mô hình dạy học elearing về chương nitơphootspho của lớp 11 nhằm nâng cao phát triển khả năng tự học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. XÂY DỰNG e LEARNING CHƯƠNG “NITO PHOTPHO” hóa học lớp 11 BAN cơ bản góp PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ tự học của học SIN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ THƠ
XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG
“NITO- PHOTPHO” HÓA HỌC LỚP 11 BAN
CƠ BẢN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Hóa vô cơ
Hà Nội, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ THƠ
XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG
“NITO- PHOTPHO” HÓA HỌC LỚP 11 BAN
CƠ BẢN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Hóa vô cơ
Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN VĂN QUANG
Hà Nội, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn một cách hoàn hảo nhất, tôi xin gửi lời cảm
ơn đến thạc sĩ Nguyễn Văn Quang người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt qua trình thực hiện và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thiện luận văn.Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy côKhoa Hóa Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm giúp đỡ tạo điềukiện để luận văn hoàn thiện đúng thời hạn
Và tập thể các bạn sinh viên cùng lớp, gia đình đã động viên giúp đỡ trong thời gian nghiên cứu để tôi có thể hoàn thiện luận văn này
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thơ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT & TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
ĐHQG : Đại học quốc gia
Trang 5sẽ hỗ trợ bổ sung cho các phương thức đào tạo truyền thống góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO khi nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục đào tạo là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước và cá nhân E–learning sẽ là một phương thứcdạy và học rất phù hợp trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xã hội khi nước ta gia nhập WTO
E–learning là mô hình giáo dục “ tri thức” , là mô hình giáo dục hiện đại nhất, hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTT
& TT là mạng Internet Mô hình này đã tạo ra những yếu tố thay đổi sâu sắc trong giáo dục, yếu tố thời gian và không gian sẽ không còn bị ràng buộc chặt chẽ, học sinh tham gia học tập mà không cần đến trường Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục, học sinh phải học cách truy tìm thông tin bản thân cần, đánh giá và xử lí thông tin để biến thành tri thức qua giao tiếp
Trang 6E-learning đang là xu hướng chung của giáo dục thế giới Việc triển khai E-learning trong giáo dục đào tạo là một xu hướng tất yếu nhằm đưa giáo dục Việt Nam tiếp cận với giáo dục thế giới.
Học sinh THPT hiện nay vẫn quen với cách học truyền thống thụ động, chưa tự mình tìm đến kiến thức, chưa học theo nhu cầu, năng lực, sở thích thật sự của bản thân Vì vậy, việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục bao gồm cả việc giúp học sinh tiếp cận cách học, chủ động, tự tìm hiểu, kiểm tra, đánh giá, tích cực trao đổi với giáo viên, bạn bè lầ một vấn
đề cấp thiết
Xuất phát từ lí do trên, tôi đã nghiên cứu đề tài: Xây dựng E-learnig chương “Nitơ-Photpho” hóa học lớp11ban cơ bản góp phần nâng cao chất lượng tự học của học sinh
2 Mục đích xây dựng.
Xây dựng E-learning chương “Nitơ – photpho” hóa học 11 ban cơ bảnnhằm nâng cao chất lượng học tập và góp phần đưa HS THPT tiếp cận với phương thức học tập hiện đại dựa trên CNTT & TT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể nghiên cứu: Qúa trình dạy học hóa học ở trường Phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình E-learning chương “ Nitơ – Photpho” hóa học 11 cơ bản
4 Nhiệm vụ của đề tài.
Để thực hiện đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản và cách thức khai thác ứng dụng E-learning
- Nghiên cứu cơ sở lí luận việc dạy và học bằng E-learning, cách thức xây dựng E-learning
Trang 7- Nghiên cứu phương pháp dạy và học hóa học 11 bằng E-learning.
