BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 Hoàng Trung Hiếu Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn học sinh lớp 12 THPT Ban KHTN giải bài tập chương Hạt nhân nguyên tử giúp h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Hoàng Trung Hiếu
Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn
học sinh lớp 12 THPT Ban KHTN giải bài tập chương Hạt nhân nguyên tử giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI, 2010
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Vật lí và phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Hà nội 2 cùng các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS : Nguyễn Thế Khôi, người đã quan tâm, động viên hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình nghiên cứu
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên vật lí ở các trường THPT A Duy Tiên, THPT B Duy Tiên, THPT C Duy Tiên, đã giúp tôi trong đợt TNSP
Tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm
động viên giúp đỡ nhiệt tình và tạo mọi điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 09 năm 2010
Tác giả
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ ®iÒu tra trong luËn v¨n lµ trung thùc vµ cha tõng c«ng bè ë trong bÊt k× c«ng tr×nh nµo kh¸c
NÕu sai t«i hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm
Hµ Néi, th¸ng 09 n¨m 2010 T¸c gi¶ luËn v¨n
Hoµng Trung HiÕu
Trang 4
MụC LụC
Trang Trang phụ bìa
1.5 Mối quan hệ giữa giải BTVL và nắm vững kiến thức, phát triển
năng lực giải quyết vấn đề trong hoạt động giải BT của HS
18
1.6 Các hình thức sử dụng BT và hoạt của GV trong tiết học VL 22 1.7 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải BTVL 23 1.8 Các kiểu hướng dẫn HS phỏ thông giải BTVL 25
1.9 Thực trạng dạy giải BTVL chương “Hạt nhân nguyên tử
trong chương trình VL lớp 12 THPT Ban KHTN ở một số trường
Trang 52.1 Vị trí, nhiệm vụ và thời lượng chương “Hạt nhân nguyên tử” 32
2.5 Hướng dẫn giải hệ thống BT chương Hạt nhân nguyên tử trong
chương trình VL lớp 12 THPT Ban KHTN giúp HS nẵm vững kiến
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 7Danh mục các bảng
1 Bảng 1.1 Phân loại BTVL
2 Bảng 2.1 Sơ đồ cấu trúc logic chương “Hạt nhân nguyên tử”
3 Bảng 2.2 Dạng công thức xác định các đại lượng trong hiện tượng phóng xạ
Trang 8Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người đảm bảo cả về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí
được nâng cao Yêu cầu đó đòi hỏi ngành Giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện nhằm tạo ra những con người có đủ kiến thức, năng lực sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt làm chủ đất nước
Sự phát triển nhanh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ, dẫn đến học vấn mà nhà trường trang bị cho người học không thể thâu tóm hết tri thức mong muốn Bởi vậy, cần phải coi trọng việc trang bị cho người học phương pháp tự lực chiếm lĩnh tri thức của loài người, trên cơ sở đó tiếp tục tự học suốt đời Người học không chỉ tái hiện tri thức dưới dạng có sẵn
mà chủ yếu phải có năng lực chiếm lĩnh và sử dụng tri thức từ kĩ năng phát hiện đến giải quyết vấn đề (GQVĐ)
Hiện nay, chúng ta đang rất coi trọng những nghiên cứu đổi mới dạy học ở trường phổ thông theo hướng đảm bảo được sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (HS), bồi dưỡng tư duy khoa học, năng lực tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực tự GQVĐ thích ứng với thực tiễn cuộc sống và sự phát triển của nền kinh tế tri thức Hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam
khoá VIII chỉ rõ : Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp, bậc học,
áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực GQVĐ và đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Một trong những biện pháp quan trọng để
thực hiện đường lối trên là đưa HS vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức,
Trang 9thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực trí tuệ
Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo và GQVĐ cho người học có thể thực hiện ở tất cả các bộ môn trong chương trình Trung học phổ thông(THPT) Trong dạy học VL, có thể giúp HS nâng cao chất lượng học tập và phát triển năng lực GQVĐ bằng nhiều biện pháp, phương pháp khác nhau Một trong số
đó là giải bài tập vật lí (BTVL) Giữ vai trò là một phương pháp dạy học, giải BTVL có tác dụng tích cực đối với khả năng nắm vững kiến thức, vận dụng vào thực tế và bồi dưỡng năng lực làm việc độc lập của HS
Bên cạnh đó, số lượng BT trong sách giáo khoa, sách BT và các tài liệu tham khảo là khá nhiều và đa dạng Điều này gây khó khăn cho nhiều GV trong việc lựa chọn và hướng dẫn hoạt động giải BT cho HS Vì vậy, cần phải
có một sự lựa chọn, phân loại, sắp xếp lại các loại BT theo một hệ thống tối ưu phù hợp với chương trình giáo dục và thời gian dành cho HS ở lớp học cũng như ở nhà Bởi vậy cần phải nghiên cứu BTVL dựa trên mối quan hệ của nó với nắm vững kiến thức và phát triển năng lực GQVĐ, từ đó đề ra cách hướng dẫn họ tự lực giải BT một cách hiệu quả nhất Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về BTVL ở ngoài nước cũng như trong nước, nêu lên tác dụng của BTVL trong dạy học, các cách phân loại, soạn thảo hệ thống BTVL và đề xuất phương pháp giải BT, các kiểu hướng dẫn học sinh tìm kiếm lời giải BTVL, như [5], [6], [7], [8], [11], [15], [19], của các tác giả X E Camennetxki, V
P Orekhop, Lê Nguyên Long, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tòng, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế, Nguyễn Thế Khôi, Ngoài ra, cũng đã có một
số luận án, luận văn nghiên cứu về cách phân loại BTVL, nghiên cứu mối quan hệ giữa giải BTVL với phát triển năng lực GQVĐ hay bồi dưỡng năng lực sáng tạo, phát triển tính tích cực và năng lực tự chủ trong dạy học Phạm vi của các nghiên cứu gắn với một chương, phần trong chương trình VL THPT, một trong những phần kiến thức chưa được quan tâm đúng mức khi phân loại
Trang 10và hướng dẫn giải BT đó là chương: Hạt nhân nguyên tử trong chương
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về BTVL, tìm hiểu thực trạng dạy học giải BTVL chương Hạt nhân nguyên tử, nghiên cứu nội dung và xác định mục tiêu dạy học chương này mà xây dựng, hướng dẫn HS giải hệ thống BT
chương “Hạt nhân nguyên tử giúp HS lớp 12 THPT Ban KHTN nắm vững
kiến thức cơ bản, góp phần phát triển năng lực GQVĐ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc lựa chọn và hướng dẫn HS giải BTVL trong dạy học
