1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014

106 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 801,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai là nội dung hết sức quan trọng của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tuy chỉ là một trong những nội dung của công tác quản lý do cơ q

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MÃ THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 2010 – 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MÃ THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 2010 – 2014

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60850103

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Mã Thị Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản

thân, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Lãnh đạo Phòng đào tạo, Khoa Quản lý tài nguyên, đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy GS.TS Nguyễn Thế Đặng người

hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo và đã giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ thuộc các phòng, đơn vị của Uỷ ban nhân dân thị xã Bắc Kạn, Thanh tra thị xã Bắc Kạn, phòng Tài nguyên và Môi trường thị

xã Bắc Kạn, Bộ phận tiếp công dân trực thuộc Văn phòng HĐND - UBND thị xã Bắc Kạn và nhân dân trong vùng nghiên cứu của luận văn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp

đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Mã Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học và pháp lý công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 4

1.1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.2 Cơ sở pháp lý 5

1.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên cả nước 8

1.2.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo trên phạm vi cả nước 8

1.2.2 Đánh giá kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo trên cả nước giai đoạn 2010 – 2014 và phương hướng nhiệm vụ công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới 13

1.3 Tình hình tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 22

1.3.1 Khái quát về tình hình khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2014 22

1.3.2 Kết quả thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo 23

1.3.3 Đánh giá kết quả công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo 25

Trang 6

1.3.4 Dự báo tình hình tiếp công dân và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời

gian tới 28

1.4 Những nghiên cứu về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hìnhquản lý, sử dụng đất của thị xã Bắc Kạn 32

2.2.2 Thực trạng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 32

2.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn 32

2.2.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 33

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33

2.3.3 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 33

2.4.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 34

2.4.5 Phương pháp chuyên gia 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất của thị xã Bắc Kạn 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thị xã Bắc Kạn 38

3.1.3 Tình hình quản lý, sử dụng và biến động đất đai tại thị xã Bắc Kạn 43

Trang 7

3.2 Thực trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa

bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 50

3.2.1 Thực trạng tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2014 50

3.2.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 54

3.2.3 Thực trạng giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 65

3.2.4 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 68

3.2.5 Đánh giá chung về thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2014 75

3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn 77

3.3.1 Yếu tố thể chế chính sách 77

3.3.2.Yếu tố cơ cấu tổ chức và nhân lực 80

3.3.3 Yếu tố kỹ thuật 80

3.3.4 Yếu tố con người 81

3.3.5 Yếu tố cơ sở vật chất 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

1 Kết luận 84

2 Kiến nghị 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Cụm từ được viết tắt

CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam GPMB Giải phóng mặt bằng

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HCNN Hành chính nhà nước

HĐND Hội đồng nhân dân

TCD Tiếp công dân

UBND Uỷ ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn

2010 – 2014 39 Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của thị xã Bắc Kạn 40 Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất thị xã Bắc Kạn năm 2014 46 Bảng 3.4 Tình hình biến động các loại đất năm 2014 so với năm 2010 trên địa

bàn thị xã Bắc Kạn 48 Bảng 3.5 Tổng hợp đơn thư trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 51 Bảng 3.6 Kết quả tiếp nhận đơn thư về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai

đoạn 2010 – 2014 52

Bảng 3.7 Thực trạng tiếp nhận đơn thư theo đơn vị hành chính thuộc thẩm

quyền giải quyết của UBND thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 53 Bảng 3.8 Thực trạng khiếu nại về đất đai trên địa bàn Thị xã Bắc Kạn giai đoạn

2010 - 2014 54 Bảng 3.9 Kết quả phỏng vấn nguyên nhân phát sinh khiếu nại về đất đai tại thị

xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 56 Bảng 3.10 Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn

giai đoạn 2010 – 2014 61 Bảng 3.11 Tổng hợp vụ việc khiếu nại đã giải quyết xong trên địa bàn thị xã

Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 62 Bảng 3.12 Kết quả đánh giá của người dân về việc giải quyết khiếu nại về đất

đai của UBND thị xã 64

Bảng 3.13 Thực trạng tố cáo về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn

2010 – 2014 65 Bảng 3.14 Kết quả phỏng vấn nguyên nhân phát sinh đơn thư tố cáo về đất đai

tại thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 67

Trang 10

Bảng 3.15: Kết quả giải quyết đơn tố cáo trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn

2010 - 2014 68 Bảng 3.16 Tình hình tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện thị xã Bắc Kạn

giai đoạn 2010 - 2014 69 Bảng 3.17 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai

đoạn 2010 - 2014 73

Bảng 3.19 Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai

trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 76

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất thị xã Bắc Kạn năm 2014 47 Hình 3.2 Tỷ lệ các loại đơn về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn

2010 - 2014 52 Hình 3.3 Tình hình khiếu nại thể hiện theo nội dung khiếu nại về đất đai trên

địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 55

Hình 3.4 Tổng hợp kết quả giải quyết các dạng khiếu nại về đất đai trên địa bàn

thị xã giai đoạn 2010 -2014 60 Hình 3.5 Tình hình đơn thư tố cáo thể hiện theo nội dung tố cáo về đất đai trên

địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 66

Hình 3.6 Tình hình tranh chấp đất đai thể hiện theo nội dung tranh chấp trên

địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014 70

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn lực quan trọng của mỗi quốc gia, là tài nguyên thiên nhiên

vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, các cơ sở kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng và các công trình phúc lợi công cộng Quản lý và sử dụng đầy đủ

đất đai là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc

gia Ở nước ta vấn đề đất đai luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Tuy nhiên trong thực tế quá trình sử dụng cũng như quan hệ đất đai có nhiều biến động, vì vậy vấn đề giải quyết tranh chấp đất, khiếu nại, tố cáo về đất đai ngày càng trở nên bức xúc và phức tạp; trong nhiều trường hợp, vấn đề giải quyết tranh chấp, khiếu nại về

đất đai cho các đối tượng sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp và làm phát

sinh những vấn đề mới cần được bổ sung và giải quyết

Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai là nội dung hết sức quan trọng của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tuy chỉ là một trong những nội dung của công tác quản lý do cơ quan Nhà nước thực hiện nhằm giải quyết ổn thoả mâu thuẫn trong sử dụng đất đai, nhưng nó liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp thuộc về pháp luật và những quan hệ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các

tổ chức, cá nhân; làm tốt công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

sẽ giúp cho Nhà nước kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý Nhà nước, xác lập chặt chẽ hơn mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau Tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai một cách ổn định, đầy đủ, hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất, góp phần vào sự ổn định tình hình hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Do vậy các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai luôn nhận được sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của các cơ quan Nhà nước trong thời gian qua đã thu được những kết quả khả quan Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay vẫn còn những diễn biến phức tạp, số người đi khiếu nại, tố cáo còn nhiều; nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo còn tồn đọng và vượt

Trang 13

cấp Việc giải quyết còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu Nguyên nhân của tồn tại nói trên chủ yếu là do việc tổ chức thực hiện pháp luật về đất đai, khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân còn nhiều thiếu sót, hạn chế

Bắc Kạn là tỉnh được tái lập từ năm 1997 khi chia tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn Thị xã Bắc Kạn là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh gồm có 08 xã, phường Trong những năm qua trên địa bàn tỉnh nói chung và thị xã Bắc Kạn nói riêng đã và đang triển khai thực hiện nhiều dự án về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng phát triển các khu đô thị, khu tái định cư và các công trình khác do vậy công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã được các cấp chính quyền đặc biệt trú trọng, vì vậy đã đạt được những kết quả nhất định trong công tác quản lý Song do rất nhiều nguyên nhân nên công tác quản lý đất đai vẫn còn những bất cập, các vụ khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trong thực tế vẫn được xem là những