- Xây dựng chương trình E-learning chương “ Nitơ – photpho” dùng dạy học hóa 11 cơ bản
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả của đề tài
và đề xuất ứng dụng E-learning trong dạy học hóa học phổ thông
5 Phạm vi nghiên cứu.
- Giới hạn nội dung vấn đề xây dựng E-learning hỗ trợ việc dạy học hóa học 11 với nội dung thuộc chương “ Nitơ – photpho” chương trình hóa
11 trung học phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trường THPT Tống Văn Trân
6 Giả thuyết khoa học.
Nếu sử dụng kết hợp E-learning với phương pháp dạy học truyền thống một cách có hiệu quả sẽ giúp HS tiếp cận với phương thức học tập hiện đại, làm nền tảng cho việc xây dựng toàn bộ chương trình E-learning hóa học phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng học tập môn hóa học 11
ở trường THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu cở sở lí luận:
Đọc và nghiên cứu lí luận dạy học dựa trên CNTT & TT, nghiên cứu tài liệu về cách thức, phương pháp xây dựng chương trình E-learning
Đọc và nghiên cứu tài liệu lí luận dạy học THPT, tâm lí học, đặc biệt
là tâm lí khi học bằng phương tiện máy tính và mạng Internet và các tài liệukhoa học có liên quan đến đề tài
- Phân tích và tổng hợp lí thuyết
Nghiên cứu thực tiễn các phiếu điều tra cơ bản:
+ Dùng phiếu điều tra thăm dò hiểu biết của HS về E-learning
Trang 8+ Thăm dò ý kiến của HS sau khi học xong chương “ Nitơ – Photpho”bằng kết hợp giữa phương pháp truyền thống với E-learning.
+ Dùng phiếu điều tra thăm dò ý kiến của GV về dạy học kết hợp giữaphương pháp truyền thống với E-learning
- Thực nghiệm sư phạm tiến hành lên lớp có kết hợp E-learning và không kết hợp E-learning So sánh kết quả học tập
8 Điểm mới của đề tài.
- Nghiên cứu cách thức xây dựng chương trình E-learning cho bộ mônhóa học
- Nghiên cứu việc dạy học kết hợp E-learning với phương thức dạy học truyền thống
- Đánh giá sơ bộ chương trình learning, tâm lí HS khi học
E-learning từ đó đưa ra những đóng góp tích cực cho cách thức xây dựng chương trình E-learning hóa học và cách thức dạy học hóa học bằng E-learning phù hợp với thực tiễn hơn, hiệu quả hơn
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu E-learning
1.1.1.Lịch sử phát triển của E – learning
Thuật ngữ E-learing đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong một vài thập kỉ gần đây Cùng với sự phát triển của tin học và truyền thông, các phương thức giáo dục ngày càng được cải tiến nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người học Ngay từ khi mới ra đời, E-
learning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện và đào tạo của các nước trên thế giới, được chứng minh qua sự thành công của hệ thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp E-learning của nhiều quốc gia như Mĩ, Anh, Nhật…
Gắn với sự phát triển của CNTT và phương pháp giáo dục đào tạo quátrình phát triển của E-learning có thế chia ra làm bốn thời kì như sau:
- Trước năm 1983: Thời kì này, máy tính chưa được sử dụng rộng rãi,
phương pháp giáo dục “Lấy GV làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các sở giáo dục
- Giai đoạn 1984 – 1993: Sự ra đời của hệ điều hành Window 3.1,
máy tính Mantosh, phần mềm máy tính trình chiếu PowPoint, cùng các công cụ phương tiện khác đã mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên đa phương tiện Cho phép tạo ra những bài giảng có tích hợp âm thanh và hìnhảnh dựa trên công nghệ Computer Base Training (CBT) Bài học được phân phối qua đĩa CD – ROM hoặc đĩa mềm Vào bất cứ thời gian nào, ở đâu người học có thể mua và tự học Tuy nhiên, sự hướng dẫn của GV là rất hạn chế
- Giai đoạn 1993 – 1999: Công nghệ Web được phát minh Các
chương trình E-mail, Web, Video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ Web như
Trang 10HTML, JAVA bắt đầu trở nên thông dụng và đã làm thay đổi bộ mặt giáo dục đào tạo bằng đa phương tiện.
- Giai đoạn 2000 - đến nay: Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA
và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và băng thông Internet rộng , các công nghệ thiết kế Web đã trở thành cuộc cách mạng trong giáo dục và đào tạo
Ngày nay, thông qua Web, GV có thể hướng dẫn trực tuyến( hình ảnh,
âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ chất lượng cao và hiệu quả Đó chính là kỉ nguyên của E-learning
1.1.2 Khái niệm E-learning
E-learning(viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng
để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin
Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học
sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy vàngười học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
1.1.3 Đặc điểm của E-learning.
Trang 11- Dựa trên CNTT & TT: cụ thể là công nghệ mạng kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
- E-learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do tính tương tác cao dựa trên Multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, và cũng đưa ra những nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
1.1.4 Ưu, nhược điểm của E-learning.
