PHẦN I. MỞ ĐẦU1.1. Tính cấp thiết của đề tàiVấn đề an toàn thực phẩm, sức khỏe và bảo vệ môi trường luôn được coi trọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Để giải quyết vấn đề thực phẩm sạch và giàu dinh dưỡng, việc tăng cường sử dụng nấm ăn trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người đang là một giải pháp hữu hiệu. Sản phẩm nấm ăn đặc biệt tốt với sức khoẻ người sử dụng, an toàn và chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người. Đặc biệt, nghề nuôi trồng nấm đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động, tận dụng lao động phổ thông lúc nông nhàn, sử dụng nguồn phế phụ phẩm nông lâm nghiệp góp phần bảo vệ môi trường sống, phế liệu sau nuôi trồng nấm có khả năng tái tạo đất, làm phân bón rất tốt cho cây trồng 4. Một trong những nấm ăn đã được nuôi trồng ở nhiều nước trên thế giới từ lâu là nấm sò(Pleurotus ostreatus). Nấm sò chứa nhiều protein, vitamin và các axit amin có nguồn gốc thực vật, để hấp thụ cho cơ thể con người. Đặc biệt với hàm lượng protein chiếm tới 3343%. Nấm sò hoàn toàn có thể thay thế lượng đạm từ thịt, cá có nguồn gốc từ động vật. Do đó, nấm sò còn được gọi là thịt chay hay thịt sạch khi được sử dụng như nguồn cung cấp protein chủ yếu qua các bữa ăn. Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng nấm sò đã chứng minh được hiệu quả trong thực tiễn. Hiện nay, nghề nuôi trồng nấm cũng đã được các Sở Nông nghiệp, Trung tâm ứng dụng khoa học và công nghệ của các tỉnh như Thái Nguyên, Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ…, một số tỉnh phía nam chú trọng phát triển, phổ biến và nhân rộng cho người dân từ khoảng 15 năm trở lại đây 3, 15. Tuy nhiên, một trong những công việc mà người nuôi trồng nấm sò hiện nay chưa chủ động thực hiện được hoặc thực hiện chưa hiệu quả là công tác nhân giống nấm. Vì vậy, để góp phần thuận lợi cho công tác nhân giống nấm sò cấp I tại Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học, đề tài: “Ảnh hưởng của một số nhân tố dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng phát triển hệ sợi của giống nấm sò Pleurotus ostreatus” đã được lựa chọn thực hiện.1.2. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được ảnh hưởng của một số nhân tố dinh dưỡng như nguồn cacbon, nguồn nitơ và nguồn khoáng đến khả năng sinh trưởng phát triển hệ sợi của giống nấm sò P. ostreatus trong điều kiện hiện tại của PTN Công nghệ Sinh học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Hùng Vương, từ đó lựa chọn được điều kiện dinh dưỡng thích hợp nhất sử dụng trong nhân giống nấm sò cấp I.1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài1.3.1. Ý nghĩa khoa họcKết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học trong việc thực hiện nhân giống nấm sò cấp I bằng hệ sợi, giúp cho người dân và các cơ sở sản xuất có nhu cầu sản xuất giống nấm sò cấp I có được các căn cứ khoa học để thực hiện công tác nhân giống nấm sò cấp I tại cơ sở đạt hiệu quả cao.1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tàiKết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp chủ động nguồn giống nấm sò cấp I phục vụ cho việc nhân giống nấm sò cấp II và cấp III, từ đó cung cấp chủ động nguồn giống trong nuôi trồng nấm sò đại trà.PHẦN II. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2.1. Sơ lược về nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu và nấm sò2.1.1. Nghiên cứu nghề nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu và nấm sò trên thế giớimọc thành cụm tập trung, bao gồm 3 phần: mũ, phiến, cuống.2.1.2. Nghiên cứu nghề nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu và nấm sò ở Việt Nam2.3. Phân loại và đặc điểm sinh học của hệ nấm sò P. ostreatus2.3.1. Phân loại họcNấm sò trắng tên khoa học là Pleurotus ostreatus hay còn gọi là nấm bào ngư, về mặt phân loại học thuộc: Họ : PleurotaceaeBộ : AgaricalesLớp phụ : HymenomycetidaeLớp : HolobasidiomycetesNgành phụ : BasidiomycotinaNgành : Nấm thật (Eumycota) 1Giới : Nấm (Mycota hay Fungi) 1, 42.3.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của hệ nấm sò P. ostreatus PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1. Đối tượng nghiên cứuChủng nấm sò P. ostreatus thuần chủng, quả thể màu trắng được mua tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.3.2. Phạm vi và nội dung nghiên cứu+ Nghiên cứu ảnh hưởng của ba nguồn cacbon là tinh bột, saccaroza, maltoza đến khả năng sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm sò P. ostreatus.+ Nghiên cứu ảnh hưởng của ba nguồn nitơ là pepton, (NH4)2SO4, NaNO3 đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm sò P. ostreatus. + Nghiên cứu ảnh hưởng của ba nguồn khoáng là CaCl2, FeSO4, MgCl2 đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm sò P. ostreatus. Lựa chọn ra nguồn dinh dưỡng phù hợp nhất sử dụng trong nhân giống nấm sò cấp I. 3.4. Phương pháp nghiên cứu3.4.1. Phương pháp giữ giống trên môi trường đối chứng Môi trường đối chứng(môi trường chuẩn nhân và môi trường giữ giống nấm sò) gồm các thành phần(gl): + Khoai tây: 250+ Glucoza : 20 + Thạch : 20Khoai tây rửa sạch, gọt vỏ, cắt nhỏ, đun sôi trong nước sau 30 phút lọc qua vải màn, bổ sung nước và các thành phần khác của môi trường đủ 1 lít, khuấy tan thạch, đun sôi, phân môi trường vào các ống nghiệm, bình tam giác và đĩa petri. Môi trường được khử trùng ở 0,8 atm trong 30 phút. Để môi trường nguội, cấy chuyển giống và nuôi giữ giống cấp I ở điều kiện 25oC. 3.4.2. Phương pháp xác định ảnh hưởng của nguồn cacbonSử dụng môi trường nuôi giữ giống cấp I nhưng nguồn glucoza đã được thay thế bằng các nguồn cacbon thí nghiệm là tinh bột, saccaroza, maltoza ở nồng độ 1%, 2%, 3%, 4% và 5%.Phân môi trường vào đĩa petriống nghiệm có cùng kích thước, mỗi đĩa 5ml, khử trùng môi trường ở 0,8 atm trong 30 phút, khi môi trường nguội tiến hành cấy 1% giống gốc. Nuôi nấm ở nhiệt độ 25oC, trong vòng một tuần. Sau đó quan sát và đo sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm trong 5 ngày liên tiếp, 24 giờ đo 1 lần.3.4.3. Phương pháp xác định ảnh hưởng của nguồn nitơSử dụng môi trường nuôi giữ giống cấp I có bổ sung thêm các nguồn nitơ là pepton, (NH4)2SO4, NaNO3 ở nồng độ 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5%.Phân môi trường vào đĩa petriống nghiệm có cùng kích thước, mỗi đĩa 5ml, khử trùng môi trường ở 0,8 atm trong 30 phút, khi môi trường nguội tiến hành cấy 1% giống gốc. Nuôi nấm ở nhiệt độ 25oC, trong vòng một tuần. Sau đó quan sát và đo sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm trong 5 ngày liên tiếp, 24 giờ đo 1 