điểm nóng khó giải quyết đặc biệt là khiếu nại về công tác bồi thường giải phóng

mặt bằng, bố trí tái định cư và tranh chấp quyền sử dụng đất

Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Thế Đặng và sự giúp đỡ của UBND thị xã Bắc Kạn và các cơ quan chức

năng của tỉnh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh giá tình

hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn, tỉnh Kắc Kạn, giai đoạn 2010 – 2014”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 14

- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp học viên củng cố những kiến thức đã học và tiếp xúc thực tế với vấn đề nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học và pháp lý công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai

1.1.1 Cơ sở khoa học

- Công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư là công việc bước đầu của quá trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo và những bức súc của công dân về quyết

định hành chính hoặc hành vi hành chính hoặc những thắc mắc, tranh chấp… của

người dân mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai là một trong 15 nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp

đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng

thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai

- Với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thì tranh chấp, khiếu nại, tố cáo

về đất đai thường chỉ là vấn đề quyền sử dụng đất hoặc là quyền sử dụng liên quan

đến địa giới hành chính hoặc quyền sử dụng liên quan đến tài sản

- Giải quyết mọi trường hợp tranh chấp về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc đất

đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản

lý; kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa lại theo đúng pháp luật những trường hợp xử không đúng

- Phải nắm vững quan điểm lấy dân làm gốc, phải dựa vào dân, bàn bạc dân chủ công khai quỹ đất với dân để giải quyết và phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong một nội bộ nông dân để họ tìm ra giải pháp, không gò ép mệnh lệnh; cần

đề cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể để hòa giải các vụ tranh chấp có hiệu quả

- Giải quyết các tranh chấp về đất đai phải nhằm mục đích phát triển sản xuất,

ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân

Trang 16

- Gắn việc giải quyết các vấn đề về đất với tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa mở mang ngành nghề, phân bố lại lao động, dân cư phù hợp

với đặc điểm và quy định của địa phương

1.1.2 Cơ sở pháp lý

1.1.2.1 Văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

- Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

- Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 06 năm 2004 và Luật sửa đổi một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 29 tháng 11 năm 2005;

- Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011 thay thế Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998

- Luật Tố cáo năm 2011 ngày 11/11/2011;

- Luật Tiếp công dân năm 2013 ngày 25/11/2013;

- Luật Tố tụng dân sự ngày 24 tháng 6 năm 2004;

- Luật Thanh tra ngày 15 tháng 11 năm 2010;

- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;

- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013 thay thế Luật Đất đai năm 2003;

- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 21 tháng 5 năm 1996;

- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 05 tháng 4 năm 2006;

- Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Quốc hội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước;

- Nghị quyết số 755/2008/NQ-UBTVQH ngày 02 tháng 04 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể

về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991

Trang 17

1.1.2.2 Văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

- Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo;

- Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung mội số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 06 năm 2004;

- Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về việc thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ

về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo

và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;

- Nghị định 75/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2012 về việc quy

định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại năm 2011, có hiệu lực 20/11/2012;

- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra;

Trang 18

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013;

- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra[19];

- Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khiếu nại;

- Nghị định 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Tố cáo;

1.1.2.3 Văn bản do UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành

- Quyết định số 750/2009/QĐ-UBND ngày 14/4/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc quy định một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Quyết định số 628/2010/QĐ-UBND ngày 08/4/2010 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành Quy định một số chính sách cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Quyết định số 1562/2010/QĐ-UBND ngày 29/7/2010 Quy định một số nội dung cụ thể về cấp giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Quyết định số 1928/2010/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc điều chỉnh, bổ sung một số điều của Bản quy định một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý đất đai áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn ban hành kèm theo quyết định số 750/2009/QĐ-UBND ngày 14/4/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn

- Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 22/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Kạn quy định một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND ngày 22/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Kạn quy định một số nội dung cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Trang 19

1.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên cả nước

1.2.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo trên phạm vi cả nước

1.2.1.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo

- Từ năm 2011-2014, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận, xử lý 717.629 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo Trong đó có 237.759 đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đủ điều kiện xử lý (203309 đơn khiếu nại; 34.450 đơn tố cáo), số còn lại là các đơn kiến nghị, đề nghị,

đơn trung lặp, nặc danh và không rõ nội dung và địa chỉ người khiếu nại, tố cáo

- Về tính chất, mức độ của các vụ việc khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi, có lúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là:

số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương gia tăng; tình trạng đơn thư gửi tràn lan mang tính phổ biến, nhất là trong các dịp có sự kiện chính trị (họp Trung ương, họp Quốc hội, Bầu

cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng…)

- Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiện kéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất để thực hiện dự án, các vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân…[36]

1.2.1.2 Tình hình tranh chấp đất đai

Tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai có xu hướng gia tăng và đặc biệt ngày càng trở nên bức xúc từ sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2014 Kết quả tiếp nhận và giải quyết số đơn thư về tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai phát sinh và được các cơ quan hành chính nhà nước thụ

lý, giải quyết hàng năm là rất lớn Tỷ lệ số vụ việc được giải quyết so với số vụ việc tiếp nhận cũng tương đối cao và luôn ổn định trên 80%, có năm đạt xấp xỉ 90% là rất cao; số vụ việc tồn đọng, kéo dài trong lĩnh vực đất đai cũng được các cơ quan hành chính nhà nước quan tâm giải quyết với tỷ lệ đáng kể, có những vụ việc kéo dài tới 20 năm, đã được giải quyết dứt điểm [21]

Trang 20

Bên cạnh đó, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đất đai bằng thủ tục tư pháp

so với giải quyết tại cơ quan hành chính là rất ít Thực tế giai đoạn vừa qua, thông thường người dân chỉ khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp hành chính

về đất đai sau khi đã qua hai cấp giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước và đã có hiệu lực thi hành [21]

Bên cạnh những mặt đã đạt được thì công tác giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai còn nhiều hạn chế và yếu kém như sau:

- Hệ thống pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại tố cáo còn thiếu đồng bộ;

- Đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn bất cập, chủ yếu

là kiêm nhiệm, chưa có nghiệp vụ chuyên sâu;

- Việc phối hợp giải quyết đơn thư giữa các cơ quan có thẩm quyền chưa được chặt chẽ, còn có hiện tượng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, có vụ việc còn có ý kiến khác nhau làm cho công dân tiếp tục khiếu kiện kéo dài;

- Việc phân công thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở một số địa phương còn thiếu thống nhất

- Việc xử lý trách nhiệm của cá nhân, tập thể có sai phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thiếu kiên quyết;

- Công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về tiếp dân, giải quyết đơn thư của công dân chưa được thực hiện một cách tích cực, thường xuyên, liên tục

1.2.1.3 Kết quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo a) Về tiếp công dân

Từ năm 2011 - 2014, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp 1.568.413 lượt người đến khiếu nại, tố cáo; với có 18049 đoàn đông người, trong đó: Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã tiếp 116.604 lượt người, với 24.798 vụ việc; Các Bộ, ngành Trung ương đã tiếp 153.971 lượt người Các địa phương đã tiếp 1.297.838 lượt người Các tỉnh có số lượng người khiếu nại, tố cáo nhiều là: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Nam, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc[37]

