Mục lục Lời mở đầu 1 1. Tác động của cuộc khủng hoảng 1997 đến thị trường lao động Hàn Quốc 2 1.1. Tác động đến nền kinh tế nói chung 2 1.2. Tác động đến thị trường lao động 2 1.2.1. Thị trường lao động giai đoạn trước khủng hoảng 2 1.2.2. Những tác động chủ yếu của cuộc khủng hoảng đến thị trường lao động 3 2. Những cải cách trên thị trường lao động Hàn Quốc ứng phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 6 2.1. Khái quát một số chính sách về lao động giai đoạn trước khủng hoảng (19601997) 6 2.1.1. Giai đoạn 1960 – 1970 6 2.1.2. Giai đoạn 1970 – 1980 6 2.1.3. Giai đoạn 1980 – 1997 6 2.2. Những cải cách chủ yếu trong chính sách lao động của Chính phủ 7 2.2.1. Sự thành lập Ủy ban Ba bên 7 2.2.2. Chuyển đổi hệ thống quản lý nhân sự nhằm tăng cường tính linh hoạt trong công việc 8 2.2.3. Phổ biến trả lương và đánh giá lao động dựa theo hiệu suất 8 2.2.4. Phá bỏ rào cản tuyển dụng lao động nữ 10 2.2.5. Các biện pháp mang tính cải cách nhằm giải quyết vấn đề thất nghiệp 10 3. Đánh giá hiệu quả của cuộc cải cách 11 3.1. Thành công 11 3.2. Hạn chế 11 Kết luận 13
Trang 1Mục lục
Lời mở đầu 1
1 Tác động của cuộc khủng hoảng 1997 đến thị trường lao động Hàn Quốc 2
1.1 Tác động đến nền kinh tế nói chung 2
1.2 Tác động đến thị trường lao động 2
1.2.1 Thị trường lao động giai đoạn trước khủng hoảng 2
1.2.2 Những tác động chủ yếu của cuộc khủng hoảng đến thị trường lao động 3
2 Những cải cách trên thị trường lao động Hàn Quốc ứng phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 6
2.1 Khái quát một số chính sách về lao động giai đoạn trước khủng hoảng (1960-1997) 6
2.1.1 Giai đoạn 1960 – 1970 6
2.1.2 Giai đoạn 1970 – 1980 6
2.1.3 Giai đoạn 1980 – 1997 6
2.2 Những cải cách chủ yếu trong chính sách lao động của Chính phủ 7
2.2.1 Sự thành lập Ủy ban Ba bên 7
2.2.2 Chuyển đổi hệ thống quản lý nhân sự nhằm tăng cường tính linh hoạt trong công việc 8
2.2.3 Phổ biến trả lương và đánh giá lao động dựa theo hiệu suất 8
2.2.4 Phá bỏ rào cản tuyển dụng lao động nữ 10
2.2.5 Các biện pháp mang tính cải cách nhằm giải quyết vấn đề thất nghiệp 10
3 Đánh giá hiệu quả của cuộc cải cách 11
3.1 Thành công 11
3.2 Hạn chế 11
Kết luận 13
Trang 2Lời mở đầu
Vào những năm 60 của thế kỉ trước, Hàn Quốc còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới; tuy nhiên, cho đến hiện nay, Hàn Quốc đã trở thành một trong bốn con rồng châu Á với thu nhập bình quân đầu người tăng lên đến 350 lần Có thể nói, kì tích quốc gia này đạt được là nhờ những cải cách kinh tế sâu sắc, toàn diện của chính phủ ngay cả trong những cuộc khủngVậy mà Hàn Quốc lại chuyển mình ứng biến với khủng hoảng rất nhanh và đạt được những thành tích đáng ngưỡng mộ, đặc biệt là trên thị trường lao động Ở thời điểm hiện tại, khủng hoảng vẫn là một nỗi ám ảnh của cả nền kinh tế thế giới, mang lại không ít hệ lụy lâu dài cho các quốc gia Ngay cả các nền kinh
tế lớn cũng phải gồng mình gánh chịu, Mĩ và châu Âu phải chật vật khắc phục hậu quả trong đó vấn đề công ăn việc làm luôn nóng hổi và nan giải
Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Cải cách thị trường lao động Hàn Quốc ứng phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997” không chỉ có ý nghĩa nâng cao kiến thức vĩ mô mà còn mang ý nghĩa thực tiễn, làm tiền đề cho các nghiên cứu sau
về cách giải quyết thất nghiệp của một quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đem lại bức tranh khái quát thị trường lao động giai đoạn khủng hoảng và sự thay đổi chính sách của chính phủ Hàn Quốc
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Trọng tâm là những cải cách trên thị trường lao động Hàn Quốc
Phạm vi nghiên cứu: Chính sách lao động của Hàn Quốc giai đoạn 1960-2000 Phương pháp nghiên cứu: sử dụng một số phương pháp như tổng hợp dữ liệu, phân tích,so sánh …
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Tác động của cuộc khủng hoảng 1997 đến thị trường lao động Hàn Quốc
Phần 2: Những cải cách trên thị trường lao động Hàn Quốc ứng phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
Phần 3: Đánh giá hiệu quả của cuộc khủng hoảng
Trang 31 Tác động của cuộc khủng hoảng 1997 đến thị trường lao động Hàn Quốc
1.1 Tác động đến nền kinh tế nói chung
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng
nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Với tình trạng kém cỏi sẵn có của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những khoản nợ kém hiệu quả rất lớn, ngày 28/11/1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuốn A3, sau đó váo 11/12 lại tiếp tục
hạ xuống B2 Điều này góp phần làm thị trường và giá chứng khoán sụt giảm
Các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút khỏi thị trường chứng khoán Hàn Quốc càng nhanh càng tốt dẫn đến đồng Won xuống thấp kỉ lục (từ 1000 xuống 1700 đổi 1 USD) Từ 6-12/1997, chính phủ đã phải bán ra 14 tỷ USD để kìm giữ tỷ giá, song đã phải
từ bỏ nỗ lực này khi dự trữ ngoại tệ giảm từ 34,1 tỷ USD xuống 20,4 tỷ USD Ngày 14/12/1997 đồng won được thả nổi khiến 2000 Won mới đổi được 1 USD
Nền kinh tế thể hiện rõ qua các biến số vĩ mô: tốc độ tăng trưởng từ 5,77% năm
1997 xuống -5,71% năm 1998; lạm phát từ 4,45 lên 7,5; tỉ lệ thất nghiệp từ 2,6% lên 7%
và sau khủng hoảng, nợ quốc gia của Hàn Quốc tăng gấp ba lần so với trước đó Bên cạnh đó là ảnh hưởng đến các doanh nghiệp Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tác động quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp đó Daewoo Motors phải bán lại cho General Motors
1.2 Tác động đến thị trường lao động
1.2.1 Thị trường lao động giai đoạn trước khủng hoảng
Từ năm 1962, các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm mang đến rất nhiều công ăn việc làm mới trong khu vực đô thị, và điều này tạo di cư ồ ạt của những người trẻ từ nông thôn
ra thành thị, cho phép Hàn Quốc để phát triển ngành công nghiệp của mình với chi phí nhân công rất thấp cho đến giữa những năm 1970 Sự thành công của công nghiệp hóa giúp tăng việc làm trong các ngành sản xuất, dịch vụ và giảm việc làm trong nông nghiệp, lâm nghiệp và ngành công nghiệp đánh bắt cá Thị trường lao động Hàn Quốc trải qua kỷ nguyên "cung ứng lao động không giới hạn" với luồng lao động di cư ổn định
