Dịch HIVAIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Trường hợp nhiễm HIVAIDS đầu tiên được phát hiện ở Los Angeles Mỹ năm 1981, đến nay đại dịch HIVAIDS đã lan rộng trên toàn thế giới, tập trung nhiều ở khu vực cận Sahara, châu Phi, Đông Nam Á... Ngày 20112012, chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIVAIDS đã công bố “Báo cáo toàn cầu về HIVAIDS năm 2012”, theo báo cáo này, trong năm 2011 đã có thêm 2,5 triệu người mới nhiễm HIV (dao động từ 2,2 triệu – 2,8 triệu) và 1,7 triệu người (dao động từ 1,5 triệu – 1,9 triệu) tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS. Số người còn sống ước tính khoảng 34 triệu. Trong 34 triệu người nhiễm HIVAIDS đang còn sống có khoảng một nửa (17 triệu người) không biết về tình trạng nhiễm vi rút này của mình. Phần lớn trong số họ không biết mình mang vi rút. Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV để tự bảo vệ mình chống lại căn
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước
Trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện ở Los - Angeles Mỹ năm 1981, đến nay đại dịch HIV/AIDS đã lan rộng trên toàn thế giới, tập trung nhiều ở khu vực cận Sahara, châu Phi, Đông Nam Á Ngày 20/11/2012, chương
trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS đã công bố “Báo cáo toàn cầu về HIV/AIDS năm 2012”, theo báo cáo này, trong năm 2011 đã có thêm 2,5 triệu
người mới nhiễm HIV (dao động từ 2,2 triệu – 2,8 triệu) và 1,7 triệu người (dao động từ 1,5 triệu – 1,9 triệu) tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS Số người
còn sống ước tính khoảng 34 triệu Trong 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang
còn sống có khoảng một nửa (17 triệu người) không biết về tình trạng nhiễm vi rút
này của mình Phần lớn trong số họ không biết mình mang vi rút Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV để tự bảo vệ mình chống lại căn bệnh này
Với tốc độ lây lan nhanh chóng và hậu quả nghiêm trọng của HIV/AIDS đã
có rất nhiều các quốc gia triển khai các chương trình can thiệp nhằm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng Một trong những chương trình được triển khai
sớm nhất đó là chương trình can thiệp giảm tác hại, các chiến lược (cung cấp cho người sử dụng thuốc sự tiếp cận toàn diện đối với nền giáo dục, sự trao đổi kim tiêm, các liệu pháp chữa bệnh, việc làm, nhà ở và chăm sóc y tế ) được hợp pháp
hóa khi chúng thành công trong việc giảm số người nhiễm HIV và các hậu quả khác liên quan tới việc sử dụng thuốc Tuy nhiên, chương trình cũng mới chỉ đáp ứng được một bộ phận nhỏ những đối tượng có nhu cầu về bơm kim tiêm
Đồng hành với việc trao đổi, phân phát bơm kim tiêm sạch thì chương trình bao cao su cũng được triển khai rộng khắp Thái Lan là một trong những nước xây dựng và đẩy mạnh chương trình 100% bao cao su (BCS) trong các cơ sở hoạt động mại dâm, hiện nay đã được triển khai ở toàn quốc Tại Singapore tỷ lệ lao động tình dục sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần nhất đạt100%, thấp nhất tại Afghanistan chỉ đạt 1%
Về dịch vụ bảo hiểm, chỉ có 68% phụ nữ, 47% đàn ông ở các nước thu nhập thấp và trung bình được tham gia, và chỉ 28% trẻ em trên toàn thế giới có bảo hiểm
Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 Tính đến hết 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là
Trang 2213.413 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 và 65.133 trường hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 243 người trên 100.000 dân, tỉnh Điện Biên là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6)
Với sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ và nỗ lực của chính mình, nước ta cũng đã triển khai nhiều chương trình chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS như: Chương trình bơm kim tiêm; chương trình bao cao su; chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone (MTĐ); điều trị ARV cho bệnh nhân AIDS; điều trị dự phòng lây truyền mẹ con; chương trình thông tin – truyền thông – giáo dục sức khỏe Các chương trình trên đã được triển khai và thu được những kết quả to lớn
Thái Nguyên là một trong những tỉnh trọng điểm về HIV/AIDS của cả nước Theo số liệu của Cục phòng chống HIV/AIDS - Bộ Y tế năm 2012, Thái Nguyên