Ưu điểm:
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi của Internet đã dần xóa đi khoảng cách về thời gian và không gian cho E-learning Người học có thể chủ động học tập, thảo luận bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu
- Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ Multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh làm tăng thêm tính hấp dẫn của bài học
- Tính linh hoạt: Người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình
- Tính cập nhật: Nội dung bài học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng tốt nhất và phù hợp nhất với học sinh
- Học có sự hợp tác, phối hợp: Các học sinh có thể dễ dàng trao đổi thông tin với nhau, với giáo viên qua các diễn đàn (forum), hội thoại, trực tuyến (chat), thư từ (e – mail)…
- Tâm lí dễ chịu: Mọi rào cản về tâm lí giao tiếp của cả người dạy và người học dần dần bị xóa bỏ, mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm
Trang 12- Các kĩ năng làm việc hợp tác, tự điều chỉnh để thích ứng của người học sẽ được hoàn thiện không ngừng.
Do đó, khi đến với E-learning mọi thành phẩn không phân biệt trình
độ, giới tính tuổi tác đều có thể tìm cho mình một hướng tiếp cận khác nhau với vấn đề mà không bị ràng buộc trong một khuôn khổ cụ thể nào (cánhân hoặc người học)
1.1.5 Phương pháp sư phạm tương tác trong E-learning.
Quan điểm về dạy học ở trung học phổ thông hiện nay:
E-learning cho học sinh trung học phổ thông của một số quốc gia
- Nhiều nước trên thế giới đã triển khai mạnh mẽ E-learning ở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và huấn luyện nhân viên trong các công
ty Những năm gần đây E-learning cũng đã và đang triển khai cho học sinh trung học phổ thông, điển hình là các nước Hoa kì, Hàn Quốc, Nhật Bản…
ở Hoa kì đã có hàng triệu học sinh phổ thông đăng kí học online Đưa lớp
học lên mạng Internet là một trào lưu đang bùng nổ tại nước này Tại nhiều
bang ở Hoa kỳ các nhà quản lí giáo dục đã ban hành quy định trước khi được công nhận tốt nghiệp, mỗi học sinh phải đăng kí học một môn nhất định tại các lớp học trực tuyến Các lớp học trực tuyến này có thể được tổ chức tập trung tại các trường hoặc học sinh học ở nhà Đây là bước chuẩn
Trang 13bị nhằm trang bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc học tại các trường đại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỉ 21.Theo ước tính của Bộ giáo dục Hoa kì, các nước này đã có khoảng
710 trường phổ thông áp dụng phương thức học trực tuyến với khoảng 1,03 triệu học sinh (trong đó có hơn 20000 học sinh học toàn phần) tính đến năm 2007 – 2008 E-learning cũng là giải pháp khá phù hợp với những học sinh trượt tốt nghiệp hay những nhóm học sinh lười học Chẳng hạn ở Quận 13 Tokio (Nhật Bản) có hàng chục học sinh lười học, không muốn đến trường Phòng giáo dục Quận đã xây dựng Website riêng để những họcsinh này học ở nhà, theo hình thức “ vừa học vừa chơi”
Là một quốc gia châu Á, kinh tế của Hàn quốc cũng chưa phải là tốp ten của thế giới nhưng giáo dục nước này đã không ngần ngại đầu tư cho E-learning hàng tỷ USD, đầu tư cho sự phát triển Internet gấp 10 lần vào năm
2014 Hàn Quốc sẽ phải đấu tranh để trở thành một tiêu điểm về xu hướng giáo dục mới để thế giới nhìn vào
Nhiều trường học trên mạng ( Web schcool) ra đời và trở thành nổi tiếng, Megastudy là một điển hình và trở thành mạng giáo dục trực tuyến lớn nhất tại Hàn Quốc với doanh số hàng năm trên 245 tỉ won (3500 tỉ Việt Nam đồng) Lượng học sinh theo các cấp bậc được phân ra: Trung học phổ thông (www.megastudy.net) với 2,4 triệu người ghi danh, trung học cơ sở (www.mbest.net) với 2 triệu người, tiểu học (www.mjunior.net) với 3,7 triệu người
Chính phủ Hàn Quốc Xem Web như một công cụ để hạ nhiệt chi phí dạy kèm tại các trung tâm luyện thi, tái lập bình đẳng trong giáo dục EBS, kênh truyền hình học đường của chính phủ mở trang Web cung cấp các bài giảng ôn thi đại học miễn phí, cho đến nay thu hút trên 3 triệu thành viên Một số giáo viên, giảng viên giỏi ở Hàn Quốc cho rằng: E-learning mang
Trang 14lại công bằng hơn cho giáo dục, do những học sinh nghèo có thể tham gia vào khóa luyện thi của những thầy, cô giỏi với mức học phí rất ít so với lớpluyện thi thông thường.
