1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiến Trình Nhận Thức Và Phát Triển Đường Lối Cách Mạng VN Của Đảng Thời Kỳ 1930 1945

31 901 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 325,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những cuộc đấu tranh lớn nói trên của công nhân và nông dân là những "pháo hiệu" mở đầu cao trào cách mạng mới ở Việt Nam, chứng tỏ vai trò dẫn đầu cao trào là giai cấp công nhân và tiếp

Trang 1

Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp đấu tranh mà trực tiếp là phong  trào  giải  phóng  dân  tộc  1939­  1945.  Trong  quá  trình  đó  ,  Đảng  đã  xây dựng được một lực lượng chính trị hung hậu; từng bước lực lượng vũ trang nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc , có chỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong căn cứ địa cách mạng , giữ vai trò nòng cốt , xung kích , hỗ trợ choa quân chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Đảng  Cộng  sản  Đông  Dương  là  người  tổ  chức  và  lãnh  đạo  cuộc  cách mạng  Tháng  Tám.  Đảng  có  đường  lối  cách  mạng  đúng  đắn  ,  dày  dặn  kinh nghiệm đấu tranh, bắt rễ sau trong quần chúng , đoàn kết và thống nhất , quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền . Sự lãnh đạo của Đảng 

là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản  lãnh đạo , lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa . Với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam 

đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thập kỉ ttrên đát nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm , lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nhân dân Việt Nam từ than phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự 

do, người làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành nước độc lập và tự do. Đảng cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật không  hợp  pháp  trở  thành  một  đảng  cầm  quyền  và  hoạt  động  công  khai.  Với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, “ chẳng những giai cấp lao động mà nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi  khác  cũng  có  thể  tự  hào  rằng  :  lần  này  là  lân  đầu  tiên  trong  lịch  sử  cách 

Trang 2

đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc ”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam , mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do

”Tiến trình nhận thức và phát triển đường lối Cách mạng Việt Nam của 

Đảng thời kì 1930 ­19 45”  đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi Cách mạng 

Tháng Tám ,và là nền tảng đường lối phát triển của Đảng trở thành đầu tàu lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi ở hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Trang 3

Nhiệm vụ của Đảng là "phải lấy những sự nhu yếu hàng ngày làm bước đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mạng  để dự bị họ 

về phía võ trang bạo động sau này" 

Theo phương hướng đấu tranh đó, phong trào công nông được dấy lên từ cuối nǎm 1929 đến nǎm 1930. Tiếp theo cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng (Nam Bộ) tháng 2­1930, cuộc bãi công của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định kéo dài ba tuần lễ, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 16 tháng 4 do Tỉnh uỷ Nam Định và Đảng uỷ nhà máy tổ chức. Ngay sau đó ngày 19 tháng 4, 

400  công  nhân  nhà  máy  diêm  Bến  Thuỷ,  thành  phố  Vinh  đình  công  đòi  tǎng lương  và  cải  thiện  điều  kiện  làm  việc.  Ngoài  những  cuộc  đấu  tranh  của  công nhân, còn có những cuộc đấu tranh của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao 

Trang 4

Những cuộc đấu tranh lớn nói trên của công nhân và nông dân là những 

"pháo hiệu" mở đầu cao trào cách mạng mới ở Việt Nam, chứng tỏ vai trò dẫn đầu cao trào là giai cấp công nhân và tiếp theo là giai cấp nông dân. 

Trên cơ sở phong trào công nông bước đầu phát triển và thắng lợi, Đảng kêu gọi quần chúng tiếp tục đấu tranh đòi tǎng lương, giảm giờ làm cho công nhân, giảm sưu, hoãn thuế cho nông dân để thiết thực kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 15­1930. 

Cuộc đấu tranh ngày 1­5­1930 là một bước ngoặt đánh dấu phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển thành cao trào cách mạng. Ngày đó, từ thành thị đến nông thôn ở nhiều nơi trong cả nước treo cờ Đảng, rải truyền đơn, tổ chức mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, khẩu hiệu đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế đã kết hợp với khẩu hiệu chính trị. Nhiều cuộc bãi công, biểu tình đã liên tiếp nổ ra 

từ các xí nghiệp công nghiệp ở thành thị đến các vùng nông thôn ở nhiều tỉnh trong cả nước. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cuộc bãi công của công nhân các  nhà  máy  với  các  cuộc  biểu  tình  của  nông  dân  ở  làng  xã,  sự  đoàn  kết  đấu tranh giữa công nhân và nông dân làm cho đế quốc Pháp lúng túng, bị động, lo sợ

Tháng 9­1930, cao trào tiếp tục phát triển lên đỉnh cao. Những khẩu hiệu chính trị được kết hợp chặt chẽ với các yêu sách về kinh tế trong hàng loạt các cuộc đấu tranh ở khắp cả nước. 