từ nông thôn ra thành thị cho phép sự tăng trưởng kinh tế cao liên tục mà không có tình trạng thiếu lao động cho đến giữa những năm 1980, thậm chí còn là một trong những nước xuất khẩu lao động
Năm 1963, 63% lao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, chỉ có 8,7% được sử dụng trong khai thác mỏ và sản xuất; tỷ lệ thất nghiệp là 8,1% Những khó khăn trong việc tìm kiếm một công việc trong thị trường nội địa Hàn Quốc dẫn đầu để nhìn vào thị trường lao động nước ngoài (như Tây Đức) Trong năm 1970, các công ty xây dựng Hàn Quốc mở rộng kinh doanh của họ đến Trung Đông và rất nhiều công nhân Hàn Quốc di cư sang các nước Trung Đông Điều này tạo ra tình trạng thiếu lao động có tay nghề cao trong thị trường lao động Hàn Quốc vào giữa năm 1970
Do sự tăng trưởng kinh tế cao liên tục và kết thúc của việc di cư từ nông thôn ra thành thị, thị trường lao động Hàn Quốc đã bắt đầu phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động từ cuối năm 1980 Sự thiếu hụt nguồn cung lao động làm tăng nhanh mức lương của người lao động Hàn Quốc Mức độ tăng lương danh nghĩa 1987-1996 là 14,6% và tỷ lệ
Trang 4tăng lương thực tế trong cùng thời kỳ là 8,1% Các ngành sử dụng nhiều lao động như ngành công nghiệp dệt may bắt đầu mất khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và không thể thu hút lao động trong nước với mức lương cung cấp cho họ Lúc này, công nhân có mức lương tương đối cao và cơ hội việc làm là đủ Các công nhân không muốn làm việc trong các lĩnh vực 3D (dirty, dangerous, difficult) như xây dựng và chế tạo Từ
đó mở ra cơ hội cho nhiều người lao động nước ngoài từ Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam, Bangladesh, Philippines và các nước khác di cư sang Hàn Quốc tìm kiếm "giấc mơ Hàn Quốc”
1.2.2 Những tác động chủ yếu của cuộc khủng hoảng đến thị trường lao động
Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và cơ cấu việc làm thay đổi
Ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, nhu cầu trong nước cần phải được kiểm soát và cần thu hút nhiều vốn nước ngoài nhằm bảo vệ cán cân dự trữ ngoại hối Vì vậy, lãi suất đã được nâng lên 30% trong nửa đầu năm 1998 và các khoản vay ngân hàng đã bị cắt giảm Các động thái này đã dẫn tới tình trạng phá sản hàng loạt, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ không có khả năng chi trả nợ lãi vay Khu vực xây dựng và chế tạo đã mất đi khoảng 1 triệu việc làm vào năm 1998, chứng tỏ rằng các công ty đặc thù (có tỷ lệ nợ cao) ở các khu vực này đã phải chịu nhiều tác động hơn từ cuộc khủng hoảng tài chính Đồng thời cũng xuất hiện một sự dịch chuyển việc làm từ khu vực chế tạo và xây dựng sang khu vực thương mại và dịch vụ
Bảng 1: Thay đổi việc làm trong các ngành công nghiệp (1997-2001)
(Đơn vị:Nghìn lao động)
Bán hàng, khách sạn, nhà hàng 5.805 5.571 5.725 5.943 5.820
Giao thông vận tải, truyền thông 1.162 1.169 1.202 1.263 1.322
Tài chính, bảo hiểm, kinh doanh 1.900 1.856 1.925 2.089 1.838
