Giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học nói riêng không chỉ hướng tới việc tìm hiểu những đặc sắc của một nền văn hóa, văn học khác mà còn góp phần hiểu thê
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa giáo dục học, khoa sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt xin cảm ơn Tiến sĩ Vũ Công Hảo – người đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin gửi tới quý thầy cô trong Hội đồng giám khảo lời biết ơn sâu sắc Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng GD-ĐT quận Đống Đa, Trường tiểu học Nam Thành Công nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn tới những người thân yêu trong gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
TÁC GIẢ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong khi nghiên cứu luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn
Hà Nội ngày 06 tháng 09 năm 2010
Tác giả
Đỗ Việt Nga
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3 Phương pháp nghiên cứu 7
4 Đóng góp mới của luận văn 7
5 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: ĐẶC THÙ CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI 9
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC 9
1.1 Đặc thù của môn văn học nước ngoài trong nhà trường Tiểu học 9 1.1.1 Thống kê các tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu, trích dạy trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 9
1.1.2 Đặc điểm và nội dung cơ bản của các tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu và giảng dạy 14
1.2 Những thuận lợi và khó khăn của việc giảng dạy văn học nước ngoài ở trường Tiểu học 25
1.2.1 Thuận lợi 25
1.2.2 Khó khăn 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 30
2.1 Thực trạng dạy học văn ở trường Tiểu học 30
2.2 Tình hình giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong trường Tiểu học 33
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TIẾP CẬN VÀ GIẢNG DẠY 65
3.1 Tiếp cận và giảng dạy văn học nước ngoài từ bối cảnh lịch sử - thời đại tác phẩm ra đời 65
3.2 Tiếp cận và giảng dạy văn học nước ngoài theo đặc trưng thể loại 67
3.3 Tiếp cận và giảng dạy văn học nước ngoài trong liên hệ, so sánh với văn học dân tộc 69
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Là một trong những bộ phận quan trọng và đặc sắc cấu thành chương trình Ngữ Văn được giảng dạy ở mọi cấp học, văn học nước ngoài luôn thu hút và tạo nên sự hấp dẫn lớn với người tiếp nhận Đến với văn học nước ngoài, chúng ta như được đến với một miền đất lạ với bao điều mới mẻ
về văn hóa, phong tục tập quán, với tư tưởng, quan niệm và đời sống tâm hồn của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới Có thể nói, văn học nước ngoài có
vị trí và ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của văn hóa và văn học dân tộc Giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học nói riêng không chỉ hướng tới việc tìm hiểu những đặc sắc của một nền văn hóa, văn học khác mà còn góp phần hiểu thêm về văn hóa, văn học của dân tộc mình Nghiên cứu, tiếp nhận văn hóa, văn học nước ngoài, do đó, là cần thiết, và càng trở nên cần thiết trong giai đoạn tăng cường giao lưu, hội nhập hiện nay
1.2 Giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học nói riêng là công việc không đơn giản Để có thể khai thác được cái hay, cái đẹp và chiều sâu tư tưởng, tâm hồn của các dân tộc khác ẩn chứa trong các văn bản ngôn từ, người dạy (và cả người học) phải có sự hiểu biết rộng rãi về văn hóa, văn học của chính các dân tộc ấy Bởi thế, người dạy văn học nước ngoài, ngoài nhiệm vụ nghiên cứu văn bản tác phẩm cần giảng dạy, còn cần đọc nhiều tư liệu tham khảo xung quanh nó Trong điều kiện hiện nay, việc tự tìm hiểu, tra cứu các tư liệu tham khảo về các tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài không phải là dễ dàng
1.3 Giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học nói riêng lâu nay chưa được chú ý đúng mức, dù cơ cấu và số lượng
Trang 5tác phẩm văn học nước ngoài đưa vào giảng dạy trong nhà trường ở các cấp học đã thay đổi, nhiều hơn, có chọn lọc, có tính tới mục đích tiếp nhận và hiệu quả giáo dục phù hợp với từng đối tượng Tuy nhiên, điều này vẫn chưa là đủ nếu muốn nghiên cứu và so sánh để thấy rõ những tác động của nó với văn học dân tộc, với sự tiếp nhận của người học, người đọc Theo tìm hiểu của chúng tôi, các công trình nghiên cứu về văn học nước ngoài, đặc biệt các nền văn học lớn, các kiệt tác văn học của nhân loại… của các nhà nghiên cứu, phê bình Việt Nam không phải là ít, song ít có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài trong các nhà trường, nhất là ở bậc Tiểu học, thế nào cho có hiệu quả Hầu hết các công trình, luận án, luận văn nghiên cứu về văn học nói chung, văn học nước ngoài nói riêng đều là các nghiên cứu chuyên sâu, thiên về lý luận, hoặc khái quát hoặc phân tích các phương diện giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm cụ thể chứ ít đề cập tới vấn đề trên Các Hội thảo, Hội nghị khoa học, các bài viết, bài nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học trong các nhà trường thời gian qua rất nhiều, song chủ yếu là ở bậc đại học, cao đẳng, trung học phổ thông… Cũng có một
số bài viết đề xuất đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học như Toán, Mỹ thuật, Âm nhạc… ở trường Tiểu học Tuy không liên quan đến đề tài, nhưng các nghiên cứu này cũng thực sự là những tư liệu
bổ ích cho chúng tôi, vì thực sự nguồn tư liệu tham khảo để thực hiện đề tài này quá ít ỏi
Hiện chỗ dựa chủ yếu của chúng tôi chỉ là cuốn sách "Cảm thụ và giảng dạy văn học nước ngoài" của GS Phùng Văn Tửu Đúng như tác giả cuốn sách đã viết: " đây không phải là hướng dẫn giảng dạy men theo từng bài trong sách giáo khoa như kiểu "sách giáo viên" ( ), nhưng vấn đề cảm thụ và giảng dạy bộ phận văn học này về mặt lý thuyết và ứng dụng vẫn luôn luôn khiến nhiều người quan tâm, không chỉ ở Trung học phổ thông, Trung học cơ
Trang 6sở và hệ thống các trường Đại học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm nữa" (Lời nói đầu) Tuy không bàn đến việc giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình bậc Tiểu học, song các nguyên tắc tiếp cận và những điểm đáng lưu ý khi giảng dạy văn học nước ngoài nói chung và qua các tác phẩm
cụ thể nói riêng mà giáo sư đã đúc kết trong cuốn sách thực sự là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài
Từ các lý do đã nêu trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Tiếp cận
và giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài ở trường Tiểu học" để nghiên cứu, triển khai với mong muốn nắm bắt và truyền tải được đặc sắc của bộ phận văn học này cho các em học sinh ngay từ khi mới bước chân vào thế giới của văn chương, của tưởng tượng và sáng tạo