lần.3.4.4. Phương pháp xác định ảnh hưởng của nguồn khoángSử dụng môi trường nuôi giữ giống cấp I có bổ sung thêm các nguồn khoáng thí nghiệm là CaCl2, MgCl2, FeSO4 ở nồng độ 0,05%, 0,1%, 0,15%, 0,2% và 0,25%. Phân môi trường vào đĩa petriống nghiệm có cùng kích thước, mỗi đĩa 5ml, khử trùng môi trường ở 0,8 atm trong 30 phút, khi môi trường nguội tiến hành cấy 1% giống gốc. Nuôi nấm ở nhiệt độ 25oC, trong vòng một tuần. Sau đó quan sát và đo sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm trong 5 ngày liên tiếp, 24 giờ đo 1 lần.3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề an toàn thực phẩm, sức khỏe và bảo vệ môi trường luôn được coitrọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới Để giải quyết vấn đề thực phẩm sạch vàgiàu dinh dưỡng, việc tăng cường sử dụng nấm ăn trong khẩu phần ăn hàngngày của con người đang là một giải pháp hữu hiệu Sản phẩm nấm ăn đặc biệttốt với sức khoẻ người sử dụng, an toàn và chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cầnthiết cho con người Đặc biệt, nghề nuôi trồng nấm đã mang lại hiệu quả kinh tếcao cho người lao động, tận dụng lao động phổ thông lúc nông nhàn, sử dụngnguồn phế phụ phẩm nông lâm nghiệp góp phần bảo vệ môi trường sống, phếliệu sau nuôi trồng nấm có khả năng tái tạo đất, làm phân bón rất tốt cho câytrồng [4] Một trong những nấm ăn đã được nuôi trồng ở nhiều nước trên thế
giới từ lâu là nấm sò(Pleurotus ostreatus) Nấm sò chứa nhiều protein, vitamin
và các axit amin có nguồn gốc thực vật, để hấp thụ cho cơ thể con người Đặcbiệt với hàm lượng protein chiếm tới 33-43% Nấm sò hoàn toàn có thể thay thếlượng đạm từ thịt, cá có nguồn gốc từ động vật Do đó, nấm sò còn được gọi làthịt chay hay thịt sạch khi được sử dụng như nguồn cung cấp protein chủ yếuqua các bữa ăn
Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng nấm sò đã chứng minh được hiệu quả trongthực tiễn Hiện nay, nghề nuôi trồng nấm cũng đã được các Sở Nông nghiệp,Trung tâm ứng dụng khoa học và công nghệ của các tỉnh như Thái Nguyên,Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Lào Cai, Tuyên Quang, PhúThọ…, một số tỉnh phía nam chú trọng phát triển, phổ biến và nhân rộng chongười dân từ khoảng 15 năm trở lại đây [3], [15] Tuy nhiên, một trong nhữngcông việc mà người nuôi trồng nấm sò hiện nay chưa chủ động thực hiện đượchoặc thực hiện chưa hiệu quả là công tác nhân giống nấm Vì vậy, để góp phầnthuận lợi cho công tác nhân giống nấm sò cấp I tại Phòng thí nghiệm Công nghệ
Sinh học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Hùng Vương, đề tài: “Ảnh
hưởng của một số nhân tố dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng phát triển
hệ sợi của giống nấm sò Pleurotus ostreatus” đã được lựa chọn thực hiện.
Trang 21.2 Mục tiêu nghiên cứu
cacbon, nguồn nitơ và nguồn khoáng đến khả năng sinh trưởng phát triển hệ sợi
của giống nấm sò P ostreatus trong điều kiện hiện tại của PTN Công nghệ Sinh
học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Hùng Vương, từ đó lựa chọn đượcđiều kiện dinh dưỡng thích hợp nhất sử dụng trong nhân giống nấm sò cấp I
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị khoa họctrong việc thực hiện nhân giống nấm sò cấp I bằng hệ sợi, giúp cho người dân
và các cơ sở sản xuất có nhu cầu sản xuất giống nấm sò cấp I có được các căn