Nguồn: Tổng cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc, điều tra dân số kinh tế
Đối tượng lao động chịu tác động của cuộc khủng hoảng nhiều hơn cả là những lao động phổ thông (chưa qua đào tạo) Thợ thủ công giảm 620.000, lao động chân tay giảm 254.000, thu ngân giảm 154.000, trong khi số lao động kỹ thuật và chuyên nghiệp mất việc làm không nhiều Tỷ lệ mất việc làm nhiều nhất là ở nhóm lao động có trình độ học vấn thấp từ phổ thông trung học trở xuống (mất tới hơn 1 triệu việc làm), và ở nhóm lao động trẻ vì tuyển dụng mới rất ít trong năm 1998 Những thay đổi về việc làm kể từ sau năm 1999 chịu tác động bởi những thay đổi
về cơ cấu trong thị trường lao động, các việc làm dài hạn (trên 1 năm) tiếp tục
Trang 5giảm đi trong khi các việc làm ngắn hạn (dưới 1 năm), tạm thời (dưới 1 tháng) tăng lên Luật Tiêu chuẩn lao động ở Hàn Quốc ngăn cấm việc ký hợp đồng lao động có thời hạn cố định quá một năm Vì vậy, các lao động dài hạn thường được tuyển dụng dưới dạng một hợp đồng không có điều khoản thời hạn
Theo Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ 2,5% năm
1997 lên 8,6% vào tháng 2/1999 Số người thất nghiệp tăng từ 0,5 triệu trước khủng hoảng lên 1,5 triệu vào năm 1998 và 1,8 triệu vào tháng 2/1999 Dân số phi hoạt động kinh tế tăng 5,5% (từ 13,13 triệu lên 13,85 triệu) trong khi dân số hoạt động kinh tế giảm 0,9% (từ 21,60 triệu xuống 21,39 triệu) trong giai đoạn 1997
-1998 Thời gian thất nghiệp bình quân cũng trở nên dài hơn Tỷ trọng thất nghiệp
6 tháng hay dài hơn đã tăng từ 7,8% trong quí I/1998 lên 31,2% trong quí I/1999 (OECD, 2000)
Bảng 2: Các xu hướng trong cơ cấu việc làm, theo hiện trạng việc làm
(Đơn vị: Nghìn người)
Dân số ở độ tuổi lao động (tuổi 15+) 35.243 34.736
Lao động ngoài khu vực hưởng lương 8.269 7.759 7.804 7.880
Lao động thường xuyên (toàn thời gian
+ tạm thời)
10.808 10.233 10.455 11.334
Nguồn : Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, Hiện trạng việc làm năm 2000
Việc làm suy giảm dẫn tới sự suy giảm về tỷ trọng tiền công và tiền lương trong thu nhập quốc gia trong khi tỷ trọng lợi nhuận và tỷ trọng thu nhập tự trả lại tăng Hơn nữa, sự suy giảm việc làm là không giống nhau giữa các khu vực và các nhóm lao động Nhóm nghèo và gần nghèo chịu tác động nhiều hơn và nhóm lao động không kỹ năng ở khu vực thành thị là nhóm bị sa thải đầu tiên
Trang 6Tỷ lệ lao động theo ngày bị thất nghiệp đã tăng từ 17,5% lên 28,9%, và tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ dưới trung học phổ thông đã tăng từ 21,3% lên 28%,
và các lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ mới thành lập (có từ 9 công nhân trở xuống) chiếm 61% tổng số thất nghiệp năm 1998.Theo cơ cấu độ tuổi, cơ hội việc làm cho giới trẻ bị giảm đi và thời gian tìm việc kéo dài hơn
Bảng 2: Xu hướng thất nghiệp theo giới, giáo dục và tuổi
(Đơn vị: %)
Nguồn: Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, Hiện trạng việc làm năm 2000
Tiền công giảm và bất bình đẳng gia tăng