2 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các tác phẩm văn học nước ngoài được lựa chọn giới thiệu và giảng dạy trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học
2.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, phân loại các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình bậc Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 theo thể loại, đề tài, nội dung…
Trang 7- Phân tích thực trạng giảng dạy bộ phận văn học này trong nhà trường Tiểu học
- Đề xuất các hướng tiếp cận và giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng cảm thụ và giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường Tiểu học
Trong mục đích của mình, chúng tôi không đặt ra vấn đề đổi mới về phương pháp, nên phần đề xuất các giải pháp chỉ chủ yếu tập trung vào các quan điểm, nguyên tắc tiếp cận và giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường Tiểu học
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Đóng góp mới của luận văn
- Về phương diện lí luận: cung cấp một cái nhìn khái quát và cụ thể về thực trạng giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc giảng dạy bộ phận văn học này từ các phương diện lý thuyết và đặc thù
- Về thực tiễn: Góp phần vào việc nâng cao năng lực cảm thụ và giảng dạy các tác phẩm văn học nói chung, văn học nước ngoài nói riêng trong nhà trường Tiểu học hiện nay
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Trang 8Chương 1 Đặc thù của các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình
Tiếng Việt bậc Tiểu học
Chương 2 Thực trạng giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong
chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học
Chương 3 Tiếp cận và giảng dạy mảng văn học nước ngoài trong nhà trường
Tiểu học
Phần cuối luận văn là Thư mục tài liệu tham khảo
Trang 9
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẶC THÙ CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC
1.1.1 Thống kê các tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu, trích dạy trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5
Phần Văn học nước ngoài được đưa vào chương trình Tiểu học chủ yếu
ở hai phân môn Tập đọc và Kể chuyện, nhằm cung cấp kiến thức cho học sinh
và giúp các em có dịp được làm quen với các nền văn hoá, văn học khác trên thế giới, để từ đó, biết thêm nhiều điều mới lạ, biết cảm nhận và so sánh với văn học dân tộc mình, biết phân biệt phải trái, tốt xấu theo tấm gương của các hình tượng văn học và ý nghĩa giáo dục của các tác phẩm Số lượng các
Trang 10tác phẩm được lựa chọn giới thiệu, giảng dạy từ lớp 1 đến lớp 5 và cơ cấu tỉ lệ các tác phẩm văn học nước ngoài và văn học Việt Nam được chúng tôi thống
kê như sau:
1 Cô bé trùm khăn đỏ Truyện cổ tích Kể chuyện
3 Sư tử và chuột nhắt Truyện cổ tích Kể chuyện
4 Bông hoa cúc trắng Truyện cổ tích Kể chuyên
5 Mèo con đi học P.Vô-rôn-cô Thơ Tập đọc
6 Dê con nghe lời mẹ Truyện cổ tích Kể chuyện
7 Nói dối hại thân Lép Tôn-xtôi Truyện ngắn Tập đọc
8 Cô chủ không biết quý
tình bạn Truyện cổ tích Kể chuyện
9 Hai tiếng kì lạ Truyện cổ tích Kể chuyện
10 Rùa và thỏ Truyện cổ tích Kể chuyện
11 Sói và sóc Truyện cổ tích Kể chuyện
12 Con quạ thông minh La Phông-ten Truyện ngắn Tập đọc
13 Quả sồi
1 Phần thưởng Blai-tơn Truyện ngắn Tập đọc-kc
2 Mít làm thơ Nô-xốp Truyện vui Tập đọc-kc
3 Bím tóc đuôi sam Ku-rô-y-a-na-gi Truyện ngắn Tập đọc-kc
4 Chiếc bút mực Sva-rô Truyện ngắn Tập đọc-kc
5 Bàn tay dịu dàng
Xu-khôm-lin-xki Truyện ngắn Tập đọc-kc
Trang 116 Bông hoa niềm vui
Xu-khôm-lin-xki Truyện ngắn Tập đọc-kc
7 Hai anh em La-mác-tin Truyện ngắn Tập đọc-kc
8 Thêm sừng cho ngựa Truyện vui
nước ngoài Tập đọc-kc
9 Ông Mạnh thắng Thần
Gió A-nhông Truyện cổ tích Tập đọc-kc
10 Chim sơn ca và bông
cúc trắng An-đéc-xen Truyện ngắn Tập đọc-kc
11 Bác sĩ Sói La Phông-ten Truyện ngụ
ngôn Tập đọc-kc
12 Sư tử xuất quân La Phông-ten Thơ Tập đọc-kc
13 Cá sấu sợ cá mập Truyện vui
1 Ai có lỗi A-mi- xi Truyện ngắn Tập đọc -kc
2 Người mẹ An-đéc-xen Truyện ngắn Tập đọc -kc
3 Bài tập làm văn Pi-vô-na-rô-va Truyện ngắn Tập đọc -kc
4 Lừa và ngựa Lép Tôn-xtôi Truyện ngắn Tập đọc
5 Các em nhỏ và cụ già
Xu-khôm-lin-xki Truyện ngắn Tập đọc-kc
6 Đất quý, đất yêu Ê-ti-ô-pi-a Truyện dân
gian Tập đọc-kc
7 Nhà ảo thuật Blai-tơn Truyện ngắn Tập đọc -kc
8 Buổi học thể dục A-mi-xi Truyện ngắn Tập đọc -kc
9 Người đi săn và con
vượn Lép Tôn-xtôi Truyện ngắn Tập đọc -kc
10 Trên con tàu vũ trụ Ga-ga-rin Truyện ngắn Tập đọc
Trang 12Lớp 4
TT Tên tác phẩm Tên tác giả
(xuất xứ) Thể loại
Phân môn dạy
1 Người ăn xin Tuốc-ghê-nhép Truyện ngắn Tập đọc
3 Gà trống và cáo La Phông-ten Thơ Tập đọc
4 Nỗi dằn vặt của
An-đrây-ca
xki Truyện ngắn Tập đọc
Xu-khôm-lin-5 Ở vương quốc tương
lai Mát-téc-lích Kịch ngắn Tập đọc
6 Điều ước của vua
Mi-đát
Thần thoại Hi Lạp Truyện ngắn Tập đọc
7 Trong quán ăn “Ba cá
bống”
A-lếch-xây Tôn-xtôi Truyện ngắn Tập đọc
8 Rất nhiều mặt trăng Phơ-bơ Truyện ngắn Tập đọc
10 Khuất phục tên cướp
biển Xti-ven-xơn Truyện ngắn Tập đọc
11 Những chú bé không
chết
vích Truyện ngắn Kể chuyện
Quy-ra-xkê-12 Ga-vrốt ngoài chiến
13 Con sẻ Tuốc-ghê-nhép Truyện ngắn Tập đọc
14 Khát vọng sống Lơn-đơn Truyện ngắn Kể chuyện
15 Có một lần Gô-li-an-kin Truyện ngắn Tập đọc
Trang 13Lớp 5
TT Tên tác phẩm Tên tác giả
(xuất xứ) Thể loại Phân môn dạy
1 Chuỗi ngọc lam Phun-toen-o-xlơ Truyện ngắn Tập đọc
2 Một vụ đắm tàu A-mi-xi Truyện ngắn Tập đọc
3 Thuần phục sư tử Truyện dân gian
A-rập Truyện ngắn Tập đọc
4 Lớp học trên đường Héc-to-Ma-lô Truyện ngắn Tập đọc
Bảng 2: Tỉ lệ tác phẩm văn học nước ngoài so với văn học Việt
Nam thuộc hai phân môn Tập đọc và Kể chuyện
Lớp
Phân môn
Tập đọc 6/71 16/124 16/108,5 22/62 6/62
Trang 14(Trong bảng thống kê trên: Tử số chỉ số lượng bài văn học nước ngoài trong môn học ở mỗi lớp Mẫu số chỉ số lượng bài học của môn học ở mỗi lớp)
Trong phân môn Tập đọc: Tỉ lệ văn học nước ngoài tăng dần theo lớp,
nâng dần mức độ nhận thức cho học sinh từ thấp đến cao, lớp 2 là 13% và lên đến lớp 4 là 35,5 % Nhưng đến lớp 5 sở dĩ chỉ còn 9,67% là vì ở giai đoạn này chủ yếu là ôn tập
Trong phân môn Kể chuyện: Việc phân bố số tiết văn học nước ngoài
từ lớp 1 đến lớp 4 theo hướng giảm dần ở các lớp học lớn cụ thể là: lớp 1 là 35%, lớp 2 là 32%, lớp 3 là 25%, lớp 4 là 16 % và lớp 5 thì tiết kể chuyện bằng tác phẩm văn học nước ngoài không còn, bởi ở năm cuối Tiểu học, năng lực ngôn ngữ và trình độ nhận thức của các em đã được nâng cao, hơn nữa, cần dành thời lượng cho các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt
Ở lớp 3, sở dĩ có số tiết lẻ là vì mỗi tuần có 0,5 tiết kể chuyện được dạy
ghép với bài Tập đọc - Kể chuyện ở hai tiết học đầu tuần Trong loại bài học
này, sau khi dạy tập đọc 1,5 tiết giáo viên dành 0,5 tiết để dạy kể chuyện