là tỉnh có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trên dân số cao thứ 3 trong cả nước (611 người nhiễm/100.000 dân) Từ năm 2006 đến 2010, trung bình mỗi năm phát hiện thêm 1.000 - 1.200 người mới Số người nhiễm HIV lũy tích đến 31/12/2012 là 8.777 người, tăng 546 người trong năm 2012; số bệnh nhân chuyển AIDS lũy tích đến 31/12/2012 là 3.975 người, năm 2012 tăng 229 người; số tử vong do AIDS là 1.809 người, năm 2012 tăng 49 người So sánh với năm 2011, số nhiễm HIV giảm chậm (năm 2011 là 641) Qua giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm 2012,
với nhóm nghiện chích ma túy: Tỷ lệ nhiễm HIV (có xét nghiệm khẳng định HIV
+ ) 38,83% ở nhóm nghiện chích ma túy và 3,97% ở nhóm phụ nữ bán dâm
Được sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, Thái Nguyên đã và đang triển khai mở rộng các dịch vụ chăm sóc và điều trị, hỗ trợ đến tận các xã, phường, thị trấn nhằm tăng cường các hoạt động dự phòng lây truyền HIV/AIDS cho mọi đối tượng như: thông tin, giáo dục, truyền thông; can thiệp giảm tác hại; tư vấn, xét nghiệm HIV
tự nguyện; cung cấp thuốc ARV, các dịch vụ chăm sóc và điều trị liên quan đến HIV/AIDS
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và
y tế của tỉnh và của vùng miền núi phía bắc Dân số gần 300.000 người trong đó có khoảng 30.000 học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dậy nghề Trường hợp người nhiễm HIV đầu tiên được ghi nhận vào
tháng 7/ 1997 Tính đến 30/10/2013 lũy tích người nhiễm HIV của thành phố ( sau điều tra, rà soát tháng 10 năm 2013) là 1.846 người
Trong những năm qua thành phố đã được tiếp nhận, triền khai nhiều chương trình, dự án từ các tổ chức phi chính phủ tài trợ như: Chương trình bơm kim tiêm; chương trình bao cao su; chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
Trang 3truyền mẹ con; chương trình thông tin – truyền thông – giáo dục sức khỏe Các chương trình trên đã góp phần quan trọng nhằm kiềm chế sự gia tăng của HIV/AIDS trên địa bàn thành phố
Tuy nhiên do nguồn lực từ các chương trình, dự án còn hạn chế nên các chương trình này mới đáp ứng được một phần nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS của thành phố Thái Nguyên Nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng người nhiễm HIV/AIDS và nhu cầu tiếp cận đối với các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ của người nhiễm HIV/AIDS, nhóm cán bộ của Trung tâm Y tế thành phố tiến hành đề
tài nghiên cứu: "Điều tra thực trạng và nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, điều trị, hỗ trợ của người nhiễm HIV/AIDS thành phố Thái Nguyên năm 2013".
I Mục tiêu.
1 Mục tiêu chung.
Điều tra thực trạng và nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, điều trị, hỗ trợ của người nhiễm HIV/AIDS thành phố Thái Nguyên, năm 2013
2 Mục tiêu cụ thể.
Mô tả thực trạng người nhiễm HIV/AIDS thành phố Thái Nguyên năm 2013 Xác định nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS về các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ
II Phương pháp.
1 Địa điểm, thời gian và đối tượng điều tra.
Địa điểm điều tra: Tiến hành điều tra trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Thời gian: Tiến hành trong tháng 10 năm 2013
Đối tượng điều tra: Người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng
2 Thiết kế điều tra.
Điều tra dịch tễ học theo phương pháp mô tả cắt ngang
3 Cỡ mẫu.
Tiến hành lựa chọn toàn bộ người nhiễm hiện có mặt trên địa bàn thành phố
4 Phương pháp chọn mẫu.
4.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu.
Là những người nhiễm HIV hiện đang có mặt tại thành phố, có kết quả xét nghiệm HIV dương tính, có tên hoặc không có tên trong danh sách quản lý của Trung tâm Y tế thành phố
4.2 Phương pháp chọn mẫu.
Trang 4Từ danh sách những đối tượng nhiễm người nhiễm HIV của từng xã, phường Trạm y tế xã phường sẽ xác nhận những thông tin về đối tượng đó có đúng như trong danh sách quản lý hay không, thống kê rõ những trường hợp đang ở địa phương, mất dấu, đang đi trại cải tạo, chuyển đi nơi khác hay không có thực tế Trạm y tế các xã cũng có thể bổ sung thêm vào danh sách những trường hợp mà cơ