Trang 21

b) Kết quả tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo

- Từ năm 2011-2014, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận, xử lý 717.629 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo Trong đó có 237.759 đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đủ điều kiện xử lý (203309 đơn khiếu nại; 34.450 đơn tố cáo), số còn lại là các đơn kiến nghị, đề nghị,

đơn trung lặp, nặc danh và không rõ nội dung và địa chỉ người khiếu nại, tố cáo

- Các Bộ, ngành, địa phương đã giải quyết 190.872/220.134 đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền (đạt 86,7% tổng số đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền) Trong đó đã giải quyết 164.313/187.105 đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền, đạt trên 87,8%; giải quyết 29.539/33.029 đơn tố cáo thuộc thẩm quyền,

đạt 89,4%

- Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo đã thu hồi về cho Nhà nước gần136 tỷ đồng, 468,7 ha đất; khôi phục quyền lợi, trả lại cho tập thể, công dân với số tiền gần 1.283 tỷ

đồng và 685,3 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2.925 người; chuyển cơ quan điều tra

xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự 180 vụ với 436 người [38]

c) Kết quả giải quyết các vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch 319/KH-TTCP của Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã tăng cường kiểm tra, rà soát và giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng phức tạp kéo dài Tính đến 31/12/2014, cả nước đã rà soát 528/528 vụ việc (đạt 100% kế hoạch), đã giải quyết 501/528 vụ việc đạt tỷ lệ 94,9% Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài các ngành, các cấp và các địa phương đã có phương án giải quyết, khối phục quyền lợi

và hỗ trợ cho công dân 1.389,2 tỷ đồng, 34,33 ha đất sản xuất; 0,84 ha đất ở; 24 nền nhà tái định cư [39]

1.2.1.4 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khiếu nại, tố cáo

a) Nguyên nhân khách quan

- Trong thời gian gần đây, chính quyền địa phương tiến hành thu hồi nhiều đất của dân để giao cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị, thương mại, du lịch, dịch vụ, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đường giao thông, công

Trang 22

trình thuỷ lợi… nhưng vấn đề chính sách liên quan đến lợi ích của người sử dụng

đất còn nhiều bất cập, nhất là về giá đất chưa phù hợp, thường xuyên thay đổi, năm

sau cao hơn năm trước; có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương; cơ chế chính sách đền bù, hỗ trợ chưa nhất quán nên khó thực hiện; có sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất bồi thường so với giá thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế đã gây nên tâm lý chung cho người khiếu kiện cho rằng giá tiền bồi thường thu hồi đất trả rất thấp, quá xa so với thị trường, làm người dân bị thiệt thòi, nên

người dân bị thu hồi đất không nhất trí với phương án bồi thường (mặc dù tính

đúng, tính đủ theo quy định)

Mặt khác, trong trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của dân để làm dự án khu

đô thị, khu dân cư, thương mại, dịch vụ, du lịch giá đất để tính tiền bồi thường cho

người có đất bị thu hồi thấp hơn nhiều lần so với giá đất mà nhà đầu tư bán, chuyển nhượng lại cho người khác, dẫn đến người có đất bị thu hồi cho rằng thiếu sự công bằng về lợi ích nên khiếu nại gay gắt Có những trường hợp mặc dù nhà đầu tư đã

có sự hỗ trợ thêm nhưng cũng chưa đáp ứng được đòi hỏi của người có đất bị thu hồi dẫn đến khiếu nại kéo dài, không dứt điểm được

Chính phủ đã nhiều lần thay đổi chính sách về bồi thường, hỗ trợ theo hướng

có lợi cho người bị thu hồi đất (lần sau cao hơn, tốt hơn lần trước), tạo điều kiện

thuận lợi để giải quyết được các trường hợp mới thì một số trường hợp bị thu hồi

đất trước đây so bì, phát sinh khiếu nại

- Một số vụ việc khiếu nại về nhà, đất do lịch sử để lại như: đòi lại đất nông nghiệp đưa vào HTX, Tập đoàn sản xuất, sau đó giải thể, trả lại đất cho nông dân,

đất sản xuất của dân nhưng sau đó đưa vào các nông - lâm trường quốc doanh và

nay cổ phần hóa; Chính sách về nhà ở như tịch thu, trưng mua, trưng dụng cải tạo, quản lý nhà vắng chủ, bán nhà theo Nghị định 61/CP của Chính phủ, tranh chấp đất

đai, nhà cửa trong nhân dân, tranh chấp đất đai, đòi lại cơ sở tôn giáo, đòi lại đất của đồng bào dân tộc phát sinh trong những năm trước đây, đến nay chưa được giải

quyết dứt điểm Số vụ việc này không còn nhiều nhưng thường có tính chất gay gắt, phức tạp và rất khó khi áp dụng pháp luật để giải quyết

- Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế nên có những yêu cầu, đòi hỏi không đúng hoặc vượt quá quy định pháp luật Có những vụ

Trang 23

việc đã được giải quyết nhiều lần với nhiều biện pháp khác nhau, cơ bản là đúng chính sách, pháp luật, có lý, có tình nhưng người khiếu nại vẫn không chấp nhận kết quả giải quyết, thậm chí có những phản ứng tiêu cực, cố chấp, gây rối trật tự hoặc

đã bị các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước lợi dụng kích động, khiếu kiện kéo dài, bức xúc [40]

b) Nguyên nhân chủ quan

- Công tác quản lý về đất đai còn sơ hở, lỏng lẻo, nhiều cán bộ lợi dụng, tham nhũng tiêu cực, trục lợi, làm giàu bất chính từ đất nhưng không bị xử lý nghiêm minh

- Công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý nhà nước ở một số địa phương còn nhiều yếu kém, nhất là công tác quản lý đất đai, thể hiện:

+ Công tác thu hồi đất, xác định giá đất, kiểm đếm, kiểm kê đất đai, tài sản trên đất, xác định diện tích, loại đất, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư, giải quyết việc làm có lúc, có nơi làm chưa tốt, có khi còn để xẩy ra thiếu

sót, sai phạm hoặc thực hiện thiếu công khai, dân chủ, công bằng, dẫn đến công dân không chấp nhận, phát sinh khiếu nại đòi quyền lợi, có trường hợp còn bức xúc dẫn

đến tố cáo việc làm sai của cán bộ hoặc tập hợp đông người khiếu nại gay gắt

+ Việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất còn để xảy ra sai sót, không theo quy hoạch và quy định của pháp luật Đáng

chú ý là có nhiều dự án thu hồi đất của dân rồi để hoang hóa, hoặc nhu cầu và khả năng sử dụng đất thì ít nhưng thu hồi đất với diện tích lớn hơn, nên lãng phí đất đai, công dân bức xúc khiếu nại đòi lại đất (điển hình là khiếu nại tại huyện Kim Thành, Hải Dương) Tình trạng quy hoạch treo, quy hoạch không đồng bộ, tính khả thi chưa cao, thiếu tính bền vững xẩy ra ở nhiều địa phương

+ Việc quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, rừng trước đây

bị buông lỏng, hồ sơ địa chính, bản đồ lưu trữ không đầy đủ, thiếu cập nhật thường xuyên; nhiều nơi do buông lỏng quản lý nên đã để xẩy ra tình trạng lấn chiếm đất công, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không đúng quy định, xây dựng nhà ở, công trình trái phép nhưng không được kiểm tra, xử lý kịp thời

