qua, Trường ĐH KHXH&NV đã tham gia từ năm
2011 Điểm nổi bật là năm nào sinh viên trường cũng đoạt giải thưởng Cộng đồng hoặc giải Xây dựng bền vững dành cho các đề tài mang tính ứng dụng mang ý nghĩa cộng đồng Đề tài
năm 2011 có hai đề tài đoạt giải là Lồng ghép mô hình ngoại khoá giáo dục xanh ở bậc tiểu
học của nhóm SV khoa Nhân học và đề tài Đánh thức không gian hẻm của nhóm SV khoa Đô thị học Đề tài năm 2012 là Mô hình sân chơi dành cho trẻ em khuyết tật của nhóm SV khoa
Đô thị học Đề tài năm 2013 là Mô hình cho thuê xe đạp tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên
cứu ứng dụng thí điểm tại khu đô thị Đại học Quốc gia TP HCM của nhóm SV khoa Đô thị
học Đề tài năm 2014 là Mô hình sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ nhựa cây dừa nước nhằm cải thiện sinh kế nông hộ vùng Hà Tiên - Kiên Lương của nhóm SV khoa Địa lý.
Trang 17Sinh viên khoa Đô thị học ĐH KHXH&NV TP.HCM đạt giải phát triển cộng đồng Giải thưởng Holcim
Phát triển vì Cộng đồng năm 2013
b Chuyển giao công nghệ
Với mục tiêu xây dựng thành trường đại học định hướng nghiên cứu vào năm 2020,Trường ĐHKHXH&NV rất coi trọng công tác chuyển giao khoa học công nghệ đối với cộngđồng xã hội Với đặc thù là sản phẩm nghiên cứu khoa học xã hội, phần đông các sản phẩm làcác đề án, bộ giải pháp, hệ thống các giá trị nghiên cứu chứ không phải là các mô hình kỹ thuậthoặc các sản phẩm vật chất cụ thể như trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên hay kỹ thuật; dovậy các sản phẩm chuyển giao KHCN của Trường ĐHKHXHNV là các ý tưởng, các mô hình,
tư tưởng thể hiện trong các sách chuyên khảo, sách công cụ v.v Các lĩnh vực gắn kết nhiềunhất với xã hội là Xã hội học, Nhân học, Công tác xã hội, Đô thị học, Giáo dục học, Báo chí –Truyền thông, Lưu trữ - Quản trị văn phòng, Thư viện – Thông tin, Quan hệ Quốc tế, HànQuốc học, Nhật Bản học v.v
+ Các công trình NCKH điển hình đã và đang triển khai ứng dụng xã hội dưới các hình thức khác nhau:
Trong nhiều năm liền, Trường ĐHKHXH&NV triển khai chính sách khuyến khích CB-GVTrường đăng ký nhận nhiệm vụ KHCN vừa tham gia phục vụ xã hội vừa trực tiếp đào tạo nhântài phục vụ đất nước
Trước mắt Nhà trường đã và đang triển khai các nhóm đề án với nhiệm vụ xây dựng địnhhướng NCKH với hệ thống các kế hoạch nghiên cứu trong giai đoạn 2015-2020 tầm nhìn đến
2030, trong đó nhấn mạnh hai nhóm chủ đề (1) Nghiên cứu các vấn đề văn hóa – kinh tế - lịch
sử - xã hội vùng Nam Bộ; và (2) Nghiên cứu KHXH&NV về Biển đảo Việt Nam Nhà trường
đã tiến hành đăng ký nhiều Dự án lớn cấp Nhà nước với hy vọng nếu thành công sẽ tập trung
Trang 18lực lượng đông đảo cán bộ – GV trong và ngoài trường tham gia nghiên cứu và chuyển giaoKHCN Về cơ sở vật chất phục vụ NCKH, Nhà trường đã được Nhà nước đầu tư các hạng mụclớn gồm Phòng Thí nghiệm GIS, Phòng Nghiên cứu Ngữ âm thực nghiệm, Phòng Nghiên cứuHán Nôm, Trung tâm nghiên cứu KHXN&NV về Biển Đảo, hệ thống Thư viện Trường hoànchỉnh, hệ thống các nguồn lực thông tin và công nghệ v.v Trong 5 năm qua, CB-GV toàntrường đã và đang triển hơn 60 đề tài Đại học Quốc gia (Trọng điểm, loại C), gần 150 đề tàicấp cơ sở, gần 40 đề tài KHCN các địa phương (cao nhất là năm 2014 với 14 đề tài), 6 đề tàiNAFOSTED (từ năm 2012 đến năm 2014) Dưới đây là các đề tài tiêu biểu, trong đó hầu hếtcác đề tài đều được chuyển hóa thành sách giáo khoa, sách chuyên khảo hay các loại sách công
cụ phục vụ đào tạo và phát triển xã hội:
- Nhóm các đề tài gắn với phát triển các địa phương:
• Nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên, xã hội và giá trị lịch sử - văn hoá phục vụ pháttriển bền vững khu vực Thoại Sơn tỉnh An Giang – PGS.TS Võ Văn Sen
• Đời sống thương hồ ở các chợ nổi Đồng bằng Sông Cửu Long - GS.TS Ngô Văn Lệ
• Tri thức bản địa các dân tộc bản địa tỉnh Đắk Nông - GS.TS Ngô Văn Lệ
• Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ - GS.TS Trần Ngọc Thêm
• Đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ - PGS.TS PhanThị Yến Tuyết
• Những biến đổi xã hội của nông dân người Việt trong quá trình chuyển dịch kinh tếhiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long - PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp;
• Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ trong tiến trình phát triển
xã hội tộc người – GS.TS Ngô Văn Lệ
• Đánh giá rủi ro sinh thái huyện Cần Giờ - TS Ngô Thanh Loan
• Xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch tỉnh Bình Dương – PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng
• Phát huy giá trị Khu di tích Cát Tiên phục vụ phát triển xã hội – PGS.TS Đặng VănThắng
• Hiện tượng tôn giáo mới và những vấn đề về chính sách và công tác tôn giáo ở thànhphố Hồ Chí Minh (PGS.TS Trương Văn Chung)
• Từ lúa đến tôm, từ tôm đến lúa – TS Ngô Thị Phương Lan
• Vai trò tôn giáo bản địa trong đời sống văn hoá của cư dân ở Nam Bộ - TS HuỳnhNgọc Thu
• Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu miền Tây Nam Bộ - TS Nguyễn Ngọc Thơ
Trang 19• Đời sống công nhân và an sinh xã hội tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương – TS.Nguyễn Đức Lộc
• Thực trạng nguồn nhân lực các tộc người thiểu số ở ĐBSCL – PGS.TS Hoàng VănViệt
• Thích ứng sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Bến Tre trong bối cảnh biến đổikhí hậu - TS Lê Thị Kim Thoa
• Nâng cao năng lực tham gia của cộng đồng trong các hoạt động nâng cấp hạ tầng đô thịcấp ba – Trường hợp điển cứu tại TP Cần Thơ - TS Phạm Gia Trân
• Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minhtrong thời kỳ đô thị hóa, hiện đại hóa - TS Hồ Sơn Diệp, TS Nguyễn Đình Thống
• Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam từ góc độ quản lý và khai thác (từ 19752012)
-TS Phạm Ngọc Trâm
• Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam - PGS, TS Doãn Chính và nhóm GV khoa Triết
• Sự tương đồng và khác biệt trong hệ thống tính cách Hàn Quốc và Việt Nam – PGS.TS.Trần Thị Thu Lương…
- Nhóm các chủ đề nghiên cứu cơ bản:
• Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế - PGSTS Võ Văn Sen
• Từ điển báo chí Anh-Việt– PGS.TS Lê Khắc Cường
• Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học Nam Bộ giai đoạn 1930-1945 - PGS.TS LêGiang và tập thể GV khoa Văn học – Ngôn ngữ
• Các trung tâm tôn giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ - PGS.TS Đặng Văn Thắng
• Những di tích khảo cổ học thời văn hóa Óc Eo – hậu Óc Eo ở An Giang - PGS.TS.Phạm Đức Mạnh
• Đặc điểm xuất phát và đặc trưng phát triển của Nam Bộ đi vào Công nghiệp hóa-Hiệnđại hóa – PGS.TS Hà Minh Hồng
• Thân tộc - hôn nhân - gia đình - Những vấn đề lí thuyết – TS Nguyễn Khắc Cảnh, TS.Đặng T Kim Oanh
• Lịch sử Ngoại giao Việt Nam thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ đầu thế kỉ XXđến 1945) – PGS.TS Trần Nam Tiến
• Những biến đổi xã hội của nông dân người Việt trong quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế hiện nay ở ĐBSCL – PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp