Tuy những tài liệu trên ít nhiều thể hiện được những quan điểm, chính sáchcông tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật, nhưng trước thực tiễn tình hình đặc thùcủa địa phương đã đề cập ở trê
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ
Hà Nội, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về: “Chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Lê Bá Chu
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐIVỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT 13
1.1 Các khái niệm và đặc điểm 13
1.2 Vai trò của chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật 22
1.3 Nội dung của chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật Error:Reference source not found5
Chương 2: CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾTTẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG 41
2.1 Tình hình kinh tế-xã hội, thực trạng người khuyết tật và trẻ em khuyết tật tạithành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 41
2.2 Tình hình thực hiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tạithành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 46
2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tạithành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-10155 8
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐIVỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNHLÂM ĐỒNG66 7
3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách công tác xã hội đối vớitrẻ em khuyết tật Error: Reference source not found7
3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
6 8
3.3 Lộ trình thực hiện Error: Reference source not found4
3.4 Một số kiến nghị Error: Reference source not found4
KẾT LUẬN Error: Reference source not found7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5Bảng 2.2 Phân chia theo dạng tật tại cộng đồng 43Bảng 2.3 Trẻ em khuyết tật tại các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
chuyên biệt
43
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật nóichung, đặc biệt là trẻ em khuyết tật để họ tự vượt qua những thiệt thòi về thể chất,tinh thần vốn có, tích cực hòa nhập cộng đồng là những hoạt động có tính nhân vănsâu sắc, biểu hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là trách nhiệm của mỗi người,mỗi gia đình, tổ chức kinh tế, xã hội, quần chúng và các cấp chính quyền Ngay từnhững ngày đầu tiên khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chínhphủ ta đã kịp thời tổ chức nghiên cứu, ban hành các chính sách, chế độ, đồng thời
đề ra nhiều chủ trương, biện pháp, đặc biệt đã tổ chức nhiều phong trào quần chúngsâu rộng trong nhân dân nhằm chăm sóc và giúp đỡ trẻ em khuyết tật
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới nền kinh tế của đất nước, Đảng vàNhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đối tượng trẻ em khuyết tật thông qua các chínhsách, luật pháp như: Bộ Luật lao động, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em… cùng hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến chính sáchcông tác xã hội Trong đó đề cập đến những quyền cơ bản, bảo đảm cho trẻ emkhuyết tật được bình đẳng về mọi mặt trong xã hội, tạo nhiều thuận lợi cho trẻ emkhuyết tật tiếp cận tốt các lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, học nghề,lao động và việc làm…
Tuy nhiên, đất nước ta vốn trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, nền kinh tếchưa phát triển, thiên tai xảy ra thường xuyên, môi trường sống và công tác vệ sinhphòng dịch-chữa trị bệnh đang tồn tại nhiều bất cập, việc chấp hành luật lệ giaothông, bảo hộ lao động chưa nghiêm, sự lạm dụng thuốc tân dược, yếu tố di truyền,thương tích thể thao, … đã tạo nên những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp giatăng số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng
Thành phố Đà Lạt dù giữ vị trí trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch
vụ của tỉnh Lâm Đồng, với tốc độ tăng trưởng duy trì ổn định, nhưng cũng đồngthời đối mặt với nhiều trở ngại khi số lượng người khuyết tật tại chỗ chiếm tỷ lệ khácao so với các địa bàn trong tỉnh và ngày càng biến động tăng cùng lượng dân nhập
Trang 8cư đến thành phố làm việc, học tập Điều này đặt ra cho các cấp chính quyền, banngành, đoàn thể của địa phương những thách thức trước việc xác định các biện pháphữu hiệu nhằm hạn chế những khó khăn đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận cơhội giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm, tạo thu nhập nuôi sống bản thân,nâng cao năng lực hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật nói chung, đặc biệt làđối tượng trẻ em khuyết tật của địa phương.
Mặt khác, xét ở góc độ nghiên cứu, tìm giải pháp nhằm hoàn thiện chínhsách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật thì cho đến nay ở Việt Nam vẫn rấthiếm hoi các công trình khoa học nghiên cứu riêng về nội dung này Ngay cả việctìm kiếm những tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng gặp không ít khókhăn Các tài liệu có thể tìm được chủ yếu là các bài báo, các kế hoạch, chươngtrình hành động… thiếu tính hệ thống
Tuy những tài liệu trên ít nhiều thể hiện được những quan điểm, chính sáchcông tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật, nhưng trước thực tiễn tình hình đặc thùcủa địa phương đã đề cập ở trên, thì việc nghiên cứu, đưa ra những giải pháp phùhợp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện chính sách công tác xã hội cho các đốitượng dễ bị tổn thương, trong đó có trẻ em khuyết tật luôn là một bài toán khó Bêncạnh đó, cùng với nhu cầu tăng cường quản lý, hỗ trợ, định hướng hoạt động đối vớicác tổ chức hội, đoàn thể giúp đỡ trẻ em khuyết tật, các cơ sở bảo trợ trẻ em khuyếttật ngoài công lập ngày càng trở nên bức xúc và được cộng đồng xã hội quan tâm,theo dõi, thì việc nghiên cứu, phân tích hệ thống các chính sách công tác xã hội đốivới chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đúc rút kinh nghiệm nhằm tìm ranhững giải pháp hiệu quả hơn, khả thi hơn là một đòi hỏi cấp thiết Vì lẽ đó và cùngvới sự cảm thông chia sẽ với những khó khăn, thách thức trong quá trình hòa nhậpcộng đồng của trẻ em khuyết tật, tác giả mong muốn đóng góp thêm các quan điểmkhoa học, giải pháp ban hành và thực hiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em
khuyết tật thông qua luận văn tốt nghiệp Cao học Công tác xã hội: “Chính sách
Trang 9công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, các vấn đề về NKT nói chung và TEKT nói riêngluôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, cácchuyên gia, học giả trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này,tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêubiểu như sau:
Các nghiên cứu về pháp luật, chính sách xã hội đối với người khuyết tật
Việc đảm bảo quyền của NKT đã trở thành một trong những yêu cầu quantrọng để đảm bảo công bằng, vì con người và phát triển bền vững của quốc gia.Chính vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp lý nhằm đảm bảoquyền của NKT nói chung và TEKT nói riêng, có thể kể đến một số công trình tiêubiểu sau:
Tác giả Trần Thái Dương (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu vềnhững điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc biệt lànhững quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo đảm quyền tiếpcận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của NKT, từ đó đề xuất một số ý kiếnnhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phêchuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước [7, tr.12]
Tác giả Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạngpháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho NKT trên các phương diện: Chínhsách đối với cơ sở dạy nghề, NKT học nghề và giáo viên dạy nghề cho NKT; đồngthời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT
cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện.[10, tr.18].Ngoài ra, còn có các đề tài luận văn, luận án ngành luật học nghiên cứu về vấn
đề lý luận và thực tiễn để đảm bảo cho quyền của NKT được thực hiện như: “Hoànthiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Trang 10Nguyễn Thị Báo năm 2008 [5]; “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động dưới
góc độ pháp luật lao động” của tác giả Đỗ Minh Nghĩa năm 2012 [14]; …
Các nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo công tác xã hội đối với người khuyết tật
Về vấn đề nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo CTXH đối với NKT, có thể kểđến một số công trình tiêu biểu sau:
Công trình nghiên cứu của Tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổngquát nhất về CTXH với NKT, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp cận, cácchương trình chính sách của nhà nước đối với NKT, vai trò của nhân viên CTXHđối với NKT, các kỹ năng làm việc với NKT Đây là giáo trình đào tạo CTXH ở
Ngoài ra, Cục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ LĐ-TBXH còn xây dựng tài liệu nhằmtrang bị, cung cấp cho cán bộ xã hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết trongcông tác trợ giúp cho NKT, tăng cường các chức năng xã hội của NKT để họ có thểhòa nhập cộng đồng một cách bền vững [4]
Các nghiên cứu về các hoạt động thực hành công tác xã hội đối với người khuyết tật
Qua tìm hiểu, sưu tầm và nghiên cứu tác giả nhận thấy rằng: Các đề tài luận vănthạc sĩ ngành CTXH trong những năm gần đây có xu hướng chuyên sâu nghiên cứu
về thực trạng của CTXH đối với NKT tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, tại cộng
Trang 11đồng Từ đó, vận dụng các phương pháp CTXH với cá nhân, phương pháp CTXHvới nhóm để thúc đẩy hoạt động trợ giúp cho NKT mang tính chuyên nghiệp hơn như
đề tài: “Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người khuyết tật từ thực tiễnTrung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Hà Nội” của NguyễnNgọc Tùng [21]; đề tài “Công tác xã hội đối với người khiếm thị từ thực tiễn huyện
Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” của Lê Thanh Thủy [22];…
Đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành quản lý nguồn nhân lực “NghềCTXH ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hà (2010): Đã nghiên cứu một số lýluận và thực tiễn về nghề CTXH; đánh giá về pháp luật, cơ chế chính sách vềCTXH, thực trạng nghề CTXH ở Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất định hướng vàgiải pháp phát triển nghề CTXH ở Việt Nam như: Hoàn thiện thể chế, chính sách;xây dựng các tiêu chuẩn cơ sở bảo trợ ở Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ nhânviên CTXH và phát triển, nâng cấp mạng lưới các cơ sở cung cấp DVCTXH
Tác giả Nguyễn Thụy Diễm Hương và Tạ Thị Thanh Thủy (trường Đại học Khoahọc xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) cũng có bài viết nhấn mạnh đến việcthực hành CTXH đối với NKT có thể sử dụng các phương pháp “Tăng quyền lực”,
“Dựa trên quyền” và “Điểm mạnh” để có thể làm tăng năng lực cho NKT, giúp cho họtham gia vào xã hội, đồng thời chống lại những rào cản do phân biệt đối xử và thànhkiến gây nên [8]
Nhìn chung, các nghiên cứu đã dần mở ra nhiều hướng tiếp cận mới trongvấn đề thực hành CTXH đối với NKT nói chung trong đó có TEKT, góp phần hoànthiện hệ thống lý luận về CTXH đối với NKT và TEKT Song, các công trình, đề tàinghiên cứu nêu trên chỉ dừng lại ở một khía cạnh như: Chính sách CTXH, hoặc làCTXH, chưa thấy có công trình nào nghiên cứu đầy đủ: Chính sách CTXH đối vớiTEKT
Các báo cáo khoa học về người khuyết tật và các hoạt động trợ giúp đối với người khuyết tật
Trang 12Nghiên cứu về NKT luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế nói chung vàViệt Nam nói riêng Vì vậy, trong những năm qua, có nhiều báo cáo khoa học nghiêncứu về NKT và các hoạt động trợ giúp họ trong đời sống xã hội, tiêu biểu như:
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thực hiện một cuộc nghiên cứu vấn đề việclàm của NKT dựa trên cơ sở giới vào năm 2010 và đã đưa ra “Báo cáo khảo sát vềĐào tạo nghề và tạo việc làm cho NKT tại Việt Nam” Báo cáo này cung cấp mộtcách nhìn tổng thể về các tổ chức của NKT, các tổ chức đại diện NKT và các dịch
vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trungvào các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyếttật [11]
Trong “Báo cáo thường niên năm 2013 về hoạt động trợ giúp người khuyết tậtViệt Nam” của Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ NKT Việt Nam (NCCD), đãtổng kết những hoạt động và kết quả chủ yếu về hỗ trợ NKT đã triển khai trong nămcủa các Bộ, ngành, cơ quan chức năng, tổ chức xã hội với sự điều phối của NCCD,đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân, bài học kinhnghiệm và định hướng cho các hoạt động hỗ trợ NKT trong năm 2014 của các cơquan, tổ chức thành viên NCCD [2]
Các hội thảo, dự án liên quan đến việc hỗ trợ cho người khuyết tật
Trong những năm qua có nhiều hội thảo, dự án nghiên cứu các hoạt động hỗtrợ cho NKT được tổ chức Tiêu biểu một số hội thảo, dự án như sau:
“ Hội thảo Quốc tế về Công ước quyền người khuyết tật và vai trò của các Hộingười khuyết tật” do Bộ Ngoại giao chủ trì vào ngày 10/12/2013 Đây là hoạt độngtrong khuôn khổ Dự án về “Tăng cường năng lực đảm bảo các quyền con người củaViệt Nam” do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ Qua quátrình trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn của các Hiệp hội NKT trong toànquốc đã cho thấy Công ước về quyền NKT đã mở ra một cách nhìn nhận, tiếp cậnmới của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đối với NKT Công ước thúcđẩy việc bảo đảm NKT được thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản như tất cả mọingười
Trang 13Hội thảo “Thúc đẩy cộng đồng: Tăng quyền cho người khuyết tật” được diễn
ra vào ngày 26/3/2015 tại Hà Nội, nhằm giới thiệu dự án Rights Now!, đánh giáthực trạng thực thi quyền của NKT sau khi Công ước quốc tế về quyền của NKTđược phê chuẩn tại Việt Nam, đồng thời cũng là cơ hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ,kinh nghiệm và tài liệu hỗ trợ nâng cao năng lực cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vìNKT Việt Nam trong tương lai Chương trình do MIUSA (tổ chức vận động quốc tếHoa Kỳ), DREDF (Quỹ Bảo vệ và Giáo dục Quyền của NKT), IFES (Quỹ quốc tế
về hệ thống bầu cử Hoa Kỳ), USICD (Hội đồng Quốc tế về NKT) và Trung tâmACDC đồng tổ chức
Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với người khuyết tật tạiViệt Nam” do Khoa Công tác xã hội của Học viện khoa học xã hội Việt Nam tổchức vào ngày 22/10/2015, là hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội dungnghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với NKT” – đây làhướng đi mới hỗ trợ NKT đang được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư01/TT-Bộ LĐTB-XH về công tác Quản lý trường hợp với NKT nhưng còn nhiềukhó khăn như: kinh phí, nguồn nhân lực, nhận thức của chính quyền địa phương cáccấp về công tác này Đồng thời, thông qua các bài báo cáo của các chuyên gia vàphần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định hướng nghiên cứu cho học viên caohọc, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề, phát triển nghiên cứu của đề tài luậnvăn cao học
Dự án “Chương trình trợ giúp người khuyết tật ” do tổ chức DAI và Hội trợ
giúp NKT Việt Nam (VNAH) thực hiện với tài trợ của USAID Dự án được thực hiệntrong ba năm nhằm hướng đến việc xây dựng hệ thống quản lý trường hợp, tăngcường các dịch vụ y tế, giáo dục và việc làm cho NKT, đồng thời nâng cao cácchương trình y tế công cộng nhằm ngăn ngừa khuyết tật
Qua tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, có thểthấy rằng NKT nói chung và TEKT nói riêng luôn là mối quan tâm của cộng đồngquốc tế và của Đảng, Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên, việc tiếp cận từ góc nhìn vềchính sách CTXH đối với TEKT còn hạn chế về số lượng và chất lượng, riêng tại
Trang 14thành phố Đà Lạt cũng như toàn tỉnh tỉnh Lâm Đồng – hiện chưa có công trìnhnghiên cứu chính thức về chính sách CTXH đối với TEKT được đề cập đến Đó cũng
là một trong những lý do chính để tác giả thực hiện nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về chính sách CTXH đốivới TEKT ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện chính sách CTXH đối với TEKT tạithành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả trong việc hoàn thiện và thực hiện chính sách CTXH đối với TEKT, gópphần đưa CTXH sớm trở thành một nghề chuyên nghiệp tại thành phố Đà Lạt, tỉnhLâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyếtnhững nhiệm vụ sau:
(i).Làm rõ các khái niệm liên quan đến chính sách CTXH đối với NKT,TEKT;
(ii).Nghiên cứu những vấn đề lý luận về NKT, TEKT, chính sách CTXH đốivới TEKT;
(iii).Tìm hiểu, đánh giá thực trạng chính sách CTXH đối với TEKT cũng nhưcác yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách CTXH đối với TEKT tại thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng;
(iv) Đưa ra một số quan điểm, mục tiêu, giải pháp và lộ trình hoàn thiện chínhsách CTXH đối với TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng và cảnước nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về cơ sở lý luận và chính sách CTXH đối với TEKT từ thực tiễnthành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 15- Nội dung nghiên cứu: Tình hình thực hiện chính sách CTXH đối với TEKT.