- Quá trình thực hiện dự án, nhiều địa phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục vận động thuyết phục, giải thích, hòa giải ngay từ cơ sở thực hiện

Trang 24

chưa tốt, chưa tập trung giải quyết khiếu kiện ngay từ đầu; cấp ủy chính quyền một

số nơi chưa coi trọng sự lãnh đạo, chỉ đạo, chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp của cả hệ thông chính trị trong việc ngăn ngừa và giải quyết khiếu nại, tố cáo, có nơi có biểu hiện coi nhẹ ý dân, coi trọng các biện pháp hành chính, pháp luật (mệnh lệnh, phục tùng và cưỡng chế), nóng vội, chủ quan, áp đặt, quan tâm nhiều đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà thiếu quan tâm chăm lo đời sống dân sinh, ổn

định cuộc sống, vấn đề chuyển đổi nghề, tạo việc làm, tái định cư không thực hiện đúng như cam kết … trong khi đời sống khó khăn dẫn đến công dân bức xúc, khiếu

kiện đông người, gay gắt Trên thực tế, có nhiều trường hợp bố trí tái định cư không hợp lý, hoặc tạo việc làm không ổn định nên sau một thời gian công dân quay lại khiếu nại

- Công tác giám sát của cơ quan dân cử, của các tổ chức chính trị xã hội đối với cơ quan hành chính tư pháp trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được tiến hành thường xuyên

1.2.2 Đánh giá kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo trên cả nước giai đoạn 2010 – 2014 và phương hướng nhiệm vụ công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới

1.2.2.1 Ưu điểm

- Công tác chỉ đạo, lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền ở nhiều địa phương ngày càng tập trung và quyết liệt hơn trước, đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn; quan tâm chỉ đạo các

sở, ban, ngành rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định trong lĩnh vực quản

lý đất đai, tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội trong phạm vi địa phương nên đã góp phần hạn chế phát sinh khiếu kiện mới Một số cấp

uỷ và chính quyền địa phương đã ban hành nhiều chỉ thị, văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, xây dựng kế hoạch thực hiện Hầu hết các tỉnh, thành phố đều có chương trình, kế hoạch, thành lập các đoàn thanh tra, tổ công tác

để kiểm tra, xác minh, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc,

kéo dài;

Trang 25

- Công tác tiếp công dân ở các tỉnh, thành phố đã được củng cố thêm một bước sau khi triển khai thực hiện Quyết định 858/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động dần đi vào nền nếp; mối quan hệ phối hợp giữa Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương với một số địa phương ngày càng hiệu quả hơn, hạn chế tình trạng chuyển vòng vo hoặc sai sót trong quá trình xử lý đơn thư của công dân

- Nhìn chung, hầu hết các địa phương đã có sự nỗ lực trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tỷ lệ số vụ việc thuộc thẩm quyền được giải quyết ngày một tăng Một số địa phương đã có những cố gắng, giải quyết được khối lượng lớn vụ việc khiếu nại, tố cáo mới phát sinh và nhiều vụ khiếu kiện đông người, phức tạp

- Thanh tra Chính phủ và ngành Thanh tra tích cực thanh tra, kiểm tra việc chấp hành Luật khiếu nại, tố cáo ở các địa phương, phối hợp với các cấp, các ngành tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; trực tiếp thanh tra, kiến nghị Thủ tướng giải quyết nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp; đã tổ chức tiếp trên một trăm ngàn lượt công dân, hàng nghìn đoàn khiếu kiện đông người; phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương và các địa phương xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống phát sinh

- Công tác phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Thanh tra Chính phủ ngày càng chặt chẽ hơn trong xử lý khiếu kiện tồn đọng và tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước

- Thanh tra Chính phủ phối hợp chặt chẽ với Hội Nông dân Việt Nam, Bộ Tài nguyên & Môi trường và UBND các cấp thực hiện tốt Chỉ thị 26/2006/CT-TTg ngày 09/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân thông qua việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý sâu rộng đến hội viên, nông dân; xây dựng mô hình câu lạc bộ “Nông dân với pháp luật”, tập trung ở những nơi thu hồi đất nông nghiệp, những nơi xảy

ra tranh chấp, khiếu kiện và ở vùng sâu, vùng xa [39]

1.2.2.2 Những hạn chế, yếu kém

- Một số địa phương chưa tổ chức tốt việc tiếp công dân, chưa gắn công tác tiếp công dân với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là ở cấp quận, huyện, sở, ngành; lãnh đạo một số bộ, ngành chưa thực hiện tốt việc tiếp công dân theo quy định

Trang 26

Việc thực hiện Đề án Đổi mới công tác tiếp công dân còn chậm, nhất là khâu kiện toàn đội ngũ cán bộ; bố trí trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của các trụ sở tiếp công dân chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ

- Nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo giải quyết còn chậm, để công dân khiếu nại nhiều lần, vượt cấp, một số vụ việc giải quyết không đúng chính sách, pháp luật và phù hợp với thực tế nên không dứt điểm Nhiều địa phương chỉ chú trọng đến việc giải quyết hết thẩm quyền mà chưa quan tâm đến giải quyết dứt điểm vụ việc

Còn hiện tượng giải quyết né tránh, đùn đẩy, thấy sai nhưng không chịu sửa làm cho việc giải quyết lòng vòng, kéo dài, cá biệt có cơ quan không thực hiện đúng trách nhiệm, thẩm quyền được giao, có hành vi bao che, cố ý làm sai; một số vụ việc mặc dù đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ hoặc ý kiến của các Bộ, ngành Trung ương nhưng chính quyền địa phương thực hiện chưa triệt để, không nghiêm túc dẫn đến người dân tiếp tục khiếu kiện gay gắt

- Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, các quyết định xử lý về tố cáo ở địa phương còn chậm và hạn chế Từ đó, dẫn đến người khiếu nại, tố cáo tiếp tục gửi đơn với thái độ rất bức xúc, hoặc quay sang tố cáo chính quyền cố tình bao che sai phạm, làm giảm lòng tin của người dân vào bộ máy chính quyền

- Khi công dân tập trung khiếu kiện vượt cấp lên các cơ quan Trung ương, nhiều địa phương đùn đẩy, né tránh, thiếu quan tâm phối hợp kịp thời với các cơ quan Trung ương để vận động công dân trở về địa phương hoặc khi công dân đã trở

về địa phương không quan tâm đối thoại giải quyết hoặc tìm thêm giải pháp hỗ trợ nên công dân tiếp tục lên Trung ương khiếu nại

- Công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị chưa tốt nên kết quả, hiệu quả giải quyết đạt chưa cao Việc nắm tình hình khiếu nại, tố cáo chưa chắc, theo dõi, thống kê các vụ việc khiếu nại, tố cáo chưa chính xác, chưa kịp thời, thực tế còn bị động, lúng túng trong chỉ đạo xử lý tình huống phức tạp xảy ra; kế hoạch giải quyết ở các cấp chưa cụ thể, từng cấp chưa làm đầy

đủ trách nhiệm, còn bị động đối phó, chưa giải quyết các vấn đề cơ bản, nhất là cơ

chế, chính sách và trong chỉ đạo điều hành Số lượng vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn

đọng vẫn còn nhiều; những vụ việc phát sinh mới có nơi chưa giải quyết kịp thời

Trang 27

- Một số cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra, xác minh, tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo có hành vi tiêu cực, vụ lợi [39]