Ngoài ra, kể chuyện còn được dạy trong phân môn Tập làm văn
1.1.2 Đặc điểm và nội dung cơ bản của các tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu và giảng dạy
1.1.2.1 Về cấu trúc thể loại và phân môn giảng dạy
Trong tổng số 58 tác phẩm văn học nước ngoài được lựa chọn giới thiệu và giảng dạy từ lớp 1 đến lớp 5 mà chúng tôi đã thống kê ở trên, có 54 tác phẩm văn xuôi (đầy đủ hoặc trích đoạn), bao gồm từ truyện dân gian, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười đến các truyện ngắn hiện đại; 03 tác phẩm thơ, 01 tác phẩm kịch Ngay trong các tác phẩm văn xuôi, số lượng các tác phẩm theo thể loại cũng không đồng đều, truyện cổ tích chiếm đa số
đa số ở lớp 1; từ lớp 2 đến lớp 5, bên cạnh các truyện ngắn, có xen kẽ một số
Trang 15truyện ngụ ngôn, truyện cười Sự bố trí không cân đối về thể loại này xuất phát từ sự phù hợp với thực tiễn nhận thức của lứa tuổi Tiểu học Ở lớp 1, các
em đang cần phát triển ngôn ngữ, đang có nhu cầu khám phá thế giới của những điều kỳ diệu trong cổ tích; ở lớp 2 đến lớp 5, các em từng bước được làm quen với các thể loại phức tạp hơn, được tiếp xúc với các tác giả của nhiều nước, nhiều nền văn học; nội dung giáo dục của các câu chuyện cũng phức tạp và sâu sắc hơn Sở dĩ thể loại thơ, kịch, ngụ ngôn và truyện cười được giới thiệu ít, bởi lẽ về thơ, thứ nhất, thật khó có được một bản dịch thơ hoàn hảo như chúng tôi đã nói ở trên, thứ hai, các em từ thuở trong bụng mẹ
đã được nghe nhiều lời ru, nhiều khúc dân ca…, đã quen giọng điệu và hồn thơ dân tộc, hơn nữa, các bài thơ thiếu nhi của các nhà thơ trong nước trong chương trình cũng khá nhiều, thứ ba, sự phân biệt thơ hay hay không hay, khái niệm về thơ trong các em hầu như chưa có
Tương tự như thế, về phân môn giảng dạy, ở lớp 1, khi các em còn nhỏ, năng lực tư duy chưa phát triển, nhận thức về cái hay cái đẹp của văn chương hầu như chưa có, thì kể chuyện chính là hình thức phù hợp để bước đầu đưa các em vào thế giới của những điều kỳ diệu này Các câu chuyện cổ tích, qua lời kể của các cô giáo, sẽ có sức lôi cuốn, hấp dẫn lớn, kích thích sự tưởng tượng và niềm say mê tìm tòi khám phá của các em Lớp 2 và lớp 3, khi vốn tiếng Việt của các em đã bớt nghèo nàn, bắt đầu có khả năng nhận thức, đánh giá các sự kiện, hiện tượng theo ý kiến riêng của mình thì việc để các em tự thể hiện những cảm nhận riêng qua việc tập đọc diễn cảm là cần thiết Do vậy, giờ Kể chuyện (hoàn toàn do cô giáo đảm nhiệm) sẽ có thêm nội dung Tập đọc (do học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo) Tuỳ theo sự cảm nhận riêng của mình, các em sẽ thể hiện các cảm xúc khác nhau qua việc đọc, đồng thời với việc kể lại câu chuyện đã đọc theo đề nghị của cô giáo, tính tích cực hoạt động của các em được phát huy Qua các hành động đọc diễn cảm và
Trang 16kể lại câu chuyện, cô giáo có thể phát hiện, đánh giá được năng lực thụ cảm của mỗi học sinh, điều chỉnh và định hướng cho những cảm nhận ban đầu ấy Đến lớp 4, đặc biệt lớp 5, vai trò mở cửa, dẫn dắt của cô giáo đã được giảm bớt, các em đã có thể tự bước vào thế giới huyền diệu của các tác phẩm văn chương theo cách của riêng mình Vì là năm cuối cấp, chuẩn bị bước sang một cấp học mới, với những nội dung kiến thức cần tiếp nhận rộng hơn, sâu hơn, nên số tác phẩm văn học nước ngoài cũng được giảm thiểu, và thay bằng giờ Tập đọc - Kể chuyện là các giờ Tập đọc, thay bằng sự tiếp nhận có sự dẫn dắt của giáo viên là sự tiếp nhận chủ động của học sinh có sự điều chỉnh, gợi
mở của giáo viên
Quan sát bố cục và sự sắp xếp các tác phẩm văn học nước ngoài theo lớp và phân môn như thế, phần nào có thể hình dung được ý đồ của các nhà biên soạn sách Việc lựa chọn thể loại nào, tác phẩm nào, giảng dạy ở phân môn nào ở từng lớp, ngoài việc phải phù hợp với đặc trưng tâm lý, lứa tuổi, còn phải bảo đảm tính hài hoà, gắn kết với các tác phẩm văn học thiếu nhi trong nước khác được giới thiệu và giảng dạy
1.1.2.2 Về chủ đề tác phẩm
Tính phù hợp lứa tuổi, trình độ nhận thức của đối tượng tiếp nhận luôn
là tiêu chí tối cao cho việc lựa chọn tác phẩm để đưa vào chương trình dạy và học Hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, bước đầu nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Tiểu học phụ thuộc vào yếu tố này Dạy văn
ở Tiểu học là dạy theo chủ điểm Bởi thế, các nhà biên soạn, khi lựa chọn giới thiệu, giảng dạy các tác phẩm văn học trong nước và nước ngoài trong chương trình Tiểu học đều quan tâm trước hết đến ý nghĩa giáo dục của nó Các khía cạnh khác như tính khái quát, tính nghệ thuật, tính hệ thống, tính lịch sử của tác phẩm cũng quan trọng nhưng chưa cần thiết phải giới thiệu
kỹ vì chúng quá trừu tượng với các em Việc chọn các tác giả lớn hay nhỏ,
Trang 17thuộc châu lục nào, sáng tác nhiều hay ít, tác phẩm thuộc thời đại nào cũng không phải là mục tiêu cần ưu tiên lựa chọn Học sinh lớp 1 chưa cần biết tới Lep Tônxtôi, như một nhà tư tưởng, một đại văn hào, nhưng các em cần biết
"Nói dối hại thân", học sinh lớp 2 chưa cần biết Xukhômlinxki là một trong số các nhà giáo dục Nga vĩ đại nhất thế kỷ XX, nhưng truyện ngắn "Bàn tay dịu dàng" của ông đã giúp các em cảm nhận được sự quan tâm, yêu thương của các thầy, cô giáo với học trò , và chính những điều đó khiến các em biết thế nào là tốt, thế nào xấu, cái gì cần học tập, noi theo, cái gì cần tránh xa Vì thế, tuy có đủ cả tác phẩm cổ đại, hiện đại, cả đại diện của các châu lục, nhiều phong cách, thể loại khác nhau, có truyện ngắn được giới thiệu đầy đủ hay chỉ trích đoạn từ tiểu thuyết , song tính hệ thống, bao quát của bộ phận này không được chúng tôi đặt ra ở đây
Chủ đề của các tác phẩm văn học nước ngoài từ lớp 1 đến lớp 5 được chúng tôi thống kê như sau:
Bảng 3: Chủ đề tác phẩm
Lớp 1
1 Cô bé trùm khăn đỏ Khuyên dạy các bạn nhỏ phải biết nghe lời
cha mẹ, không được ham chơi
2 Mưu chú sẻ Ca ngợi trí thông minh của sẻ con
3 Sư tử và chuột nhắt Ca ngợi trí thông minh của chú chuột nhắt
4 Bông hoa cúc trắng Ca ngợi sự hiếu thảo của cô con gái nhỏ
5 Mèo con đi học Răn dạy các bạn nhỏ phải luôn chăm chỉ đi
Trang 188 Cô chủ không biết quý tình
11 Sói và sóc Ca ngợi trí thông minh của chú sóc nhỏ
12 Con quạ thông minh Ca ngợi trí thông minh của con quạ, không
lùi bước trước những khó khăn gian khổ
13 Quả sồi Khuyên răn các bạn nhỏ phải luôn chăm chỉ
thì mới đạt được những ước mơ của mình
Lớp 2
1 Phần thưởng Ca ngợi đức tính tốt bụng của bạn nhỏ, luôn
giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn
2 Mít làm thơ Khuyên răn các bạn nhỏ không được khoác
lác, phải luôn chịu khó ham học hỏi
3 Bím tóc đuôi sam
Khuyên răn bạn nhỏ không được trêu ghẹo các bạn nhỏ trong lớp , phải biết đối xử tốt với bạn bè
4 Chiếc bút mực Ca ngợi bạn nhỏ biết quan tâm và nhường