3.2 Điều tra thực trạng dạy học giải BT chương “Hạt nhân nguyên tử” trong chương trình VL lớp 12 THPT Ban KHTN
3.3 Nghiên cứu nội dung, xác định mục tiêu dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” trong chương trình VL lớp 12 THPT Ban KHTN
3.4 Lựa chọn, phân loại, đề ra phương pháp giải và cách hướng dẫn HS giải
hệ thống BT chương Hạt nhân nguyên tử trong chương trình VL lớp 12 THPT Ban KHTN nhằm giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển năng lực GQVĐ 3.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống
BT chương “Hạt nhân nguyên tử” trong chương trình VL lớp 12 THPT Ban KHTN đã xây dựng và cách hướng dẫn hệ thống BT đó nhằm giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển năng lực GQVĐ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Hoạt động dạy học giải BTVL chương Hạt nhân nguyên tử của giáo viên (GV) và HS lớp 12 THPT, Ban KHTN
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Dạy học giải BTVL chương Hạt nhân nguyên tử lớp
12 THPT, Ban KHTN ở một số trường THPT huyện Duy Tiên Tỉnh Hà Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận về giải BTVL, thông qua hoạt động dạy học
để làm sáng tỏ về mặt lí luận các vấn đề có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách BT, sách GV các tài liệu tham khảo để xây dựng hệ thống BT chương Hạt nhân nguyên tử nhằm giúp
HS lớp 12 THPT Ban KHTN nắm vững kiến thức và phát triển năng lực GQVĐ
5.2 Điều tra thực trạng hoạt động dạy học giải BTVL ở trường THPT nhằm thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp để đánh giá các giải pháp mà GV đã
sử dụng để giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển năng lực GQVĐ và kết quả của nó; những quan niệm, mức độ nắm vững kiến thức, hoạt động giải BTVL của HS; thể hiện thực tế năng lực GQVĐ của HS và việc phát triển
năng lực GQVĐ thông qua hoạt động giải BT chương “Hạt nhân nguyên
tử
5.3 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài
5.4 Phương pháp thống kê toán học để xử lí, đánh giá kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm
6 Giả thuyết khoa học
Trong dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử”, nếu GV xây dựng được
hệ thống BT thích hợp và đề ra cách hướng dẫn HS tự lực, tích cực hoạt động tư duy khi giải BTVL thì chất lượng nắm vững kiến thức cơ bản của HS lớp
12 THPT được nâng cao, đồng thời góp phần phát triển năng lực GQVĐ cho
họ
Trang 127 Đóng góp của đề tài
7.1 Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống lại một số cơ sở lí luận về BTVL góp
phần khẳng định vai trò quan trọng của giải BT trong quá trình HS nắm vững
Trang 13Nội dung Chương 1 CƠ Sở Lý LUậN Và THựC TIễN của đề tài 1.1 quan niệm về BTVL
Trong thực tiễn dạy học, người ta thường gọi một vấn đề không lớn,
được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và phương pháp VL là một BTVL Thật ra, trong các giờ học VL, mỗi một vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa chính
là một BT đối với HS Sự tư duy định hướng một cách tích cực luôn luôn là việc giải BT hiểu theo nghĩa rộng của mệnh đề đó Trong các tài liệu giáo khoa cũng như các tài liệu phương pháp bộ môn, người ta thường hiểu những bài luyện tập được chọn lựa một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng VL, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy VL của
HS và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn là những
BT Việc giải BTVL, tất nhiên, còn có nhiều mục đích khác nữa: giáo dục HS , kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo của HS [5, tr.7] Do vậy, BTVL đưa ra không chỉ dùng để rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức cũ mà còn phải rèn luyện kĩ năng tìm kiếm kiến thức mới
1.2 Tác dụng của BTVL trong dạy học
1.2.1 BTVL giúp cho việc đào sâu, mở rộng kiến thức
Trong giai đoạn xây dựng kiến thức, HS đã nắm được cái chung, cái khái quát của các khái niệm, định luật và cũng là cái trừu tượng Trong các
BT, HS phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào trường hợp cụ thể rất đa dạng nhờ thế, HS nắm được những biểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế, phát hiện ngày càng nhiều những hiện tượng thuộc ngoại diên của các khái niệm hoặc chịu sự chi phối của các định luật hay thuộc phạm vi ứng dụng của chúng Quá trình nhận thức các khái niệm, định luật
VL không kết thúc ở việc xây dựng nội hàm của các khái niệm, định luật VL
Trang 14mà còn tiếp tục ở giai đoạn vận dụng vào thực tế Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kĩ thuật, BTVL sẽ giúp HS thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trong thực tiễn của kiến thức đã học VL không chỉ tồn tại dưới dạng những mô hình trừu tượng do ta nghĩ ra, mà là sự phản ánh vào óc chúng ta thực tế phong phú, sinh động Tuy nhiên các khái niệm, định luật VL rất đơn giản, còn biểu hiện của chúng trong tự nhiên thì lại rất phức tạp, bởi vì các sự vật, hiện tượng có thể bị chi phối bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đồng thời hay chồng chéo lên nhau BTVL luyện tập cho HS phân tích để nhận biết những trường hợp phức tạp đó BTVL là phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động Khi giải BT, HS phải nhớ lại các kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương trình [15, tr.337]
1.2.2 BTVL nhằm hình thành kiến thức mới
Mỗi BT được giải đều mang kèm theo nó những nhiệm vụ rèn luyện những
kỹ năng tương ứng Trong một số trường hợp, bản thân việc nghiên cứu tài liệu mới cũng tựa như việc giải những BTVL nhất định, khi đó BT xuất hiện như một vấn đề VL mới mà việc giải dẫn đến tri thức mới Theo X E Camenetxki – V P Ôrêkhôp thì sự tư duy định hướng một cách tích cực đến một vấn đề nào đó luôn luôn là việc giải BT ở đây, tính tích cực của HS và do đó, chiều sâu và độ vững chắc của kiến thức sẽ lớn nhất khi “tình huống có vấn đề”
được tạo ra Trong nhiều trường hợp, nhờ tình huống này có thể xuất hiện kiểu
BT mà trong quá trình giải, HS sẽ “phát hiện lại” quy luật VL , chứ không phải tiếp thu quy luật đó dưới hình thức có sẵn Khi đó, BT xuất hiện như một phương tiện nghiên cứu hiện tượng VL Trong quá trình giải BT có thể cho
HS phân tích, suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải thích hiện tượng mới nêu ra trong BT [5, tr.8] Vì vậy, BT vừa
được dùng để gây tình huống có vấn đề trong giờ học, vừa để cụ thể hoá những điều kiện khi phát hiện thực chất của các đối tượng nghiên cứu, vừa để củng cố những kết luận đạt được
Trang 151.2.3 Hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Có thể xây dựng rất nhiều BT có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu
HS phải vận dụng kiến thức lý thuyết để giải thích các hiện tượng thực tiễn hoặc dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước [15, tr339]
Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn đòi hỏi người học phải có kĩ năng, kĩ xảo, đồng thời các kĩ năng, kĩ xảo chỉ có được thông qua quá trình giải BT Trong quá trình giải các BT, HS sẽ có được các kĩ năng kĩ xảo vận dụng kiến thức của mình để phân tích các hiện tượng VL khác nhau trong tự nhiên, trong kỹ thuật và trong đời sống hàng ngày Đồng thời, việc giải một số
BT đòi hỏi HS phải vận dụng kinh nghiệm trong lao động sản xuất hoặc kết quả quan sát tự nhiên trong đời sống hàng ngày
1.2.4 Phát triển tư duy VL
Không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng kiến thức, các BTVL còn góp phần phát triển tư duy VL cho HS , điển hình là loại BT giải thích hiện tượng, BT thí nghiệm, BT xây dựng phương án thí nghiệm
Trong dạy học VL, tư duy VL được hiểu là các kĩ năng quan sát các hiện tượng VL, phân tích các hiện tượng thành bộ phận thành phần và xác lập
ở chúng những mối liên hệ giữa các mặt định tính và định lượng của các hiện tượng và các đại lượng VL, đoán trước các hệ quả từ các lí thuyết và áp dụng
được kiến thức của mình Đa số các hiện tượng nêu ra trong các BT là những hiện tượng phức tạp Do vậy, HS phải phân tích các hiện tượng phức tạp ấy thành các hiện tượng đơn giản Muốn vậy, HS phải vận dụng các thao tác tư duy để tìm hiểu, GQVĐ và rút ra kết luận Nhờ thế, tư duy được phát triển và năng lực làm việc tự lực của HS được nâng cao [7, tr.7] Cần lưu ý rằng: việc rèn luyện cho HS giải các BTVL không phải là mục đích của dạy học Mục
đích cơ bản đặt ra khi giải BTVL là làm cho HS hiểu sâu sắc hơn những quy
Trang 16luật VL , biết phân tích, ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào tính toán kĩ thuật và cuối cùng phát triển được năng lực tư duy, năng lực GQVĐ [15, tr.339]
1.2.5 Kiểm tra đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của HS
Thông qua giải BT, có thể kiểm tra, đánh giá kĩ năng kĩ xảo của HS , làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của HS trong học tập đồng thời giúp họ vượt qua những khó khăn và khắc phục sai lầm đó [7, tr.8] Mức độ nắm vững kiến thức của HS được thể hiện thông qua kĩ năng kĩ xảo khi tiến hành giải các BTVL Căn cứ vào cách thức đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức của HS một cách chính xác
1.2.6 Giáo dục tư tưởng, đạo đức, kĩ thuật tổng hợp
Đối với việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS, BTVL có ý nghĩa rất lớn Nội dung của những BT này có thể bao gồm những hiểu biết về sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, về giao thông vận tải, về thông tin liên lạc, về kỹ thuật hiện đại Các BT như vậy là những phương tiện thuận lợi để HS liên hệ lý thuyết với thực hành, học tập với đời sống
Giải BTVL có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, đạo đức rât lớn Nhờ BTVL, ta có thể giới thiệu cho HS biết sự xuất hiện những tư tưởng và quan điểm tiên tiến hiện đại, phát minh của các nhà bác học, thành tựu của nền khoa học BTVL còn là phương tiện hiệu quả để giáo dục tình yêu lao động, đức tính kiên trì, ý chí và tính cách của HS Giải BTVL không phải là công việc nhẹ nhàng, nó
đòi hỏi phải bỏ ra nhiều thời gian và công sức, nó cũng có thể mang lại cho
HS niềm phấn khởi sáng tạo, tăng thêm sự yêu thích, hứng thú đối với bộ môn
VL [5, tr.12]
Trang 18Theo nội dung
Theo hình thức lập luận lôgic
Theo mục đích dạy học
Phức tạp
Kiểm tra Đơn giản
Phối hợp Định tính
Tính toán
Định lượng Bằng lời
Thực nghiệm Đồ thị
Tổng hợp
Dự đoán h.tượng
Giải thích h.tượng
Theo mức độ phức tạp của hoạt động tư duy trong quá
trình tìm kiếm lời giải
Cơ bản
Phức hợp Bảng 1.1 Phân loại BTVL
Trang 191.4 Nguyên tắc lựa chọn BTVL cho một chương, phần của sách giáo khoa VL THPT
Theo [15, tr.363-365] khi xây dựng hệ thống BT của bất cứ một đề tài nào, GV cũng cần lựa chọn BT thoả mãn các yêu cầu sau:
1 Các BT phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp (phạm vi và
số lượng các kiến thức, kĩ năng cần vận dụng từ một đề tài đến nhiều đề tài, số lượng các đại lượng cho biết, các đại lượng phải tìm ) giúp HS nắm được phương pháp giải các loại BT điển hình
2 Mỗi BT phải là một mắt xích trong hệ thống BT, đóng góp một phần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức
3 Hệ thống BT cần bao gồm nhiều thể loại BT: BT giả tạo và BT có nội dung thực tế, BT luyện tập và BT sáng tạo, BT cho thừa hay thiếu dữ kiện, BT
có nhiều cách giải khác nhau và BT có nhiều lời giải khác nhau tuỳ theo những điều kiện cụ thể của BT mà GV không nêu lên hoặc chỉ nêu một điều kiện nào đó mà thôi
1.5 Mối quan hệ giữa giải BTVL và nắm vững kiến thức, phát triển năng
lực GQVĐ trong hoạt động giải BT của HS
1.5.1 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTVL trong dạy học 1.5.1.1 Khái niệm kiến thức VL
Kiến thức của HS là kết quả của quá trình nhận thức, là tiền đề của hoạt
động sáng tạo trong quá trình tìm hiểu và cải tạo thế giới của họ Kiến thức bao gồm một tập hợp nhiều mặt về số lượng và chất lượng của các biểu hiện
và khái niệm lĩnh hội được, nó được ghi nhớ và tái tạo khi có đòi hỏi tương ứng Kiến thức được được hình thành, củng cố và phát triển trong quá trình học tập của HS
Kiến thức VL là kết quả phản ánh trong đầu óc con người về các tính chất, các mối quan hệ quy luật của các sự vật hiện tượng VL và về cách nhận thức, vận dụng kết quả phản ánh đó của con người [6, tr.19] Kiến thức cơ bản
Trang 20về VL có thể chia làm năm nhóm: 1)Khái niệm (sự vật, hiện tượng, đại lượng VL); 2) Định luật, nguyên lí; 3) Thuyết; 4) Phương pháp nghiên cứu; 5) ứng dụng trong sản xuất, đời sống
Mỗi một kiến thức đều có nội hàm xác định nhưng lại có ngoại diên rất rộng Mặt khác để HS nắm vững kiến thức một cách chắc chắn, sâu sắc thì cần phải chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức ấy vào thực tiễn Những kiến thức được nắm vững một cách tự giác, sâu sắc phần lớn là do tích luỹ thêm kĩ năng, kĩ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy cho HS [7, tr17-18]
1.5.1.2 Khái niệm kĩ năng, kĩ xảo VL
Kĩ năng chính là kiến thức trong hành động Kĩ xảo là hành động mà những phần hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá Kĩ xảo là mức độ cao của sự nắm vững kĩ năng[7, tr17] Theo quá trình luyện tập mà một số kĩ năng có thể trở thành kĩ xảo