- Địa bàn nghiên cứu: Tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng vềđời sống của NKT nói chung và TEKT nói riêng, thực trạng chính sách CTXH đốivới TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, rút ra được những lý luận và đưa
ra được những đề xuất về giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sáchCTXH đối với TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích vàkhai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồmcác văn kiện, giáo trình, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệuthống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếphoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách CTXH đối với TEKT ở trong nước nói chung
và thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng
Nghiên cứu, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và ngoàinước liên quan đến đề tài trong thời gian qua; kết hợp với các phương pháp thống
kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải
trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách CTXH đối với TEKT
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyênmôn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bốhoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu
Trang 16Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệuđể: (i) Phân tích những công trình nghiên cứu liên quan đến NKT, TEKT, vấn đềchính sách CTXH đối với NKT, TEKT; (ii) Đọc và phân tích các tài liệu có liênquan, phân tích báo cáo của các cấp quản lý như báo cáo của Bộ LĐTB-XH, Ủy bannhân dân tỉnh Lâm Đồng, UBND thành phố Đà Lạt, Hội NKT thành phố Đà Lạt,ngành LĐ-TBXH thành phố Đà Lạt và tỉnh Lâm Đồng…; (iii) Tìm hiểu, đánh giánhận xét tài liệu có liên quan đến các chính sách hỗ trợ đối với TEKT gia đìnhTEKT, NKT và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ giúp đỡ đối tượng TEKT.
5.2.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các tri giácnhư nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêunghiên cứu của đề tài Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương phápquan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra độ tin cậy của cácthông tin thông qua việc quan sát hoàn cảnh sống, thái độ, thể trạng của đối tượngđược tiếp xúc, cụ thể:
Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinhhoạt hằng ngày của NKT, TEKT; quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng tháitâm lý của NKT, TEKT; quan sát thái độ, hành vi của cán bộ trực tiếp làm việc đốivới NKT, TEKT, gia đình TEKT và quan sát thực trạng đời sống kinh tế - xã hội địaphương, thái độ, hành vi của người dân, của chính quyền đối với các vấn đề liên quanđến chính sách CTXH đối với TEKT… Những quan sát này sẽ góp phần làm sáng tỏthêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được
Trang 17phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá về chính sách CTXH đối với TEKT ở thànhphố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng và trên cả nước nói chung.
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết vềCSXH, lý thuyết về CTXH nói chung và CTXH đối với TEKT nói riêng là cần thiếttrong quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ đó góp phần hoàn thiện chính sách CTXHvới TEKT ở nước ta nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc xây dựng cũngnhư tổ chức thực hiện Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người cóquan tâm đến lĩnh vực chính sách CTXH nói chung và chính sách CTXH đối TEKTnói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thựctrạng chính sách CTXH đối với TEKT, qua đó có thể bổ sung vào công tác đónggóp ý kiến, tham vấn chính sách pháp luật cho Nhà nước trong việc hoàn thiện cơchế, chính sách đối với TEKT nói riêng và NKT nói chung, đồng thời nâng caocông tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, chương trình có liên quan đến TEKT,NKT cũng như toàn thể người dân biết và thực hiện kiệp thời, có hiệu quả các chế
độ, dịch vụ, chính sách thụ hưởng
Kết quả nghiên cứu của đề tài, góp phần nâng cao nhận thức đối với lãnh đạochính quyền, các tổ chức, hội đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về lý luận chính sáchCTXH đối với TEKT ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết quả thựchiện chính sách CTXH đối với TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, từ đóđịnh hướng góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chất lượng của chính sáchCTXH đối với TEKT ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển CTXH trởthành một nghề chuyên nghiệp
Kết quả nghiên cứu là đề xuất quan điểm, mục tiêu và giải pháp để chính sáchCTXH đối với TEKT được hoàn thiện hơn, tích cực góp phần sớm phát triển CTXHthành một nghề chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; cungcấp tương đối đầy đủ về thực trạng chính sách CTXH đối với TEKT ở địa phươngnói riêng và trên cả nước nói chung Trên cơ sở đó, gợi mở một số biện pháp hỗ trợ
Trang 18nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho TEKT và gia đình TEKT tiếp cận với các chínhsách, dịch vụ dành cho TEKT, gia đình TEKT, khắc phục những khó khăn vươn lênhòa nhập với cộng đồng.
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh sáchcác phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, phần nội dung của luận văn được chia làm
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1.1 Các khái niệm và đặc điểm
1.1.1 Khuyết tật,người khuyết tật và trẻ em khuyết tật
1.1.1.1 Khuyết tật
Có nhiều cách hiểu cũng như nhiều định nghĩa khác nhau về khuyết tật, tuynhiên mỗi cách hiểu đều xét trên những mục đích và quan điểm khác nhau
Từ “khuyết tật” có nguồn gốc từ “disability” trong tiếng Anh Theo nguyên
ngữ từ này có nghĩa là sự hàm ý hạn chế hoặc thiếu khả năng thực hiện một hoạtđộng gì đó do có khiếm khuyết [9, tr.23]
Từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận, một phần; từ
“tật” có nghĩa là “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu,
dụng cụ, máy móc Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được,của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra”trong từ điển Tiếng việt Như vậy, có thể hiểu khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ởmột bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổchức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.[23, tr.7]
Trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe”(ICF) (năm 2001) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa khuyết tật
như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)”[9, tr.26] Như vậy, với khái niệm này có thể hiểu “khuyết tật” chỉ đơn giản là bị khiếm khuyết mà không
phải xác định nguyên nhân của một dạng khuyết tật
Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận khái niệm mới có thể hiểu
là: “Tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý
Trang 20bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt” [23, tr 8].
1.1.1.2 Người khuyết tật
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về người khuyết tật ở các quốc gia khácnhư Úc, Anh hay Trung Quốc, song tựu chung lại đều xoay quanh hai vấn đề đóchính là các khiếm khuyết hay sự suy giảm các chức năng khác nhau và những điều
đó cản trở cá nhân tham gia một cách bình thường vào cuộc sống xã hội [4, tr 9].Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa về người khuyết tật theo LuậtNgười khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010 Đây là định nghĩa khá đầy đủ,tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh Việt Nam, đó là: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.[4, tr.10].
vị thành niên từ 16 đến dưới 18 tuổi như chính sách trợ cấp xã hội, trợ giúp về giáodục, y tế…
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng khái niệm TEKT căn cứ theo
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2014: “Trẻ em khuyết tật là trẻ em dưới 16 tuổi không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau,
Trang 21làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” [4,tr.12].
1.1.1.4 Đặc điểm của trẻ em khuyết tật
TEKT đương nhiên là đối tượng thuộc nhóm yếu thế cần sự giúp đỡ của toàn
xã hội, đây cũng là nhóm đối tượng đặc thù trong hoạt động CTXH Họ gặp khókhăn về nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có khó khăn về học tập, việc làm, bị kỳthị, phân biệt Những đặc điểm tâm lý cũng như thể chất của TEKT luôn ảnhhưởng đến hoạt động trợ giúp cho đối tượng, cụ thể:
- Về tính cách: TEKT thường bi quan, chán nản, tự ti, mặc cảm, tủi phận, cho
mình là người bỏ đi, là gánh nặng của gia đình, người thân, ngại giao tiếp với mọingười Tuy nhiên các em rất giàu nghị lực để vượt qua những khó khăn, tật nguyền
để đạt được thành tích cao trong học tập, lao động nếu được sự hỗ trợ thích hợp củagia đình và xã hội
- Về trí tuệ: Trí tuệ của TEKT nói chung giảm sút, tùy theo dạng tật ( khiếm
thị, khiếm thính…) do đó số lượng cảm giác, tri giác giảm và ảnh hưởng tới độchính xác, tính trọn vẹn của hình ảnh sự vật, hiện tượng nên tài liệu để tư duy hạnchế Khái niệm được hình thành không trọn vẹn, thiếu chính xác ( ở trẻ khiếm thị);trí tuệ kém phát triển, tư duy trừu tượng kém, nghèo nàn ( do thiếu ngôn ngữ ở trẻđiếc bẩm sinh, trẻ bị thiểu năng trí tuệ…)
- Về đời sống tình cảm: Nhìn chung TEKT rất cởi mở và muốn được giao tiếp.