1.2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

a) Về khách quan

- Một số quy định của pháp luật còn bất cập, thiếu rõ ràng, cụ thể hoặc có sự chồng chéo mâu thuẫn, nên khi giải quyết không có đủ cơ sở pháp lý hoặc lúng túng trong áp dụng pháp luật (chủ yếu là các quy định về quản lý, sử dụng đất đai, nhà ở, quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai)

- Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những công việc khó khăn,

đòi hỏi phải có trình độ, năng lực, kinh nghiệm, nhưng ở nhiều địa phương còn

thiếu cán bộ hoặc cán bộ chưa có đủ năng lực, kinh nghiệm

Mặt khác, một số vụ việc có sự can thiệp của cơ quan, tổ chức, cá nhân không

có thẩm quyền làm cho việc giải quyết thêm phức tạp

- Hồ sơ quản lý của các cơ quan chức năng (sổ địa chính, bản đồ địa chính…) lưu trữ không đầy đủ hoặc còn thiếu nên khi phát sinh khiếu nại, tố cáo không đủ tài liệu để xem xét, kết luận giải quyết

- Điều kiện vật chất còn thiếu nên trong một số trường hợp khi đưa ra phương

án giải quyết khiếu nại gặp khó khăn

- Việc thực hiện Quyết định 858/QĐ-TTg chậm là do thiếu kinh phí, cơ sở vật chất; việc tuyển chọn, bố trí cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân khó khăn (vì chưa

Trang 28

- Một số cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân, tham mưu, giải quyết khiếu nại,

tố cáo thiếu tinh thần trách nhiệm, hoặc thiếu quan tâm đến quyền và lợi ích chính

đáng của người khiếu nại, hoặc có động cơ không trong sáng nên giải quyết vụ việc

chưa khách quan, chính xác, kịp thời hoặc chưa bảo đảm vụ việc được giải quyết hợp lý, hợp tình nên công dân không nhất trí, tiếp tục khiếu nại

- Có một số cán bộ thái độ tiếp xúc với dân không đúng, tạo nên sự phản cảm, khoảng cách, dân mất lòng tin mặc dù kết quả giải quyết đúng pháp luật

- Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng còn bị động, thiếu chặt chẽ, trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo có trường hợp không rõ ràng Trong một số

vụ việc, các cơ quan Trung ương, địa phương khi xem xét, đưa ra ý kiến thiếu sự nhất quán, công dân dựa vào các ý kiến khác nhau để khiếu kiện gay gắt, kéo dài; tình trạng chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo lòng vòng giữa các cơ quan cũng là nguyên nhân để công dân khiếu kiện kéo dài

1.2.2.4 Phương hướng nhiệm vụ công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới

a) Dự báo về tình hình khiếu nại, tố cáo

- Tình hình khiếu nại, tố cáo nói chung tiếp tục diễn biến phức tạp và tập trung chủ yếu trong lĩnh vực đất đai, tập trung nhiều ở những địa phương, địa bàn thu hồi nhiều đất của dân để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội Khiếu nại đông người, phức tạp sẽ phát sinh ở những nơi không làm tốt công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, không quan tâm đúng mức đến công tác vận động, thuyết phục

và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Chính sách, pháp luật, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai trong thời gian tới tiếp tục có sự thay đổi, trong khi những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về đất đai chậm được khắc phục

- Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 đặt ra những yêu cầu cao hơn nhưng cần phải có thời gian để đi vào cuộc sống Mặt khác, thói quen, tâm lý người khiếu nại vẫn muốn được giải quyết theo thủ tục hành chính (không muốn giải quyết tại Tòa án), do đó công tác giải quyết khiếu nại vẫn chủ yếu tập trung vào trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp

Trang 29

- Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, gay gắt, phức tạp có xu hướng tăng lên; tình trạng công dân móc nối, liên kết với nhau tập trung đông người đến Trụ sở các cơ quan Trung ương và địa phương để gây áp lực vẫn diễn ra và sẽ còn gia tăng Ở một số nơi thu hồi đất, bồi thường, tái định cư để phục vụ các công trình, dự án lớn khi đời sống gặp khó khăn sau khi được tái định cư, lại bị các phần tử xấu xúi giục, kích động,

có thể phát sinh khiếu kiện quy mô lớn, đặc biệt phức tạp

- Tình trạng lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo; lợi dụng dân chủ, kích động, lôi kéo người khiếu kiện, chống đối, phá hoại chế độ, sự can thiệp của các thế lực phản động từ bên ngoài tiếp tục tăng lên …[36]

b) Về chủ trương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Về nhận thức phải coi công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp trong công tác tiếp

dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo đảm quyền lợi của công dân và góp phần

ổn định chính trị, phát triển kinh tế

- Tập trung kiểm tra rà soát, phối hợp, tuyên truyền, vận động để giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, tồn đọng; đồng thời giải quyết dứt điểm ngay các vụ việc mới phát sinh tại cơ sở, hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp

- Đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tập trung vào pháp luật về đất đai, nhà ở, đầu tư, xây dựng , tăng cường chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực

- Hoàn thiện cơ chế phối hợp đối với công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị -

xã hội

c) Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong thời gian tới

Nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới là tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; chủ động kịp thời xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là các vụ việc đông người, gay gắt, phức tạp; kiểm soát tốt tình

Trang 30

hình khiếu nại, tố cáo, bảo đảm quyền dân chủ của công dân, nhưng không để xảy ra “điểm nóng”; đối với các vụ việc phát sinh mới tập trung giải quyết đạt tỷ

lệ trên 85% Tiếp tục rà soát giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài Tổ chức thực hiện dứt điểm các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định

xử lý tố cáo đã có hiệu lực thi hành Để thực hiện nhiệm vụ trên, cần tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau đây:

* Tăng cường hơn nữa công tác quản lý đất đai nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo

- Các địa phương phải tăng cường công tác quản lý đất đai, tập trung vào công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; kiên quyết thu hồi đất đã giao, đã cho thuê nhưng không đúng đối tượng, không sử dụng, sử dụng không hiệu quả, sử dụng sai mục

đích; xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai,

những vụ việc tiêu cực, tham nhũng về đất đai của cán bộ, công chức

- Thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, chú trọng thực hiện công khai, dân chủ, công bằng bảo đảm quyền và lợi ích của người dân có đất bị thu hồi Quan tâm thực hiên tốt việc tái định cư, tạo việc làm cho người có đất bị thu hồi; xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng đất, Nhà nước và nhà đầu tư

* Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp quan trọng tại Thông báo Kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị Trong đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng; vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành, tiếp dân, quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp chính quyền; vai trò tham mưu trong việc tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các ngành; vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức thành viên trên từng địa bàn

Trang 31

- Triển khai thực hiện tốt Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tố tụng hành chính; sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Triển khai công tác chuẩn bị và xây dựng Luật Tiếp công dân Tập trung thực hiện có hiệu quả, đúng nội dung, tiến độ yêu cầu của Đề án Đổi mới công tác tiếp công dân theo Quyết định 858/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước phải thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình khiếu nại, tố cáo trong phạm vi quản lý của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị để giải quyết kịp thời, dứt điểm ngay từ nơi phát sinh vụ việc Người

đứng đầu (cấp phó của người đứng đầu) cơ quan hành chính nhà nước phải tiếp

công dân theo quy định Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải tăng cường đi cơ

sở, tập trung lực lượng giải quyết những vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp ngay từ lúc mới phát sinh Trong quá trình giải quyết phải làm rõ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo để chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước, xác định trách nhiệm và xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm

- Tiếp tục quan tâm rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài; quá trình giải quyết phải tổ chức đối thoại công khai, dân chủ, giải quyết có lý, có tình, có tính khả thi cao Đối với những vụ việc đã giải quyết hết thẩm quyền theo luật định, cần nghiên cứu vận dụng hoặc đề xuất các biện pháp hỗ trợ để động viên, thuyết phục công dân chấm dứt khiếu kiện UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục thành lập các Tổ công tác, chủ động phối hợp với Thanh tra Chính phủ,

Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành Trung ương có liên quan tiến hành

rà soát và kiểm tra, đề xuất phương án giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài

- Nâng cao chất lượng quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo; cần chủ động chỉ đạo, tổ chức phối hợp giữa cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới; phát huy tối đa hiệu quả việc đối thoại, gặp gỡ, trao đổi với người khiếu nại, tố cáo

đặc biệt là đối với các vụ việc đông người, phức tạp, gay gắt

- Tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, quyết

định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật Quá trình thực hiện, nếu phát hiện có sai

sót, bất hợp lý, thì phải quyết tâm điều chỉnh, sửa sai có phương án giải quyết khác

để bảo đảm quyền lợi của công dân, chấm dứt khiếu kiện

Trang 32

- Đẩy mạnh, tăng cường thanh tra công vụ và thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước và cán bộ, công chức có trách nhiệm, tập trung vào những ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị xảy ra nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo hoặc chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo thấp, không chấp hành chỉ đạo của cấp trên

- Đề cao vai trò vận động, thuyết phục của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là của Hội Nông dân Việt Nam đối với hội viên của mình

* Củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng chuyên nghiệp, ổn định; chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời, tăng cường công tác quy hoạch, tuyển chọn cán bộ và có chính sách đãi ngộ thoả đáng, phù hợp với điều kiện đặc thù của công tác này

- Triển khai có hiệu quả công tác cải cách hành chính trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là cải cách thủ tục hành chính, chú trọng việc ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng thông tin, báo cáo đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành công tác giải quyết KNTC

- Định kỳ sơ kết, tổng kết công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo

* Bảo đảm bảo an ninh, trật tự trong giải quyết khiếu nại, tố cáo

Các Bộ, ban ngành, chính quyền địa phương các cấp tập trung nắm chắc tình hình khiếu nại, tố cáo, chủ động phát hiện những vụ việc khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự để giải quyết dứt điểm ngay tại cơ sở, không để phát sinh thành “điểm nóng” Đặc biệt đối với Bộ Công an tăng cường chỉ đạo lực lượng công an ở các địa phương, nắm chắc tình hình và phân hoá đối tượng cầm đầu, xúi giục, kích động người khiếu nại gây rối, gây bạo loạn để có biện pháp xử lý hữu hiệu

Trang 33

- Tăng cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong giải quyết khiếu nại, tố cáo: Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan thường xuyên lập các Tổ công tác về các địa phương rà soát, cùng

đối thoại, thuyết phục công dân thực hiện kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có

hiệu lực pháp luật hoặc cùng nghiên cứu tìm giải pháp khác kể cả sửa sai hoặc đề xuất thêm giải pháp hỗ trợ nhằm chấm dứt khiếu kiện

- Khi có công dân lên Trung ương khiếu kiện đông người thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải cử ngay Tổ công tác đón công dân về địa phương để xem xét, giải quyết ngay khi được Trung ương yêu cầu

* Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

- Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo để nâng cao hiểu biết pháp luật về khiếu nại, tố cáo của cán bộ, nhân dân (tập trung ở khu vực xã, phường, thị trấn), nhất là những điểm mới theo tinh thần Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Tố tụng hành chính năm 2010

- Các cơ quan báo, đài phát thanh, truyền hình phối hợp với các cơ quan hữu quan thường xuyên tuyên truyền pháp luật khiếu nại, tố cáo bằng các hình thức phong phú, thiết thực, đảm bảo khách quan, trung thực; tăng thời lượng, bài viết, chuyên đề, biểu dương kịp thời những điển hình tốt, kinh nghiệm, sáng kiến hay; phê phán những hành vi vi phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo

1.3 Tình hình tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

1.3.1 Khái quát về tình hình khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2014

Những năm qua, UBND tỉnh Bắc Kạn luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết

đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của

UBND tỉnh Triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thanh tra Chính phủ về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo bằng việc quán triệt, triển khai, ban hành văn bản chỉ đạo, kế hoạch thực hiện

để từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết đơn

Trang 34

thư khiếu nại, tố cáo Thực hiện Quyết định số 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới tiếp công dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch 208/KH-UBND ngày 22 tháng 9 năm 2010 về việc triển khai thực hiện đề án đổi mới công tác tiếp công dân và thành lập Phòng Tiếp công dân tỉnh Bắc Kạn trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh theo Quyết định 2347/QĐ-UBND ngày 03/11/2010 Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hầu hết đã ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện, đến nay đã có 07/08 huyện, thị xã thành lập

bộ phận tiếp công dân trực thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã Thực hiện Kế hoạch 1130/KH-TTCP ngày 10/5/2012 của Thanh tra Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp rà soát lại các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài trên địa bàn tỉnh để nghiên cứu hướng giải quyết dứt điểm các vụ việc

Về nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân tập trung chủ yếu liên quan đến

đất đai (chiếm trên 70%), trong đó: Tập trung nhiều nhất là khiếu nại việc bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, khiếu nại đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nhân dân qua các thời kỳ Về nội dung tố cáo chủ yếu là tố cáo cán bộ, công chức làm sai chính sách, tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai; thiếu trách nhiệm trong thi hành công vụ; áp dụng pháp luật không đúng trong hoạt động tố tụng gây thiệt hại quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân…[48]

Nhìn chung tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh diễn biến không gay gắt, không có khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương nhưng còn một số vụ việc khiếu nại về thu hồi đất, các vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiện kéo dài cần được các cấp, các ngành giải quyết dứt điểm

1.3.2 Kết quả thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

a) Về kết quả tiếp công dân

Công tác tổ chức tiếp công dân đã được các cơ quan hành chính trong tỉnh quan tâm duy trì theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Quy chế tiếp công dân của cơ quan, đơn vị mình đã ban hành Từ năm 2010-2014 đã có 4.999 lượt công

Trang 35

dân đến trụ sở các cơ quan nhà nước của tỉnh để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, phản ánh Trong đó: Trụ sở Tiếp Công dân của tỉnh tiếp 916 lượt công dân (tiếp dân thường xuyên 654 lượt người, tiếp định kỳ và đột xuất của lãnh đạo là 262 lượt người), trong năm 2010 Phòng Tiếp dân và Xử lý đơn thư của tỉnh tiếp 01 đoàn

đông người, gồm 06 hộ dân thường trú tại tổ 6, phường Đức Xuân, thị xã Bắc Kạn

đề nghị liên quan đến việc giải tỏa đền bù Quốc lộ 3 đoạn qua cổng chợ cũ, cụ thể là

cấp đất tái định cư chưa tương xứng và đề nghị được áp giá bồi thường theo thời

điểm hiện tại

Các địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh tiếp 4.083 lượt công dân (tiếp dân thường xuyên 3.694 lượt người, tiếp định kỳ và đột xuất của lãnh đạo 389 lượt người ), trong đó có 12 đoàn đông người (Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp 12