- Sử dụng các thao tác tư duy logic và các phương pháp nhận thức VL
*Những kĩ xảo VL được chia làm hai nhóm:
- Thực nghiệm;
- áp dụng các phương pháp toán học và các phương tiện phụ trợ
1.5.1.3 Các mức độ nắm vững kiến thức
Nắm vững kiến thức không những là hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của
nó, xác định được vị trí, tác dụng của kiến thức ấy trong hệ thống kiến thức cơ
Trang 21bản đã tiếp thu được từ trước, mà còn biết quá trình hình thành nó và vận dụng
được nó vào thực tiễn [7, tr17-18]
Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở ba mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng Dựa trên các mức độ đã nêu ở trên thì khi HS tự lực, tích cực, chủ động, linh hoạt, vận dụng thành thạo để giải quyết các nhiệm vụ học tập, thể hiện kiến thức được nắm vững hoàn toàn
1.5.1.4 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTVL
Kiến thức VL mà HS chiếm lĩnh và nắm vững được thể hiện thông qua các kĩ năng, kĩ xảo VL Mặt khác, như ta đã biết một trong những tác dụng của việc giải BTVL là rèn luyện kĩ năng kĩ xảo Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả của việc chuẩn bị cho HS nắm vững kiến thức trong dạy học cần phải sử dụng BTVL Đồng thời, để nâng cao tác dụng của BTVL trong việc hình thành
kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức VL của HS, cần phải để cho HS giải nhiều
BT, nhiều dạng bài và được xắp xếp khoa học Do sự khác nhau giữa các cá nhân HS, việc hình thành cùng kĩ năng ở họ có thể nhanh chậm khác nhau Vì vậy, việc sử dụng BT phải chú ý đến các đặc điểm của mỗi HS, từ đó giao HS các BT nhằm bổ sung, đào sâu, mở rộng hay chi tiết hoá kiến thức cần nắm vững
1.5.2 Phát triển năng lực GQVĐ trong hoạt động giải BT của HS
1.5.2.1 Khái niệm về năng lực
Năng lực là những thuộc tính tâm lý cá nhân, mỗi cá nhân có thể tự mình hoàn thành tốt một công việc cụ thể nếu có năng lực về lĩch vực công việc đó
Người có năng lực về một mặt nào đó thì không phải nỗ lực nhiều trong quá trình công tác mà vẫn khắc phục được những khó khăn một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn những người khác hoặc có thể vượt qua được những khó khăn mới mà nhiều người khác không vượt qua được [15, tr128]
Trang 22Sự biểu hiện của năng lực thể hiện ở sự khác biệt giữa các cá nhân về kĩ năng kĩ xảo khi thực hiện một hoạt động cụ thể Năng lực được hình thành trong quá trình học tập, lao động và giao lưu của các cá nhân
1.5.2.2 Quan hệ giữa giải BTVL với phát triển năng lực GQVĐ Biểu hiện của năng lực GQVĐ trong hoạt động giải BTVL
* Quan hệ giữa giải BTVL với phát triển năng lực GQVĐ
“Vấn đề” chỉ những nhiệm vụ nhận thức mà HS không thể giải quyết
được chỉ bằng những kinh nghiệm sẵn có, nó đòi hỏi phải có suy nghĩ độc lập
mà kết quả là sau khi giải quyết được vấn đề HS thu nhận được kiến thức và
kĩ năng mới, hình thành được năng lực mới [14, tr.2]
Để GQVĐ (chứa đựng câu hỏi về cái mới chưa biết ) cá nhân cần phải
có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, đồng thời phải tự lực tìm tòi, sáng tạo
để hình thành kĩ năng kĩ xảo mới
Trong dạy học VL, mỗi BTVL là một vấn đề cần giải quyết Giải BT là một hình thức tự lực giải quyết một vấn đề nào đó được nêu ra trong đề bài
*Biểu hiện của năng lực GQVĐ: Là khả năng xác định chính xác nội dung,
yêu cầu của vấn đề cần giải quyết; phát hiện được các điều kiện xuất phát và
đích đến của vấn đề; sự không đầy đủ, không thích hợp của những kiến thức, những phương thức hoạt động đã biết để GQVĐ mới; khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có để tìm ra giải pháp thích hợp; khả năng đề xuất
được nhiều giải pháp để cùng giải quyết một vấn đề và căn cứ vào nội dung cụ thể của bài toán chọn ra được giải pháp hữu hiệu nhất; khả năng chứng minh
được tính xác thực, đáng tin cậy của lời giải cho bài toán; xây dựng chuỗi lập luận chặt chẽ đi từ những dữ kiện ban đầu đến kết luận cuối cùng của lời giải
Sự phát triển năng lực GQVĐ khi giải BTVL được biểu hiện như sau [7, tr.21-22]:
- Xác định chính xác vấn đề cần giải quyết, những cái đã cho và những cái phải tìm
Trang 23- Nhanh chóng phát hiện ra cái quen thuộc đã biết, cái mới phải tìm trong khi giải BTVL
- Phác thảo, dự kiến con đường chung (giải pháp) có thể có từ đầu đến cuối trước khi tính toán, xây dựng lập luận cụ thể
- Hoàn thành công việc theo từng giải pháp đã dự kiến trong một thời gian ngắn, chọn lựa trong số đó giải pháp tối ưu
- Nhanh chóng qua một số ít bài, tự rút ra sơ đồ định hướng giải các BT cùng loại
1.6 Các hình thức sử dụng BT và hoạt động của GV trong tiết học VL
1.6.2 Hoạt động của GV trong tiết học VL
* Đối với tiết học nghiên cứu tài liệu mới:
- Căn cứ vào nội dung, đặc điểm kiến thức, GV có thể sử dụng BT để tạo tình huống có vấn đề và hình thành kiến thức mới
Mục đích của BT nhằm hình thành kiến thức mới là giúp HS lĩnh hội
được kinh nghiệm mà xã hội đã biết, những vấn đề mà các nhà khoa học đã giải quyết Bản chất của việc hình thành kiến thức mới bằng giải BT là trong mỗi trường hợp phải tạo ra tình huống bắt buộc cho HS độc lập tìm cách giải quyết Những tình huống như vậy không tự nhiên mà đến, việc xây dựng được chúng đòi hỏi GV phải đề ra một hay một hệ thống BT làm cho HS thực sự
Trang 24cảm thấy một vướng mắc nào đó về lí thuyết hay thực tiễn, hiểu rõ được vấn
đề chủ yếu do GV nêu ra hay diễn đạt vấn đề ấy, mong muốn GQVĐ đó và quan trọng hơn cả là BT đó phải có khả năng giải quyết được
- Sau khi hình thành kiến thức mới, GV nêu ra các loại BT thường gặp theo từng kiến thức cụ thể, yêu cầu HS giải một vài BT cơ bản minh họa cho mỗi loại
- Giao BT về nhà, gợi ý cách giải quyết những khó khăn và yêu cầu HS
tự rút ra phương pháp giải từng loại, kiểu BT
Lưu ý: BT hình thành kiến thức mới có chứa vấn đề học tập cần giải
quyết, GV nên sử dụng những BT vừa sức HS nhằm lôi cuốn họ muốn tự lực GQVĐ Mỗi BT phải chứa đựng một yếu tố mới mà để giải nó, HS cần lập luận logic, tìm câu trả lời từ việc quan sát tự nhiên hoặc làm thí nghiệm GV phải chú ý đến nội dung tình huống, cách giải và kết luận để từ đó rút ra kiến thức mới, đồng thời phải đảm bảo thời gian và mục tiêu tiết học
* Đối với tiết học luyện tập giải BT:
- Kiểm tra sự chuẩn bị của HS về lí thuyết, giải BT và các bước giải BT từng loại
- Yêu cầu HS phân tích cách giải BT về nhà về các mặt: Giải theo các bước nào? Gặp những khó khăn gì?