Ở Nghệ An, Hà Tĩnh từ cuối tháng 8 đến đâu tháng 9­1930 là thời kỳ "đấu tranh kịch liệt", diễn ra nhiều cuộc đấu tranh quy mô huyện và liên huyện với hàng nghìn, hàng vạn dân chúng tham gia. Những cuộc đấu tranh tiêu biểu như cuộc biểu tình của 3.000 nông dân huyện Nam Đàn ngày 30­8, của 20.000 nông dân Thanh Chương ngày 1­9, của 3.000 nông dân huyện Can Lộc ngày 7­9, của 8.000 nông dân huyện Hưng Nguyên ngày 12­9­1930. Phần lớn những cuộc biểu 

Trang 5

huyện  đường,  đốt  giấy  tờ,  phá  nhà  giam,  phá  xiềng  gông,  giải  phóng  những người bị bắt. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, bọn thực dân, phong  kiến  hoảng  sợ,  nhiều  tên  tri  huyện,  lý  trưởng  nộp  lại  ấn  tín  hoặc  chạy trốn, nhiều nơi chính quyền địch tan rã. Trong tình hình đó, Xô viết Nghệ Tĩnh, một hình thức chính quyền đâu tiên của công nông trong lịch sử cách mạng Việt Nam xuất hiện. 

Xây dựng được đội quân chủ lực của cách mạng, thực hiện được liên minh công nông là một thành tích nổi bật của Đảng ta trong cao trào cách mạng 1930­

1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh. 

Thực tế lịch sử cho thấy, trong cao trào cách mạng 1930­1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh, công nông thể hiện một nghị lực cách mạng Phi thường và sức mạnh 

to lớn. Hàng triệu nông dân đã đứng lên cùng với giai cấp công nhân phối hợp đấu tranh chống đế quốc, phong kiến

Đó  là  nhờ  Cương  lĩnh  đầu  tiên  của  Đảng  đúng,  gắn  nhiệm  vụ  chống  đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến, thực hiện giải phóng dân tộc và ruộng đất cho dân cày, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của công nông. 

Nhưng nếu chỉ, thấy lực lượng cách mạng có hai giai cấp công nhân và nông dân thì sẽ dẫn đến cô độc, hẹp hòi, hạn chế việc mở rộng lực lượng cách mạng. Trong chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh Đông Dương ra ngày 18­11­1930, Thường vụ Trung ương Đảng đã phân tích, chỉ rõ tính "biệt phái" của phong trào, thiếu một tổ chức thật quảng đại quần chúng để lôi cuốn các tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong  muốn  quốc  gia  độc  lập.  Đó  là  nhận  thức  mới,  cách  nhìn  mới,  đánh  giá đúng các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc của Đảng. Chỉ có như vậy mới tập hợp được lực lượng của cả dân tộc. Vì "Cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương 

mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công". 

Đội  quân  chính  trị  quần  chúng  có  tính  quyết  định  là  công  nông,  nhưng muốn đánh đổ kẻ thù lớn mạnh, đạt tới thắng lợi nhanh nhất và giảm bớt tổn thất 

Trang 6

2. Cao trào vận động dân chủ 1938­1939 

Vào  cuối  nǎm  1931,  cách  mạng  Việt  Nam  bước  vào  thời  kỳ  thoái  trào. Thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp khủng bố rất tàn bạo, nhất là đối với nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh

Cơ  quan  trung  ương,  các  xứ  uỷ  Nam  Kỳ,  Trung  Kỳ,  Bắc  Kỳ,  nhiều  cơ quan tỉnh, huyện, xã bị phá vỡ hầu hết. Kẻ địch định dìm phong trào cách mạng của quần chúng trong biển máu, tình hình đen tối tưởng như không có đường ra. Cách mạng đứng trước thử thách lớn. 