cứ khoa học để thực hiện công tác nhân giống nấm sò cấp I tại cơ sở đạt hiệuquả cao
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp chủ động nguồngiống nấm sò cấp I phục vụ cho việc nhân giống nấm sò cấp II và cấp III, từ đócung cấp chủ động nguồn giống trong nuôi trồng nấm sò đại trà
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Sơ lược về nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu và nấm sò
2.1.1 Nghiên cứu nghề nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu và nấm sò trên thế giới
Từ xa xưa, con người đã biết dùng nấm làm thức ăn và làm thuốc Từ thờihoàng đế La Mã cổ đại, nấm đã được sử dụng trong các buổi yến tiệc của nhàvua Ở Châu Âu việc nuôi trồng nấm ăn đã được mô tả từ thế kỷ thứ III Nấmphần lớn có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong đời sống, cũng như trongnền kinh tế và trong nghiên cứu khoa học Trên thế giới đã xác định được gần
2000 loài nấm ăn và nấm dược liệu Trong số đó, trên 80 loài nấm đã đượcnghiên cứu công nghệ nuôi trồng nhân tạo
Nấm sò (P ostreatus) là một loài nấm ăn được trồng lần đầu ở Đức để ăn
trong thế chiến lần thứ nhất Năm 1970, nấm sò mới được nuôi trồng đại trà phổbiến trên thế giới Cho đến nay, nghề nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu đã lanrộng sang nhiều nước và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp tỷ lệ khôngnhỏ vào nền kinh tế của các nước như: Mỹ, Pháp, đặc biệt là các nước khu vựcBắc Mỹ và Châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ
Ngày nay, nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ đã tự động hoá hầuhết các khâu trong sản xuất nấm và sản phẩm nấm tạo ra được xuất khẩu ra cácnước khác trên thế giới hàng triệu tấn nấm mỗi năm như nấm hương, nấm linhchi, nấm mỡ, nấm bào ngư (nấm sò) Thông thường nấm xuất khẩu được bảoquản tươi, hoặc ở dạng sản phẩm chế biến hoặc bào chế thành trà và các loạithuốc quý đã mang về một nguồn ngoại tệ khổng lồ cho các nước này
Nấm sò mọc trên các thân cây khô hoặc suy yếu tạo thành những tai nấmxen kẽ nhau như hình bậc thang Nấm sò được xem là một nấm dược liệu do nó
có chứa các hoạt chất sinh học như lovastatin có tác dụng giảm cholesterol.Ngoài ra, đã có một số đề tài nghiên cứu về khả năng chống ung thư của nấm sò
do có sự hiện diện của lovastatin trong tai nấm, tập trung ở phiến nấm và đặcbiệt ở bào tử nấm Nấm sò có hương thơm của hồi do sự hiện diệncủa benzaldehyde Nấm sò là một trong những loài nấm hoang dã có thể nuôi
Trang 4trồng dễ dàng trên rơm rạ và các loại vật liệu khác Trong số các loài nấm ăn,nấm sò được nuôi trồng phổ biến, rộng rãi, sớm nhất và thường có nhiều loại.Chúng thường mọc hoang trên thân gỗ, mọc đơn độc hay mọc chồng lên nhau vànhiều loại khác nhau về màu sắc, hình dạng, khả năng thích nghi với các điềukiện nhiệt độ, ít bệnh và rất dễ trồng Nấm có dạng phễu lệch, mọc đơn lẻ haymọc thành cụm tập trung, bao gồm 3 phần: mũ, phiến, cuống.
2.1.2 Nghiên cứu nghề nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu và nấm sò ở Việt Nam