nhịn cho bạn cùng lớp
5 Bàn tay dịu dàng Ca ngợi tình cảm yêu quý, quan tâm của
thầy dành cho học trò của mình
6 Bông hoa niềm vui Ca ngợi sự hiếu thảo của bạn nhỏ dành cho
bố mẹ của mình
7 Hai anh em Ca ngợi tình cảm anh chị em trong gia đình
Trang 19dành cho nhau
8 Thêm sừng cho ngựa Ca ngợi sự hồn nhiên ngây thơ của em bé
lần đầu tiên vẽ
9 Ông Mạnh thắng Thần Gió Ca ngợi tài trí thông minh và sự kiên trì chịu
khó của con người
10 Chim sơn ca và bông cúc trắng Khuyên răn các bạn nhỏ phải biết yêu quý
thiên nhiên, cây cỏ, chim muông
11 Bác sĩ Sói Ca ngợi trí thông minh của chú ngựa đã
không bị mắc mưu của sói
12 Sư tử xuất quân Ca ngợi tài điều binh khiển tướng của sư tử
khi giao việc cho các con vật trong rừng
13 Cá sấu sợ cá mập Chế giễu những kẻ không tự biết mình
14 Kho báu
Khuyên dạy chúng ta phải biết chăm chỉ lao động bằng sức lực của hai bàn tay mình Đó chính là kho báu lớn nhất của con người
1 Ai có lỗi Khuyên răn các bạn nhỏ phải biết quan tâm
chia sẻ vui buồn
2 Người mẹ Ca ngợi tình cảm của người mẹ dành cho
con Người mẹ có thể hi sinh tất cả vì con
3 Bài tập làm văn
Khuyên răn các bạn nhỏ phải biết làm những việc phù hợp với sức của mình Đã nói là phải thực hiện
Trang 204 Lừa và ngựa
Khuyên răn các bạn nhỏ trong cuộc sống phải biết quan tâm chia sẻ giúp đỡ nhau trong công việc
5 Các em nhỏ và cụ già
Khuyên răn các bạn nhỏ trong cuộc sống phải biết quan tâm, chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống
6 Đất quý, đất yêu Ca ngợi tình cảm yêu quê hương của người
dân vùng châu Phi
7 Nhà ảo thuật Ca ngợi khả năng nghệ thuật của con người
8 Buổi học thể dục
Ca ngợi tinh thần vượt khó của bạn nhỏ bị khuyết tật Cho dù mọi khó khăn cũng phải vượt quá
9 Người đi săn và con vượn Ca ngợi tình cảm của vượn mẹ dành cho
1 Người ăn xin
Ca ngợi tấm lòng nhân hậu của bạn nhỏ, biết quan tâm chia sẻ vui buồn với người khác
2 Một nhà thơ chân chính Ca ngợi sự chân thành chính trực của nhà
thơ cho dù có phải chịu sự trừng phạt
3 Gà trống và cáo Ca ngợi tài trí thông minh của chú gà trống
tránh được mưu của con cáo già gian ác
4 Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca Khuyên răn các bạn nhỏ không được ham
chơi, phải hoàn thành công việc được giao
Trang 215 Ở vương quốc tương lai Trí tưởng tượng phong phú của các bạn nhỏ
khi ước mơ về tương lai
6 Điều ước của vua Mi-đát
Khuyên răn chúng ta phải biết ước mơ nhưng không được ước mơ những điều viển vông
7 Trong quán ăn “Ba cá bống” Ca ngợi trí thông minh của chú người gỗ
Bu-ra-ti nô
8 Rất nhiều mặt trăng Khuyên người lớn phải biết quan tâm đến
suy nghĩ của trẻ con
9 Bác đánh cá và gã hung thần Khuyên chúng ta phải biết ơn những người
giúp đỡ mình, không đươc sống bội bạc
10 Khuất phục tên cướp biển
Ca ngợi lòng dũng cảm và trí thông minh của bác sĩ trước sự hung hãn của tên cướp biển
11 Những chú bé không chết
Ca ngợi lòng dũng cảm của những chú bé trong cuộc chiến tranh với những tên phát xít
12 Ga-vrốt ngoài chiến luỹ Ca ngợi tấm lòng dũng cảm của chú bé
Ga-vrốt
13 Con sẻ Ca ngợi tình cảm của sẻ mẹ dành cho sẻ
con
14 Khát vọng sống
Ca ngợi sự kiên cường của bác đi săn, bác
đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ để tồn tai, để chiến thắng cái chết
15 Có một lần Khuyên răn các bạn nhỏ không được dối trá
trong mọi hoàn cảnh
16 Gu-li-vơ ở xứ sở tí hon Ca ngợi tài trí của sứ giả đã làm cho hai
nước láng giềng trở nên gần gũi với nhau
Trang 224 Lớp học trên đường Ca ngợi lòng ham học của cậu bé mồ côi
Do được sắp xếp theo các chủ điểm trong khung chương trình, nên dễ nhận thấy rằng, dù chủ đề của các tác phẩm được giới thiệu và giảng dạy ở từng lớp rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, nhưng có thể quy về một số cụm chủ đề chính sau:
- Khẳng định, ca ngợi trí tuệ, lòng nhân ái của con người
Loài người, bản thân nó chứa đựng những tiềm năng vô cùng to lớn
Đó là trí tuệ, là khát vọng khám phá, chinh phục thiên nhiên, là lòng nhân ái Chính những tiềm năng to lớn này đã làm cho con người ngày càng đẹp đẽ hơn, đáng trân trọng và đề cao hơn Trí tuệ là thứ vũ khí vô địch của con người Trí tuệ là sự hiểu biết, là khả năng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống Nhờ có trí tuệ mà con người đã tiến hóa, đã tạo lập nên biết bao điều kì diệu Vẻ đẹp trí tuệ của con người, sự thông minh của con người được thể hiện gián tiếp qua các truyện cổ tích về loài vật, các truyện ngụ ngôn đặc
biệt sinh động, hấp dẫn, chẳng hạn: Sư tử và chuột nhắt, Con quạ thông minh,
Bác sĩ sói, Sói và Sóc…
Sống giữa tự nhiên mênh mông và khắc nghiệt, đầy bí ẩn, vẻ đẹp và sức mạnh của con người còn được thể hiện ở ý thức, khát vọng tìm hiểu, khám
Trang 23phá, giải thích, chế ngự, chinh phục tự nhiên vì sự sinh tồn và phát triển của mình Chế ngự và chinh phục thiên nhiên là một chặng đường dài đầy gian nan vất vả mà loài người đã trải qua Nếu không có những khát vọng đó thì con người không có được cuộc sống văn minh, tốt đẹp như ngày hôm nay
Các truyện Ông Mạnh thắng thần Gió (Phỏng theo A-Nhông) hay Trên con tàu vũ trụ (Ga-ga-rin)… đã giúp các em nhỏ từng bước có ý thức về điều đó
Song trên hết, con người tồn tại và phát triển được chính là nhờ có lòng nhân ái Lòng nhân ái là phẩm chất quý giá nhất của mỗi con người Xã hội ngày càng tốt đẹp, con người ngày càng đáng yêu, cuộc sống ngày càng đáng sống đó chính là nhờ lòng nhân ái, nhờ sự yêu thương, quan tâm, chia sẻ, đoàn kết giúp đỡ giữa con người với con người Ngược lại, xã hội và con người sẽ trở nên đáng sợ khi trong lòng nó, trong lòng mỗi con người đã mất hết tình yêu thương, chỉ còn sự thù hằn, giả dối, tàn nhẫn, độc ác Lòng nhân
ái không chỉ được thể hiện ở tình cảm giữa con người với con người mà còn thể hiện ở tình cảm và thái độ của con người với thiên nhiên Thông qua các
truyện như Người ăn xin (Tuốc-ghê-nhép), Người đi săn và con vượn (L.Tônxtôi), Người mẹ (Anđecxen)…, các em nhỏ sẽ nhận đựợc những bài
học đầu tiên về một khái niệm còn hết sức trừu tượng và xa vời với lứa tuổi của mình
- Nhấn mạnh các chuẩn mực đạo đức
Trong cuộc sống, con người không chỉ gắn bó với thiên nhiên, mà con người còn sống gắn bó với nhau trong cùng một bộ tộc, một dân tộc, một xã hội Mối quan hệ xã hội giữa con người rất phức tạp, phong phú, đa dạng và rộng mở
Để tồn tại và phát triển, con người phải xây dựng các thiết chế xã hội
và chuẩn mực đạo đức Những chuẩn mực đạo đức ấy được phản ánh trong
Trang 24pháp luật, thể hiện trong lối sống, phong tục tập quán, trong các hành vi ứng
xử của mỗi người, tạo nên phẩm chất người tốt đẹp của họ Một trong những
phẩm chất cao quý của con người chính là tình yêu quê hương đất nước, yêu quý thiên nhiên, cỏ cây muông thú Tình yêu ấy có khi là tinh thần chiến đấu