Do tinh thần yêu nước, thiết tha với độc lập, tự do của nhân dân ta và lòng trung  thành,  ý  chí  đấu  tranh  kiên  cường  của  cán  bộ,  đảng  viên,  cách  mạng  đã nhanh chóng ra khỏi thời kỳ thoái trào, tiến lên một cao trào mới, cao trào vận động dân chủ 1936­1939. 

Cách  mạng  Việt  Nam  những  nǎm  1936­1939  diễn  ra  trong  bối  cảnh  thế giới có những diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa phát xít xuất hiện, nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới đang đến gần. Nhân loại đứng bên bờ vực của thảm hoạ chiến tranh. 

Chủ nghĩa phát xít là kẻ thù xấu xa, tàn bạo nhất của nhân dân thế giới. Trước tình hình ấy, Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII đã họp tại Mátxcơva (7­1935), tham gia Đại hội có 65 đoàn đại biểu của các Đảng cộng sản trên thế giới.  Đoàn  đại  biểu  Đảng  cộng  sản  Đông  Dương  có  các  đồng  chí  Lê  Hông Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Vǎn Nọn do đồng chí Lê Hông Phong làm trưởng đoàn. Đồng chí Hồ Chí Minh, lúc này đang học tập và nghiên cứu tại trường Quốc tế Lênin ở Mátxcơva cũng được mời dự. Đại hội xác định kẻ thù trước mắt của giai cấp công nhân, nhân dân thế giới là chủ nghĩa phátxít, nhiệm 

vụ đấu tranh trước mắt là chống phátxít, chống chiến tranh, đòi dân chủ, gìn giữ hoà bình. Đại hội quyết định thành lập Mặt trận nhân dân rộng rãi trên thế giới 

Trang 7

và Đông Dương, có một số thay đổi về chế độ lao động đối với công nhân. 

Vận dụng nghị quyết Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII, phân tích tình hình thế giới, trong nước, Đảng xác định kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng, mục tiêu đấu tranh trước mắt là chống bọn phản động thuộc địa, chống phátxít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình. Mục tiêu đó không chỉ thống nhất với mục tiêu đấu tranh của nhân dân thế giới, tranh thủ được sự đồng tình ủng 

hộ quốc tế, mà còn đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng bức thiết của nhân dân ta, có sức cổ vũ và tập hợp lực lượng một cách rộng lớn, thu hút được hết thảy các giai cấp, tầng lớp tham gia phong trào dân chủ bằng nhiều hình thức phong phú, sát hợp. 

Mặt trận dân chủ, một hình thức mặt trận thích hợp nhất lúc đó đã thay  thế Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế. 

Thành phần tham gia Mặt trận dân chủ rộng hơn Mật trận phản đế. Mặt trận dân chủ không chỉ có các lực lượng tiên tiến, kiên quyết chống đế quốc mà gồm cả những thành phần chỉ có yêu cầu cải cách, không chỉ có quần chúng cơ bản là công nhân, nông dân mà còn có cả những tầng lớp tư sản, địa chủ, các đảng phái cải lương ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôn giáo đấu tranh cho dân chủ, tự do cơm áo, hoà bình. 

Mặt  trận  không  chỉ  bao  gồm  những  người  tán  thành  dân  chủ  thuộc  ba nước  Đông  Dương,  mà  còn  thu  hút  cả  những  ngoại  kiều  như  Hoa  kiều,  Pháp kiều tán thành mục tiêu này. Để tập hợp đồng đảo quần chúng, trong chính sách mặt trận, Đảng coi trọng liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện liên minh với các tầng lớp trên, lấy liên minh công nông làm nền tảng. 

Các nghị quyết của Đảng thời kỳ này vạch rõ tình hình mới đòi hỏi Đảng phải có đường lối chính trị mới và có phương pháp hoạt động mới. Phương pháp 

Trang 8

phải rất linh hoạt nhằm đoàn kết đồng đảo quần chúng trong một mặt trận thống nhất  chống  phản  động  thuộc  địa,  chống  phátxít  và  chiến  tranh,  đòi  tự  do,  dân chủ. 

Đảng  chủ  trương  chuyển  hình  thức  hoạt  động  bí  mật,  không  hợp  pháp sang các hình thức công khai, hợp pháp và nửa công khai, hợp pháp, nhằm tập hợp và hướng dẫn đông đảo quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, qua đó giáo dục, phát triển lực lượng cách mạng. 