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đối với thị trường lao động Hàn Quốc còn được thể hiện ở sự suy giảm tiền công Giai đoạn 1991-1996, tiền công danh nghĩa bình quân ở các công ty có từ 10 công nhân trở lên đã tăng gấp đôi, tính trung bình tăng 15,3%/năm Trong cùng giai đoạn này, tỷ lệ lạm phát hàng năm tăng 7,2%, tiền công thực tế tăng 6,1% bình quân năm và năm 1996 tăng 36% so với năm 1991 Mức tăng tiền công này đã đột ngột dừng lại vào năm 1998 khi mà mức tăng tiền công danh nghĩa giảm 2,5% so với năm trước
Lãi suất tăng mạnh vào giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng đã làm gia tăng bất bình đẳng về thu nhập Hệ số Gini về thu nhập đã từng suy giảm vào thập niên 1980, cho thấy sự thu hẹp khoảng cách trong phân phối thu nhập, tuy nhiên hệ số này đã tăng dần trở lại kể từ giữa thập niên 1990 và tăng vọt vào giai đoạn 1997-1998 Mặc dù nền kinh
tế đã bắt đầu phục hồi vào năm 1999 nhưng khoảng cách trong phân phối thu nhập vẫn không thu hẹp so với năm 1998, cho thấy rằng tác động của cuộc khủng hoảng là lâu dài chứ không phải nhất thời Việc làm ở nhóm lao động có thu nhập thấp giảm đi trong khi việc làm ở nhóm lao động có kỹ năng cao tăng lên cũng dẫn tới sự mất cân đối trong phân phối thu nhập, bởi thu nhập sẽ tập trung vào nhóm lao động có kỹ năng cao, và giảm đi ở nhóm có kỹ năng thấp
Trang 7Bảng 5: Các xu hướng trong phân phối thu nhập
(Đơn vị: %)
Hệ số Gini
Tăng trưởng thu nhập so với năm 1996
Nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất - 8,2 -10,3 - 8,4
Nguồn: OECD (2000, p.123)
2 Những cải cách trên thị trường lao động Hàn Quốc ứng phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
2.1 Khái quát một số chính sách về lao động giai đoạn trước khủng hoảng (1960-1997)
2.1.1 Giai đoạn 1960 – 1970
Những năm 60, phần lớn lao động Hàn Quốc tham gia vào các lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tới 63% lực lượng lao động của cả nước Chính phủ thực hiện chính sách “phát triển trước, phân phối sau”: tập trung đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, phân phối thu nhập được tiến hành theo quy mô tái sản xuất của người lao động.Kết quả là đảm bảo thu nhập cơ bản cho người lao động và đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp
2.1.2 Giai đoạn 1970 – 1980
Vào khoảng giữa thập niên 70, Hàn Quốc tăng trưởng mạnh mẽ, dư thừa nguồn cung trên thị trường lao động Tuy nhiên, từ năm 1977, Hàn Quốc thiếu hụt lao động trên quy
mô toàn quốc Do sự phát triển mạnh mẽ của của ngành công nghiệp kéo theo làn sóng lao động nông nghiệp từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm trong các nhà máy công nghiệp, gây ra thiếu lao động ở khu vực nông thôn Mặt khác, những ngành công nghiệp này sử dụng rất nhiều lao động nên cung lao động cũng không đáp ứng kịp Chính sách của Chính phủ là tập trung vào nguồn cung ứng lao động và đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việc chú trọng tới nguồn lao động có tay nghề và bổ sung các dịch vụ tìm kiếm việc làm cho các công nhân có tay nghề thấp Kết quả là giảm nhẹ thiếu hụt lao động gây ra bởi quá trình công nghiệp hóa vào năm 1977