E – learning cho giáo dục ở Việt Nam
- Những chủ trương và giải pháp lớn:
CNTT đối với giáo dục Việt Nam phát triển mạnh mẽ khi bước vào thế kỉ 21 Chỉ thị 58 – CT/TW ngày 17/02/2000 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nêu rõ “Đẩy mạnh CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, các ngành học Phát triển các hình thức đào tạo
từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt, tập trung phát triển mạng maý tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối mạng Internettất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo” Thực hiện chỉ thị số 29 (năm 2001)
về việc tăng cường ứng dụng CNTT trong giai đoạn giáo dục 2002 – 2003
và chỉ thị số 55 (năm 2008) về việc tăng cường ứng dụng CNTT trong giai đoạn giáo dục 2008 – 2012
Trong những năm qua hạ tầng CNTT trong ngành giáo dục được đầu
tư mạnh mẽ với việc hoàn thành “mạng giáo dục Edunet” năm 2010
(chương trình hợp tác giữa Bộ giáo dục và đào tạo với tập đoàn viên thông quân đội viettel), kết nối Internet băng thông rộng đến tất cả các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học Nhiều trường đại học, cao đẳng đã trang bị hạtầng CNTT, thiết bị dạy học hiện đại và từng bước triển khai E-learning Một số khóa học trực tuyến, dạy học qua mạng được mở ra
Chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là tích cực triển khai các hoạt động xây dựng một xã hội học tập mà ở đó mọi công dân( từ THPT, SV, các tầng lớp người lao động…) đều có cơ hội được học
Trang 15tập, bất cứ lúc nào (any time), bất cứ nới đâu (any where) và học tập suốt đời (life long learning) Để thực hiện được mục tiêu trên, E-learning có mộtvai trò chủ đạo trong việc tạo ra một môi trường học tập ảo.
Một số khó khăn khi triển khai E – learning cho học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam
Một là: Về xây dựng nguồn tài nguyên bài giảng: Để soạn bài giảng E-learning có chất lượng đòi hỏi tốn nhiều công sức của giáo viên Hiện nay chế độ hỗ trợ chưa phù hợp với công sức bỏ ra để soạn bài giảng E- learning, vì vậy chưa khuyến khích được giáo viên Đời sống của giáo viên gặp nhiều khó khăn, áp lực thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục… hậu quả là giáo viên không có thời gian đầu tư cho E-learning Nhiều giáo viên giỏi về chuyên môn và khả năng sư phạm, sử dụng phần công nghệ (ghi hình, thu âm, sử dụng phần mềm) còn hạn chế nên chưa phát huy được đội ngũ này
Hai là: Về phía người học: Học tập theo phương pháp E-learning đòi hỏi người học phải có tinh thần tự học, do ảnh hưởng của cách học thụ động truyền thống, tâm lí học phải có thầy (không thầy đố mày làm nên) nội dung quá tải tại trường… dẫn đến việc tham gia học E-learning chưa trở thành động lực học tập Nhiều học sinh nghèo, nhất là ở vừng sâu vùng
xa, chưa thể trang bị máy vi tính kết nối Internet, nhiều thông tin trên mạngInternet dẫn đến gia đình lo lắng khi con em mình vào mạng cũng là lí do hạn chế E-learning đối với học sinh trung học phổ thông
Ba là: về cơ sở vật chất: Đòi hỏi phải có hạ tầng CNTT đủ mạnh, có đường truyền cáp quang, xây dựng Website trường học và Website E-
Trang 16learning hoàn chỉnh chi phí cao, nếu không tận dụng hết khả năng của Web sẽ gây lãng phí.