Các cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đã diễn ra sôi nổi ở cả ba nước Đông Dương nhất là ba xứ Nam, Trung, Bắc thuộc Việt Nam. 

Đó là phong trào Đông Dương đại hội, phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, phong trào báo chí, truyền bá quốc ngữ, đấu tranh nghị trường, những cuộc  mít  tinh  nhân  ngày  quốc  tế  lao  động  1­5,  những  cuộc  đón  tiếp  Gôđa  và Brêviê, các "vị quan to của nhà nước bảo hộ Pháp". Nhứng cuộc đấu tranh đó đã thu  hút  được  hàng  nghìn,  hàng  vạn  quần  chúng.  Đảng  và  quần  chúng  trưởng thành nhanh chóng qua thực tiễn đấu tranh, đồng thời càng thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân cùng những kinh nghiệm giác ngộ, tổ chức quần chúng thành những lực lượng cách mạng tự giác. 

Thực  tiễn  thời  kỳ  1936­1939,  Đảng  nhận  thức  rõ  hơn  mối  quan  hệ  giữa mục tiêu với các hình thức tổ chức đấu tranh. 

Hình thức tổ chức đấu tranh phải phục tùng mục tiêu đấu tranh, phải huy động được nhiều lực lượng tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức thích hợp. 

Đảng đặt vấn đề phải biết tranh thủ những điều kiện hợp pháp, không ảo tưởng về con đường hợp pháp giành chính quyền, mà chính là để mở rộng việc giáo dục và tập hợp quần chúng, phát triển rộng rãi ảnh hưởng của cách mạng. 

Từ  những  hội  ái  hữu,  nghiệp  đoàn,  đưa  nguyện  vọng  đòi  mở  Đại  hội  Đông Dương, đón phái đoàn điều tra, truyền bá quốc ngữ, hoạt động báo chí đến việc lợi dụng Viện dân biểu, Hội đồng quản hạt, yêu cầu cải cách hương chính v.v., Đảng và quần chúng đã sáng tạo ra hàng loạt hình thức hoạt động, tổ chức và 

Trang 9

Động viên hàng triệu quần chúng vào mặt trận đấu tranh, bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ mà hình thành đội quân chính trị quãn chúng rộng lớn, thực sự là bước phát triển mới trong xây dựng lực lượng cách mạng, là một trong những thành quả nổi bật trong cao trào cách mạng 1936­1939. 

Trong  cuộc  tổng  diễn  tập  lần  thứ  nhất  (1930­1931)  lực  lượng  đấu  tranh chủ  yếu  là  công  ­  nông,  thì  trong  cuộc  tổng  diễn  tập  tân  thứ  hai  (1936­1939) ngoài công ­ nông là nòng cốt còn có đồng đảo các tâng lớp, giai cấp tập hợp trong Mặt trận dân chủ. 

Trên  cơ  sở  phong  trào  quần  chúng  rộng  rãi,  nòng  cốt  là  khối  liên  minh công ­ nông đã hình thành trên thực tế từ cao trào 1930­1931, Đảng xây dựng Mặt  trận  dân  tộc  thống  nhất.  Đó  là  bước  tiến  mới  trong  nhận  thức  và  chỉ  đạo thực tiễn của Đảng về xây dựng lực lượng cách mạng. 

3. Cao trào giải phóng dân tộc 1939­1945 

Tình hình thế giới vào những nǎm 1939­1945, nổi bật là cuộc Chiến tranh thế giới tân thứ hai bùng nổ, chi phối đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các nước. Chiến tranh gây tổn thất, đau thương cho nhân dân, đồng thời đẩy nhanh quá  trình  "cách  mạng  hoá  quần  chúng".  Đảng  cách  mạng  của  giai  cấp  vô  sản nhân  cơ  hội  đó  tập  hợp  lực  lượng,  đẩy  nhanh  quá  trình  phát  triển  phong  trào cách mạng tiến lên từng bước vững chắc

Chính phủ phản động Pháp là một trong những bên gây ra chiến tranh. Sau khi tham chiến, chúng thi hành chính sách phátxít, giải tán Đảng cộng sản và các 

tổ chức dân chủ tiến bộ ở nước Pháp cũng như các thuộc địa của Pháp. Tại Đông Dương, chúng thi hành chính sách cai trị thời chiến trên tất cả các mặt đời sống 

xã hội, ra lệnh tổng động viên, bắt lính, bắt phu, tǎng cường áp bức, bót lột. 

Nhận rõ những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nước, tiền 

đề  của  cách  mạng  thế  giới  và  cách  mạng  Đông  Dương,  Đảng  ta  quyết  định 

Trang 10

chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc cao hơn nhiệm vụ chống phong  kiến,  giành  ruộng  đất  cho  nông  dân,  coi  nhiệm  vụ  trung  tâm  của  cách mạng là chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. 

Đảng  ta  hiểu  rằng,  thắng  lợi  của  cách  mạng  không  tự  đến  mà  phải  chủ động chuẩn bị giành lấy và giữ vững. Muốn vậy phải có lực lượng, có sức mạnh toàn dân đoàn kết. 

Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời chủ  trương  đoàn  kết  hết  thảy  các  giới  đồng  bào  yêu  nước,  không  phân  biệt  giàu,  nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị nhằm  đấu tranh giải phóng dân tộc. 

Mặt trận Việt Minh ra đời đã thu hút ngày càng nhiều các tầng lớp nhân dân. Từ cuối nǎm 1941 đến đâu nǎm 1942, các hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, đội tự vệ cứu quốc đã được thành lập ở nhiều tỉnh miền Bắc, một số tỉnh miền Trung và các thành phố 

Hà Nội, Hải Phòng, Mặt trận Việt Minh thực sự đã đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân. 

Đặt vấn đề khởi nghĩa giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng lực lượng về mọi mặt, vừa có lực lượng chính trị, vừa có lực lượng vũ trang. 

Tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy hình thức đấu tranh vũ trang lên khi cần thiết, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, chú ý xây dựng, bố trí lực lượng trên các địa bàn chiến lược, ở cả nông thôn và thành thị là nội dung mới về xây dựng lực lượng cách mạng của thời kỳ 1939­

1945. 

Quá trình xây dựng lực lượng cách mạng đồng thời là quá trình phát triển cao trào đánh Pháp đuổi Nhật. Mặt khác, qua đấu tranh, lực lượng không ngừng lớn mạnh. 

Trang 11

ở Hà Nội, tổ chức Việt Minh được phát triển mạnh trong nhiều nhà máy, trường học. ở các tỉnh đồng bằng và ven biển miền Trung, nhiều tổ chức cơ sở của Đảng và Việt Minh đã đi vào quần chúng công nhân, nông dân, dân nghèo, đồng thời phát triển vào các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức ở thành thị. 

ở Nam Bộ, cùng với sự phục hồi một số cơ sở công hội, tổ chức Việt Minh được xây dựng ở Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh và một số tỉnh khác. Hoạt động của các đội tuyên truyền xung phong và vũ trang ở nhiều thành phố, thị xã đã gây thanh thế cho Việt Minh, thúc đẩy việc phát triển các đoàn thể cứu quốc. 

ở vùng rừng núi và trung du Bắc Bộ, có những dấu hiệu của cao trào cách mạng. 

ở Cao Bằng, hệ thống Việt Minh được xây dựng khắp các cơ sở trong tỉnh. Đội 

tự  vệ  vũ  trang  và  du  kích  được  thành  lập  ở  các  xã,  các  huyện.  Các  lớp  huấn luyện chính trị, quân sự mở ra liên tiếp. Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi trong toàn tỉnh. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa dâng lên mạnh mẽ ở Lạng Sơn, Bắc  Cạn,  Thái  Nguyên,  Tuyên  Quang,  Hà  Giang,  Phú  Thọ,  Bắc  Ninh,  Bắc Giang, Vĩnh Yên, Việt Trì. 

Trong khi đó mâu thuẫn Nhật ­ Pháp ngày càng phát triển gay gắt. Đúng như dự đoán của Đảng, đêm 9­3­1945, Nhật đã nổ súng đánh Pháp cùng một lúc trên toàn cõi Đông Dương

Ngay đềm 9­3­1945, giữa lúc Nhật nổ súng đánh Pháp, Hội nghị mở rộng của Ban thường vụ trung ương Đảng họp ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) 

do đồng chí Trường ­ Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. 