dũng cảm, mưu trí chống giắc ngoại xâm, là lòng căm thù giặc, là sự yêu quý, tôn trọng từng nhành cây, ngọn cỏ, từng tấc đất, hạt cát của quê hương Tình yêu quê hương đất nước thật thiêng liêng và cao quý, nó gắn con người với nơi chôn rau cắt rốn, với đồng bào đã từng chia ngọt sẻ bùi Thiếu tình yêu ấy cuộc sống sẽ nhạt nhẽo, vô vị, buồn tẻ biết bao Cùng với các tác phẩm văn học thiếu nhi giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên khác trong chương trình Tiểu học, văn học nước ngoài cũng góp phần nhấn mạnh
hơn tình yêu ấy qua Đất quý đất yêu, Chim sơn ca và bông cúc trắng
- Giáo dục đức tính và cách ứng xử tốt đẹp
Đây có thể coi là chủ đề quan trọng nhất, rõ rệt nhất của toàn bộ bộ phận văn học nước ngoài được lựa chọn giới thiệu và giảng dạy trong chương trình Tiểu học Các nhà biên soạn đã không chỉ dành nhiều tác phẩm nhất cho nội dung này mà còn lựa chọn các tác phẩm của nhiều tác giả, nhiều thể loại khác nhau, từ bài học của một nhà thông thái vốn là một người nô lệ, từ kinh nghiệm của một nhà giáo dục đến trái tim nhân hậu và yêu thương trẻ thơ của một nhà văn lớn để bồi bổ, vun đắp cho tâm hồn trong sáng, thơ ngây của các em lòng nhân ái, sự hiếu thảo, tình yêu lao động, tình đoàn kết, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau giữa con người và con người trong cuộc sống, trong gia
đình, nhà trường và xã hội Truyện Cô bé quàng khăn đỏ (Perôn), Ba cô gái (truyện cổ Nga) là các bài học đáng ghi nhớ cho tất cả những ai sống thiếu tình thương và trách nhiệm đối với người thân trong gia đình Các truyện Đàn ngỗng trời (truyện cổ nước Nga), Bầy chim thiên nga (truyện cổ Grim), Hai anh em (La-mac-tin)…là những câu chuyện hay, cảm động về tình cảm anh
Trang 25chị em, dạy con người, nhất là các em nhỏ biết yêu thương trân trọng những tình cảm ruột thịt trong gia đình
Hiệu quả giáo dục của các tác phẩm văn học nói chung, văn học nước ngoài nói riêng đến đâu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vào mức độ cảm nhận của từng em, song ít nhất các em cũng có được ý niệm về các giá trị đạo đức, các hành vi ứng xử cần thiết, biết phân biệt phải trái, tốt xấu, biết lắng nghe, học tập, noi gương để từ đó, từng bước hoàn thiện bản thân mình
1.2 Những thuận lợi và khó khăn của việc giảng dạy văn học nước ngoài ở trường Tiểu học
1.2.1 Thuận lợi
Văn học nước ngoài là một bộ phận không tách rời của chương trình Văn -Tiếng Việt trong các trường phổ thông Từ năm 2000 trở lại đây, thực hiện chủ trương cải cách giáo dục và phổ cập giáo dục Tiểu học, hệ thống sách giáo khoa phổ thông, trong đó có sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học đã được biên soạn lại nhằm bảo đảm tính khoa học, hiện đại, phù hợp đối tượng, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn phát triển xã hội và con người
Có thể nói, việc giảng dạy văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học hiện nay có ba thuận lợi cơ bản như sau;
Thứ nhất, các tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu và giảng
dạy trong chương trình Tiểu học được nghiên cứu và biên soạn công phu, có chọn lọc nền văn học, tác giả, tác phẩm, thể loại văn học phong phú, đa dạng, phù hợp trình độ nhận thức, cảm thụ của người học Trong xu thế giảm bớt thời lượng của các môn học cũ, tăng cường bổ sung, đưa thêm các nội dung dạy học mới vào chương trình giảng dạy ở đại học, cao đẳng và phổ thông hiện nay, việc giữ được số tác giả, tác phẩm và giờ dạy như thế không phải dễ dàng Điều này chứng tỏ bản thân bộ phận văn học nước ngoài và việc giảng
Trang 26dạy văn học nước ngoài trong trường Tiểu học đã thực sự có hiệu quả về nhiều mặt: phát triển ngôn ngữ, mở rộng nhận thức, bồi dưỡng tâm hồn, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, khơi dậy niềm say mê, trí tưởng tượng của các em
Thứ hai, cấu trúc chương trình tương đối cân đối, hợp lý, bám sát đặc
điểm, mức độ và yêu cầu của đối tượng tiếp nhận ở từng lớp học Như chúng tôi đã phân tích ở phần trên, các bài học về các tác phẩm văn học nước ngoài
từ lớp 1 đến lớp 5 được cấu trúc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ việc phát triển năng lực ngôn ngữ, kích thích trí tưởng tượng, tạo niềm say mê
tự nhiên đến phát huy sự tự nhận thức, tự cảm nhận của các em Kiểu cấu trúc chương trình này không chỉ tạo điều kiện cho người học hình thành các kỹ năng tư duy, cảm nhận từ thấp đến cao mà còn giúp người dạy theo dõi, phát hiện, điều chỉnh kịp thời và định hướng cho cả quá trình dạy và học ấy
Thứ ba, các công cụ và phương tiện phục vụ việc giảng dạy văn học
nước ngoài ở Phổ thông và Tiểu học hiện nay đều đã được cải thiện đáng kể Các tác phẩm đều được dịch ra tiếng Việt, dễ tìm, dễ tra cứu, nhiều kênh, nguồn tra cứu; các sách giáo viên, sách hướng dẫn được biên soạn kỹ lưỡng nhưng có tính chất mở, không áp đặt Giáo viên, tuỳ điều kiện cơ sở vật chất của từng trường và năng lực riêng của mình, có thể sử dụng phương pháp giảng dạy nào hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, không thể không nói tới một thuận lợi khác, đó là hiện nay, số giáo viên dạy văn ở trường Tiểu học có trình độ đại học ngày càng nhiều Số giáo viên được học hành, nghiên cứu bài bản này đang dần thay thế thế hệ cũ được đào tạo cấp tốc, chắp vá, nhiều kinh nghiệm nhưng thiếu kiến thức và năng lực sư phạm cần thiết Dạy học là một nghề, dạy học ở trường Tiểu học không chỉ cần thạo nghề mà còn phải biết và thực sự yêu con trẻ
Trang 271.2.2 Khó khăn
Khó khăn trước tiên và cũng là lớn nhất chính là đội ngũ giáo viên Sự
không đồng đều về lứa tuổi và trình độ của các giáo viên trong các trường Tiểu học hiện nay gây trở ngại không nhỏ cho quá trình đổi mới tư duy và phương pháp tổ chức dạy học Nhiều giáo viên ngại đổi mới, không biết sử dụng các phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học, thiếu hiểu biết về đặc thù văn hoá, văn học nước ngoài nói chung và các nước có tác phẩm văn học được giới thiệu và trích dạy nói riêng
Thứ hai, những quy định chặt chẽ về giờ dạy, số tiết dạy, quy trình lên
lớp cũng như một số quy định có tính chất nguyên tắc cứng nhắc khác đã ngốn khá nhiều thời gian, khiến một số giáo viên không còn thì giờ để nghiên cứu, bổ sung kiến thức làm phong phú cho bài giảng của mình, không tìm tòi sáng tạo các phương pháp truyền đạt hiệu quả, sáng tạo nữa Hiện tượng đáng quan ngại này, thực tiễn này đang tồn tại phổ biến không chỉ trong các trường Tiểu học mà còn ở các trường phổ thông
Khó khăn thứ ba và cũng là hệ quả tất yếu của hai khó khăn trên chính
là việc dạy văn học nước ngoài theo bản dịch tiếng Việt