Bốn là: Về nhân lực phục vụ Website E – learning: Cần có cán bộ chuyên trách phục vụ sự hoạt động của hệ thống E-learning Tuy nhiên, theo quy định hiện tại chưa có cơ hế hoạt động này ở các trường phổ thông
Đề xuất giải pháp : Trên những cơ sở bước đầu và thực trạng
E-learning của học sinh phổ thông Việt Nam chúng tôi đề xuất giải pháp sau: Thứ nhất: Về nhận thức Bộ giáo dục và đào tạo các trường đại học và cao đẳng các cơ sở giáo dục cần xác định E-learning là một chiến lược trong giáo dục mới hướng tới xã hội học tập Cần triển khai, tuyên truyền, nhân rộng E-learning không chỉ có ngành giáo dục mà còn với toàn xã hội
Bộ và sở giáo dục tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong việc xây dựng các Website E-learning của các nước
Thứ 2: Tăng cường tập huấn về phương pháp kĩ năng, sử dụng tổng hợp nhiều hợp phần để tạo bài giảng E-learning Đầu tư trang thiết bị, hỗ trợ kinh phí cho giáo viên, giảng viên trong việc tạo bài giảng
Thứ 3: Các trường phổ thông hướng đến online hóa trường học bao gồm online về quản lí, điều hành, tác nghiệp và online về dạy học Website trường học phải trở thành địa chỉ thân thiện với cán bộ, giáo viên, học sinh
và cha mẹ học sinh Hướng dẫn phương pháp tự học, học tập và trao đôỉ qua mạng cho học sinh Đây là kĩ năng cần thiết để học tập ở các trường
ĐH và giáo dục nghề nghiệp sau này
Thứ 4: Qua phân tích trên vai trò của giáo viên là rất quan trọng trong việc triển khai E-learning Vì vậy, các trường sư phạm là các trường thực hiện E-learning lớn nhất SV sư phạm ra trường không chỉ nắm bắt được
Trang 17phương pháp học tập mà còn là người tạo ra bài giảng phục vụ cho giảng dạy, các bài giảng E-learning phục vụ cho tự học của học sinh.
Như vậy, E-learning có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp dạy học truyền thống, tạo ra được một môi trường rất tốt phục vụ cho phương pháp dạy học tương tác, cá nhân hóa người học Tuy vậy, với những nhược điểm nêu trên, E – learning cũng không phải là một giải pháp hoàn hảo và cũng không thể thay thế hoàn toàn phương pháp học truyền thống
Vì vậy, một giải pháp kết hợp là sử dụng E – learning và những
phương pháp giảng dạy truyền thống song song Học sinh có thể thực hiện mọi hoạt động học tập có thể trên E-learning, tham gia như đang học trên một khóa học thực sự Trừ giờ thực hành, thí nghiệm sẽ phải lên phòng thí nghiệm để tiếp cận thực sự với công việc Ngoài ra, có thể gặp giáo viên trong một số buổi để thảo luận, trao đổi và giải quyết một số vấn đề nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội
1.2 Cách xây dựng E-learning dựa trên phần mềm Lecture Maker
1.2.1 Làm quen với môi trường làm việc của Lecture Maker.
LectureMaker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử đa phương tiện, sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com) Với
LectureMAKER, bất kỳ ai cũng có thể tạo được bài giảng đa phương tiện nhanh chóng và dễ dàng Không chỉ có vậy, bạn còn có thể tận dụng lại cácbài giảng đã từng làm trên những định dạng khác như PowerPoint, PDF, Flash, HTML, Audio, Video… để đưa vào làm nội dung bài giảng mới của mình với ý nghĩa:
- Bài giảng được tạo ra trên một bố cục trình bày đồng nhất cho tất cả các trang nội dung của bài giảng
Trang 18- Bài giảng sẽ được chia thành các phần tương ứng như trong một tiết học với phần kiểm tra bài cũ, phần bài học mới và phần củng cố kiến thức mới học.
- Bài giảng điện tử nhấn mạnh đến khả năng tự học của người học, do
đó lời GV sẽ được đồng bộ với nội dung của bài giảng Khi đó thầy giáo giảng tới đâu (video) thì nội dung bài giảng sẽ được hiện thị tới đó (các trang nội dung)
- Bài giảng được tạo ra từ Lecture Maker tương thích với chuẩn
SCORM để làm bài giảng E-learningcho các hệ thống học tập trực tuyến.Khởi động chương trình Lecture Maker, màn hình chính của chương trình có dạng như sau:
Hình 1.1 : Màn hình chính
Trên màn hình này:
1 – Lecture Maker button: Nút truy cập nhanh các chức năng New, Open,
Save, Print
2 – Ribbon Menu: Menu các chức năng của phần mềm với các menu:
- Home: Các chức năng về định dạng văn bản
Trang 19- Insert: Chèn các đối tượng như multimedia, biểu đồ, công thức…
- Control: Đặt các hiệu ứng cho đối tượng và trang trình diễn
- Design: Cho phép chèn hình nền, mẫu trình bày (layout) cho bài giảng
- View: Trình diễn bải giảng, mở các cửa sổ khác
4 – Working area: Vùng làm việc của Slide hiện tại.