Giữa lúc ấy, nạn đói ở các tỉnh miền Bắc diễn ra rất nghiêm trọng. Chính sách 

Trang 12

ta chết đói. Trước tình hình đó, Đảng nêu khẩu hiệu: "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" Chủ trương đó của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, đã dấy lên một cao tràn đấu tranh rộng lớn ở nông thôn Bắc Bộ. 

Cao trào kháng Nhật cứu nước càng dâng lên mạnh mẽ khi được tin thắng lợi của Hồng quân Liên Xô và phátxít Nhật đầu hàng vô điều kiện. 

Trong tình hình vô cùng khẩn cấp, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15­8­l.945, tiếp sau đó ngày 16­8­1945 Đại hội quốc dân họp tại  Tân  Trào  (Tuyên  Quang),  quyết  định  phát  động  toàn  dân  tổng  khởi  nghĩa. Nhân  dân  cả  nước,  triệu  người  như  một  đã  nhất  tế  đứng  lên  khởi  nghĩa  giành chính quyền từ tay phátxít Nhật và chính quyền tay sai. Chỉ trong vòng 12 ngày, 

từ ngày 14 đến ngày 25­8­1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước. 

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi "chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc. 

Cách  mạng  Tháng  Tám  nổ  ra  và  thắng  lợi  là  kết  quả  hợp  thành  của  các nhân tố chủ quan và khách quan, trong và ngoài nước. Nhưng quyết định trực tiếp, trước hết là các nhân tố chủ quan bên trong. Đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và tinh thần quật khởi mạnh mẽ của toàn dân ta. 

Trong suốt 15 nǎm, kể từ khi ra đời đến Cách mạng Tháng Tám 1945, qua 

ba cao trào, Đảng ta đã kiên trì xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt. Nhờ 

có lực lượng toàn dân đoàn kết được xây dựng rộng khắp, có tổ chức chặt chẽ nên cách mạng Tháng Tám đã diễn ra nhanh, ít đổ máu và thắng lợi vẻ vang. 

Trang 13

1. Từng thời kỳ, Đảng định ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thề sát đúng đề  tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng cách mạng 

Từ  khi  ra  đời,  Đảng  đã  xác  định  trong  Cương  lĩnh  của  mình  con  đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam: trước làm cách mạng dân tộc dân chủ,  sau  đó  tiến  lên  chủ  nghĩa  xã  hội,  bỏ  qua  giai  đoạn  phát  triển  tư  bản  chủ nghĩa. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, hai nhiệm vụ chống đế quốc 

và chống phong kiến được kết hợp một cách khǎng khít, nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng. 

Phương hướng và mục tiêu cơ bản đó đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng thiết tha  nhất  của  toàn  dân  tộc,  trước  hết  là  công  nhân,  nông  dân  và  nhân  dân  lao động.  Đường  lối  chiến  lược  đúng  là  ngọn  cờ  hiệu  triệu,  tập  hợp  lực  lượng. Nhưng cách mạng muốn thắng lợi, muốn đạt tới mục tiêu chiến lược phải có sự chỉ đạo chiến lược đúng

Kinh nghiệm cho thấy, đề ra mục tiêu chiến lược và kiên định mục tiêu chiến lược đó đã khó, thì việc đề ra mục tiêu trước mắt sát hợp với từng thời kỳ, kết hợp đúng đắn mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài còn khó khǎn, phức tạp hơn. ở đây, có thể phạm sai lầm "hữu khuynh" hoặc "tả khuynh". Nóng vội, chủ quan hay do dự, bảo thủ cũng dễ bị tổn thất. Phải kết hợp nhiệt tình cách mạng với tri thức khoa học, phải có quan điểm lịch sử cụ thể mới xác định được mục tiêu trước mắt sát đúng và do đó mới tập hợp và xây dựng được lực lượng cách  mạng  đồng  đảo,  vững  mạnh.  Đồng  chí  Đỗ  Mười,  Tổng  bí  thư  đã  nói: 

"Trong việc xác định mục tiêu, tuy có chú ý tính toàn diện, nhưng cần tập trung vào những trọng điểm và thể hiện tính khả thi, không đề ra cao quá, vì sẽ không 

có khả nǎng thực hiện, gây nghi ngờ trong quần chúng, cũng không hạ thấp vì sẽ kìm hãm phong trào cách mạng của nhân dân. Phải đặc biệt tính toán các giải pháp, phương tiện để thực hiện mục tiêu". 