- GV giúp HS khái quát hóa rút ra phương pháp giải từng loại BT, đồng thời sử dụng các BT vận dụng để luyện tập cho họ một số kĩ năng, kĩ xảo
- Giao BT về nhà và gợi ý hường giải quyết đối với những BT chứa yếu
tố mới hoặc cần sử dụng kĩ năng toán khó
1.7 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải BTVL
1.7.1 Khi giải BT nhằm hình thành kiến thức mới
BT nhằm hình thành kiến thức mới là BT giúp HS thu được những tính chất, quy tắc, định luật mới của sự vật, hiện tượng mà họ chưa biết Cái chưa biết có thể không tìm được bằng lập luận logic, tính toán hay tra cứu bảng mà
Trang 25phải thông qua việc quan sát thiên nhiên, đồng thời phải thực hiện một chuỗi lập luận trung gian, các phương pháp nhận thức khoa học, phương pháp nghiên cứu VL như thực nghiệm, mô hình, tương tự, suy diễn lí thuyết Nhưng
dù áp dụng phương pháp nào, quá trình nghiên cứu của HS đều chứa đựng hai hoạt động sau:
+ Dùng suy luận logic hay biến đổi toán học để đi từ những tính chất quan hệ bên trong đã biết của sự vật, hiện tượng đến những biểu hiện bên ngoài có thể quan sát, đo lường trong thiên nhiên Loại này giống như dự đoán hiện tượng khi vận dụng kiến thức (trong đó những suy luận chủ yếu thuộc loại diễn dịch) Hoặc ngược lại, từ những điều quan sát được suy ra những tính chất mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng (chủ yếu suy luận theo quy nạp)
+ Quan sát, đo lường để thu thập tài liệu, tìm lời giải đáp ở thiên nhiên Muốn vậy, phải có kiến thức về các phép đo cơ bản và kĩ năng thực hiện chúng ở mức độ cần thiết, biết phân biệt những yếu tố chính, phụ của hiện tượng nghiên cứu Từ những điều quan sát, người giải phải xác định mối quan
hệ nhân quả giữa hiện tượng và bản chất của nó, nghĩa là phải dùng phép quy
nạp khoa học
1.7.2 Khi giải BT vận dụng kiến thức
Khi giải một BT vận dụng kiến thức, HS cần phải GQVĐ nêu trong đầu bài bằng kiến thức vốn có của mình Hoạt động của HS trong quá trình giải
BT nhằm vận dụng kiến thức được tiến hành qua những bước sau:
- Nghiên cứu tìm hiểu đề bài: tìm hiểu hiện tượng vật lí, phân tích các thuật ngữ, xác định cái đã cho, cái phải tìm, tóm tắt đầu bài
- Thiết lập mối quan hệ giữa dữ kiện đã cho và cái phải tìm: liên hệ hiện tượng vật lí đã cho với kiến thức, định luật, định lí và các công thức đã biết; thông qua các mối liên hệ kể trên, định hướng cách thức đi từ mối quan hệ đó
đến kết quả cần tìm
Trang 26- Thực hiện các thao tác, kĩ năng toán học để thiết lập mối quan hệ tường minh giữa cái phải tìm và cái đã cho Nhưng nếu không tìm được, phải xuất phát lại từ một mối quan hệ khác giữa cái cho và cái tìm
- Kiểm tra kết quả thu được thông qua việc biện luận kết quả, đối chiếu thực tiễn và thử giải bài tập theo cách khác
1.8 Các kiểu hướng dẫn HS phổ thông giải BTVL
1.8.1 Cơ sở đề ra các kiểu hướng dẫn
- Mục tiêu dạy học của chương, phần, đề tài
- Nội dung cụ thể của bài toán
- Trình độ nhận thức của HS
1.8.2 Các kiểu hướng dẫn HS phổ thông giải BTVL [18, tr.83- 91]
1.8.2.1 Hướng dẫn theo mẫu (hướng dẫn angôrit)
Hướng dẫn angôrit là sự hướng dẫn chỉ rõ cho HS những hành động cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt kết quả như mong muốn Những hành động này được coi là những hành động sơ cấp, phải
được HS hiểu một cách đơn giá và HS đã nắm vững
Kiểu hướng dẫn angôrit không đòi hỏi HS phải tự mình tìm tòi xác định các hành động cần thực hiện để GQVĐ đặt ra mà chỉ đòi hỏi HS chấp hành các hành động đã được GV chỉ ra, cứ theo đó HS sẽ đạt được kết quả, sẽ giải
được BT đã cho
Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi GV phải phân tích một cách khoa học việc giải BT để xác định một trình tự chính xác, chặt chẽ của các hành động cần thực hiện để giải được BT và phải đảm bảo cho các hành động đó là những hành động sơ cấp với HS, nghĩa là kiểu hướng dẫn này đòi hỏi angôrit giải
BT
Kiểu hướng dẫn angôirit được áp dụng khi cần dạy cho HS phương pháp giải một loại BT điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho HS kỹ năng giải một loại BT xác định nào đó
Trang 27Kiểu hướng dẫn angôrit có ưu điểm là đảm bảo HS giải được bài toán một cách chắc chắn giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài toán của HS có hiệu quả Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng kiểu hướng dẫn này thì HS chỉ quen chấp hành những hành động đã được chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do đó ít có tác dụng rèn luyện cho HS khả năng tìm tòi sáng tạo, sự phát triển tư duy sáng tạo của HS bị hạn chế
Việc truyền đạt cho HS angôrit giải một loại bài toán xác định có thể theo những cách khác nhau Có thể chỉ dẫn cho HS angôrit dưới dạng có sẵn Qua việc giải một vài bài toán mẫu, GV phân tích phương pháp giải và chỉ dẫn cho HS angôrit giải loại bài toán đó rồi cho HS tập áp dụng để giải các bài toán tiếp theo Đối với lớp có đa số HS học lực khá, muốn tăng cường rèn luyện năng lực GQVĐ của HS , có thể lôi cuốn HS tham gia vào quá trình xây dựng angôrit chung để giải loại bài toán đã cho Thông qua việc phân tích những bài toán đầu tiên có thể yêu cầu HS tự vạch ra angôrit giải loại bài toán này rồi áp dụng vào việc giải các bài toán tiếp theo Trong trường hợp lớp có
đa số HS học lực yếu, có thể HS chưa áp dụng được ngay angôrit đã được