Dạy văn học nước ngoài có những yêu cầu và đòi hỏi riêng bởi phải dạy qua bản dịch, nghĩa là một phần nào đó đã được “sáng tạo lại” Sự chính xác của bản dịch cũng mới được đặt ra trong những năm gần đây qua các bài viết của một số tác giả như Thuý Toàn, Nguyễn Văn Dân, Vương Trí Nhàn, Ngô Tự Lập đăng trên website http://eVan.Vn Express.net Nói tới trách nhiệm của người dịch và tình hình dịch thuật cũng như tiếp nhận văn học nước ngoài qua bản dịch ở Việt Nam những năm qua, nhà nghiên cứu, dịch thuật văn học Nga Thuý Toàn đã có hẳn cuốn sách có nhan đề "Không của riêng ai" (Dịch văn học - Văn học dịch" (H., 1999) Có lẽ đây là cuốn sách đầu tiên đề cập và nhấn mạnh công việc gian khó và nghiêm túc này Trong
Trang 28việc dịch thuật, dịch thơ nước ngoài là khó nhất Dịch làm sao cho vừa sát nghĩa, giữ được cái tư tưởng cốt lõi và hồn vía của bài thơ, vừa giữ được tương đối nguyên vẹn các đặc điểm thể loại và thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong nguyên tác thực sự là một thách thức lớn với mỗi người dịch Người đọc có thể hiểu sai, hiểu chưa hết ý tứ sâu xa của tác giả, chưa thấy được vẻ đẹp của ngôn từ và hình thức nghệ thuật của tác phẩm nếu tác giả dịch chưa đúng, chưa sát, hoặc do gò ép câu chữ mà bỏ sót ý Những bản dịch văn học nước ngoài như vậy không chỉ gây khó khăn cho người học mà cho ngày cả người dạy trong việc hiểu đúng tác phẩm, bởi vốn dĩ không phải
ai cũng có khả năng và điều kiện tiếp xúc và nghiên cứu tác phẩm từ nguyên tác Theo GS Phùng Văn Tửu: “Ta có câu “dịch là diệt”, phương ngôn Pháp
có câu “dịch là phản” (traduire c’est trahir); điều đó chẳng phải là hoàn toàn
vô lý, vì nhiều lẽ (…) Lâu nay ta thường nói người dịch văn chương đứng trước một yêu cầu khó giải quyết, là phải đạt cho được vừa “tín” vừa “nhã”
Có thể nói, đó là một mâu thuẫn, khó lòng có được một bản dịch hoàn hảo Ngôn ngữ mỗi dân tộc lại có những sắc thái riêng biệt tạo nên mối quan hệ muôn hình muôn vẻ giữa lớp vỏ từ ngữ và nội dung biểu đạt, mối quan hệ ấy lại gắn với nội dung của văn chương, không dễ chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác (…) Bản dịch văn xuôi hoàn hảo đã khó, thậm chí không thực hiện được xét về lý thuyết, bản dịch thơ hoàn hảo càng khó hơn…” (PVT-tr.18)
Sự sai lệch trong dịch thuật không chỉ làm thay đổi nội dung và hình thức của nguyên tác mà còn dẫn đến những cách hiểu không đúng về tư tưởng của tác giả Thực tế mà nói, những bản dịch thành công như bản dịch tiểu thuyết thơ
"Evgeni Onegin" của Thái Bá Tân hay mang đến cho nguyên tác thêm các ý nghĩa mới, hoàn thiện và sâu sắc hơn như bản dịch bài thơ "Đợi anh về" (K.Simonov) của nhà thơ Tố Hữu không phải là nhiều
Trang 29Tuy nhiên, do đặc trưng lứa tuổi và nội dung giáo dục của chương trình bậc Tiểu học, yêu cầu về tính chính xác, về độ chuẩn tuyệt đối của văn bản dịch chưa phải là quan trọng nhất Bản dịch làm sao phải thoát ý, phải dễ hiểu, dễ nhớ, người dịch là sao phải lựa chọn được nhiều từ tương đồng trong tiếng Việt để có thể gợi nên trong các em nhỏ sự tò mò, thích thú, kích thích trí tưởng tượng non nớt, thơ ngây của các em Nếu xem dịch thuật là một hình thức “sáng tạo lại”, thì dịch các tác phẩm văn học nước ngoài cho thiếu nhi còn là sáng tạo thêm một lần nữa, bởi người dịch phải có tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của con trẻ, phải sử dụng ngôn từ của con trẻ
Tiểu kết
Các tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu và giảng dạy trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học là những tác phẩm đã được chọn lọc, khá phong phú về thể loại và nội dung, cấu trúc chương trình từ lớp 1 đến lớp 5 tương đối hợp lý, phù hợp với đặc trưng lứa tuổi và năng lực nhận thức, thụ cảm của các em Xuất phát từ mục tiêu coi trọng ý nghĩa giáo dục, nên các tác phẩm này được bố trí giảng dạy ở hai phân môn Kể chuyện và Tập đọc, theo các chủ điểm cụ thể Điều này bảo đảm sự hài hòa giữa việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách vừa phát triển ngôn ngữ, tư duy, kích thích trí tưởng tượng, tạo niềm say mê khám phá văn chương cho các em
Việc giới thiệu và và giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường, do có những đặc thù riêng, nên có nhiều thuận lợi và không ít khó khăn Sự hạn chế về trình độ ngoại ngữ là trở ngại chính dẫn đến việc không thể tiếp cận văn hóa văn học nước ngoài nói chung, tác phẩm được giới thiệu và giảng dạy nói riêng từ chiều sâu giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của nó Yêu cầu
về một bản dịch tác phẩm văn học nước ngoài hoàn hảo là khó thực hiện và giảng dạy qua bản dịch khó bảo đảm tính chính xác, song đó là con đường phổ biến và duy nhất của người giáo viên văn hiện nay khi truyền đạt và dẫn dắt học trò vào thế giới của những điều bí ẩn, sâu xa, huyền diệu của tác phẩm
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC
NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
2.1 Thực trạng dạy học văn ở trường Tiểu học
Những năm gần đây do ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, các cấp quản
lí giáo dục đã liên tục phát động phong trào cải tiến phương pháp dạy học Các buổi hội thảo chuyên đề, các cuộc triển lãm đồ dùng dạy học, các đợt thao giảng đã được tổ chức, được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo giáo viên Tiểu học và thu hút được sự tham gia của nhiều cán bộ nghiên cứu giáo dục, cán bộ giảng dạy Qua đó, các phương pháp giảng dạy truyền thống như giảng giải, đàm thoại trực quan thực hành ôn luyện được cải tiến, vận dụng theo hướng phát huy tính tích cực của người học
Tuy nhiên những điều đó vẫn chưa vượt khỏi quỹ đạo của phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào nếp tư duy của nhiều thế hệ giáo viên, là hướng vào họat động của người dạy tạo ra sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của học sinh
Giáo viên giảng dạy kiến thức đã được ổn định trong chương trình sách giáo khoa chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải còn học sinh thì thụ động tiếp thu kiến thức Đôi khi thầy có đàm thoại hay đưa ra các ví dụ trực quan thì cũng chỉ nhằm cho trò hiểu được, nhớ được lời thầy giảng để làm được bài tập thầy ra
Giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào chương trình và tài liệu học có sẵn được thiết kê thiên về lý thuyết theo một hệ thống chặt chẽ chung cho mọi học sinh, chung cho mọi hoàn cảnh Hoạt động của thầy và trò giới hạn trong bốn bức tường, lấy bàn giáo viên và bảng đen làm trọng tâm thu hút sự chú ý của mọi học sinh Học sinh học tập thụ động, tư duy không được vận hành để
Trang 31chủ động nắm lấy tri thức nên tri thức tiếp thu được không vững Tính thụ động lâu dần thành thói quen sẽ hạn chế trình độ phát triển tư duy, phát triển nhận thức Học sinh không được chuẩn bị đúng mực để hoạt động độc lập và sáng tạo, khó thích ứng với yêu cầu học tập cao hơn ở các lớp trên, càng khó thích ứng với hoạt động muôn màu muôn vẻ của cuộc sống sau nay Năng lực
