1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ trong bài thơ “Lỗi hẹn cùng ca dao” của Thanh Nguyên

17 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tác phẩm trữ tình Lỗi hẹn cùng ca dao, ngôn ngữ được nhà thơ Thanh Nguyên sử dụng một cách sáng tạo và thể hiện sự khéo léo của nhà thơ. Tính sáng tạo đã lôi cuốn người đọc, cho họ sự đồng điệu khi đọc tác phẩm. Bài thơ với thể thơ lục bát của dân tộc Việt góp phần tạo nên cái độc đáo của tác phẩm. Chính việc tiếp cận và những hiểu biết của nhà thơ về những đặc điểm của ngôn ngữ tạo nên cái thành công ấy.

Trang 1

A PHẦN MỞ BÀI

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện để nhà văn sáng tạo nên các tác phẩm văn học Ngôn ngữ chứa đựng những ý niệm của nhà văn, là cái nhà văn dùng để sắp xếp lại thành tư tưởng mà mình muốn nói Ngôn ngữ là nơi thể hiện những tình cảm, cảm xúc và có tính nhạc Đây là đặc điểm tạo nên thành công cho tác phẩm

Trong tác phẩm trữ tình Lỗi hẹn cùng ca dao, ngôn ngữ được nhà thơ Thanh Nguyên sử dụng một cách sáng tạo và thể hiện sự khéo léo của nhà thơ Tính sáng tạo đã lôi cuốn người đọc, cho họ sự đồng điệu khi đọc tác phẩm Bài thơ với thể thơ lục bát của dân tộc Việt góp phần tạo nên cái độc đáo của tác phẩm Chính việc tiếp cận và những hiểu biết của nhà thơ về những đặc điểm của ngôn ngữ tạo nên cái thành công ấy Vậy những đặc điểm đó được nhà thơ Thanh Nguyên thể hiện như thế nào trong tác phẩm?

Đó là lí do tôi chọn đề tài này nhằm giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

2 Đối tương và mục đích nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong bài tiểu luận này tôi đi nghiên cứu về vấn đề đặc điểm cơ bản ngôn ngữ thơ qua tác phẩm trữ tình “Lỗi hẹn cùng ca dao” của Thanh Nguyên

2.2 Mục đích nghiên cứu

Việc tìm hiểu đối tượng trên giúp em có cái nhìn tổng thể hơn về đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ trong tác phẩm trữ tinh

3 Lịch sử vấn đề

Tác phẩm Lỗi hẹn cùng ca dao ra đời được nhiều người đón nhận nhưng vẫn chưa được các nhà nghiên cứu, phê bình nào đi vào đánh giá cụ thể Hiên hay, tác phẩm chỉ được quan tâm bởi những người yêu mến tác phẩm mà cho

ra đời các bài viết như:

Trang 2

Hồ Hồng Phong với bài viết Lỗi hẹn cùng ca dao dưới góc nhìn của tiếp cận văn học

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào tác phẩm “Lỗi hẹn cùng ca dao” qua những phân tích bài thơ, cũng như ngôn ngữ và nhịp điệu, tôi tổng hợp lại và nêu lên những đặc điểm như đã có bởi các nhà nghiên cứu đưa ra

5 Bố cục của đề tài

Bài tiểu luận trình bày có hai chương và cụ thể như sau:

Chương I: Tác phẩm trữ tình

1.1 Đặc điểm chung của tác phẩm trữ tình

1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ trữ tình

Chương II: Đặc điểm cơ bản ngôn ngữ trong Lỗi hẹn cùng ca dao

2.1 Đôi nét về tác giả

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong Lỗi hẹn cùng ca dao

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I TÁC PHẨM TRỮ TÌNH 1.1 Điểm chung của tác phẩm trữ tình

1.1.1 Nội dung

Trong tác phẩm trữ tình; tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Ở đây, nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

(Trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải) Bốn câu thơ trên thể hiện tình cảm của người ra đi đối với quê hương, đối với người thương…, là sự nhớ nhung lúc xa xôi cách trở Ngoài những tình cảm đó, người đọc không biết gì cụ thể hơn về chàng trai và cô gái, về mối quan hệ cụ thể của hai người với nhau

Chúng ta lấy tác phẩm hiện đại để nhìn lại:

Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi xuân đến đã lâu rồi

Từ độ yêu nhau hoa nở mãi

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi

(Nguyên đán của Xuân Diệu) Trong bốn câu thơ trên, không hề có mâu thuẫn, xung đột như trong kịch, cũng không có những biến cố, sự kiện, hệ thống sự kiện nào Người đọc cảm nhận được là niềm vui, hạnh phúc, là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình

Trang 4

Vậy là từ những câu ca dao xưa tới những bài thơ đương đại, dấu hiệu chung của tác phẩm trữ tình là sự biểu hiện thế giới chủ quan của con người: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ với con người, cuộc đời và thiên nhiên Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tình cảm đó

Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó thể hiện nhờ hình ảnh của cuộc sống Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình Người ta có thể bắt gặp một bài thơ miêu tả một bức tranh phong cảnh thiên nhiên

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ơí đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

(Ðây thôn Vĩ Giạ Hàn Mặc Tử.)

Có những bài thơ có ít nhiều sự kiện khá liên tục Các bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính, Núi Ðôi của Vũ Cao, Bà má Hậu Giang của Tố Hữu Đó

là những câu chuyện được kể lại một cách ngắn gọn, những sự kiện, biến cố không được miêu tả tỉ mỉ mà thể hiện hết sức cô đọng Chúng làm cho tình cảm được bộc lộ dễ dàng, gợi cảm

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những lần trốn học bị đòn ri Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi

(Quê hương- Giang Nam.) Người đọc có thể kể một số nét chính về mối quan hệ giữa chàng trai và

cô gái một cách khá liên tục nhưng chức năng chủ yếu là để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc, suy tưởng

Trang 5

Như vậy, biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình

Tác phẩm trữ tình làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư, tâm trạng, nỗi niềm- một phương diện rất năng động, hấp dẫn của hiện thực

Tác phẩm trữ tình bao giờ cũng mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ Người ta thường nói đến từ chân trời của cái "tôi" đến chân trời của cái "ta",

"từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả" cũng trên ý nghĩa này Biêlinnki đã diễn đạt điều đó bằng một câu nói hàm súc: "Bất cứ thi sĩ nào cũng không thể trở thành vĩ đại nếu chỉ do ở mình và miêu tả mình - dù là miêu tả những nỗi đau của mình hay những hạnh phúc của mình Bất cứ thi sĩ

vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn

từ hoãng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại"

1.1.2 Nhân vật trữ tình

Nội dung tác phẩm trữ tình gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình (có người gọi là chủ thể trữ tình) Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm

Chúng ta cần phân biệt rõ 2 khái niệm: nhân vật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình

Nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm cho tác giả

Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính là tình cảm về lẽ sống và con người được thể hiện trong tác phẩm Khi đọc một bài thơ, trước mắt chúng ta không chỉ xuất hiện những cảnh thiên nhiên, sinh hoạt, những con người mà còn một hình tượng của một ai đó đang ngắm nhìn, rung động, suy tư về chúng, về cuộc sống nói chung Hình tượng ấy chính là nhân vật trữ tình

Trang 6

Nhân vật trữ tình trong thơ là hiện thân nhà thơ Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả Do tính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật trữ tình theo qui luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật Có thể coi đây là những nhân vật trữ tình nhập vai

1.1.3 Dựa vào đối tượng miêu tả tạo nên cảm xúc của nhà thơ

Có thể phân thơ trữ tình thành các loại: trữ tình tâm tình, trữ tình thế sự, trữ tình công dân, trữ tình phong cảnh Cách chia này dựa vào đối tượng đã tạo nên xúc cảm của nhà thơ

- Trữ tình tâm tình là những bài thơ gắn liền với những tình cảm trong mối quan hệ hằng ngày: tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, tình cha mẹ, anh em

- Trữ tình thế sự: là những bài thơ nghiêng về những xúc động về cuộc đời với tính chất "nhân tình thế thái"

-Trữ tình công dân là những bài thơ nói lên những cảm xúc, tình cảm, suy

tư của nhà thơ trong mối quan hệ với xã hội, với chế độ chính trị

-Trữ tình phong cảnh là những bài thơ nói lên những cảm xúc của con người với thiên nhiên: cây cỏ, núi non, sông biển, cảnh đẹp của quê hương, đất nước

Ở đây, sự phân loại chỉ nhằm giúp người đọc nhân ra cảm hứng chủ đạo, khuynh hướng nghệ thuật của nhà thơ

1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ trữ tình

Trước hết, đó là lời của chủ thể, thường bộc lộ trực tiếp sự đánh giá, nhận xét về đối tượng, trực tiếp thể hiện cảm xúc ca ngợi, khẳng định hoặc phê phán, phủ định Chính vì vậy, sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong tác phẩm trữ tình- chủ yếu là trong thơ- luôn luôn nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật

Trang 7

Lời văn trong tác phẩm trữ tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, những ý tập trung, hàm súc do đó nó phải tìm cho mình những lời văn phù hợp với yêu cầu gây ấn tượng mạnh, không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ nữa Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người khẳng định đặc điểm quan trọng nhất của lời văn trong tác phẩm trữ tình là giàu nhạc tính Nhạc tính này, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc, được biểu hiện khác nhau Trong thơ Việt Nam, tính nhạc thường được biểu hiện ở các mặt: sự cân đối, trầm bỗng, nhịp nhàng và trùng điệp

Tính truyền cảm cũng là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ

sĩ trước cảnh đời, cảnh người trước thiên nhiên Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng đặc biệt

CHƯƠNG II

Trang 8

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ TRONG LỖI HẸN

CÙNG CA DAO

2.1 Đôi nét về tác giả

Nhà thơ Thanh Nguyên tên thật là Lê Thị Thanh Nguyên, sinh năm 1960, quê ở An Giang

Nhà thơ công tác tại Trung tâm Văn hóa quận 3 và là ủy viên thường trực Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, chuyên mảng văn học thiếu nhi

Nhà thơ Thanh Nguyên có các tác phẩm: Khúc gọi tình, Anh và em, Lỗi hẹn cùng ca dao, Ngày xưa có mẹ…

Nhà thơ là con người yêu thơ lục bát Nhà thơ giải thích: thơ lục bát có tiết tấu êm ả như hát và tự hào vì đó là thể thơ riêng của người Việt

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong Lỗi hẹn cùng ca dao

Ngôn ngữ là chất liệu được nhà văn dùng, gọt giũa để sáng tác, để thể hiện thế giới nội tâm của mình về cuộc đời Ngồn ngữ là lối vào để người đọc nhận ra những tình cảm, thế giới nội tâm đó của nhà văn để cùng đồng điệu

2.2.1 Ngôn ngữ tiếng lòng của chủ thể trữ tình

Lỗi hẹn cùng ca dao là bài thơ nói về một tình yêu lỗi nhịp Bài thơ

thể hiện tâm trạng đau đớn, nối tiếc khi thấy người yêu qua hình ảnh giặt áo Trước hết là ngôn ngữ tiêu đề bài thơ, tiêu đề bài thơ là cánh cửa hé mở

ló ra chút ánh sáng đầu tiên chính là thấy được tâm trạng của chũ thể trữ tình đang nói Phan Mậu Cảnh, Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt có viết: tiêu đề có chức năng “thể hiện chủ đề nội dung cô đúc, khái quát nhất của văn bản”, “qua tiêu đề, người ta có thể nắm được nội dung, tư tưởng cơ bản

mà văn bản nêu ra là gì”

Ca dao là nơi chứ đựng tình cảm, suy niệm của con người Đọc phần lớn các bài ca dao, chúng ta nhận thấy rằng: tình yêu đôi lứa luôn chiếm số đông trong ca dao Hình ảnh ca dao mà nhà thơ Thanh Nguyên dùng ở đây không

Trang 9

phải là cái khái niệm, thể loại mà là hình ảnh của một cuộc kết duyên, một cuộc kết duyên trở thành lỗi nhịp Vì thế, cả bài thơ là nỗi thương xót, là nghẹn ngào, nối tiếc cho người mình yêu và cho mình

2.2.2 Ngôn ngữ nơi bày tỏ tình cảm của chủ thể trữ tình

Mở đầu bài thơ là tiếng của ca dao

Vườn nay người khác đã vào Khóm mai thay chỗ khóm đào ngày xưa Ngay câu mở đầu tác giả dùng hình ảnh: khóm mai, khóm đào đưa ta liên tưởng đến đến bài ca dao xưa:

Đến đây mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa:

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Chúng ta hãy nghĩ xem, phải chăng đây là lời kết duyên, giao duyên năm xưa, để rồi hiện tại là sự thật phũ phàng Cái nhìn nhói đau trong lòng vì người xưa không còn là người xưa nữa

Những hình ảnh đậm chất ca dao mà nhà thơ sử dụng có ý buộc ta trở

về quá khứ để hiểu ý nghĩa ẩn chứa đằng sau Đây chính là sự vận động cùng ngôn ngữ thơ

Tuy nghẹn lòng nhưng chàng trai không ngoảnh mặt ra đi, chàng dõi theo những động tác của người con gái

Em ngồi giặt áo giữa trưa Đâu rồi môi hát vu vơ một mình?