Mặt khác do mặc cảm tàn tật nên các em hay tự ái, dễ bị kích động, hay nghi ngờmọi người xung quanh Đời sống nội tâm của các em rất nhạy cảm, tế nhị, dễ thôngcảm với những khó khăn của người khác hơn so với người bình thường
- Về nhu cầu: TEKT có nhu cầu được giao lưu, được tôn trọng, được chấp
nhận như người bình thường khác và được đáp ứng các phương tiện, tiện nghi sinhhoạt phù hợp; nhu cầu học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật, tình trạng sứckhỏe; nhu cầu được khám chữa bệnh, phục hồi chức năng ( thẩm mỹ, tâm lý, sinh
lý, xã hội)
Trang 22Trong quá trình tương tác xã hội, khi TEKT tiếp xúc và nhận biết được thái độ kỳthị hay những hành vi phân biệt đối xử của những người xung quanh xuất phát từ sựkhác biệt bên ngoài của họ, TEKT có thể đánh mất ý thức về con người thực sự củamình, khiến cho họ hoài nghi về giá trị bản thân, tự nhìn nhận bản thân thông qua hìnhthể bên ngoài thay vì nhân cách bên trong Điều đó có thể dẫn tới sự xói mòn lòng tựtrọng bản thân và có thái độ tiêu cực trong gặp gỡ, giao tiếp với mọi người Chính điềunày còn khiến cho việc chăm sóc sức khỏe của TEKT bị hạn chế, ảnh hưởng tới sứckhỏe của họ.
1.1.2 Công tác xã hội và công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.1.2.1 Khái niệm công tác xã hội
CTXH là một nghề chuyên môn, một khoa học đã xuất hiện trên thế giới hàngtrăm năm Tùy vào những điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như nềntảng tư tưởng CTXH tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới lại có những đặc điểmriêng biệt Do đó, có rất nhiều định nghĩa về CTXH
Định nghĩa của IFSW - Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (tại đại hộiMontrean tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việcgiải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giảiphóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các
lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểmtương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội làcác nguyên tắc căn bản của nghề [12, tr.10]
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khácnhau, điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thựctiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phươngpháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mụctiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội [12, tr.11]
CTXH tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoahọc về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xãhội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế
Trang 23hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyênmôn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãnnhững nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vaitrò xã hội của mình.
Như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của NguyễnHồi Loan được thông qua tháng 7 năm 2014 tại Hội thảo quốc tế của APASWE,
Melbourne như sau: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội” [12,tr.11].
1.1.2.2 Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Trong tất cả các đối tượng mà CTXH cần trợ giúp, hỗ trợ thì TEKT có thể nói
là một nhóm đối tượng cần được sự quan tâm, trợ giúp đặc biệt Việc trợ giúp củanhân viên CTXH đối với TEKT được coi là một lĩnh vực chuyên môn sâu củangười làm CTXH, lĩnh vực này được gọi là “CTXH đối với TEKT”
CTXH với TEKT như một lĩnh vực hoạt động của thực hành CTXH, làm việcvới TEKT có nghĩa là làm việc với những trẻ em bị khiếm thị, khiếm thính, thiểunăng, và những trẻ em là nạn nhân của các khiếm khuyết thân thể khác bao gồm cảnhững trẻ ốm đau về tâm thần và tật nguyền
Mục đích của CTXH đối với TEKT là tạo điều kiện để giúp đỡ TEKT pháttriển năng lực bản thân một cách tốt nhất và tạo được môi trường phát triển, hòanhập tốt cho TEKT Muốn đạt được mục đích nêu trên, bản thân TEKT cần đượcgiúp đỡ về mọi mặt, từ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục, đến tạo cơ hội việc làm
và thu nhập; từ việc nâng cao đời sống vật chất đến nâng cao đời sống tinh thần…Mặt khác TEKT là đối tượng có hạn chế về thể lực, tâm lý… vì vậy đòi hỏi nhânviên CTXH khi làm việc với TEKT phải có tấm lòng bao dung, nhân hậu, cảmthông và chia sẽ đồng thời nhân viên CTXH phải có những phẩm chất, đạo đức,phương pháp và kỹ năng làm việc chuyên nghiệp thì mới có thể đem lại hiệu quả tốtnhất cho TEKT
Trang 24Từ những phân tích, nhận định về CTXH đối với TEKT như trên, chúng ta cóthể hiểu: CTXH đối với TEKT là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên CTXHgiúp đỡ những TEKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xãhội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ TEKT,gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả,vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trênnền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội
1.1.3 Chính sách, chính sách xã hội và chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.1.3.1 Chính sách
Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội,qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu cho thấy khái niệm, định nghĩa chính sáchđược thể hiện khác nhau như: (i) Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thểnhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hìnhthực tế mà đề ra (ii) Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảngphái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội…
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như: Chínhsách đối ngoại, chính sách kinh tế…, trong các loại chính sách chung lại có cácchính sách riêng đối với từng lĩnh vực Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau,
có chính sách chung, chính sách cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế
-xã hội Chính sách được thực thi khi được thể chế hoá bằng pháp luật Nói một cáchkhác, pháp luật là kết quả thể chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thichính sách Do chính sách có các loại và cấp độ khác nhau, có những chính sáchmang tính định hướng, có những chính sách cụ thể, nên các cấp phê duyệt chínhsách và nguồn chính sách cũng khác nhau, do các cấp khác nhau ban hành
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, Chính sách của Nhà nước đượchiểu là tập hợp văn bản mà Chính phủ xây dựng, ban hành với mục đích rõ ràng, tácđộng đến nhóm người hoặc toàn bộ người dân trong xã hội Ở nghĩa rộng hơn,
Trang 25chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sửdụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mụctiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể.
1.1.3.2 Chính sách xã hội
CSXH là công cụ để đảm bảo nền an sinh xã hội CSXH ở một nghĩa rộngnhất được hiểu như một bộ phận cấu thành chính sách chung của một Nhà nước,chính quyền hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết vấn đề liên quan tới cuộcsống của con người, đến lợi ích của nhóm người trong xã hội góp phần điều chỉnhcác quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của giai cấp, chính đảng
CSXH được xem như sự định hướng hay những can thiệp liên quan tới cácvấn đề xã hội tạo nên sự thay đổi hoặc duy trì điều kiện sống đảm bảo an sinh chocon người Các CSXH được xây dựng nhằm cải thiện an sinh xã hội và đáp ứng nhucầu của con người như: y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và an toàn xã hội…
Dinitto & Dye (1983) định nghĩa về CSXH: “ Tất cả những điều chính quyềnlàm hoặc không làm mà ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân” Theo địnhnghĩa tổng quát này thì CSXH có thể bao gồm tất cả những vấn đề về thuế, quốcphòng, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế, nhà ở và những chương trình cứu trợ Vàtrong phạm vi hẹp có thể định nghĩa CSXH một cách cụ thể là những hoạt động củachính quyền có mục đích tác động đến sự an sinh của công dân thông qua nhữngchương trình, dịch vụ tạo thu nhập, các chính sách liên hệ trực tiếp đến chương trình
xã hội có tính chất trợ giúp và bảo hiểm với những nhóm đối tượng đặc biệt tronghoàn cảnh khó khăn
Xét về nội hàm: CSXH thường hướng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị củaĐảng cầm quyền và Nhà nước trong từng thời kỳ, các CSXH thể hiện tính tráchnhiệm, mang hàm nghĩa văn hóa – văn minh, phản ánh tính chất tiến bộ, đảm bảocông bằng của xã hội CSXH lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng tác độngtrực tiếp Vì vậy, tất cả nội dung, mục tiêu của chính sách đều hướng tới con người
Trang 26Xét theo chức năng: CSXH định hướng cho sự vận động của xã hội, nó xuất phát từthực tiễn các vấn đề xã hội của đất nước, đồng thời CSXH cũng là công cụ quản lý
xã hội, thể hiện ý chí của Đảng, Nhà nước Chính vì vậy nó là một phương tiệnquan trọng định hướng mọi hoạt động và hành vi của các chủ thể tham gia hoạtđộng trong lĩnh vực xã hội theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước củaNhà nước
Từ cách tiếp cận trên, khái niệm CSXH có thể hiểu là sự thể chế hóa, cụ thểhóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã hội liên quan đếntừng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợp với quan điểm, đường lốicủa Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện conngười
1.1.3.3 Chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Chính sách CTXH cũng là một CSXH Như phân tích nêu trên, CTXH là mộtnghề và nghề CTXH cũng là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờđược đào tạo mà nhân viên CTXH mới có được những tri thức, kỹ năng, đạo đứcnghề nghiệp để cung cấp các DVCTXH, đáp ứng được những nhu cầu nâng caonăng lực, tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, gia đình và cộng đồng cần sựtrợ giúp Chính sách CTXH định hướng, điều chỉnh cho sự vận động, phát triển củaCTXH và suy cho cùng, chính sách CTXH là để phát triển con người và thúc đẩy sựphát triển xã hội
Như vậy, chính sách CTXH là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp củaNhà nước trong việc hình thành và phát triển CTXH với mục đích phát huy vai trò,chức năng của nghề CTXH trong việc trợ giúp đối tượng theo quan điểm, đường lốicủa Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện conngười
Từ việc định nghĩa NKT, TEKT, chính sách, chính sách CTXH đã đề cập trên,
có hiểu khái niệm về chính sách CTXH đối với TEKT là: Sự thể chế hóa, cụ thể hóa
Trang 27các giải pháp của Nhà nước trong việc hình thành và phát triển CTXH thành mộtnghề chuyên nghiệp, đảm bảo cho nhân viên CTXH triển khai các cách tiếp cận,phương pháp của nghề CTXH và chuyên nghiệp hóa DVCTXH đối với TEKT theoquan điểm, đường lối của Đảng trong thực hiện chính sách đối với TEKT, nhằmđảm bảo thực hiện quyền trẻ em, góp phần hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội vàphát triển con người toàn diện.