đoàn đông người với 72 người)

Việc tiếp công dân được các cơ quan ghi chép, theo dõi đầy đủ và xử lý theo

đúng quy định; Mỗi kỳ tiếp công dân đều có kết luận của người chủ trì; ban hành

thông báo kết quả và ý kiến chỉ đạo giải quyết để các đối tượng có liên quan thực hiện và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các ý kiến chỉ đạo để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của kết luận tiếp công dân Ngoài tiếp dân định kỳ, Chủ tịch UBND tỉnh đã trực tiếp đối thoại và chỉ đạo Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; lãnh đạo các Sở, ngành tăng cường công tác đối thoại, giải quyết các thắc mắc, khiếu nại của công dân (nhất là các vụ việc có đông người tham gia) Thông qua công tác tiếp công dân lãnh đạo các cơ quan hành chính trong tỉnh đã lắng nghe, xem xét, chỉ

đạo giải quyết kịp thời quyền lợi chính đáng của công dân, tạo niềm tin cho công dân,

do đó đã hạn chế việc công dân khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương [48]

b) Kết quả công tác tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo

Trong giai đoạn 2010 – 2014, tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã tiếp nhận tiếp nhận, xử lý 3.878 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, phản ánh Trong đó: Khiếu nại: tiếp nhận, xử lý 1.269 đơn (chiếm 32,7% tổng

số đơn); Tố cáo: tiếp nhận, xử lý 795 đơn (chiếm 20,5% tổng số đơn ); Kiến nghị,

đề nghị: 1.814 đơn (chiếm 46,8% tổng số đơn)

Qua phân loại, xử lý có 717 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, (trong

đó: 421 vụ việc khiếu nại và 296 vụ việc tố cáo) 3.161 lượt đơn khiếu nại, tố cáo

không thuộc thẩm quyền đã được xử lý theo đúng quy định của pháp luật khiếu nại,

tố cáo

Trang 36

- Kết quả giải quyết khiếu nại: Tổng số vụ việc khiếu nại đã giải quyết là 415/421 vụ việc thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 98,6%

- Kết quả giải quyết tố cáo: Tổng số vụ việc tố cáo đã giải quyết 293/296 vụ việc thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 99% [48]

c) Kết quả thực hiện giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn

đọng, kéo dài

Thực hiện Kế hoạch 319/KH-TTCP ngày 20/02/2009 của Thanh tra Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh phối hợp với cơ quan có liên quan rà soát, nghiên cứu, tham mưu, đề xuất hướng giải giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng theo đúng quy định của pháp luật Thực hiện nhiệm vụ Ủy ban nhân dân tỉnh giao Thanh tra tỉnh đã tiến hành rà soát, tổng hợp và báo cáo kết quả theo đúng các tiêu chí, hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ Năm 2012, Thực hiện

Kế hoạch 1130/KH-TTCP ngày 10/5/2012 của Thanh tra Chính phủ về kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài về thực hiện Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Ủy ban nhân dân tỉnh đã tích cực chỉ đạo Thanh tra tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan có liên quan tham gia rà soát lại các vụ việc phức tạp, kéo dài thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh; phối hợp tốt với Tổ công tác của Thanh tra Chính phủ trong việc rà soát, giải quyết 10 vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài thuộc thẩm quyền giải quyết của tỉnh Trong đó: 03 vụ việc qua rà soát Thanh tra Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã thống nhất và ký biên bản thống nhất phương án giải quyết; 07 vụ việc đã được Tổ công tác của Thanh tra Chính phủ rà soát và có hướng dẫn giải quyết [48]

1.3.3 Đánh giá kết quả công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo

a) Những kết quả đạt được

Công tác tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo

đã được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm chỉ đạo, quán triệt sát sao, kịp thời;

tổ chức thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; Công tác chỉ đạo, lãnh đạo và

tổ chức thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương ngày càng tập trung và quyết liệt hơn trước, đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích

Trang 37

cực để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn; có chương trình, kế hoạch, thành lập các đoàn thanh tra liên ngành, tổ công tác để kiểm tra, xác minh, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc, kéo dài; Công tác tiếp công dân đã được củng cố thêm một bước sau khi triển khai thực hiện Quyết định 858/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động dần đi vào nền nếp; Công tác kiểm tra trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại, tố cáo được tăng cường, UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo, chấn chỉnh, kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với các đơn vị chưa quan tâm đến công tác này Qua đó, Thủ trưởng các cơ quan hành chính đã tích cực, chủ động hơn trong việc thực hiện công tác tiếp công dân, phân loại, xử lý và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định; xác định rõ trách nhiệm tiếp công dân của người đứng đầu

cơ quan, tổ chức, đã coi trọng việc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại trong quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại của công dân Các vụ khiếu kiện đông người, phức tạp đã được lãnh đạo các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo kiểm tra, giải quyết Nhìn chung, các vụ việc đã được giải quyết theo đúng chế độ chính sách của pháp luật [48]

Trong xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo: Việc phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo giữa các cơ quan có thẩm quyền ở nhiều vụ việc chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất; Việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài còn chậm, chưa giải quyết được dứt điểm; Việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo chưa được quan tâm thực hiện đúng mức Công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong thực thi pháp luật về khiếu nại, tố cáo đã được quan tâm và có chuyển biến nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu [48]

Trang 38

c) Những nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo

Trong thời gian quan tỉnh Bắc Kạn đã tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở Nhiều dự án đã được triển khai như dự án Khu công nghiệp Thanh Bình, dự án nâng cấp đường Tỉnh lộ 257, 258, Quốc lộ 279, Quốc lộ 3B, các khu đô thị, các trung tâm thương mại, khu tái định cư Nhà nước đã thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để xây dựng các dự án, đây là lĩnh vực liên quan đến quyền, lợi ích của nhiều hộ dân song trong quá trình thực hiện còn có những khó khăn, vướng mắc và hạn chế dẫn đến phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo nói chung, khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp nói riêng, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thu hồi đất, giải phóng mặt bằng với các nguyên nhân chủ yếu như sau:

- Cơ chế, chính sách về bồi thường giải phóng mặt bằng thường xuyên thay đổi,

việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án còn có thiếu sót, hạn chế Một bộ phận cán bộ, công chức chưa nắm vững pháp luật, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm khi tiếp xúc, giải quyết công việc liên quan đến công dân Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhất là chính sách về đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa thực sự sâu rộng

- Một bộ phận người khiếu nại lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đi khiếu kiện mặc dù biết việc khiếu nại, tố cáo là không có cơ sở nhưng vẫn khiếu nại, tố cáo hoặc từ khiếu nại không được quay sang tố cáo người giải quyết làm mất thời gian cho cơ quan nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự,

an toàn xã hội

- Việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói riêng đối với nhân dân còn chưa được sâu, rộng; một bộ phận nhân dân còn có ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, đòi hỏi chính sách không đúng quy định của pháp luật Công tác hoà giải ở cấp cơ sở về tranh chấp

đất đai còn chưa được quan tâm đến chất lượng nên nhiều cuộc hòa giải chỉ

mang tính hình thức

- Việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại của công dân có lúc, có nơi còn chưa kịp thời; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định định cư chưa thấu đáo dẫn đến một số vụ việc giải quyết còn kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân, phát sinh khiếu kiện đông người, vượt cấp [48]