sở xác nhận được mà không có tên trong danh sách quản lý
4.3 Số mẫu thực tế của nghiên cứu.
Sau khi tiến hành rà soát theo phương pháp nêu trên, nhóm nghiên cứu đã
xác định được hiện tại có 767 người nhiễm HIV hiện đang có mặt tại thành phố
Thái Nguyên
III Thu thập thông tin và xử lý thông tin
1 Phương pháp thu thập thông tin.
Tiến hành phỏng vấn tất cả những người nhiễm HIV của thành phố hiện đang được điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại 02 cơ sở Methadone
Tiến hành phỏng vấn người nhiễm HIV hiện có mặt tại địa bàn chưa được phỏng vấn tại phòng khám ngoại trú và cơ sở Methadone
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng: Để đánh giá được nhu cầu, mong muốn tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc người nhiễm nhóm điều tra tiến hành phỏng vấn các đối tượng bằng bộ câu hỏi định lượng Điều tra viên sẽ giải thích rõ ràng cho đối tượng về nội dung, mục đích của cuộc điều tra và chỉ tiến hành phỏng vấn khi đối tượng đồng ý
Cuộc điều tra đảm bảo diễn ra đúng qui định của điều 30 luật phòng chống
HIV/AIDS và thông tư 09/TT-BYT (đảm bảo bí mật thông tin, tên, tuổi, địa chỉ cho người phỏng vấn).
Các điều tra viên được tập huấn và phỏng vấn thử bộ câu hỏi trước khi tiến hành điều tra
Các giám sát viên được tập huấn về các khái niệm sử dụng trong bộ câu hỏi, những lưu ý của điều tra để giải đáp các thắc mắc liên quan đến bộ câu hỏi Đồng thời, các giám sát viên cũng được thống nhất về cách thức tiến hành thu thập thông tin và được phổ biến các yêu cầu của điều tra trong khi thực hiện thu thập thông tin
2 Quản lý và phân tích thông tin.
Sau khi phỏng vấn xong, toàn bộ phiếu phỏng vấn được các giám sát viên, điều tra viên và nhóm nghiên cứu kiểm tra rà soát để loại bỏ các phiếu phỏng vấn chưa hợp lệ
Trang 5Tổng hợp và thống kê số liệu theo phương pháp thống kê đơn thuần.
IV Vấn đề đạo đức trong điều tra nghiên cứu.
Phải có được sự đồng ý của tất cả các đối tượng điều tra trong quá trình thu thập thông tin
Tôn trọng đối tượng và tuyệt đối bảo mật về các thông tin phỏng vấn Thông tin điều tra của những người tham gia sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ ai không có liên quan
V Kết quả nghiên cứu.
Bảng 1 Phân bố dân tộc người nhiễm.
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy tại thành phố Thái Nguyên người nhiễm HIV là
người dân tộc Kinh chiếm đa số ( 89,4 %) Có sự khác biệt rõ so với các dân tộc khác
Bảng 2 Phân bố người nhiễm theo tuổi.
Trang 6Nhận xét: Bảng 2 cho thấy người nhiễm ở nhóm tuổi từ 30 đến 49 tuổi
chiếm đa số ( 83,4 %) đây là nhóm tuổi lao động và là trụ cột của mỗi gia đình Tuy nhiên người nhiễm ở độ tuổi 20 đến 29 chiếm đến 10,9 % trong quần thể nghiên cứu
Bảng 3 Giới tính trong quần thể nghiên cứu.
Nhận xét: Bảng 3 cho thấy tỷ lệ nữ chiếm tới 29,2 % trong quần thể nghiên cứu Bảng 4 Phân bố nghề nghiệp trong quần thể nghiên cứu.
2 Cán bộ, chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang 2 0,004
9 Nhân viên cơ sở kinh doanh dễ bị lợi dụng 1 0,002
Nhận xét: Bảng 4 cho thấy nhóm người lao động tự do và làm nông
nghiệp chiếm tỷ lệ cao, tuy nhiên người nhiễm phân bố ở hầu hết các ngành nghề
Trang 7Bảng 5 Phân bố theo đối tượng nguy cơ.
Nhận xét: Bảng 5 cho thấy người nhiễm chủ yếu là người nghiện chích
ma túy và từ vợ chồng lây sang nhau ( lây truyền qua đường tình dục)
Trang 8Bảng 6 Phân bố theo hành vi nguy cơ.
2 Quan hệ tình dục với người bán dâm hoặc người
5 Nguy cơ khác của bản thân (Tình dục khác giới) 176 31,5
7 Nguy cơ khác của bản thân (Tình dục khác giới) 39 7,5
Nhận xét: Bảng 6 cho thấy hành vi nguy cơ lây nhiễm trong quần thể
chủ yếu là từ tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục khác giới
Bảng 7 Phân bổ theo đường lây.
Nhận xét: Bảng 7 cho thấy đường lây chủ yếu là từ tiêm chích ma túy và
quan hệ tình dục khác giới
Bảng 8 Hiện trạng cư trú của quần thể.
Trang 9TT Hiện trạng cư trú N = 559 Tỷ lệ (%)
Bảng 9 Tình trạng bệnh của quần thể.
Nhận xét: Bảng 9 cho thấy trong quần thể nghiên cứu số người đã chuyển
sang giai đoạn AIDS chiếm đa số ( 68,5%)
Bảng 10 Trạng thái điều trị.