Ở Việt Nam từ xưa nhân dân ta đã biết thu hái nấm tự nhiên như mộcnhĩ, nấm hương,… để làm thức ăn Tuy nhiên mãi đến năm 1970 việc nghiêncứu và phát triển sản xuất nấm ăn mới bắt đầu được thực hiện Hơn 10 năm trởlại đây nghề trồng nấm mới được phổ biến ở các vùng nông thôn và được xem lànghề mang lại hiệu quả kinh tế cao Một số tỉnh miền bắc như Nam Định, HàNam, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên,… đã có nhiềutrang trại sản xuất và chế biến nhiều nơi hình thành hợp tác xã nấm, sản phẩmnấm tiêu thụ và xuất khẩu đều có giá trị kinh tế cao [12], [14]
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc, việc sản xuất nấm ăn vànấm dược liệu được phát triển từ năm 2000 trở lại đây, nhất là sau khi triển khai
dự án “Xây dựng mô hình sản xuất nấm hàng hóa” thuộc “Chương trình nôngthôn miềm núi giai đoạn 2005-2010”, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ đầu
tư với tổng kinh phí 4 tỷ đồng cho giai đoạn 2005-2007 [12]
Thực hiện chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, BắcGiang đã xây dựng “Đề án phát triển sản xuất nấm giai đoạn 2007-2010” vớitổng kinh phí hơn 43,7 tỷ đồng , trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 6 tỷ đồng, còn lại
là vốn đối ứng của nhân dân Riêng trong năm 2007, ngân sách tỉnh hỗ trợ cácđịa phương trong vùng quy hoạch 1,35 tỷ đồng xây dựng 30 lán trại, 2 cơ sở chếbiến nấm, đồng thời hỗ trợ giống cho hơn 1500 tấn nguyên liệu Đây là đề án cóquy mô, mức hỗ trợ lớn nhất từ trước tới nay về phát triển nghề trồng nấm trênđịa bàn [6], [7], [15]
Trang 5Hiện nay, nghề nuôi trồng nấm sò tại Tỉnh Phú Phọ đang được pháttriển mạnh Đặc biệt năm 2011 tại xã Đồng Cam - huyện Cẩm Khê - Tỉnh PhúThọ đã thành lập nên hợp tác xã nuôi trồng nấm với quy mô lớn Theo chủnhiệm hợp tác xã cho biết với diện tích hơn 2000 m2 quy hoạch nuôi trồng nấm
sò và nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương rất thuận lợi cho nuôi trồng nấm
sò, trung bình mỗi tấn nguyên liệu cho thu từ 7-8 tạ nấm tươi cho thu nhập từ20-25 triệu đồng Đây là hướng phát triển mang lại hiệu quả kép Không nhữngtận dụng được nguồn phế thải lớn từ nông nghiệp như rơm rạ, mùn cưa… màcòn tạo ra một nguồn thực phẩm sạch, giàu dinh dưỡng, mang lại lợi ích kinh tếcao, giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, góp phầngiảm thiểu ô nhiễm môi trường
Hiện nay việc phát triển sản xuất nấm ở Việt Nam nói riêng, trên thếgiới nói chung đã và đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, đem lại nhiều lợinhuận cho người sản xuất, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tếquốc dân
2.2 Giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu của nấm sò P ostrearus
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng
Nấm ăn là nguồn thực phẩm quý, vừa thơm ngon vừa có giá trị dinhdưỡng cao, hàm lượng protein trong nấm nhiều hơn trong sữa, chiếm 8,41-47,42% trọng lượng khô với nhiều axit amin quan trọng, trong đó có 25-35% làaxit amin tự do Protein của nấm không giống protein của động vật, nó khônggây sơ cứng động mạch và không làm tăng cholesterol trong máu [9]
Trang 6Bảng 2.1 Giá trị dinh dưỡng của một số nấm ăn phổ biến và nấm sò so với
trứng gà (Tỷ lệ % so với chất khô) [15]
Thành phần/
sản phẩm
Độ ẩm (W)
Protêi n
Lipi t
Hydratcacbo n
Tr o
Rbofl avin
Thia min
Axit ascobic
Iron Canx
i
phorus
có tác dụng trị bệnh Cũng trong một bữa ăn gia đình, nấm sò có thể xuất hiện
Trang 7trong nhiều món khác nhau mà không gây nhàm chán về khẩu vị, phù hợp vớimọi người trong gia đình.