2.1.3 Giai đoạn 1980 – 1997
Trang 8Từ nửa cuối những năm 80, việc chú trọng vào phát triển số lượng gây ra bất bình đẳng trong các gia cấp tầng lớp và cùng miền đó trở nên bất cập Xung đột lao động gia tăng, các phong trào công đoàn phát triển mạnh mẽ Chính sách: ban hành một số đạo luật: Đạo luật Lương tối thiểu (1986), Đạo luật Tuyển dụng cụng bằng (1987) và Đạo luật Xúc tiến việc làm và hội nhập nghề nghiệp cho người tàn tật (1990), Đạo luật Bảo hiểm việc làm (1993), Đạo luật Chính sách tuyển dụng cơ bản (1995) và Đạo luật Xúc tiến Đào tạo nghề (1997), Kết quả: phát triển phúc lợi, tăng cường bình đẳng xã hội, giải quyết cả
hệ thống các vấn đề thất nghiệp do sự trì trệ trong kinh tế, tạo nền nền tảng cho các chính sách về lao động
2.2 Những cải cách chủ yếu trong chính sách lao động của Chính phủ
Các chính sách lao động giai đoạn trước khủng hoảng nhìn chung đã đem đến những hiệu quả tích cực cho sự tăng trưởng kinh tế thông qua giải quyết vấn đề thất nghiệp, nâng cao chất lượng lao động, đảm báo tính công bằng xã hội Tuy nhiên, trước thách thức toàn cầu hóa và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính 1997, những chính sách lao động giai đoạn này đã không còn phù hợp nữa, gây nên sự trì trệ, kém linh hoạt
và lãng phí nguồn lực kinh tế Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề lao động trong và sau
thời kỳ khủng hoảng, Chính phủ đã thực hiện một cuộc cải cách lao động mang tính cách mạng góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và vươn lên ngày càng mạnh mẽ.
2.2.1 Sự thành lập Ủy ban Ba bên
Nhận ra được sự kém hiệu quả của các chính sách trong các giai đoạn trước, “Chính phủ của dân” đã thành lập nên một Uỷ ban Ba bên vào tháng 1/1998 với đại diện là người lao động, doanh nghiệp và chính phủ Với những thoả ước đạt được trên tất cả các mặt,
Uỷ ban này đã điều khiển để đạt được một sự đồng thuận rất sớm vào ngày 06/02/1998
Nội dung của Thỏa ước Ba bên (2-1998)
- Minh bạch quản lý và tái cơ cấu công ty
- Ổn định giá cả
- Các chính sách thúc đẩy ổn định việc làm và chống thất nghiệp
- Mở rộng và hợp nhất hệ thống an sinh xã hội
- Thúc đẩy sự hợp tác quản lý - lao động và tôn trọng quyền đàm phán tập thể
- Nâng cao các quyền lao động
- Nâng cao tính mềm dẻo của thị trường lao động
- Cải thiện xuất khẩu
Mục đích: để đạt được các sự đồng thuận chung về các vấn đề liên quan đến lao
động
- Về mặt đối nội, góp phần làm giảm những xung đột và mâu thuẫn xã hội, tạo ra một sự đồng thuận cần thiết cho cải cách cơ cấu và chia sẻ khó khăn
- Về mặt đối ngoại, đóng vai trò quan trọng trong việc khôi phục niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài và các công ty trong nền kinh tế Hàn Quốc, đồng thời thể hiện khả năng và mong muốn vượt qua khủng hoảng kinh tế của người Hàn Quốc
Ý nghĩa: Đây cũng là một sự kiện lịch sử làm nền tảng cho việc tái thiết nền kinh
tế Hàn Quốc, hướng tới sự đồng thuận giữa các bên trên tất cả các khu vực của cải