5 – Object list: Danh sách các đối tượng đang có trên Slide hiện tại.
1.2.2 Xây dựng E-learning dựa trên phần mềm Lecture Maker.
- Tạo một bài giảng mới:
Để tạo mới một bài giảng, kích chọn nút Lecture Maker button , sau đó chọn New, một bài giảng mới sẽ được tạo ra.
- Đặt hình nền cho bài giảng mới:
Sau khi kích chọn nút New, một bài giảng trắng sẽ được tạo ra như:
Hình 1.2: Trang trắng
Trang 20Để đưa hình nền vào cho trang nội dung được đẹp mắt, sinh động có
Trang 21Ở ô Background Image, chọn nút Open bên cạnh ô đó và tìm đến nơi đặt ảnh mong muốn làm ảnh nền.
- Lưu bài giảng mới tạo:
Để lưu bài giảng đã tạo, bạn kích chọn nút Save ở trên cùng của
cửa sổ Lecture Maker Cửa sổ Save As sẽ yêu cầu bạn đặt tên và nơi cất bàigiảng
Chú ý : Trong khi soạn thảo nội dung bài giảng, bạn nên luôn ghi bài
giảng của mình lại bằng cách sử dụng nhanh tổ hợp phím Ctrl + S Làm
như vậy, bạn sẽ tránh được việc mất nội dung đã soạn khi đóng vào mà không lưu bài giảng
- Mở một bài giảng đã tạo: có 2 cách
Cách 1: Mở từ phần mềm:
Trên phần mềm Lecture Maker đang mở, bạn kích chọn nút Lecture
Maker button, chọn Open và tìm đến nơi cất file đã tạo để mở ra.
Cách 2: Mở trực tiếp từ file đã tạo:
Bạn có thể kích đúp lên file đã tạo sẽ được mở ra trên chương trình Lecture Maker
Chú ý: Để mở file ở dạng Ten_file.lme ra để soạn thảo tiếp thì yêu
cầu trên máy tính đã cài đặt phần mềm Lecture Maker
- Thiết kế bố cục đồng nhất cho bài giảng:
Tạo tính thống nhất cho bài giảng được thực hiện thông qua chức
năng Slide Master Chức năng này cho phép bạn xác định và áp dụng
những đối tượng chung nhất như là phông chữ, định dạng, các thiết kế
menu, hình ảnh,… sẽ xuất hiện trên tất cả các trang trình diễn của bài
giảng
Trang 22Khởi động chương trình LectureMaker Từ màn hình chính của
chương trình kích chọn nút View Master Slide, khung hình Slide Scene bêntrái sẽ chuyển thành khung hình MasterSlide:
Silde Master gồm có 2 Slide:
- Title Master: tương ứng với Slide đầu tiên của bài giảng, là Slide giới thiệu thông tin về bài giảng
- Body Master: tương ứng với các Slide nội dung trong bài giảng
Để tạo tính thống nhất cho bài giảng:
+ Đầu tiên là chọn 1 mẫu template cho Title Master bằng cách kích chọn Slide Title Master trên khung hình Slide Master, sau đó trong ô
Template của menu Design, tiến hành chọn một mẫu template mong muốn.
+ Với Slide Body Master, chọn Slide này trong khung hình Slide
Master rồi chọn một mẫu template mong muốn trong ô Template của
menu Design.
Kết quả ta được như dưới hình:
Hình 1.5 Thiết lập Slide
Trang 23Chú ý : Bạn tạo tính thống nhất cho bài giảng trên khung hình Master Slide Để soạn thảo nội dung bài giảng, bạn phải đóng khung hình Master Slide này lại để trở về khung hình soạn thảo Slide Screen.
- Đưa nội dung đã có trên Power point vào bài giảng.