2.2.2 Giá trị dược liệu
Trước đây nhiều người còn nghi ngờ về khả năng chữa bệnh của nấm vì
sợ độc tính và các chất gây chết người của các loài nấm độc, nhưng gần đây với
sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại người ta đã chứng minh được tácdụng thần kì của các loài nấm dược liệu
Nấm Linh Chi nổi tiếng và được biết đến với nhiều tác dụng chữ bệnhtrong y học như: tăng cường khả năng miễn dịch, ngăn ngừa các bệnh tim mạch,
hô hấp, các bệnh cao huyết áp, suy nhược thần kinh Linh Chi cũng hỗ trợ trongviệc điều trị ung thư, thấp khớp, đau thận, đau dạ dày, tiểu đường…[12] Nhữngngười dùng Linh Chi sẽ chống được lão hóa, kéo dài tuổi thọ, tăng trí nhớ, ngănngừa và chống khối u [8]
Nấm hương chứa chất Lentinan có tác dụng nâng cao tính miễn dịchcủa cơ thể, chống ung thư không chỉ trong tế bào chủ phát sinh mà còn là chất
ức chế những phát sinh ung thư gây nên do virut [6], [7] Gần đây người ta cònphát hiện được một loại glycoprotein chiết từ nấm hương có hiệu quả chốngvirut HIV còn mạnh hơn cả thuốc AZT [11] Ngoài ra nấm hương còn có tácdụng chống đông máu, bảo vệ gan, giảm lượng cholesterol trong máu…
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng mộc nhĩ có khả năngchữa các bệnh như bướu cổ, máu xấu, nóng trong, tóc bạc sớm, có tác dụngchống ung thư tới 42% [12] Ngoài ba loại nấm điển hình trên còn có nhiều loạinấm có tính dược liệu cao như nấm đầu khỉ, đông trùng hạ thảo, nấm đồng tiền,nấm búp, nấm sò…
Trong y học, các nhà khoa học đã phân tích thành phần có trong nấm
sò tươi : Protein 4%, gluxit 3,4%, vitamin C, vitamin PP, axit fotoric, các axitbéo không no… Khi nấm sò dưới dạng sinh khối khô, hàm lượng protein chiếmtới 33–43%, ngoài ra còn thấy các axit amin như glutamic, valin, isoluxin… Cácnghiên cứu khác có tác dụng làm giảm thiểu đối với cholesterol và đường máucho kết quả khả quan Đối với Đông y, nấm sò có vị ngọt, tính ấm, công năng
Trang 8tán hàn và thư cân… Nấm sò còn có nhiều đặc tính của biệt dược:
Có khả năng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữabệnh đường ruột, tẩy máu xấu, hỗ trợ người bị bệnh gút trong chế độ dinhdưỡng Đặc biệt là đã có một số công trình nghiên cứu còn cho rằng nấm sò cókhả năng chống bệnh ung thư Tác dụng chống ung thư của nấm sò do sự hiệndiện của lovastatin trong tai nấm, tập trung ở phiến nấm và ở bào tử nấm, hạhuyết áp, làm tan cholesterol trong máu kể cả ở dạng kết tinh, có khả năng giảmnguy cơ mắc bệnh tim mạch Bên cạnh đó, chất Pleurotin trong nấm sò có khảnăng ức chế vi khuẩn gây bệnh Gram âm và Gram dương, ức chế sự phát triểncủa tế bào khối u [2], [9]
2.3 Phân loại và đặc điểm sinh học của hệ nấm sò P ostreatus
2.3.1 Phân loại học
Nấm sò trắng tên khoa học là Pleurotus ostreatus hay còn gọi là nấm bào
ngư, về mặt phân loại học thuộc:
Giới : Nấm (Mycota hay Fungi) [1], [4]
2.3.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của hệ nấm sò P ostreatus
Hệ sợi nấm gồm hệ sợi nguyên có vách ngăn và sợi cứng không váchngăn ngang, màng dày, đường kính sợi khoảng 3,5-6,5 nm [13]
Quả thể vừa hoặc lớn, mũ nấm có đường kính khoảng 5-21 cm, khi nhiệt
độ cao mũ nấm có màu gần trắng, khi nhiệt độ thấp mũ nấm có màu tro hay màunâu tro Phiến nấm màu trắng, xếp khít nhau, men dài xuống cuống và có thểdính lại thành dạng phân nhánh Cuống nấm màu trắng, có khi có sắc thái nâunhạt [8] Khi nuôi ở nhiệt độ thích hợp và thoáng khí, cuống nấm ngắn, khi gặpđiều kiện lạnh và kém thoáng khí, cuống nấm dài, phần gốc có phủ lông ngắn
Trang 9hay mọc dính liền với các cuống khác, kích thước 1-3 x 2-3 cm Thịt nấm màutrắng, lúc đầu mềm, sau đó khi già sẽ hơi dai Khi phơi khô có mùi rơm Bào tửhình elip dài, không màu, kích thước 3-4,5 x 7-9 nm.