đưa ra cho HS , thì GV cần đưa ra những bài luyện tập riêng nhằm đảm bảo cho HS nắm vững những hành động sơ cấp, tạo điều kiện cho HS có thể áp dụng được ngay angôrit đã cho
1.8.2.2 Hướng dẫn tìm tìm tòi (Hướng dẫn Ơrictic)
Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho HS suy nghĩ tìm tòi phát hiện cách giải quyết, không phải là GV chỉ dẫn cho HS chỉ việc chấp hành các hành động theo mẫu đã có để đi tới kết quả, mà là GV gợi
mở để HS tự tìm cách giải quyết, tự xác định các hành động cần thực hiện để
đạt được kết quả
Kiểu hướng dẫn này được áp dụng khi cần giúp đỡ HS vượt qua khó khăn để giải được BT Đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu phát triển tư duy HS , tạo điều kiện để HS tự lực tìm tòi cách giải quyết
Trang 28Ưu điểm của kiểu hướng dẫn này là tránh được tình trạng GV làm thay HS trong việc giải BT và đảm bảo được yêu cầu phát triển tư duy của HS , tạo điều kiện cho HS tự lực tìm tòi cách giải quyết Tuy nhiên, với kiểu hướng dẫn này không phải bao giờ cũng đảm bảo cho HS giải BT một cách chắc chắn
Do vậy, GV cần có sự hướng dẫn thêm cho HS, nhưng không đưa HS đến chỗ chỉ việc thừa nhận các hành động theo mẫu, đồng thời sự hướng dẫn đó không
được quá viển vông, quá chung chung không giúp cho sự định hướng tư duy của HS Nó phải có tác dụng hướng tư duy của HS vào phạm vi cần và có thể tìm tòi, phát hiện cách giải quyết
1.8.2.3 Định hướng khái quát chương trình hóa
Là sự hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho HS tự tìm tòi cách giải quyết (cũng như kiểu hướng dẫn tìm tòi) Nhưng giúp cho HS ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi GQVĐ và sự định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lí Sự định hướng ban đầu đòi hỏi quá trình tự lực tìm tòi, giải quyết của HS Nếu HS không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của GV là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu, cụ thể hoá thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho HS, để thu hẹp hơn phạm vi phải tìm tòi, giải quyết cho vừa sức với HS Nếu HS vẫn không đủ khả năng tự lực tìm tòi, giải quyết thì chuyển dần thành hướng dẫn theo mẫu để đảm bảo cho HS hoàn thành được yêu cầu của một bước, sau đó tiếp tục yêu cầu HS tự lực tìm tòi giải quyết bước tiếp theo Nếu cần GV lại giúp đỡ thêm, cứ như vậy cho
đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra
Kiểu hướng dẫn này được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trình hoạt động giải bài toán của HS, nhằm giúp cho HS tự giải được bài toán đã cho, đồng thời dạy cho HS cách suy nghĩ trong quá trình giải bài toán
Ưu điểm của kiểu hướng dẫn này là dạy cho HS cách suy nghĩ trong quá trình giải BT, đảm bảo cho HS giải được bài toán đã cho Tuy nhiên, đòi hỏi GV phải theo sát tiến trình hoạt động giải BT của HS, không thể chỉ dựa
Trang 29vào những lời hướng dẫn có thể soạn sẵn, mà phải kết hợp việc định hướng với việc kiểm tra kết quả hoạt động của HS để điều chỉnh sự giúp đỡ thích ứng với trình độ của HS
1.9 Thực trạng dạy học giải BTVL chương Hạt nhân nguyên tử trong
chương trình VL lớp 12 Ban KHTN ở một số trường THPT thuộc tỉnh Hà Nam
1.9.1 Mục đích điều tra: Nắm bắt được thực trạng dạy học giải BTVL nói chung và giải BTVL chương “Hạt nhân nguyên tử” nói riêng
1.9.2 Nội dung điều tra: Quan niệm của GV về BTVL, phân loại và sử dụng
hệ thống BTVL, thời lượng và cách hướng dẫn HS giải BTVL chương “Hạt nhân nguyên tử”
1.9.3 Phương pháp điều tra: Dự giờ, trao đổi với GV VL về cách sử dụng hệ thống BTVL, trò chuyện và xem xét vở của HS; Sử dụng phiếu điều tra đối với
GV VL
1.9.4 Đối tượng điều tra: GV VL và HS lớp 12 ở một số trường THPT thuộc tỉnh Hà Nam
1.9.5 Kết qủa điều tra:
- Thời lượng GV dành cho hướng dẫn HS giải BTVL ở cuối mỗi tiết lý thuyết quá ít ( 35 phút, cá biệt có tiết học GV không có đủ thời gian dành cho hoạt
động này)
- GV thường sử dụng BT trong sách giáo khoa, sách BTVL và một số sách tham khảo Mục đích sử dụng mỗi BT không được xác định rõ ràng, sử dụng không đầy đủ các dạng BT về kiến thức cơ bản của chương, phần Hình thức phân loại BT chủ yếu là theo nội dung bài học Cách thức hướng dẫn chủ yếu
là giải BT mẫu Vì vậy, khả năng liên hệ kiến thức của HS trong các bài toán
VL rất hạn chế, khi gặp những BT có yếu tố mới, hầu như HS không thể xây dựng được sơ đồ định hướng giải
Trang 30- Trong quá trình GV hướng dẫn giải BT trên bảng, nhiều HS không tích cực theo dõi mà chủ yếu là ghi chép một cách máy móc Khi yêu cầu giải thích bản chất VL thì số HS này gặp nhiều khó khăn
* Trong quá trình học giải BT chương “Hạt nhân nguyên tử”, HS gặp các khó khăn chủ yếu và mắc các sai lầm phổ biến sau:
- Có sự nhầm lẫn giữa khái niệm khối lượng nguyên tử và khối lượng hạt nhân khi giải BT xác định các đặc trưng của hạt nhân nguyên tử ( bỏ qua sự có mặt của Z elêctron trong nguyên tử)
- Không giải được BT xác định kích thước và khối lượng hạt nhân
- Không nhớ được đơn vị và bản chất đơn vị năng lượng liên kết riêng
- Quan niệm năng lượng liên kết chính là độ hụt khối vì khi cần tính năng
lượng liên kết Wlk = m 931MeV trong đó m có đơn vị là u
- Khi giải BT có sử dụng công thức chứa hằng số phóng xạ và nhân tố e -t
hay ln 2.