Thực tiễn lịch sử chứng tỏ, Đảng ta từng bước bổ sung, cụ thể hoá đường lối  cách  mạng  dân  tộc  dân  chủ  nhân  dân,  nhận  thức  và  giải  quyết  ngày  càng đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. 

Trang 14

vụ chiến lược và lực lượng cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta, nhưng  chưa  xác  định  rõ  nhiệm  vụ  chủ  yếu  trước  mắt  là  chống  đế  quốc,  giải phóng dân tộc, cho nên chưa đánh giá đúng vai trò, lực lượng của giai cấp trí thức tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Do đó dã hạn chế việc tập hợp lực lượng cách mạng. 

Trong  cách  mạng  1936­1939,  Đảng  xác  định  mục  tiêu  trước  mắt  đáp  ứng  yêu cầu,  nguyện  vọng  của  nhấn  dân,  vì  thế  đã  thu  hút  được  đồng  đảo  quần  chúng tham gia đấu tranh. Bên cạnh công nhân, nông dân trước sau vẫn là nòng cốt của cách mạng, Đảng còn thu hút được đồng đảo các tầng lớp các giai cấp, các dân tộc, kể cả các đảng phái cải lương, các cá nhân tiên tiến thuộc tầng lớp trên, tán thành  đấu  tranh  cho  dân  sinh,  dân  chủ.  Trên  thực  tế  đã  hình  thành  đội  quân chính trị quần chúng rộng lớn

Đánh  giá  ý  nghĩa  của  cao  tràn  cách  mạng  1936­1939,  Chủ  tịch  Hồ  Chí Minh nói: "Việc gì đúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hǎng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong trào quần chúng. Nó cũng dạy chúng ta rằng: phải hết sức tránh những bệnh chủ quan, hẹp hòi v.v " 

Trong thời kỳ 1940­1945, Đảng nhận thức đầy đủ hơn và chỉ đạo kết hợp một cách khéo léo giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, coi nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và được rải ra thực hiện từng bước

Đảng chỉ rõ: "trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi bộ phận của giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được". Trong giai đoạn hiện tại nếu không 

Trang 15

Tập trung mũi nhọn đấu tranh đánh đổ đế quốc phátxít Nhật ­ Pháp và bè 

lũ tay sai, thực hiện mục tiêu chủ yếu là giải phóng dân tộc, song Đảng không quên nhấn mạnh, cách mạng vẫn mang tính chất dân tộc dân chủ, nghĩa là không được tách rời hai nhiệm vụ chiến lược mà phải coi đánh đổ đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến là nhiệm vụ khǎng khít, vấn đề dân tộc và vấn đề dân chủ không thể tách rời. Nhưng, không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau. 

Tập trung giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc không phải là Đảng thủ tiêu vấn đề đấu tranh giai cấp và bỏ nhiệm vụ điền địa, cũng không phải lùi một bước mà chỉ bước một bước ngắn hơn, để có sức mà bước một bước dài hơn. Đảng  chủ  trương  tạm  gác  khẩu  hiệu  cách  mạng  ruộng  đất  mà  thay  bằng  khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của đế quốc Pháp và của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, tức là chưa đánh vào toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến. Đây là một chủ trương khôn khéo, nhằm tập trung lực lượng giải quyết nhiệm vụ chủ yếu Chủ trương đó nhằm tạo ra sức mạnh to lớn, tập hợp đồng đảo các tầng lớp nhân  dân  tham  gia  cách  mạng,  đồng  thời  củng  cố  khối  liên  minh  công  nông thêm vững chắc. 

2. Lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với trình độ giác ngộ và khả  nâng đấu tranh của các tầng lớp, giai cấp 

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề tổ chức. Đảng hiểu rằng, sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ sức mạnh của quần chúng, mà sức mạnh của quần chúng phải là hành động tự giác có tổ chức. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới  thành  công".  Chỉ  thị  về  công  tác  to  chức  của  Ban  chấp  hành  trung  ương Đảng  (ngày  1­2­1941)  chỉ  rõ:  "Biết  tổ  chức  thì  dù  bọn  phátxít  quỷ  quyệt,  tàn nhẫn đến đâu cũng không làm gì nổi. Biết tổ chức tức là có thêm cán bộ, có vũ 

Ngày đăng: 19/08/2016, 19:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w