1.1.3.4 Mối quan hệ giữa chính sách công tác xã hội và chính sách công tác
xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Chính sách CTXH đối với TEKT là những quyết định hay quy định của Nhànước được cụ thể hóa trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, các thểthức hay quy trình, cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng cụ thể nhưTEKT, gia đình TEKT, cộng đồng xã hội
Để thực hiện có hiệu quả chính sách CTXH đối với TEKT, thực tế cho thấycần có nhiều nhóm chính sách khác nhau như nhóm chính sách tác động trực tiếp,nhóm chính sách tác động gián tiếp và các nhóm chính sách tác động vào bản chấtcủa đối tượng TEKT Chính sách tác động trực tiếp đến TEKT là các chính sách hỗtrợ trực tiếp cho đối tượng TEKT (NKT, gia đình TEKT và cộng đồng NKT) Cácchính sách này nhằm vào một đối tượng trẻ em cụ thể và mỗi chính sách bao giờcũng có một mục tiêu cụ thể liên quan đến một nguyên nhân nào đó của TEKT.Nhóm chính sách tác động gián tiếp đến TEKT là các chính sách kinh tế, xã hộiđược triển khai nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết vấn đề công bằng xãhội, là những chính sách khi triển khai không phải đạt mục tiêu chính là TEKT,nhưng quá trình thực hiện chúng có tác động đến quá trình trợ giúp cho gia đìnhTEKT, NKT và cộng đồng Các nhóm chính sách tác động vào bản chất của đốitượng gồm: (i) Nhóm chính sách tạo điều kiện cho đối tượng TEKT được chămsóc, bảo vệ và phát triển; (ii) Nhóm chính sách tạo điều kiện cho đối tượng TEKTtiếp cận các DV xã hội cơ bản; (iii) Nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro và dễ bị tổnthương; (iv) Nhóm chính sách tăng cường tiếng nói và quyền lực cho NKT, TEKT
Trang 28Trong mỗi nhóm chính sách có những chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp.
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng mối quan hệ giữachính sách CTXH với chính sách CTXH đối với TEKT, thể hiện ở một số điểmchính sau đây: (i).Trong hoạch định và thực thi chính sách CTXH đối với TEKT,chính sách được xem xét như là những chủ trương, hành động của Nhà nước đượcthực hiện qua các chương trình, DV liên quan đến đối tượng là TEKT; (ii) Chínhsách CTXH là cơ sở, căn cứ pháp lý, là nguồn lực mà chính sách CTXH đối vớiTEKT phải sử dụng để hoàn thiện chính sách CTXH của mình nhằm mục đích trợgiúp cho đối tượng TEKT; (iii) Nhân viên CTXH tham gia vào quá trình nghiêncứu, hoạch định cũng như thực thi chính sách CTXH đối với TEKT có nhiệm vụtriển khai và cung cấp các DV trợ giúp đối tượng trên cơ sở các chính sách hiện có
Như vậy, chính sách CTXH đối với TEKT có vai trò chuyển tải, đưa chínhsách vào cuộc sống, góp phần quan trọng vào sự thành công của một chính sách cụthể, giúp chính sách đến được với đối tượng và phát huy tác dụng cao nhất đồngthời nhân viên CTXH còn tham gia vào việc đánh giá quá trình thực hiện, tính phùhợp của chính sách CTXH đối với TEKT Vì vậy, chính sách CTXH đối với TEKT
là điều kiện, cơ sở cần thiết để các cơ quan chức năng có thông tin và dữ liệu nhằmphục vụ cho quá trình điều chỉnh chính sách CTXH đối với TEKT có hiệu quả nhất
1.2 Vai trò của chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.2.1 Là cơ sở pháp lý để thực hành công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Chúng ta biết rằng, pháp lý là việc hành xử trên cơ sở các quy tắc xử sự địnhsẵn của pháp luật, có pháp luật thì có cơ sở pháp lý – đó chính là việc vận dụng, ápdụng khoa học các quy định của pháp luật Thực hành, theo nghĩa khái quát nhất làviệc làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế Thực hành CTXH đối với TEKT là việc
áp dụng lý thuyết khoa học về CTXH nói chung và cách tiếp cận, phương pháp, nộidung CTXH đối với TEKT nói riêng vào thực tiễn hỗ trợ cho đối tượng TEKT với
Trang 29mục đích giúp đối tượng có điều kiện đảm bảo vươn lên trong cuộc sống hòa nhậpvới cộng đồng
Chính sách CTXH đối với TEKT là những quy định pháp luật trong việchình thành, phát triển nghề CTXH; đối tượng, phạm vi, phương pháp, nội dung, mốiquan hệ và những việc có liên quan trong hoạt động hành nghề của CTXH đối vớiđối tượng TEKT Đó chính là cơ sở pháp lý, điều kiện pháp luật để hành nghềCTXH trong lĩnh vực TEKT Nói cách khác, chính sách CTXH đối với TEKT là cơ
sở pháp lý để thực hành CTXH đối với TEKT
1.2.2 Định hướng, điều chỉnh các hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Chính sách CTXH đối với TEKT là một CSXH xuất phát từ thực tiễn CTXHđối với TEKT, đồng thời chính sách CTXH đối với TEKT cũng là một công cụ đểNhà nước quản lý về CTXH đối với TEKT theo quan điểm, ý chí của Đảng, Nhànước về nghề CTXH, về TEKT và CTXH đối với TEKT
Chính sách CTXH định hướng, điều chỉnh các hoạt động CTXH đối vớiTEKT, trước hết là định hướng, điều chỉnh các hoạt động, hành vi của các chủ thểnhằm phát triển CTXH thành một nghề chuyên nghiệp; là những hoạt động mangtính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm
hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng trong việc giải quyết cácvấn đề; giúp các đối tượng tự vươn lên trong cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.Định hướng, điều chỉnh trong việc đào tạo nguồn nhân lực CTXH nói chung vànguồn nhân lực CTXH đối với TEKT nói riêng cả về trình độ đào tạo, kỹ năngnghề, đạo đức nghề nghiệp, việc làm sau khi học nghề Định hướng, điều chỉnh sựhình thành, củng cố, phát triển mạng lưới cơ sở DVCTXH, hệ thống DVCTXH chocác đối tượng cần sự trợ giúp nói chung và TEKT nói riêng; đảm bảo để nhân viênCTXH triển khai các cách tiếp cận, phương pháp CTXH và chuyên nghiệp hóaDVCTXH trong cung cấp, kết nối DV xã hội, thực hiện nhiệm vụ biện hộ, giáo dục,trị liệu, tư vấn, quản lý, điều phối theo các trường hợp, làm việc theo nhóm và làm
Trang 30việc với TEKT…
1.2.3 Là một trong những điều kiện cần và đủ để thực hiện có hiệu quả chính sách đối với trẻ em khuyết tật
(i) Điều kiện cần thể hiện ở chỗ: Chính sách CTXH đối với TEKT quy định
và đảm bảo cho CTXH trong trợ giúp cho đối tượng là TEKT nâng cao năng lựcgiải quyết các vấn đề cá nhân, nhằm đảm bảo ổn định đời sống, vươn lên hòa nhậpvới cộng đồng Sự hỗ trợ đó không chỉ giúp cho chính sách CTXH được thực hiệnđúng đối tượng TEKT mà còn giúp cho họ có năng lực vươn lên một cách bền vữngsau khi được chính sách tác động Mặt khác, CTXH đối với TEKT tạo ra sự liên kếtgiữa TEKT, gia đình TEKT, cộng đồng NKT với hệ thống DV, tạo ra các cơ hội đểđối tượng tiếp cận với hệ thống nguồn lực bao gồm cả nguồn lực chính thức vànguồn lực không chính thức CTXH đối với TEKT cũng sẽ góp phần cải thiện cáchoạt động của hệ thống DV, nguồn lực đối với đối tượng bằng những tác động hỗtrợ hoặc góp phần tạo điều kiện để các nguồn lực có đầy đủ thông tin về TEKT, giađình TEKT và cộng đồng NKT mà nguồn lực sẽ phục vụ
(ii) Điều kiện đủ để thể hiện ở chỗ: Chính sách CTXH đối với TEKT quyđịnh và đảm bảo cho CTXH đối với TEKTcó nhiệm vụ góp phần vào việc đổi mớihoặc bổ sung, hoàn thiện cho chính sách đối với TEKT Bởi vì, trong quá trìnhchuyển tải chính sách đến đối tượng TEKT, nhân viên CTXH có điều kiện để hiểubiết mức độ đáp ứng nhu cầu của chính sách CTXH đến với đối tượng TEKT
1.2.4 Thúc đẩy thực hiện tốt quyền con người, góp phần công bằng xã hội
và phát triển bền vững
Như phân tích trên, chính sách CTXH đối với TEKT là điều kiện cần và đủ
để thực hiện có hiệu quả chính sách CTXH Thực hiện có hiệu quả chính sáchCTXH đối với TEKT là làm cho TEKT, gia đình TEKT, cộng đồng được vươn lên,đảm bảo hòa nhập cộng đồng Đồng thời tiếp cận và sử dụng một cách thỏa mãn các
DV xã hội cơ bản Như vậy, quyền con người chính là những nhu cầu, lợi ích tự
Trang 31nhiên, vốn có và khách quan của con người không chỉ được ghi nhận và bảo vệtrong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế mà nó đã hiện thực hóatrong đời sống thực tiễn.