cá nhân của học sinh không có điều kiện bộc lộ phát triển nên hứng thú học tập bị giảm sút
Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học truyền thống là đề cao hoạt động của người thầy: thầy truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải, học sinh thụ động tiếp thu, ghi nhớ
Chúng tôi đã từng được dự nhiều tiết hội giảng và đã học tập được khá nhiều kinh nghiệm Trong một tiết hội giảng bài Tập đọc “Người ăn xin”, những người dự có ấn tượng tốt về cô giáo hơn là về học sinh của cô Cô duyên dáng, giọng nói, giọng đọc truyền cảm Cô chuẩn bị bài công phu: lời vào bài hấp dẫn, có đàm thoại, nhưng phương pháp chủ yếu là thuyết trình, giảng giải và áp đặt cách hiểu của cô cho học trò Ý của các đoạn văn được
cô nói và viết sẵn lên bảng Học sinh chỉ diễn giải khi tìm những từ ngữ chứng minh cho các ý này Có thể chọn cách dạy làm học sinh phải động não tích cực hơn, nếu cô yêu cầu các em đọc và tự khái quát hóa chi tiết để đến được các ý Nhiệm vụ này học sinh có thể làm được vì nội dung văn bản đơn giản Theo cách này cũng không mất nhiều thời gian nếu có những câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà Tốt nhất là cô giáo dùng phiếu để mỗi em được viết ý của mình, sau đó được nói nhanh trước lớp để cả lớp chọn nhanh được một khái quát hóa đúng đắn
Trong tiết học, cô giáo cũng nên yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ khó hiểu với các em, nhưng phần lớn những từ ngữ này do cô đặt ra và tự giải thích Mặc dù cô giải thích rất hay và giải thích như nhiều khi là cần nhưng cô
Trang 32giáo chưa học sinh đặt câu với những từ ngữ này để các em nắm vững hơn những từ ngữ này ở mức có thể ứng dụng trong giao tiếp và học tập
Trong giờ học có đàm thoại giữa cô giáo và học sinh, có lúc cô còn yêu cầu học sinh đặt câu hỏi để khai thác đoạn 1, nhưng sau đó cô tiếp tục mạch thuyết giảng Như vậy việc cố gắng phát huy tính tích cực của học sinh vẫn chỉ là hình thức và bản chất của giờ dạy vẫn là dạy học truyền thống: thầy giảng, trò nghe Giờ học thành công theo quan niệm cũ, vì học sinh được đọc
và xúc động với bài văn, nhưng xúc động này có được là do lây cảm xúc của
cô giáo nhiều hơn do cách tổ chức học văn bản đã gợi lên trong lòng học sinh những suy nghĩ, xúc động giúp cho các em bộc lộ những suy nghĩ xúc động
ấy qua đọc, nghe, nói, viết để những gì học sinh có được sẽ đọng lại mà không dễ trôi đi
Những hiện tượng như trên có thể thấy trong thực tiễn giảng dạy ở mọi trường Tiểu học Như vậy có thể nói, phương pháp dạy văn ở Tiểu học hiện nay chưa phải là dạy văn chương nghệ thuật, khi hiểu biết về đối tượng cần dạy của giáo viên chưa sâu, phương pháp dạy cũ kỹ, chỉ chú trọng hoạt động của thầy, coi nhẹ hoạt động của trò, nhân cách của trò chưa được thừa nhận như nhân cách của một cá thể độc lập Đó là sai lầm căn bản vì cảm thụ văn chương phải là những rung động rất riêng của mỗi người, không thể đem những suy nghĩ, xúc động của người này áp đặt cho người khác
Như vậy, trái với bản chất dạy văn là giúp trẻ em biết cảm thụ, suy tư
về thế giới trên cơ sở của một tâm hồn mộc mạc chân thực, lối dạy văn này làm cho các em không chỉ nói theo mẫu, nói theo người khác mà còn nói cho hay, cho đẹp, dù sai sự thật
Phát triển lí luận giảng dạy văn chương theo quan điểm đổi mới để góp phần đổi mới tư duy và phương pháp dạy học văn trong nhà trường các cấp, trong đó có nhà trường Tiểu học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
Trang 33tạo của học sinh, đảm bảo chất lượng giáo dục chung của cả tập thể lớp, đồng thời tôn trọng nhân cách, năng lực của cả người dạy lẫn người học là cần thiết, dù sự đổi mới đó phải đồng bộ và là cả một quá trình dài lâu
2.2 Tình hình giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong trường Tiểu học
Văn học nước ngoài là một phần hay và khó Văn học nước ngoài hay
vì các tác phẩm đã được chọn lựa trong kho tàng văn học thế giới Văn học nước ngoài giúp cho các em hiểu biết về nhiều nền văn hóa, nhiều kiến thức
bổ ích, mới mẻ và lý thú
Văn học nước ngoài khó tiếp cận vì phải thông qua bản dịch và vì ít nhiều còn xa lạ, chưa quen thuộc với cách cảm, cách nghĩ, với tâm lý, tâm hồn của người Việt Bản thân người dạy đã thấy khó, người học còn khó hơn,
vì lần đầu tiên các em mới được tiếp xúc với một nền văn hóa, với các tác phẩm của một dân tộc khác mà chưa biết, chưa có bất cứ sự chuẩn bị gì để tiếp nhận nó Khoảng cách lớn về không gian, thời gian, tâm lý cảm thụ, tiếp nhận này dài hay ngắn, rộng hay hẹp, nông hay sâu… phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực, vai trò của người dạy
Nhiều giáo viên khi giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài đã không tạo được sự khác biệt so với việc giảng dạy các tác phẩm văn học dân tộc Kiến thức văn học nước ngoài rất rộng: từ cổ chí kim, từ đông sang tây; các địa danh, các tên nhân vật thường khó đọc, khó nhớ Tuy nhiên, văn học nước ngoài, như đã nói, mang tinh hoa, bản sắc văn hóa, tư tưởng, tâm hồn của các dân tộc khác nhau trên thế giới, lại là khối kiến thức mới mẻ, hấp dẫn
và không bao giờ bị trùng lặp, nhàm chán Người giáo viên có thể không cần
am hiểu quá cặn kẽ và sâu sắc về dân tộc đã sinh ra nhà văn, về nhà văn và tác phẩm được dạy, nhưng nếu có niềm say mê và có phương pháp truyền đạt phù hợp cũng đủ để cuốn hút học sinh Tiểu học vào cái thế giới mới mẻ ấy Giờ
Trang 34học Văn học nước ngoài bao giờ cũng là những giờ học sinh động và thú vị nhất với trẻ thơ
Chúng tôi đánh giá cao sự cố gắng của các giáo viên, song quả thật, để một giờ dạy văn học nước ngoài khác với một giờ dạy văn thông thường, người dạy cần có sự hiểu biết rộng hơn, gia công nhiều hơn cho bài dạy so với việc dạy các tác phẩm văn học trong nước khác
Vì là các tác phẩm của các nền văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới nên khi giảng dạy giáo viên cũng cần chú ý một số yêu cầu sau:
- Cần nắm vững nội dung chương trình để chủ động trong giảng dạy
Có như vậy mới có ý thức hơn trong việc liên hệ, so sánh, giáo dục tư tưởng
và truyền thụ cái đẹp đến cho học sinh
- Cần chú ý đế sự tương đồng và khác biệt về quan niệm thẩm mỹ, văn hóa, phong tục tập quán giữa dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác để khai thác được hết những giá trị tiềm tàng trong tác phẩm
- Tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu, giảng dạy trong nhà trường nói chung, trường Tiểu học nói riêng là các bản dịch (một dạng sáng tạo), nên không còn mang đặc điểm ngôn ngữ, văn phong tác giả hoàn toàn nữa Do vậy, khi dạy các tác phẩm này giáo viên không nên tập trung khai thác vẻ đẹp ngôn ngữ câu văn