Hiện tại của của cô gái là cảnh giặt áo giữa trưa, đây là sự thật, là khung cảnh thường ngày của người con gái Nhưng cái lạ chính là từ hiện tại nhà văn đưa ta về quá khứ với câu hỏi tự hỏi mình

Đâu rồi câu hát vơ một mình?

Trang 10

Đây là phản xạ tự nhiên khi những cái quen thuộc của người yêu xưa giờ không còn nữa Thật chăng, chàng trai muốn cô gái cứ hát như xưa, muốn trở

về tình yêu thuở nào

Hai câu thơ là hai thời gian đối lập nhau giữa hiện tại và quá khứ Tất cả chỉ để nói lên cái lỗi nhịp trong ca dao

Dấu đi quá khứ chàng trai trở về hiện tại mà quan sát

Em ngồi giặt áo lặng thinh

Vò cho sạch những vết tình còn vương

Giũ cho vơi bớt giọt buồn Phơi cho khô hết nhớ thương xa vời

Từ việc giặt áo của người phụ nữ, chàng trai gắn những hành động vò, giũ, phơi với hành động giũ đi tình cảm xưa, mối tình xưa: vò cho sạch…vết tình còn vương; giũ cho vơi bớt giọt buồn; phơi cho khô… nhớ thương xa vời

Chàng trai nhói đau trong lòng, để hành động giặt áo với chàng là sự rũ bỏ lời thề cuộc tình xưa Ơ đây, tình yêu đã hóa những cái bình thường thành những hành động có tình cảm Đó là cái độc đáo, nghệ thuật của thơ

Cách chọ hình ảnh, gắn những hình ảnh của nhà thơ tạo ra thứ tình cảm đau xót, chúng mê hoặc người đọc, tạo ra sự đồng điệu với chũ thể trữ tình Ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ văn xuôi, nó nối những sợi tơ nhện mảnh mai giữa hai nhịp cầu thực và hư, lấy cái hữu hình để diễn đạt cái vô hình Những câu thơ trên quả thật chỉ trong thơ mới có

Tình yêu tạo nên tình cảm giũa hai con người quá mãnh liệt, khi rời xa thì đau khổ, xót xa Rất tự nhiên chàng trai nhớ đến số phận của Kiều, bởi lẽ em

và Kiều giống nhau trong cái lỗi nhịp của tình yêu: em và tôi như Kiều với Kim Trọng

Đàn Kiều được mấy khúc vui Thơ Kiều có vận vào đời em chăng?

Tình so chưa đủ ngủ âm

Trang 11

Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi.

Cái lỗi nhịp trong tình yêu giã chàng và cô gái lại đặt cho chàng một câu hỏi:

Thơ Kiều có vận vào đời em chăng?

Chàng trai tựu đặt câu hỏi cho chính mình, câu hỏi: “Đâu rồi môi hát vu

vơ một mình” tự hỏi mình về quá khứ nay đã đâu rồi, còn câu hỏi trên chàng trai đặt ra để làm tìm hiểu nguyên nhân vì sao có “lỗi nhịp” ấy Đây là giả thiết mơ hồ được đặt ra trong cái kết quả xảy ra, có thực Câu hỏi buông lửng như sự bẽ bàng của chũ thể trữ tình

Thơ thường có những câu hỏi, vì sự phân biệt khách thể và chủ thể là nguyên tắc tồn tại của thơ Câu hỏi trong thơ là một phản xạ của bộ phận trước toàn thể, một nguyện vọng muốn điều tiết quan hệ chủ quan và khách quan

Giống Kiều, tình yêu “chưa đủ ngũ âm” (cung, thương, dốc, chũy, vũ), chưa đủ những thăng trầm hạnh phúc, khổ đau của cuộc tình Giờ đây,

cô gái phải chịu cảnh

Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi Cái mùi vị tình yêu giữa chàng và cô gái chưa trọn vẹn thì bước lỗi nhịp đã đưa gánh nặng chồng con đến với cô Hình ảnh oằn dây là hình ảnh vút cong hình hài của cô gái khi món nợ đời đè lên vai

Một lần nữa chàng trai đưa ta đến với câu thơ mang hương vị ca dao tình yêu sâu lắng

Áo ca dao gió cuốn rồi Cầu ca dao trả cho người khác qua

Đâu rồi cái ngày xưa:

Yêu nhau cởi áo cho nhau,

Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

Đâu rồi mơ ước:

Ngày đăng: 21/08/2016, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w