Thực hiện có hiệu quả chính sách CTXH trong đó có sự đóng góp của chínhsách CTXH đối với TEKT là góp phần quan trọng trong công bằng về cơ hội pháttriển kể cả trong phân phối và điều kiện thực hiện các cơ hội, tạo điều kiện thuận lợicho các đối tượng yếu thế có cơ hội tiếp cận các DV xã hội cơ bản
Có thể nói rằng: Chính sách CTXH đối với TEKT là một trong những điềukiện cần và đủ để thực hiện có hiệu quả chính sách CTXH, là yếu tố quan trọng gópphần giải quyết tốt các vấn đề xã hội, quyền con người và đảm bảo công bằng xãhội
1.3 Nội dung của chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.3.1 Phát triển công tác xã hội thành một nghề chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cho các đối tượng nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng
1.3.1.1 Tuyên truyền, thông tin nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về nghề công tác xã hội
Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 được Thủ tướng Chínhphủ ban hành kèm theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 xác địnhcông tác tuyên tuyền, thông tin nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức vànhân dân về nghề CTXH là một trong những nội dung xuyên suốt của hoạt động Đề
án trong cả giai đoạn Nhiệm vụ của các địa phương là có trách nhiệm cụ thể hóachính sách tuyên truyền với những công cụ, phương tiện và hình thức tổ chức thựchiện phù hợp để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về CTXH
Trong điều kiện nghề CTXH còn non trẻ ở Việt Nam, để phát triển CTXHthành một nghề, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng củaCTXH trong xã hội phát triển phải được đặt lên hàng đầu Với mục đính tuyêntruyền theo từng nhóm đối tượng sau đây: (i) Tuyên truyền cho đội ngũ những nhà
Trang 32quản lý, lãnh đạo các cấp, các ngành, đặc biệt là những ngành liên quan đếnDVCTXH như LĐ-TBXH, Giáo dục–Đào tạo, Y tế, Văn hóa, Tư pháp , các tổchức chính trị xã hội (Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, ) và các tổ chức xã hội dân sựkhác có liên quan đến cung cấp DVCTXH Với mục đích kêu gọi tất cả nguồn lựctích cực tham gia vào việc phát triển khuông khổ luật pháp và tạo môi trường hànhchính thuận lợi cho việc phát triển nghề CTXH; (ii) Tuyên truyền trong nhân dân,nhất là những đối tượng người dân có nhu cầu cung cấp DVCTXH, chăm sóc xãhội, để họ hiểu và tìm cách tiếp cận hoặc có biện pháp giúp họ tiếp cận DVCTXHmột cách kịp thời, có hiệu quả.
1.3.1.2 Đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội các cấp
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng, đặcbiệt là đội ngũ những người làm CTXH chuyên nghiệp và được phân bố, sử dụnghiệu quả là một chính sách không thể thiếu trong việc phát triển CTXH thành mộtnghề Bên cạnh đó cũng cần quan tâm đến đội ngũ nhân viên bán chuyên nghiệp,cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia cung cấp DVCTXH
Với mục tiêu tăng số lượng cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viênCTXH làm việc ở các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các
tổ chức sự nghiệp cung cấp DVCTXH, các trường đại học có đào tạo về CTXH vàcán bộ nhân viên CTXH hoạt động độc lập, trong giai đoạn 2010-2020, Đề án pháttriển nghề CTXH được Chính phủ xác định: Tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡngnâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng để nâng cao năng lựccho cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH Đồng thời xây dựng, hoàn thiệnchương trình khung, nội dung đào tạo và dạy nghề CTXH, gồm: (i) Xây dựng vàban hành chương trình khung, giáo trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng nghềCTXH bảo đảm liên thông với đào tạo đại học nghề CTXH; (ii) Xây dựng, hoànthiện chương trình khung, giáo trình đào tạo cử nhân, sau đại học về CTXH; (iii)
Hỗ trợ các khoa có đào tạo CTXH tại các cơ sở đào tạo và (iv) Nâng cao năng lực
Trang 33đội ngũ giảng viên ngành CTXH.[16].
1.3.1.3 Củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác
xã hội
Cơ sở cung cấp DVCTXH là công cụ không thể thiếu của hoạt động CTXH.Các cơ sở cung cấp DVCTXH có nhiệm vụ cung cấp các DV khẩn cấp; tham vấn,trị liệu, phục hồi chức năng, cho đối tượng Tư vấn và trợ giúp đối tượng thụhưởng các chính sách trợ giúp xã hội; phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan
để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc phù hợp.Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp; giám sát và rà soát lại các hoạt động canthiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đốitượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi Hỗ trợ đốitượng hòa nhập cộng đồng Quản lý đối tượng được cung cấp DVCTXH Cung cấpcác DV xã hội và nâng cao năng lực; phát triển cộng đồng; tổ chức các hoạt độngtruyền thông, nâng cao nhận thức; thực hiện nghiên cứu, khảo sát liên quan đếnphúc lợi xã hội và an sinh xã hội
Từ thực tiễn nghề CTXH đang trong giai đoạn mới hình thành và phát triển ởcác địa phương cũng như trong cả nước, việc củng cố và phát triển mạng lưới các tổchức cung cấp DVCTXH theo hướng gắn kết giữa các cơ sở bảo trợ xã hội do Nhànước thành lập với các cơ sở bảo trợ xã hội do tổ chức, cá nhân được phép thànhlập; giữa trung tâm cung cấp DVCTXH với hệ thống bảo trợ xã hội, đồng thời cũngcần phải có cơ chế, chính sách mở rộng các DVCTXH trợ giúp theo hướng linh hoạt
và gia tăng mức trợ giúp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn
1.3.1.4 Vị trí làm việc, vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của nhân viên công tác xã hội
Để nhân viên xã hội hành nghề CTXH được phát huy nghề nghiệp một cách
có hiệu quả, việc trợ giúp tốt cho các đối tượng cần trợ giúp nói chung và TEKT nói
Trang 34riêng, trước hết họ phải nhận thức được trách nhiệm xã hội và biết được vị trí, vaitrò, nhiệm vụ của mình , đồng thời trong thực hành CTXH họ phải thực hiện theoquy trình, tiêu chuẩn, quy định như thế nào đối với các loại hình, đối tượng cụ thểcần trợ giúp