Là tác phẩm văn học được đưa vào chương trình (dù là đoạn trích) cho nên vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc chung của việc dạy văn, học văn Người giáo viên cần nắm vững tác phẩm, biết cách nhấn mạnh những gì cần nhấn mạnh, bởi lẽ, đó cũng là điểm khác biệt so với việc giới thiệu hay giảng dạy một tác phẩm văn học dân tộc nào đó Bắt đầu từ ý nghĩ này, chúng tôi dự kiến đưa ra một số gợi ý khi tìm hiểu và giảng dạy một số bài sau trong chương trình Hi vọng rằng đây chỉ là chút kinh nghiệm cần thiết cho quá
Trang 35trình chuẩn bị để có một bài giảng đầy đủ, hay hơn, bổ ích, giúp học sinh nhận thức được nhiều hơn trong việc giảng dạy văn học nước ngoài ở trường Tiểu học Ví dụ:
Bài 1 Anđecxen và truyện cổ Anđecxen
a Vài nét về tác giả
Crixtian Anđecxen (1805 – 1875) sinh ra và lớn lên tại thành phố Ôđenzê cổ kính của nước Đan Mạch trong gia đình một người thợ đóng giày.Ông lớn lên trong cảnh bần hàn và đã từng nếm trải mùi vị đắng cay của cuộc sống Ông đau khổ nhưng không khuất phục, ông tự hào về dòng máu “dân đen” của mình Ông gần gũi với những người nghèo khổ, những người dân cày và những người thợ
b Nội dung và nghệ thuật
b.1 Nội dung: Những tháng năm lăn lộn với cuộc sống đã giúp cho Anđecxen
có một vốn sống, vốn hiểu biết phong phú Đặc biệt cuộc sống của những người được coi là “dân đen” lại chính là mảng đề tài phong phú, là nguồn cảm xúc không bao giờ cạn trong trái tim người nghệ sĩ của Anđecxen Với ông
“Chẳng có truyện cổ tích nào hay hơn những chuyện do chính cuộc sống tạo ra” Đánh giá về truyện Anđecxen, nhà văn Nga K.Pautovxki đã nhận định:
“Trong mỗi truyện cổ tích cho trẻ con của Anđecxen còn có một truyện cổ tích khác mà chỉ có người lớn mới có thể hiểu hết ý nghĩa của nó” Truyện cổ tích của Anđecxen luôn có một giá trị nhân đạo sâu sắc đó là: Niềm tin vào thắng lợi của ánh sáng trước bóng tối, đó là niềm tin vào sự thắng lợi của trái tim người trên cái ác, đó là sự mỉa mai, châm biếm sâu cay đối với bất công, lừa dối và ngu dốt
b.2 Nghệ thuật: Truyện của ông bộc lộ một khả năng kì lạ của trí tưởng
tượng Nhà thơ Ighêman đánh giá “Anh có một khả năng quý báu là trong bất
Trang 36cứ cống rãnh nào cũng tìm ra được ngọc trai” Bằng trí tưởng tượng kì diệu của mình, Anđecxen đã sáng tạo ra những cốt truyện hấp dẫn, nhiều màu vẻ, những hình ảnh, hình tượng có ý nghĩa sâu xa, có sức cuốn hút tâm hồn người đọc
Tóm lại, Anđecxen là người nghệ sĩ nhân đạo chủ nghĩa, là nhà văn của người nghèo và là một con người mà Đức vua Đan Mạch ao ước “được một lần nắm bàn tay gầy guộc của ông là một vinh dự”
c Tác phẩm BÀ CHÚA TUYẾT
c.1 Tóm tắt: Truyện gồm bảy truyện nhỏ
Truyện thứ nhất: Tấm gương và những mảnh gương vỡ; Truyện thứ hai: Hai em bé; Truyện thứ ba: Vườn nhà bà biết làm phép lạ; Truyện thứ tư: Hoàng tử và công chúa; Truyện thứ năm: Con gái quân cướp đường; Truyện thứ sáu: Bà lão xứ Lapôni và bà lão người Phần Lan; Truyện thứ bảy: Việc xảy ra trong lâu đài bà chúa Tuyết
c.2 Ý nghĩa, nội dung tác phẩm:
Truyện bà chúa Tuyết cho thấy xã hội còn tồn tại cái xấu và cái ác Muốn chiến thắng cái xấu và cái ác, con người cần phải có sức mạnh của lòng yêu thương Muốn cho cái xấu và cái ác bị huỷ diệt, con người cần có thiện căn, lương tri và lòng nhân ái
c.3 Phân tích:
• Giá trị nội dung
* Ý nghĩa hiện thực của tác phẩm: Xã hội đang tồn tại cái xấu, cái ác
- Cơ sở xã hội: Giữa thế kỉ 19, Châu Âu và Đan Mạch đang diễn ra quá trình tích lũy và phát triển của CNTB.Xã hội tư sản với thế lực đồng tiền
Trang 37đang huỷ hoại mọi giá trị đạo đức, tinh thần truyền thống và tự nhiên của con người, làm cho con người tha hóa đến cùng cực
- Cái xấu, cái ác đang tồn tại khắp nơi: Tấm gương của quỷ là hiện thân của cai xấu, cái ác Cái gì soi vào tấm gương đó cũng bị biến dạng, méo
mó đi.Cái tốt trở thành cái xấu, cái xấu thì làm cho mọi người khiếp sợ Nguy hiểm hơn, khi tấm gương ấy bị nát vụn ra thành trăm ngàn mảnh bay khắp không trung và có thể bắn vào mắt, vào tim bất kì người nào
- Cái xấu, cái ác có sức phá hoại ghê gớm, làm cho con người bị tha hóa triết để: Mảnh vụn của tấm gương bắn vào mắt ai thì người đó có cái nhìn sai lệch, dẫn đến nhận thức sai lệch Con người không còn ai tốt, ai cũng đáng
sợ và xấu xa
Mảnh vụn của gương bắn vào tim ai, trái tim người đó trở thành băng giá, dẫn đến tình cảm khô cứng, chai lì, không còn cảm giác, người đó trở nên lạnh lùng, dửng dưng với mọi buồn vui của mọi người
=> Ý nghĩa của hình tượng: Con người khi đã mất hết lí trí thì không thể nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan, không còn cảm xúc để thương yêu, căm giận trước những hiện tượng khác nhau của cuộc đời Và như thế sự sống của con người mất hết ý nghĩa cao đẹp, con người chỉ còn sống theo bản năng sinh vật
* Ý nghĩa nhân đạo: Ánh sáng của chân lí, sức mạnh của tình thương
có khả năng chế ngự và chiến thắng cái xấu, cái ác
Tác phẩm là thông điệp mà Anđecxen gửi đến mọi người: Loài người hãy cảnh giác với cái xấu và cái ác, vì nó sẽ làm loài người bị mê hoặc và trở lại tình trạng thú vật đáng sợ
Trong tác phẩm, Anđecxen không chỉ phản ánh một cách tinh tế sâu xa
sự huỷ hoại ghê gớm của cái xấu, cái ác để mọi người xa lánh và cảnh giác
Trang 38đối với nó mà ông còn bộc lộ rất rõ thái độ, tinh thần chiến đấu không khoan nhượng đối với cái xấu, cái ác
- Khẳng định ánh sáng của chân lí vĩnh cửu sẽ xua tan đi bóng đen của cái xấu, cái ác: Lũ quỷ định mang tấm gương lên trời, nhưng chúng đã thất bại Ánh sáng của chân lí đã xua tan bóng đen của cái xấu và đẩy lùi cái ác Nếu coi thiên đường là niềm tin, là chân lí vĩnh hằng của loài người thì ở đó cái xấu, cái ác không thể tồn tại được Đó có thể được coi là một xã hội tuyệt hảo, tuyệt mĩ, một xã hội lí tưởng mà trong đó thiện căn của con người được
đề cao, tôn trọng và bất khả xâm phạm
- Tác phẩm đã khẳng định: Tình yêu thương của con người có thể chiến thắng cái xấu, cái ác, xây dựng một xã hội tốt đẹp tràn đầy tình thương yêu Chính lòng tốt kì diêu của bé Giécđa đã cho em sức mạnh và niềm tin để
em có thể đi tìm Kay- người bạn thân thiết Trên con đường đầy khó khăn nguy hiểm và cám dỗ, bằng sự chân thành Gíecđa đã cảm hóa được mọi người đã vượt qua được mọi khó khăn, đã nhận được sự giúp đỡ đầy nhiệt tình của mọi người để tiếp tục đi tìm Kay và đưa được Kay trở về
• Giá trị nghệ thuật:
* Hình tượng nghệ thuật: Tác giả đã sử dụng thể loại cổ tích với thế
giới kì ảo giàu tưởng tượng để miêu tả một thế giới vật chất có thật nhằm phản ánh hiện thực để bày tỏ thái độ của mình trước hiện thực đó
+ Nghĩa đen của hình tượng: đó là “câu chuyện cổ tích cho trẻ em” Hình tượng bao trùm của truyện là cô bá Giécđa đi tìm bạn và cứu bạn vì bạn
đã bị mảnh gương của quỷ bắn vào mắt, vào tim Trong truyện lại có rất nhiều hình tượng nhỏ: Tấm gương của quỷ, bà lão có nhiều phép lạ, Hoàng tử và công chúa…