2.4 Đặc điểm nuôi cấy và nhân giống nấm sò P ostreatus
Nấm sò mọc tốt trên môi trường giàu xenlullo, ưa lạnh hoặc ưa ấm, sợinấm sinh trưởng mạnh ở nhiệt độ tối ưu 20-25oC, ở giai đoạn ra quả thể nhiệt độthích hợp từ 17-20oC Nuôi trồng nấm sò thích hợp nhất ở điều kiện độ ẩm môitrường nguyên liệu nuôi cấy 60-65%, độ ẩm không khí khi nuôi sợi 70-80%, khi
ra quả thể cần độ ẩm 85-95%, pH 5,0-7,5 và cần có độ thông thoáng trong nhànuôi do nấm sò là hiếu khí, ánh sáng 200-1000 lux [5,6]
Trong kỹ thuật nhân giống nấm sò được chia ra giống nấm cấp I, cấp II vàgiống nấm cấp III Giống nấm cấp I là giống mới được tách từ giống ban đầu,được nhân trên môi trường thạch trong ống nghiệm hoặc đĩa petri Giống nấmcấp II là giống được tiếp tục nhân lên từ giống nấm cấp I, thường được nhân trênmôi trường sử dụng nguyên liệu hạt hoặc phế phụ phẩm nông nghiệp Giốngnấm cấp I, II thường được lưu giữ trong phòng nhân giống của các cơ sở nhângiống nấm để làm nguồn giống chủ động và do người có kỹ thuật phụ trách.Giống nấm cấp III là giống được cấy chuyển tiếp từ giống nấm cấp II trên môitrường tương tự về nguồn nguyên liệu nhằm cung cấp giống nấm cho thị trường
và người dân nuôi trồng sản xuất nấm phục vụ cho việc nuôi trồng nấm đại trà
Trong nhân giống nấm sò, hai phương pháp thường được sử dụng làphương pháp nhân giống bằng hệ sợi và nhân giống dịch thể Mỗi phương pháp
có ưu nhược điểm riêng Tuy nhiên phương pháp nhân giống nấm sò bằng hệ sợiđược sử dụng phổ biến hơn cả do có ưu điểm nuôi cấy đơn giản, phù hợp vớicác quy mô vừa và nhỏ, chi phí thấp [10]
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, NGUYÊN VẬT
LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 103.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủng nấm sò P ostreatus thuần chủng, quả thể màu trắng được mua tại
Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp ViệtNam, Hà Nội
3.2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của ba nguồn cacbon là tinh bột, saccaroza,
maltoza đến khả năng sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm sò P ostreatus.
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của ba nguồn nitơ là pepton, (NH4)2SO4, NaNO3
đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm sò P ostreatus.
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của ba nguồn khoáng là CaCl2, FeSO4, MgCl2
đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm sò P ostreatus.