Vì vậy, pháp luật, chính sách CTXH cần quy định cụ thể vị trí, vai trò, nhiệm
vụ của cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH và thủ tục giải quyết việc cung cấp DVCTXH đối với cá nhân, gia đình, nhóm hoặc cộng đồng Cần quy định đầy đủ: (i)
Mã số ngạch, chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH; (ii).Tiêu chuẩn đạo đức cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH; (iii) Tiêu chuẩn, quy trìnhcung cấp DVCTXH; (iv) Áp dụng ngạch, bậc lương viên chức CTXH phù hợp vớiđặc thù nghề nghiệp, bảo đảm tương quan giữa các ngành nghề; (v) Tiêu chuẩnnghiệp vụ cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH của các cơ sở cung cấp DVCTXH
1.3.2 Chính sách đảm bảo cho nhân viên công tác xã hội triển khai các cách tiếp cận, phương pháp công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Chúng ta biết rằng CTXH có nhiều cách tiếp cận với đối tượng là TEKT.Trong đề tài này tác giả tập trung phân tích vào hai cách tiếp cận cơ bản là: (i) Tiếpcận dựa trên quyền và đảm bảo quyền của TEKT; và (ii) Tiếp cận dựa trên nhu cầucủa TEKT
1.3.2.1 Tiếp cận dựa trên quyền và đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật
Tiếp cận dựa trên quyền con người là khung lý thuyết chứa đựng các nguyêntắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kếhoạch và tiến trình hoạt động CTXH Cách tiếp cận này lấy nền tảng cơ bản chính là
hệ thống quyền con người đã được luật pháp bảo vệ Nhân viên xã hội dựa trên hệthống quyền con người để xây dựng các phương pháp và hoạt động những mô hìnhphát triển xã hội
Cách tiếp cận đảm bảo quyền con người trong CTXH đối với TEKT nhấnmạnh đến quyền được tồn tại, quyền được an toàn về vật chất, sức khỏe và được
Trang 35phát triển toàn diện, bình đẳng Để thực hiện được cách tiếp cận này, Nhà nước phải
có chính sách, quy định chống xem thường, kỳ thị đối với TEKT và chính bản thânTEKT cũng không tự xem thường mình CTXH đối với TEKT nhằm giúp đỡ họ lànghĩa vụ của xã hội mà Nhà nước phải thừa nhận và quy định để thực hiện Đốitượng TEKT đương nhiên được thụ hưởng chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợcủa xã hội, thông qua CTXH đối với TEKT là một cách, phương thức để TEKTđược kịp thời tiếp cận và thụ hưởng các chính sách đầy đủ, hiệu quả hơn
Cách tiếp cận quyền con người trong CTXH đối với TEKT là cách tiếp cậnmang tính nhân văn, phù hợp chung với nhân loại Nhà nước cần có chính sách tạo
cơ sở pháp lý để nhân viên CTXH bảo vệ quyền cho TEKT thông qua chức năngbiện hộ của nghề nghiệp để làm việc với các cơ quan liên quan mỗi khi quyền củaTEKT chưa được đảm bảo Đồng thời trong quy định về quản lý trường hợp đối vớiTEKT, nhân viên CTXH giúp cho TEKT định hướng bảo vệ được các quyền củamình là không thể thiếu trong quá trình cung cấp DVCTXH đối với TEKT
1.3.2.2 Tiếp cận dựa trên nhu cầu của trẻ em khuyết tật
Con người có nhiều nhu cầu, mỗi thời kỳ của đời người có nhu cầu khácnhau Nhu cầu về vật chất và tinh thần; các nhu cầu đa dạng, phong phú và pháttriển, nó xuất phát từ chủ quan và khách quan tùy theo điều kiện hoàn cảnh sống,văn hóa, nhận thức và vị trí trong xã hội Theo thuyết động cơ của Maslow, conngười cần có nhu cầu cho sự sống và nhu cầu xã hội và có năm thang bậc từ thấpđến cao lần lượt là: Nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu đượctôn trọng và nhu cầu hoàn thiện
Cách tiếp cận đáp ứng nhu cầu cơ bản cho TEKT trong CTXH đối với TEKTnhấn mạnh đến giúp TEKT đảm bảo quyền con người để có điều kiện phát triển mọimặt thể chất, tinh thần, tình cảm Điều quan trọng là phải xác định đúng nhu cầu củatừng TEKT, gia đình TEKT, cộng đồng NKT Tiếp cận đáp ứng nhu cầu của TEKTxuất phát từ coi trọng nhu cầu và tính cách riêng của mỗi người
Trang 36Trong CTXH với TEKT đòi hỏi nhân viên CTXH phải có kỹ năng lắng nghe,thấu hiểu và kỹ năng quan sát để xác định rõ và đúng nhu cầu, từ đó tìm ra giảipháp, phương pháp hỗ trợ thích hợp Việc đáp ứng nhu cầu của TEKT cũng chính làđộng cơ để TEKT tham gia vào các hoạt động của kế hoạch trợ giúp Mặt khác, tiếpcận dựa theo nhu cầu sẽ giúp cho việc hỗ trợ TEKT đúng đối tượng, đạt hiệu quả vàtránh lãng phí.
Như vậy, chính sách đảm bảo cho nhân viên CTXH tiếp cận theo nhu cầutrong CTXH đối với TEKT cần: (i) Trong đào tạo nhân viên CTXH cần đặc biệtquan tâm đến kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, quan sát; (ii) Có quy định bắt buộcnguyên tắc tôn trọng và xác định đúng nhu cầu TEKT trong tiến trình làm việc vàquản lý trường hợp đối với TEKT của nhân viên CTXH
1.3.3 Chính sách đảm bảo cho nhân viên công tác xã hội triển khai các phương pháp công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.3.3.1 Phương pháp công tác xã hội đối với cá nhân, gia đình trẻ TEKT
Nhân viên CTXH làm việc với cá nhân, gia đình TEKT sử dụng phươngpháp CTXH cá nhân Đây là một phương pháp chuyên nghiệp mà các nhân viên xãhội sử dụng để hỗ trợ TEKT, gia đình TEKT với mục tiêu: (i) Tăng cường sứcmạnh của cá nhân và gia đình để mọi người sẵn sàng cho những thay đổi tốt hơn;(ii) Cung cấp thêm những DV can thiệp cá nhân và gia đình để duy trì thực hiệnchức năng một cách hiệu quả; (iii) Tạo ra những thay đổi cụ thể trong việc thựchiện chức năng của gia đình nhằm duy trì hoạt động để đảm bảo cuộc sống và pháttriển toàn diện của mọi thành viên trong gia đình
Nhiệm vụ của của nhân viên CTXH trong làm việc với cá nhân và gia đìnhTEKT là đưa ra nhiều hoạt động khác nhau như hỗ trợ cá nhân, gia đình tiếp cận các
DV xã hội, biện hộ để đảm bảo quyền lợi, xây dựng niềm tin trong cuộc sống, cùng
cá nhân giải quyết các vấn đề tâm lý, tình cảm, xã hội, giúp các thành viên thực hiệnchức năng của mình Nhân viên CTXH hỗ trợ cải thiện an sinh cho các thành viên
Trang 37trong gia đình, thực hiện các vai trò kết nối, biện hộ, hòa giải, giáo dục, tham vấn,trị liệu cho đối tượng.