Sau khi đóng khung hình MasterSlide, ta quay trở về khung hình SlideScreen Lúc này trên màn hình có sẵn Slide đầu tiên là Slide mà bạn sẽ đưa các nội dung giới thiệu về bài giảng như là: Tên bài giảng, Nội dung gì, Họtên thầy giáo, Tên trường …
Đưa nội dung giới thiệu vào Slide đầu tiên:
Hình 1.6 Slide giới thiệu
Ta tiếp tục thêm một trang mới bằng cách kích chọn nút Insert Slide
ở thanh công cụ bên dưới khung hình Slide, hoặc nháy chuột phải vào khung hình Slide, chọn New Slide Slide mới được thêm vào với đầy đủ các thành phần mà ta đã định sẵn trên khung hình Slide Master, bao gồm: 1khung hình chính thể hiện nội dung bài giảng, một menu định hướng bài giảng như:
Trang 24Hình1.7 Trang mới
Tới đây, ta sẽ tận dụng lại bài giảng mà ta đã từng soạn thảo trên PowerPoint để làm thành một bài giảng mới Trên khung hình dự kiến thể hiện nội dung, kích chọn nút PowerPoint , cửa sổ Open mở ra, tìm tới file bài giảng powerpoint và kích chọn Open
Hình 1.8 Mở file powerpoint.
Cửa sổ Import PowerPoint File xuất hiện, bạn lựa chọn các slide sẽ
đưa vào hoặc chọn tất cả các slide Nếu bạn muốn giữ nguyên các hiệu ứng
Trang 25của file Powerpoint thì tại mục Type trong ô Insert, bạn chọn As
PowerPoint Document, còn nếu chỉ muốn lấy nội dung thì bạn chọn As Image:
Hình 1.9 Đưa slide từ PowerPoint vào bài giảng.
Sau khi bạn kích nút Import, LectureMAKER sẽ tự động tạo ra số Slide tương ứng với số Slide đã được chọn, đồng thời đặt nội dung các slide vào đúng vị trí ô thể hiện nội dung trên bài giảng như hình dưới:
Hình 1.10 Các slide được đưa vào.
Kiểu insert Lựa chon slide
Trang 26Ngoài ra, có thể đưa nội dung bài giảng bằng các công cụ soạn thảo bằng cách nhập vào trong các text box Để thêm một hộp textbox, ta chọn menu Insert, chọn Textbox Trên slide đang mở, kéo thả chuột tại vị trí muốn đặt textbox rồi nhập văn bản vào đó.
Để định dạng cho văn bản, chọn menu Home, dùng các ô tương ứng
để định dạng
- Đưa công thức toán học bài giảng.
Để đưa công thức toán, hóa, vật lí vào, từ menu Insert, kích chọn Equation, trang soạn thảo công thức hóa học:
Hình 1.11 Soạn công thức hóa học.
Chọn danh mục các biểu thức rồi chọn biểu thức trong ô Symbol, khi
đó trong vùng soạn thảo sẽ xuất hiện biểu thức và ta nhập giá trị dưới dấu toán tử vào
Soạn thảo xong công thức, kích chọn vào hình chiếc ghim để công thức được chèn vào trong bài học Dùng chuột kéo thả công thức đến
vị trí thích hợp
Danh mục biểu thức Chọn biểu thức
Trang 27- Đưa video minh họa vào bài giảng.
Để đưa file video vào làm minh họa cho bài giảng để khi người học học thì vừa được học nội dung, vừa thấy được thầy và nghe được tiếng thầygiảng thì trên khung hình Slide, chọn Slide thứ 2, tại ô dự kiến thể hiện video, ta kích đúp vào khung hình đó, cửa sổ Open mở ra cho ta chọn file video cần đưa vào:
Hình 1.12 Chèn file video vào
Chú ý: Nếu bạn muốn chèn video vào các vị trí khác, từ menu Insert,
kích chọn nút Video và chọn file cần đưa vào, sau đó di chuyển đối tượng Video đó tới vị trí mong muốn trên trang nội dung
Lúc này khi bạn xem bài giảng của mình thì thấy rằng tệp video chỉ chạy trên slide mà ta đã đặt tệp video đó vào Vậy để đúng mục đích bài giảng của chúng ta là có video chạy và nội dung các trang hiện thị tương ứng với video thì ta sẽ thực hiện đồng bộ video với các trang này
- Thực hiện đồng bộ nội dung bài giảng với video.
Thực hiện đồng bộ, trên slide đã đặt video, nháy chuột phải vào khunghình Video và chọn Object Property Cửa sổ Object property mở ra, kích chọn Sync with Slide và kích chọn nút Sync Setup như hình dưới:
Trang 28chỉ cần kích nút Sync ở bên dưới Khi đó, trên cột Sync Time sẽ thể hiện
thời gian bắt đầu xuất hiện Slide nội dung khi video chạy tới
Để gỡ bỏ thời gian đồng bộ khỏi nội dung bài giảng, cũng trên cửa sổ
đồng bộ Video này, kích chọn nút Remove All.