Lựa chọn ra nguồn dinh dưỡng phù hợp nhất sử dụng trong nhân giốngnấm sò cấp I
3.3 Nguyên vật liệu sử dụng trong nghiên cứu
Nguyên vật liệu: Khoai tây, giá đỗ
Hóa chất sử dụng: Glucoza, tinh bột, maltoza, saccaroza, cồn 70-95 độ,pepton, (NH4)2SO4, NaNO3, CaCl2, FeSO4, MgCl2, cao nấm men, thạch(Agar)
Thiết bị: Tủ ấm, tủ lạnh, tủ sấy, nồi thanh trùng, box cấy, lò vi sóng, máy
đo pH
Dụng cụ: Bình tam giác, ống nghiệm, đĩa petri, que cấy, ống đong, cốcđong, cân điện, bếp điện và các dụng cụ thông thường khác
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp giữ giống trên môi trường đối chứng
Môi trường đối chứng(môi trường chuẩn nhân và môi trường giữ giống nấm sò) gồm các thành phần(g/l):
Trang 11khuấy tan thạch, đun sôi, phân môi trường vào các ống nghiệm, bình tam giác vàđĩa petri Môi trường được khử trùng ở 0,8 atm trong 30 phút Để môi trườngnguội, cấy chuyển giống và nuôi giữ giống cấp I ở điều kiện 25oC
3.4.2 Phương pháp xác định ảnh hưởng của nguồn cacbon
Sử dụng môi trường nuôi giữ giống cấp I nhưng nguồn glucoza đã đượcthay thế bằng các nguồn cacbon thí nghiệm là tinh bột, saccaroza, maltoza ởnồng độ 1%, 2%, 3%, 4% và 5%
Phân môi trường vào đĩa petri/ống nghiệm có cùng kích thước, mỗi đĩa5ml, khử trùng môi trường ở 0,8 atm trong 30 phút, khi môi trường nguội tiếnhành cấy 1% giống gốc Nuôi nấm ở nhiệt độ 25oC, trong vòng một tuần Sau đóquan sát và đo sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm trong 5 ngày liên tiếp, 24giờ đo 1 lần
3.4.3 Phương pháp xác định ảnh hưởng của nguồn nitơ
Sử dụng môi trường nuôi giữ giống cấp I có bổ sung thêm các nguồn nitơ
là pepton, (NH4)2SO4, NaNO3 ở nồng độ 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5%
Phân môi trường vào đĩa petri/ống nghiệm có cùng kích thước, mỗi đĩa5ml, khử trùng môi trường ở 0,8 atm trong 30 phút, khi môi trường nguội tiếnhành cấy 1% giống gốc Nuôi nấm ở nhiệt độ 25oC, trong vòng một tuần Sau đóquan sát và đo sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm trong 5 ngày liên tiếp, 24giờ đo 1 lần
3.4.4 Phương pháp xác định ảnh hưởng của nguồn khoáng
Sử dụng môi trường nuôi giữ giống cấp I có bổ sung thêm các nguồnkhoáng thí nghiệm là CaCl2, MgCl2, FeSO4 ở nồng độ 0,05%, 0,1%, 0,15%,0,2% và 0,25%
Phân môi trường vào đĩa petri/ống nghiệm có cùng kích thước, mỗi đĩa5ml, khử trùng môi trường ở 0,8 atm trong 30 phút, khi môi trường nguội tiếnhành cấy 1% giống gốc Nuôi nấm ở nhiệt độ 25oC, trong vòng một tuần Sau đóquan sát và đo sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm trong 5 ngày liên tiếp, 24giờ đo 1 lần
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 12Kết quả nghiên cứu thể hiện trong đề tài sử dụng giá trị trung bình của balần lặp lại thí nghiệm Số liệu được xử lý trên máy tính với ứng dụng chươngtrình Excel Dùng hàm AVERAGE để tính trung bình và hàm STDEV để phântích sai số với ba lần lặp lại thí nghiệm.
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Ảnh hưởng của các nguồn cacbon đến sự sinh trưởng phát triển của hệ
sợi nấm P ostreatus
Trang 13Nguồn cacbon là nhân tố có ý nghĩa hàng đầu đối với sự sống của tất cả visinh vi vật nói chung và nấm nói riêng Trong đó, mỗi loại nấm lại thích hợpnhất với một nguồn cacbon khác nhau và ở một nồng độ nhất định
Để xác định nguồn cacbon phù hợp nhất cho giữ giống và nhân giốngnấm chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên nguồn cacbon là tinh bột, sacaroza,
maltoza Nấm P ostreatus được nuôi cấy trên môi trường chuẩn đã được thay
đổi lần lượt chỉ chứa một trong ba nguồn cacbon nói trên ở các nồng độ 1%, 2%,3%, 4%, 5%
4.1.1 Ảnh hưởng của nồng độ tinh bột đến sự sinh trưởng phát triển của hệ sợi nấm P ostreatus:
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ tinh bột đến sự sinh trưởng
và phát triển hệ sợi nấm P ostreatus được thể hiện ở bảng 4.1, hình 4.1và ở phụ
lục 4.1:
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của nồng độ tinh bột đến sự sinh trưởng phát
triển của hệ sợi nấm P ostreatus