t
T
e , HS thường quên đổi t & T về cùng đơn vị
- Sử dụng các công thức chứa e-t hoặc 2
t
T không phù hợp khi t
T có giá trị nguyên (bán nguyên) hoặc ngược lại
- Nhầm lẫn khi xác định lượng chất đã bị phân rã và lượng chất còn lại sau
Trang 31- Khi giải BT xác định năng lượng phản ứng hạt nhân (phản ứng tỏa hay thu năng lượng?) HS lúng túng vì không đồng nhất được hiện tượng hụt khối khi các nuclon độc lập tạo thành hạt nhân và độ hụt khối khi phản ứng hạt nhân (hoặc phóng xạ) tạo ra các hạt nhân mới
- Không hiểu đầy đủ ý nghĩa đơn vị độ phóng xạ, nhầm lẫn đơn vị Bq và Ci khi giải BT về độ phóng xạ
- Đối với bài toán về nhà máy điện hạt nhân HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của năng lượng hạt nhân, thiếu sự so sánh định lượng giữa năng lượng hạt nhân và các dạng năng lượng khác Mặt khác, loại bài toán này dùng một số kiến thức đã học từ lớp 10 như công suất, hiệu suất nên đa số HS không nhớ kiến thức đó, có sự nhầm lẫn công suất của nhà máy là công suất toàn phần, không đổi đơn vị năng lượng từ MeV sang Jun, đồng thời GV chưa
có sự hướng dẫn phù hợp, vì vậy gặp khó khăn khi giải
Trang 32Tổng kết chương 1 Trong chương này, chúng tôi đã trình bày các vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn khi xây dựng hệ thống BT chương “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 Ban KHTN:
- Quan niệm về BTVL
- Tác dụng của BTVL cũng như các cách phổ biến phân loại BTVL
- Nguyên tắc lựa chọn hệ thống BT cho một chương, phần trong chương trình
VL phổ thông và các kiểu hướng dẫn HS phổ thông giải BTVL
- Hoạt động của GV và HS trong các tiết học về vật lí, nêu được quan hệ giữa giải BTVL với sự nắm vững kiến thức và phát triển năng lực GQVĐ, biểu hiện của năng lực GQVĐ trong hoạt động giải BTVL
- Thực trạng dạy học giải bài tập VL nói chung và BT chương “Hạt nhân nguyên tử” Ban KHTN nói riêng ở một số trường THPT tại tỉnh Hà Nam Từ
đó phát hiện ra những khó khăn chủ yếu, sai lầm phổ biến mà HS hay gặp phải trong học tập chương này
Dựa vào những cơ sở lí luận, thực tiễn trên và việc xác định mục tiêu dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử”, chúng tôi sẽ xây dựng hệ thống BT cho việc dạy học chương này và đề ra cách hướng dẫn HS giải nó nhằm giúp
HS nắm vững kiến thức cơ bản, góp phần phát triển năng lực GQVĐ
Trang 332.1.2 Nhiệm vụ của chương Hạt nhân nguyên tử
Nhiệm vụ chính của chương là đề cập đến những đặc trưng quan trọng nhất của hạt nhân Đó là về cấu tạo hạt nhân, hiện tượng phóng xạ và phản ứng hạt nhân ứng dụng của các kiến thức này rất quan trọng trong khoa học
và kỹ thuật cũng như trong cuộc sống
2.1.3 Thời lượng dạy học chương Hạt nhân nguyên tử
Chương “Hạt nhân nguyên tử” được trình bày trong 06 bài Theo [2] thời lượng dạy học chương này là 12 tiết, trong đó có 03 tiết luyện tập giải BT, Bài 52.(2 tiết)(86-87 theo PPCT)
Cấu tạo của hạt nhân nguyên tử Độ hụt khối
Bài 53.(2 tiết) (88-89 theo PPCT) Phóng xạ
Bài 54.(2 tiết) ( 90-91 theo PPCT) Phản ứng hạt nhân
Bài 55.(2 tiết) ( 92-93 theo PPCT) BT về phóng xạ và phản ứng hạt nhân Bài 56.(2 tiết) ( 94-95 theo PPCT) Phản ứng phân hạch
Bài 57.(1 tiết) ( 96 theo PPCT) Phản ứng nhiệt hạch
Tiết 97 BT
Trang 34Nhà mỏy điện nguyờn tử
Bảng 2.1 Sơ đồ cấu trúc logic chương “Hạt nhân nguyên tử”
Hiện tượng phúng xạ
Phản ứng hạt nhõn
Độ hụt khối
Năng lượng Liên kết
Cỏc loại tia phúng
xạ
Định luật phóng xạ
Phản ứng nhiệt hạch
Phản ứng dõy chuyền
Tia anpha
Tia Bờta
Tia Gama
Các định luật bảo toàn
Đồng
vị phóng xạ
Chương IX Hạt nhõn nguyờn tử
Trang 352.3 Mục tiêu dạy học chương Hạt nhân nguyên tử
Mục tiêu dạy học từng kiến thức cơ bản chương “Hạt nhân nguyên tử” theo chương trình, sách giáo khoa VL lớp 12 nâng cao
2.3.1 Về kiến thức
2.3.1.1 Nêu được cấu tạo hạt nhân
- Hạt nhân được cấu tạo từ những hạt nhỏ gọi là nuclon
- Có 2 loại nuclon: prôton, kí hiệu p, khối lượng mp=1,67262.10-7kg, qp= +e và
nơtron, kí hiệu n, khối lượng mn= 1,67493.10-27kg, qn= 0
- Kí hiệu hạt nhân nguyên tử A
Z X Trong đó: X là kí hiệu hoá học của nguyên
tố, Z là số prôton có trong hạt nhân, A là số nuclon (A-Z là số nơtron)
2.3.1.2 Nêu được định nghĩa đồng vị và đơn vị khối lượng nguyên tử
- Đồng vị là những nguyên tử mà hạt nhân chứa cùng số prôton Z (có cùng vị trí trong bảng tuần hoàn), nhưng có số nơtron N khác nhau
- Khối lượng nguyên tử kí hiệu là u, có trị số bằng 1
12 khối lượng của đồng vị cacbon 12
2.3.1.3 Định nghĩa được lực hạt nhân và nêu được đặc điểm của lực hạt nhân
- Lực hạt nhân là lực hút giữa các nuclon trong hạt nhân, có tác dụng liên kết các nuclon với nhau
- Lực hạt nhân không phụ thuộc vào điện tích của nuclon
Trang 36- Lực hạt nhân chỉ có tác dụng khi các nuclon cách nhau một khoảng rất ngắn Bán kích tác dụng vào khoảng 10-15m