TT Trạng thái điều trị N = 559 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 10 cho thấy hiện trong quần thể nghiên cứu vẫn còn 68
người ( 12,2%) chưa được điều trị và chưa đăng ký điều trị
Bảng 10 Cơ sở điều trị.
Bảng 11 Sử dụng ma túy.
Trang 10TT Đối tượng đã từng sử dụng ma túy N = 559 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 11 cho thấy trong quần thể nghiên cứu tỷ lệ người nhiễm đã
từng sử dụng ma túy chiếm đa số ( 58,9%)
Bảng 12 Sử sụng ma túy sau khi biết mình bị nhiễm HIV/AIDS
TT Sử sụng ma túy sau khi biết mình bị
nhiễm HIV/AIDS
N = 329 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 12 cho thấy tỷ lệ người nhiễm vẫn tiếp tục sử dụng ma túy
chiếm đa số ( 60,8%) đây là nguồn lây nguy hiểm qua con đường tiêm chích
Bảng 13 Thông tin của người nhiễm về MTĐ.
TT Đối tượng biết về chương trình MTĐ N = 329 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 13 cho thấy vẫn còn 29,8% những người có sử dụng ma túy
trong quần thể nghiên cứu chưa được biết và tiếp cận với chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
Bảng 14 Người nhiễm uống MTĐ
TT Đối tượng nhiễm HIV/AIDS đang uống
MTĐ
N = 329 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 14 cho thấy còn 69% những người có sử dụng ma túy trong
quần thể nghiên cứu chưa được điều trị MTĐ
Bảng 15.Sử dụng BCS trong khi quan hệ tình dục khi đã biết nhiễm HIV
Trang 11TT Đối tượng sử dụng BCS trong khi quan hệ
tình dục khi đã biết nhiễm HIV N = 559 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 15 cho thấy số người thường xuyên sử dụng bao cao su khi
quan hệ tình dục chiếm tỷ lệ 55,6%, đây là một yếu tố nguy cơ lây nhiễm cao
Bảng 16 Sự cần thiết SD BCS trong thời gian tới.
TT Có cần thiết SD BCS trong thời gian tới N = 559 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 16 cho thấy tỷ lệ người nhiễm cho rằng không cần thiết
phải sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục còn cao ( 32,5%)
Bảng 17 Đăng ký điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú
TT Đăng ký điều trị ARV tại phòng khám
ngoại trú
N = 559 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Hiện vẫn còn 10,2 % người nhiễm trong quần thể nghiên cứu chưa đăng ký điều trị ARV
Bảng 18 Lý do chưa đăng ký điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú
Trang 12TT Lý do chưa đăng ký điều trị ARV tại
phòng khám ngoại trú
N = 57 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng trên cho thấy còn nhiều lý do cản trở người có H đến với
phòng khám ngoại trú để đăng ký điều trị
Bảng 19 Ứng xử của người nhiễm khi các chương trình miễn phí kết thúc.
TT Ứng xử khi chương trình miễn phí kết
thúc
N = 559 Tỷ lệ (%)
3 Mua thuốc được đến đâu thì hay đến đó 186 33,3
Nhận xét: Bảng trên cho thấy chỉ có 50,8% người có H trong quần thể
nghiên cứu cho rằng sẽ tiếp tục mua thuốc để tiếp tục điều trị
Bảng 20: Tham gia BHYT của người nhiễm.
TT Tỷ lệ tham gia BHYT N = 559 Tỷ lệ (%)
Bảng 21: Loại hình tham gia BHYT
Trang 13TT Loại hình tham gia BHYT N = 330 Tỷ lệ (%)
3 Bảo hiểm y tế cho người nghèo, bảo trợ xã
Nhận xét: Bảng 21 cho thấy người có H chủ yếu tham gia loại hình bảo
hiểm y tế tự nguyện
Bảng 22 Nguyện vọng tham gia BHYT của người nhiễm.
TT Mong muốn tham gia BHYT trong thời
gian tới
N = 330 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng trên cho thấy đa số người có H đều mong muốn được tham
gia bảo hiểm y tế
Bảng 23 Nguyện vọng được tư vấn và điều trị dự phòng lây truyền HIV
từ mẹ sang con.
TT Được tư vấn và điều trị dự phòng lây
truyền HIV từ mẹ sang con N = 39 Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 23 cho thấy trong quần thể có tới 71% phụ nữ có nhu cầu
sinh con mong muốn được tư vấn và điều trị lây truyền HIV từ mẹ sang con Tuy nhiên đáng quan tâm là còn tới 28,2% không có mong muốn được tư vấn và điều trị lây truyền mẹ con
Bảng 23 Nguyện vọng được tiếp cận truyền thông.
TT Các hình thức truyền thông N = 559 Tỷ lệ (%)