Trang 9cách kinh tế nói chung, với khu vực lao động nói riêng Thỏa ước được coi như một khuôn khổ pháp lý cơ sở cho những cải cách về thị trường lao động tiếp theo Nhờ những nỗ lực của Uỷ ban ba bên, Đạo luật về tiêu chuẩn lao động (LSA) đã được sửa đổi nhằm tạo ra một sự linh hoạt hơn về quản lý trong việc giải quyết những vấn đề lao động
2.2.2 Chuyển đổi hệ thống quản lý nhân sự nhằm tăng cường tính linh hoạt trong công việc
Để vượt qua cuộc khủng hoảng, nhiều công ty cần khôi phục lại tính cạnh tranh thông qua tái cơ cấu Chính vì vậy, Chính phủ đã hỗ trợ việc điều chỉnh bộ máy quản lý bằng cách sửa đổi Luật Tiêu chuẩn Lao động vào tháng 2/1988 thông qua một thoả ước chung giữa người lao động, giới quản lý và chính phủ Luật sửa đổi này cho phép sa thải nếu một công ty có sự quan tâm đúng mức đến lợi ích của người lao động Trong suốt giai đoạn này, bằng các phương pháp khác nhau, các tổ chức tài chính đã sa thải khoản 40% tổng số lao động của họ Đặc biệt, sự luân chuyển nhân viên một cách tự nguyện trong tập đoàn xuất hiện lần đầu tiên giúp gia tăng tính linh hoạt về lực lượng lao động Chính điều này đã xóa bỏ quan điểm tuyển dụng lâu dài ở công ty và thay thế bằng quan điểm công việc lâu dài dựa trên khả năng làm việc
Về tuyển dụng, nếu như trước đây trong giai đoạn chi phí lao động thấp và tốc độ tăng trưởng cao, các tập đoàn áp dụng rộng rãi hệ thống tuyển dụng công khai, nhấn mạnh tuyển dụng các sinh viên mới tốt nghiệp thì đến giai đoạn này, trước áp lực chi phí cao, hoạt động tuyển dụng đã thay đổi để thích ứng với tuyển dụng lực lượng lao động có kinh nghiệm, tìm kiếm và tuyển dụng công khai CEO Ngoài ra, tỷ lệ thuê công nhân có kinh nghiệm cũng tăng lên Điều này có liên quan với chính sách cắt giảm lực lượng lao động Trong giai đoạn tăng trưởng cao trước đây, đảm bảo lực lượng lao động dư thừa được coi là nhu cầu linh hoạt trong doanh nghiệp thì một trong những chính sách của quản lý nhân sự trong giai đoạn khủng hoảng này là phân bổ các công nhân có kinh nghiệm ở vị trí cần thiết hơn là đào tạo lực lượng lao động dư thừa Trong quá trình cải cách hệ thống quản lý nhân sự, việc sử dụng lao động thời vụ ngày càng tăng Trong quan điểm tuyển dụng, tuyển dụng lao động toàn thời gian được thay thế bằng tuyển dụng lao động thời vụ
Bảng: Tỉ lệ công nhân thời vụ
Nguồn: Cơ quan thống kê quốc gia Hàn Quốc (2001)
Bằng việc cải cách và tái cơ cấu bộ máy quản lý nhân sự, các công ty Hàn Quốc lớn đã được vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế và phát triển mạnh mẽ, có tầm ảnh hưởng không chỉ ở trong nước mà còn trong khu vực và thế giới, điển hình như Samsung, Huyndai,… Tuy nhiên, với việc tăng cường sử dụng lao động thời vụ thay vì lao động toàn thời gian đã gây nên một số xung đột giữa các nhóm lao động với nhau
2.2.3 Phổ biến trả lương và đánh giá lao động dựa theo hiệu suất
Phổ biến trả lương dựa theo hiệu suất
Trang 10Theo truyền thống, nhân viên được trả lương chủ yếu dựa theo thâm niên Trong