Cũng như mọi tiến trình hỗ trợ của CTXH, tiến trình làm việc với gia đìnhTEKT cũng trải qua 6 bước gồm: Tiếp nhận ca; thu thập thông tin; đánh giá nhucầu/vấn đề; lập kế hoạch can thiệp; triển khai kế hoạch; lượng giá Trong làm việcvới TEKT, gia đình TEKT, nhân viên CTXH cần có nhiều kỹ năng, trong đó đặcbiệt là kỹ năng biện hộ, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng
xử lý khủng hoảng, kỹ năng thúc đẩy sự tham gia của TEKT, kỹ năng huy độngnguồn lực, hỗ trợ tiếp cận và thụ hưởng DV xã hội
Để nhân viên CTXH thực hành phương pháp CTXH đối với cá nhân, giađình TEKT, chính sách CTXH đối với TEKT cần: (i) Trong đào tạo nhân viênCTXH làm việc đối với TEKT phải kết hợp giữa lý thuyết với thực hành các kỹnăng; (ii) Chính sách có quy định và xác lập pháp lý về quan hệ giữa nhân viênCTXH với TEKT, gia đình TEKT; (iii) Xác định được vai trò, vị trí của nhân viênCTXH; (iv) Quy định về tiến trình, các bước làm việc và quản lý trường hợpTEKT, gia đình TEKT của nhân viên CTXH, tiêu chuẩn của nhân viên CTXH và cơchế kiểm soát việc thực hiện của nhân viên CTXH
1.3.3.2 Phương pháp công tác xã hội đối với nhóm trẻ em khuyết tật
Phương pháp CTXH đối với nhóm TEKT là quá trình nhân viên xã hội sửdụng các tiến trình sinh hoạt nhóm nhằm giúp TEKT tương tác lẫn nhau, chia sẻkinh nghiệm, suy nghỉ với nhau, tạo sự thay đổi thái độ, hành vi tăng cường khảnăng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của các thành viên nhóm Với mục đíchtạo điều kiện cho TEKT bộc lộ tâm tư, chia sẻ, thông cảm; là nơi để TEKT đượccông nhận, được quan tâm, được an toàn, được có cảm giác gắn bó, được phát huytiềm năng và tự khẳng định mình
Phương pháp CTXH đối với nhóm TEKT được sử dụng trong trường hợpkhi vấn đề nảy sinh trong mối tương quan giữa hai hay nghiều người; khi một số
Trang 38TEKT có nhu cầu giống nhau; khi trao đổi tương tác với nhau về các vấn đề liênquan đến TEKT Trong CTXH có nhiều dạng nhóm, song phổ biến đối với TEKT
là nhóm giáo dục và nhóm tương trợ như: nhóm chăm sóc; nhóm giáo dục; nhómphục hồi chức năng; nhóm dạy nghề-tạo việc làm; nhóm phát triển…
Nếu như ở phương pháp CTXH với TEKT, gia đình TEKT, công cụ để nhânviên xã hội giúp đỡ TEKT, gia đình TEKT là mối quan hệ giữa nhân viên xã hội vớiTEKT, gia đình TEKT, thì trong phương pháp CTXH đối với nhóm TEKT, công cụ
để giúp đỡ là các hoạt động của nhóm, mối quan hệ tương tác giữa các trẻ em trongnhóm Để đảm bảo vai trò này, nhân viên xã hội phải có kỹ năng như làm việc vớinhóm, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng lấy ý kiến và ra quyết định
Như vậy, để nhân viên CTXH thực hành phương pháp CTXH đối với nhómTEKT, chính sách CTXH đối với TEKT cần: (i) Trong đào tạo nhân viên CTXHlàm việc đối với nhóm TEKT phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết với thựchành các kỹ năng làm việc nhóm (ii) Chính sách có quy định và xác lập pháp lý vềquyền thành lập nhóm trong hỗ trợ TEKT của nhân viên CTXH; (iv) Xác định vaitrò, vị trí của nhân viên CTXH (iii) Quy định về tiến trình, các bước làm việc củanhân viên CTXH, tiêu chuẩn của nhân viên CTXH và cơ chế kiểm soát việc thựchiện của nhân viên CTXH trong làm việc với nhóm TEKT
1.3.3.3 Phát triển cộng đồng
Phát triển cộng đồng có đặc trưng: Tạo ra những điều kiện căn bản cải thiện
về kinh tế và xã hội cho cộng đồng; nhấn mạnh tầm quan trọng sự tham gia củaquần chúng theo cơ chế dân chủ và tự nguyện; sự nỗ lực của chính quyền nhằm hỗtrợ và định hướng cho quá trình phát triển là yếu tố quyết định tính bền vững; biếtđịnh hướng các nhu cầu từ người dân; phát triển tính tự lực, nâng cao ý thức củangười dân; tăng quyền lực cho cộng đồng; tăng cường sự hội nhập và tính bền vững
và tuân thủ theo tiến trình từ thấp đến cao Trong khuôn khổ đề tài này, cộng đồngđược xem là cộng đồng nơi có TEKT, NKT (xã, phường, thôn, khu dân cư)
Trang 39Chúng ta biết rằng, tiến trình phát triển cộng đồng sẽ theo trình tự từ thấpđến cao gồm: Cộng đồng yếu kém, cộng đồng thức tỉnh, cộng đồng tăng năng lực vàcộng đồng tự lực Cụ thể: (i) Cộng đồng yếu kém là cộng đồng đang có vấn đề hayđang có nhu cầu nào đó cần thỏa mãn, nhưng vấn đề đó chưa được nhận thức đầy
đủ (ii) Cộng đồng thức tỉnh là việc cộng đồng nhận ra vấn đề của mình, biến nóthành nhu cầu thực sự cho sự thay đổi; (iii) Cộng đồng tăng năng lực là việc thànhviên trong cộng đồng đang trong tiến trình tổ chức lại, được trao quyền, tăng cườngkhả năng, năng lực, được tham gia vào các hoạt động cũng như tham gia quyết định,giải quyết các vấn đề cộng đồng; (iv) Cộng đồng tự lực là cộng đồng khi người dân
đã đủ khả năng giải quyết vấn đề của mình không cần sự trợ giúp của tác viên cộngđồng, nhân viên CTXH trong mọi trường hợp
Để giúp cho cộng đồng có tiến trình phát triển, nhân viên CTXH cùng tổchức thực hiện với người dân các hoạt động: Tổ chức cộng đồng, giáo dục cộngđồng, tuyền truyền vận động trong cộng đồng, tổ chức các cuộc họp với người dân;
Sử dụng kiến thức chuyên môn như là công cụ về xây dựng và tổ chức thực hiện kếhoạch, dự án… của cộng đồng nơi có TEKT, NKT theo phương pháp có sự thamgia của người dân
Trong tiến trình đó, nhân viên CTXH đóng vai trò là người xúc tác, ngườibiện hộ, người nghiên cứu, người huấn luyện và kể cả người lập kế hoạch Vì vậy,đòi hỏi người tác viên phải được đào tạo để trang bị cho mình cả về đạo đức nghềnghiệp, kiến thức nghề nghiệp và kỹ năng nghề nghiệp Về thái độ đòi hỏi phải hòađồng; trung thực; kiên trì, nhẫn nại; khiêm tốn, biết học hỏi người dân; khách quan,
vô tư Về kiến thức tối thiểu là hiểu biết về cộng đồng; kiến thức về phát triển tổchức trên cơ sở lý luận về nhóm, năng động nhóm, lãnh đạo nhóm; kiến thức phốihợp liên ngành; kiến thức giải quyết vấn đề và tiến trình ra quyết định; kiến thứcchung về phát triển kinh tế, xã hội…
Để nhân viên CTXH thực hành phương pháp phát triển cộng đồng, chínhsách CTXH đối với TEKT cần: (i) Trong đào tạo nhân viên CTXH trở thành tác
Trang 40viên cộng đồng phải đảm bảo cả về đạo đức nghề nghiệp, kiến thức nghề nghiệp và
kỹ năng nghề nghiệp; (ii) Chính sách có quy định và xác lập pháp lý về quyền làmtác viên phát triển cộng đồng của nhân viên CTXH; xác định vai trò, vị trí của nhânviên CTXH tiêu chuẩn của nhân viên CTXH; (iii) Quy định về tiến trình, các bướclàm việc trong các hoạt động phát triển cộng đồng; quy định về xây dựng và tổ chứcthực hiện kế hoạch, dự án của cộng đồng theo phương pháp có sự tham gia củangười dân và cơ chế kiểm soát việc thực hiện của tác viên phát triển cộng đồng
1.3.4 Chính sách đảm bảo sự chuyên nghiệp hóa trong dịch vụ công tác
xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Theo TS Hà Thị Thư (2016), “Sự chuyên nghiệp là nhằm tạo ra sự hoànchỉnh, chất lượng, hiệu quả và tin cậy, thân thiện trong việc cung cấp các hoạt độngđem lại sự thỏa mãn cao nhất cho các bên tham gia” [25] Còn “DVCTXH cho cácnhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòngngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thếdựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xãhội.”[25] Chúng ta biết rằng, DVCTXH đối với vấn đề TEKT được tổng hợp theohai hình thức tiếp cận: Thứ nhất, là hình thức cung cấp DV trực tiếp hỗ trợ TEKT,gia đình TEKT, và cộng đồng NKT; thứ hai, là hình thức tập trung vào việc đưa racác chính sách, chương trình dành cho TEKT Điều đó cho thấy, sự chuyên nghiệptrong DVCTXH đối với TEKT thể hiện ở chỗ: Con người (nhân viên CTXH)chuyên nghiệp, môi trường chuyên nghiệp và thực hiện nội dung DVCTXH chuyênnghiệp
1.3.4.1 Chính sách đảm bảo con người chuyên nghiệp và môi trường chuyên nghiệp
Nhân viên CTXH chuyên nghiệp trong cung cấp DVCTXH đối với TEKTthể hiện ở các khía cạnh: (i) Tuân thủ nguyên tắc nghề nghiệp và nguyên tắc hànhđộng của nhân viên như chấp nhận đối tượng TEKT, đưa đối tượng TEKT tham giavào các bước trong giải quyết vấn đề, tôn trọng quyền tự quyết, cá biệt hóa trong