Trang 39

1.3.4 Dự báo tình hình tiếp công dân và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới

a) Dự báo tình hình

- Tình hình khiếu nại, tố cáo nói chung vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và tập trung chủ yếu trong lĩnh vực đất đai, tập trung nhiều ở những địa phương, địa bàn thu hồi nhiều đất của dân để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội

- Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 đặt ra những yêu cầu cao hơn nhưng cần phải có thời gian để đi vào cuộc sống Mặt khác, thói quen, tâm lý người khiếu nại vẫn muốn được giải quyết theo thủ tục hành chính (không muốn giải quyết tại Tòa án), do đó công tác giải quyết khiếu nại vẫn chủ yếu tập trung vào trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp

b) Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới

Nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới là tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; chủ động kịp thời xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo mới phát sinh; tiếp tục rà soát giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài Tổ chức thực hiện dứt điểm các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết

định xử lý tố cáo đã có hiệu lực thi hành Để thực hiện nhiệm vụ trên, cần tập trung

tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau đây:

1 Tăng cường hơn nữa công tác quản lý đất đai nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo

- Tăng cường công tác quản lý đất đai, tập trung vào công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công tác quản lý nhà nước về đất đai

- Thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi

đất, chú trọng thực hiện công khai, dân chủ, công bằng bảo đảm quyền và lợi ích

của người dân có đất bị thu hồi

2 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trang 40

- Tiếp tục thực hiện tốt Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình khiếu nại, tố cáo trong phạm vi quản lý của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị để giải quyết kịp thời, dứt điểm ngay từ nơi phát sinh vụ việc

- Tiếp tục quan tâm rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài Đối với những vụ việc đã giải quyết hết thẩm quyền theo luật định, cần nghiên cứu vận dụng hoặc đề xuất các biện pháp hỗ trợ để động viên, thuyết phục công dân chấm dứt khiếu kiện

- Nâng cao chất lượng quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo; phát huy tối đa hiệu quả việc đối thoại, gặp gỡ, trao đổi với người khiếu nại, tố cáo đặc biệt là đối với các vụ việc phức tạp, kéo dài

- Tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, quyết

định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật Quá trình thực hiện, nếu phát hiện có sai

sót, bất hợp lý, thì điều chỉnh, sửa sai, có phương án giải quyết khác để bảo đảm quyền lợi của công dân, chấm dứt khiếu kiện

- Đẩy mạnh thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước

3 Củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng chuyên nghiệp, ổn định

- Chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo

4 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật

- Tăng cường việc tập huấn pháp luật về khiếu nại, tố cáo cho công chức ngành thanh tra nhằm đảm bảo cán bộ, công chức nắm vững các quy định của pháp luật, áp dụng đúng trong quá trình giải quyết các vụ việc

- Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo để nâng cao hiểu biết pháp luật về khiếu nại, tố cáo cho nhân dân [48]

Ngày đăng: 19/08/2016, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/04/2005 hướng dẫn thi hành một số điều Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật Đất đai 2003 Khác
2. Bộ Chính trị, Thông báo Kết luận số 130/TB-TW về tình hình kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo và giải pháp trong thời gian tới Khác
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI (2012). Nghị quyết 19-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Khác
4. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật đất đai 2003 Khác
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 182/2004/NĐ-CP của ngày 29 tháng 10 năm 2004 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai Khác
6. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Khác
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
8. Chính phủ (2009), Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai Khác
9. Chính phủ (2007), Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 14/11/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật khiếu nại tố cáo và các luật sửa đổi bổ xung một số điều luật khiếu nại tố cáo năm 2005 Khác
10. Chính phủ (2012), Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết thi hành Luật Khiếu nại Khác
11. Chính phủ (2012), Nghị định 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết thi hành Luật Tố cáo Khác
12. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014 về quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai 2013 Khác
13. Chính phủ (2014), Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Tiếp công dân Khác
14. Chính phủ (2012), Báo cáo số 280/BC-CP ngày 17/10/2012 về công tác giải quyết KNTC năm 2012 Khác
15. Chính phủ (2012), Nghị định số 75/2012/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 03 tháng 10 năm 2012 về quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại 2011, Hà Nội Khác
16. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Khác
17. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2008 Khác
18. Lê Thị Hương Giang (2014), Một số vấn đề về hiệu quả giải quyết khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Bài viết tham luận tại Hội nghị triển khai công tác thanh tra Tài nguyên và Môi trường năm 2014 Khác
19. Lưu La (2014), Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai. Truy cập tại trang web: wwwquangnamgov.com ngày 30/10/2014 Khác
20. Lê Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Tiến Sỹ, Dương Thị Đào, Lê Văn Dũng, Phạm Văn Tỉnh, Nguyễn Phúc Bền (2012). Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất xây dựng quy trình xử lí đơn thư tranh chấp, khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ công tác giải quyết đơn thư của ngành, Đề tài cấp Bộ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn (Trang 50)
Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất thị xã Bắc Kạn năm 2014 - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất thị xã Bắc Kạn năm 2014 (Trang 58)
Bảng 3.4. Tình hình biến động các loại đất năm 2014 so với năm 2010 trên địa - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.4. Tình hình biến động các loại đất năm 2014 so với năm 2010 trên địa (Trang 59)
Bảng 3.6. Kết quả tiếp nhận đơn thư về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.6. Kết quả tiếp nhận đơn thư về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn (Trang 63)
Bảng 3.8. Thực trạng khiếu nại về đất đai trên địa bàn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.8. Thực trạng khiếu nại về đất đai trên địa bàn (Trang 65)
Hình 3.3. Tình hình khiếu nại thể hiện theo nội dung khiếu nại về đất đai trên - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Hình 3.3. Tình hình khiếu nại thể hiện theo nội dung khiếu nại về đất đai trên (Trang 66)
Hình 3.4. Tổng hợp kết quả giải quyết các dạng khiếu nại về đất đai trên  địa bàn thị xã giai đoạn 2010 -2014 - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Hình 3.4. Tổng hợp kết quả giải quyết các dạng khiếu nại về đất đai trên địa bàn thị xã giai đoạn 2010 -2014 (Trang 71)
Bảng 3.10. Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.10. Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn (Trang 72)
Bảng 3.11. Tổng hợp vụ việc khiếu nại đã giải quyết xong trên địa bàn thị xã - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.11. Tổng hợp vụ việc khiếu nại đã giải quyết xong trên địa bàn thị xã (Trang 73)
Bảng 3.13. Thực trạng tố cáo về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.13. Thực trạng tố cáo về đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn giai đoạn (Trang 76)
Bảng 3.14. Kết quả phỏng vấn nguyên nhân phát sinh đơn thư tố cáo về đất đai - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.14. Kết quả phỏng vấn nguyên nhân phát sinh đơn thư tố cáo về đất đai (Trang 78)
Bảng 3.15: Kết quả giải quyết đơn tố cáo trên địa bàn thị - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.15 Kết quả giải quyết đơn tố cáo trên địa bàn thị (Trang 79)
Bảng 3.16. Tình hình tranh chấp về đất đai trên địa bàn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.16. Tình hình tranh chấp về đất đai trên địa bàn (Trang 80)
Hình 3.6. Tình hình tranh chấp đất đai thể hiện theo nội dung tranh chấp trên - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Hình 3.6. Tình hình tranh chấp đất đai thể hiện theo nội dung tranh chấp trên (Trang 81)
Bảng 3.17. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn - Nghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã bắc kạn, tỉnh kắc kạn, giai đoạn 2010 – 2014
Bảng 3.17. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w