hệ thống cũ, chế độ lương (không bao gồm tiền trợ cấp) gồm ba thành phần: lương cơ bản (50% trên tổng số), các khoản phụ cấp (10%) và tiền thưởng (40%) Mức lương cơ bản và phụ cấp phụ thuộc chủ yếu vào vị trí và thâm niên, tiền thưởng dựa trên hiệu suất làm việc trong công ty Tuy nhiên, do vấn đề không làm mà hưởng và hệ thống đánh giá hiệu suất không hiệu quả nên không thể thúc đẩy cá nhân làm việc với hiệu suất cao Vì vậy, chính sách nhân sự mới đưa ra một điều khoản lớn là đưa đãi ngộ cho cá nhân vào lương cơ bản Hệ thống mới chia lương thành hai thành phần: lương cơ bản và lương hiệu suất Lương cơ bản phụ thuộc vào vị trí và thâm niên, lương hiệu suất phụ thuộc vào sự phân loại dựa theo hiệu suất của cá nhân Tỷ lệ của lương hiệu suất chiếm 68% lương cơ bản cho các nhà quản lý, 64% cho chuyên viên cao cấp và 42% cho nhân viên mới Như những con số cho thấy, tỷ lệ thay đổi lớn hơn giữa các nhân viên ở những vị trí cấp cao hơn Đặc điểm của chương trình tiền lương mới là sự ra đời của đãi ngộ cho cá nhân và
sự thay đổi trong trả lương cao hơn cho các nhân viên ở vị trí cấp cao hơn
Hơn thế nữa, kể từ cuộc khủng hoảng tiền tệ, các công ty Hàn Quốc áp dụng hệ thống lương hàng năm một cách mạnh mẽ Hệ thống lương hàng năm tăng kịch liệt từ 1.6% trong năm 1996 lên đến 32.3% trong năm 2002 Với mức lương hàng năm, hệ thống tiền thưởng chuyển đổi từ cố định thành linh hoạt dựa trên hiệu quả như tiền thưởng đặc biệt, tiền lãi, tăng lương, phân phối cổ phiếu dựa trên hiệu suất Như vậy, có thể thấy sự phát triển nhanh chóng của tiền lương hàng năm và hệ thống đãi ngộ là bằng chứng thích hợp về việc chuyển đổi từ chế độ lương dựa trên thâm niên sang chế độ lương dựa theo hiệu suất trong hoạt động quản lý nhân sự của Hàn Quốc
Thay đổi về đánh giá hiệu suất
Trong hệ thống cũ, các công ti không chú ý nhiều vào việc đánh giá hiệu suất vì sự phân loại theo đánh giá không ảnh hưởng đến quyết định thăng chức và chế độ lương Tuy nhiên, theo chính sách nhân sự mới, thăng chức và chế độ lương đều phụ thuộc rất nhiều vào phân loại theo hiệu suất Để làm cho hệ thống đánh giá công bằng và đáng tin cậy, nhiều thay đổi quan trọng đã được thực hiện:
- Đầu tiên, người giám sát được yêu cầu có một cuốn sổ ghi nhớ ("Ghi chú của người quản lý") về việc hiệu suất, khiếu nại, và nhu cầu cải thiện của nhân viên Điều này
là để giúp người đánh giá xem xét các hoạt động và hiệu suất của nhân viên trong suốt giai đoạn đánh giá Ngoài ra, người giám sát được khuyến khích chia sẻ sổ ghi nhớ với người lao động để truyền đạt kỳ vọng, cung cấp thông tin phản hồi kịp thời và tăng độ tin cậy của việc đánh giá hiệu suất
- Thứ hai, họ đưa ra đánh giá 360 độ Người đánh giá hiện nay bao gồm người giám sát, cấp dưới, khách hàng và nhà cung cấp Đánh giá dựa vào nhiều loại người được thực hiện lần đầu tiên cho nhóm quản lý và sẽ được mở rộng cho nhóm chuyên viên cao cấp
- Thứ ba, đưa ra một cuộc phỏng vấn đánh giá bắt buộc Trong suốt "Tuần đánh giá" hàng năm, họ tiến hành hai vòng đánh giá và phỏng vấn Trong vòng đầu tiên, việc đánh giá hiệu suất được tiến hành thông qua một cuộc phỏng vấn với người giám sát Ở vòng thứ hai, đánh giá năng lực được thực hiện thông qua một cuộc phỏng vấn khác với