- Đưa câu hỏi kiểm tra vào bài giảng.
Trang 29Lecture Maker cung cấp 2 dạng câu hỏi tương tác: câu hỏi đa lựa chọn
và câu hỏi trả lời ngắn:
Trên bài giảng này, chúng ta sẽ đưa vào một câu hỏi dạng đa lựa chọn làm câu hỏi cho phần kiểm tra bài cũ và một câu hỏi dạng trả lời ngắn làm câu hỏi cho phần củng cố kiến thức
Để có phần kiểm tra bài cũ, ta thêm một slide mới vào trước slide thứ
1 trong bài giảng của chúng ta (slide thứ nhất là slide tiêu đề và giới thiệu
về bài học) Từ menu Insert, trong ô Quiz, chọn Multiple Choice Quiz,
trên slide xuất hiện các hộp text box để ta nhập câu hỏi và các phương án trả lời như dưới hình:
Hình 1.15 Quiz
Trên cửa sổ Property của Quiz:
- No of Choice: số lượng các phương án trả lời
- Horizontal: Sắp xếp các phương án trả lời thành mấy cột
- Vertical: Sắp xếp các phương án trả lời thành mấy hàng
- Answer Count: One - Một đáp án đúng; Multiple - Nhiều đáp án đúng
Trang 30- Choice Shuffle: Đảo thứ tự các phương án trả lời để phương án trả lời không xuất hiện cùng vị trí ở các lần xem khác nhau.
- Show answer: Có hiện thị câu trả lời đúng sau khi người học kích nút submit không
- Choice Symbol: Các dạng nút lựa chọn: nút radio, nút check,
- Correct Answer/Incorrect Answer: Xử lý các tình huống câu trả lời đúng thì làm gì, sai thì làm gì
Chú ý: - Để hiện thị được thông báo tiếng Việt sau khi người học
submit, hãy chọn Show Message Box và gõ nội dung thông báo trong ô Correct/Incorrect ở hộp thoại Multiple Choice Quiz Property sau đó ấn OK.(cách mở như trên)
Tiếp tục đưa câu hỏi dạng trả câu trả lời ngắn vào phần củng cố kiến
thức, ta thêm vào cuối bài giảng một slide mới Tiếp theo, từ menu Insert, chọn Short Answer Quiz, trên trang slide xuất hiện một hộp textbox cho
bạn nhập câu hỏi và một ô text cho bạn nhập đáp án trả lời Để xác định cácthuộc tính cho câu hỏi này, chọn và nháy chuột phải lên đối tượng này bên cửa sổ Object list, rồi chọn Object Properties như:
Hình 1.16 Thuộc tính câu hỏi dạng trả lời ngắn
Trang 31Trên cửa sổ thuộc tính của Short Answer Quiz:
- Correct Answer Decision: Các lựa chọn cho câu trả lời
Ignore spaces: so sánh đáp án có bỏ qua các khoảng trống
Ignore case: so sánh đáp án không phân biệt chữ hoa, chữ thường
Ignore Punctuation: so sánh đáp án mà không quan tâm đến các dấu câu
- Kết xuất bài giảng.
+ Kết xuất bài giảng ra định dạng web
+ Kết xuất ra định dạng SCO
+ Kết xuất ra gói SCORM
+ Kết xuất ra file chạy exe
Kết luận chương 1: Như vậy với những ưu điểm tiện ích của phần
mềm Lecture Maker đã giúp chúng tôi kết hợp xây dựng bài giảng
E-learning chương “ Nitơ-photpho” góp phần nâng cao chất lượng tự học,khả năng tiếp cận với những phương pháp học tập hiện tại cho học sinh.Sau đây, chúng tôi sẽ đưa một số bài giảng đã được xây dựng
Trang 32CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG
“NITƠ-PHOTPHO” HÓA HỌC LỚP 11 BAN CƠ BẢN
Bài giảng chương “ Nitơ-photpho” đã xây dựng được:
CHƯƠNG 2: NITƠ-PHOTPHO
Bài 7: Nitơ – Tiết 11
Trang 33Bài 8: Amoniac và muối amoni – Tiết 12,13
Trang 34Bài 9 Axit nitric và muối nitrat – Tiết 14,15