2.3.1.4.Nêu được độ hụt khối và viết được công thức tính độ hụt khối
- Khối lượng m của hạt nhân A
Z X bao giờ cúng nhỏ hơn tổng khối lượng của các nuclon tạo thành hạt nhân đó một lượng m [ Z m p (A Z m ). n] m
m
được gọi là độ hụt khối của hạt nhân
2.3.1.5 Định nghĩa được được năng lượng liên kết hạt nhân của hạt nhân và viết được công thức tính năng lượng liên kết của hạt nhân
- Đại lượng Wlk=m.c2 gọi là năng lượng liên kết của hạt nhân, đó là năng lượng cung cấp cho hạt nhân (đứng yên) để tách nó thành các hạt riêng biệt (cũng đứng yên)
2.3.1.6.Nêu được định nghĩa hiện tượng phóng xạ
- Phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân không bền vững tự phát phân rã, phát ra các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác
2.3.1.7 Nêu được thành phần và bản chất của các tia phóng xạ
Có 3 loại tia phóng xạ là tia không nhìn thấy được, có những tác dụng như: kích thích một số phản ứng hoá học, ion hoá không khí, làm đen kính
ảnh, xuyên thấu lớp vật chất mỏng, phá huỷ tế bào
ehay e)
Trang 37- Tính chất: phóng ra từ hạt nhân với tốc độ xấp xỉ vận tốc ánh sáng Làm ion hoá môi trường nhưng yếu hơn tia Đi được vài mét trong không khí Khả năng đâm xuyên mạnh ( xuyên qua được lá nhôm dày cỡ milimét)
kèm theo( trong phân rã và , hạt nhân con có thể ở trạng thái kích thích
và giả phóng tia để trở về trạng thái cơ bản )
2.3.1.8 Phát biểu được định luật phóng xạ và biểu thức của định luật này
- Nội dung định luật phóng xạ: Trong quá trình phân rã, số hạt nhân phóng xạ giảm theo thời gian theo định luật hàm số mũ
- Hệ thức biểu thị định luật: N(t) = No.e-t hay m(t) = m 0 e -t
2.3.1.9 Định nghĩa được độ phóng xạ và viết được công thức tính độ phóng xạ
- Độ phóng xạ của một lượng chất phóng xạ tại thời điểm t bằng tích của
hằng số phóng xạ với số lượng hạt nhân phóng xạ chứa trong lượng chất đó vào thời điểm t
- Công thức độ phóng xạ: H0= .N0 hay H = H0 e-t
2.3.1.10 Nêu được các ứng dụng của đồng vị phóng xạ
Các đồng vị phóng xạ trong tự nhiên hoặc nhân tạo có những ứng dụng rất đa dạng Có thể kể đến 2 ứng dụng quan trọng là:
- Phương pháp nguyên tử đánh dấu nhằm theo dõi sự xâm nhập của các đồng
vị phóng xạ trong cơ thể người bằng thiết bị ghi bức xạ nhằm xác định nhu cầu cơ thể đối với các nguyên tố khác nhau trong từng thời kỳ phát triển và tình trạng bệnh lí các bộ phận của cơ thể khi thừa hoặc thiếu nguyên tố nào
đó
Trang 38- Phương pháp xác định tuổi mẫu vật theo lượng cacbon 14 trong mẫu dựa trên hiện tượng 14
6C có mặt trong mọi vật trên Trái Đất, có mật độ không đổi trong khí quyển và bị phân rã với chu kỳ bán rã là 5730 năm
2.3.1.11 Định nghĩa được phản ứng hạt nhân
- Phản ứng hạt nhân là mọi quá trình dẫn đến sự biến đổi hạt nhân
2.3.1.12.Phát biểu được định luật bảo toàn số nuclon (số khối), bảo toàn điện tích, bảo toàn động lượng, bảo toàn năng lượng toàn phần trong phản ứng hạt nhân và viết được biểu thức của chúng
- Định luật bảo toàn năng lượng toàn phần trong phản ứng hạt nhân:Tổng
năng lượng toàn phần của các hạt tương tác bằng tổng năng lượng toàn phần của các hạt sản phẩm
Trang 392.3.1.14 .Định nghĩa được phản ứng nhiệt hạch, viết được phương trình ví dụ
và điều kiện để xảy ra phản ứng phản ứng này
- Phản ứng nhiệt hạch là phản ứng trong đó các hạt nhân nhẹ kết hợp với nhau thành một hạt nhân nặng hơn
- Tìm được các đại lượng đặc trưng của hạt nhân nguyên tử
- Tìm được lượng chất phóng xạ, số nguyên tử (hay số hạt nhân), độ phóng xạ
- Tìm được chu kì bán rã (hay bằng số phóng xạ) và thời gian phân rã (hay thời gian tồn tại của một mẫu phóng xạ)
- Viết được phương trình phản ứng hạt nhân Tìm vận tốc các hạt và xác định năng lượng trong phản ứng hạt nhân
- Tìm được lượng nhiên liệu cần sử dụng trong nhà máy điện hạt nhân và các
đại lượng liên quan
Trang 402.4 Xây dựng hệ thống BT chương Hạt nhân nguyên tử trong chương trình VL lớp 12 Ban KHTN
Căn cứ vào cơ sở lí luận và thực tiễn, cấu trúc, mục tiêu, thời lượng dạy học và tiến trình dạy học nội dung kiến thức của chương “Hạt nhân nguyên tử” , chúng tôi phân BT chương này thành 5 loại cơ bản và đề ra cách giải từng loại
2.4.1 Phân loại BT
* Dạng 1: Tìm các đại lượng đặc trưng của hạt nhân nguyên tử
* Dạng 2 Tính lượng chất phóng xạ, số nguyên tử (hay số hạt nhân), độ phóng xạ
* Dạng 3 Tính chu kì bán rã (hay bằng số phóng xạ) và thời gian phân rã (hay thời gian tồn tại của một mẫu phóng xạ)
* Dạng 4: Viết phương trình phản ứng hạt nhân Xác định vận tốc các hạt và năng lượng trong phản ứng hạt nhân
* Dạng 5 Tính lượng nhiên liệu cần sử dụng trong nhà máy điện hạt nhân và các đại lượng liên quan
Hạt nhân có : Z prôtôn & (A-Z) nơtron
Lưu ý: Trường hợp bài toán yêu cầu xác định số prôton hay nơtron trong m