Sau 48 năm tồn tại và phát triển, trải quanhiều bối cảnh thăng trầm của thế giới và khu vực, ASEAN đã đạt được những thànhtựu đáng kể, trở thành một trong những hình mẫu hợp tác khu vực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU MÔN HỌC:
QUẢN TRỊ THƯƠNG MẠI
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
2 Lê Thị Lan Anh
3 Hồ Nhâm Tý
4 Hoàng Trọng
5 Hoàng Thị Thanh Thúy
Lớp: K16B Quản lý kinh tế
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 – ĐẶT VẤN ĐỀ 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
PHẦN 2 – NỘI DUNG 6
2.1 Sự hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN 6
2.1.1 Tầm quan trọng của việc hình thành AEC 6
2.1.2 Bối cảnh hình thành của AEC 6
2.1.3 Mục tiêu, đặc trưng của AEC 7
2.1.4 Nội dung thực hiện của AEC 8
2.1.5 Cam kết các thành viên xây dựng AEC 9
2.1.6 Cộng đồng kinh tế ASEAN trước những thách thức thị trường châu lục và thế giới 10
2.2 Thực trạng nền kinh tế và tiến trình tham gia AEC của Việt Nam 12
2.2.1 Vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và trên thế giới12 2.2.1.1 Tình hình nền kinh tế Việt Nam trong năm 2015 12
2.2.1.2 Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế 13
2.2.2 Điểm tương đồng và khác biệt giữa kinh tế Việt Nam và kinh tế các nước ASEAN 18
2.2.3 Tiến trình tham gia AEC của Việt Nam 22
2.3 Cơ hội và thách thức đối với kinh tế Việt Nam khi gia nhập AEC 24
2.3.1 Cơ hội đối với kinh tế Việt Nam 24
2.3.1.1 Cơ hội có được một thị trường rộng lớn hơn 24
2.3.1.2 Cơ hội mở rộng xuất khẩu 25
Trang 32.3.1.3 Cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu 27
2.3.1.4 Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển 28
2.3.1.5 Cơ hội thu hút các nguồn đầu tư 28
2.3.2 Thách thức đối với kinh tế Việt Nam 29
2.3.2.1 Chênh lệch về trình độ phát triển 29
2.3.2.2 Thách thức về thị trường lao động của Việt Nam 29
2.3.2.3 Thách thức về dịch vụ 30
2.3.2.4 Thách thức thị trường tài chính 30
2.3.2.5 Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc liệt hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam 30
2.3.2.6 Thách thức cho các doanh nghiệp xuất khẩu 32
2.4 Những giải pháp phát triển kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập AEC 2.4.1 Về phía các doanh nghiệp Việt Nam 33
2.4.2 Đối với Nhà nước 34
PHẦN 3 - KẾT LUẬN 37
Trang 4PHẦN 1 - ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành năm 1967 gồm 10 quốc gia,trong đó có Việt Nam với mục tiêu nhằm thiết lập một liên minh chính trị, kinh tế, vănhóa và xã hội của các nước trong khu vực Sau 48 năm tồn tại và phát triển, trải quanhiều bối cảnh thăng trầm của thế giới và khu vực, ASEAN đã đạt được những thànhtựu đáng kể, trở thành một trong những hình mẫu hợp tác khu vực thành công trên thếgiới, đặc biệt trên phương diện kinh tế thông qua liên kết nội khối: Khu vực mậu dịch
tự do thương mại ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang trên đà hội nhập mạnh mẽ, trong đóviệc thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khuvực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á Cộng đồng Kinh tế ASEANCộng đồng kinh tế ASEAN là một trong ba trụ cột của cộng đồng ASEAN, cùng vớicộng đồng Chính trị - An ninh, cộng đồng Văn hóa - Xã hội, được thành lập là để thựchiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong "Tầm nhìn ASEAN 2020", nhằmhình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnhtranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, và vốn đượclưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lêch kinh tế-xãhội được giảm bớt vào năm 2020 Mục đích của AEC là tăng cường năng lực cạnhtranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tếcủa ASEAN, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích về thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tưdựa trên lợi thế không gian của một thị trường mở và nâng cao tính cạnh tranh
Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập, tham gia vào AEC thì việcnghiên cứu, tìm hiểu về Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng như nhận diện những cơ hội
và những thách thức đối với kinh tế Việt Nam khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế này
là cần thiết, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy, nâng cao nền kinh tế ViệtNam trong quá trình hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực Chính vì vậy, nhóm chúng
tôi quyết định chọn đề tài: “Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 51.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu tìm hiểu tổng quát về cộng đồng kinh tế ASEAN, quá trình hìnhthành, phát triển cũng như nội dung cơ bản của AEC
- Tìm hiểu những cơ hội và thách thức nào của nền kinh tế khi Việt Nam tham
gia vào AEC
- Đưa ra một số giải pháp góp phần giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển khi
tham gia vào AEC
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng kinh tế chung ASEAN và nền kinh tế Việt Nam Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Các cam kết nội khối, văn kiện của ASEAN và của Việt Nam,Các chỉ số nền kinh tế Việt Nam
- Về thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2015
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp: Thu thập tổng hợp các văn bản, văn
kiện, các cam kết nội khối, tiến trình gia nhập AEC của Việt Nam, các chỉ số kinh tếcủa Việt Nam…
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến, nhận xét, đánh giá từ chuyên gia…
Trang 6PHẦN 2 – NỘI DUNG
2.1 Sự hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN
2.1.1 Tầm quan trọng của việc hình thành AEC
Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập nhằm mục đích tạo dựng một thịtrường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên ASEAN, thúc đẩydòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề trongASEAN Mục tiêu của AEC là thúc đẩy phát triển kinh tế một cách công bằng, thiếtlập khu vực kinh tế có năng lực cạnh tranh cao mà với năng lực cạnh tranh này,ASEAN có thể hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu
Cộng đồng kinh tế ASEAN là một trong 3 trụ cột chính của Cộng đồngASEAN, bao gồm Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồngVăn hóa - Xã hội, nằm trong Lộ trình và Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồngASEAN vào năm 2015
2.1.2 Bối cảnh hình thành của AEC
Tại Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua tháng 12/1997, các nhà lãnhđạo ASEAN đã định hướng phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN;
Tháng 10/2003, tại Hội nghị thượng định ASEAN lần thứ IX (Bali, Indonesian)được sự đồng thuận của các nguyên thủ quốc gia khu vực đã nhất trí thành lập Cộngđồng ASEAN vào năm 2020 dựa trên kế hoạch kết nối 12 lĩnh vực ưu tiên mà ASEAN
đã có lợi thế cạnh tranh bao gồm: nông nghiệp, gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử,cao su, ôtô, giày dép, du lịch, vận tải hàng không và logistics
Trong bối cảnh quốc tế, khu vực thay đổ nhanh chóng, tháng 1/2007, Hội nghịThượng đỉnh ASEAN lần thứ XII (Cebu, Philippines) đã nhất trí rút ngắn lộ trình xâydựng AEC vào năm 2015 và đưa ra Kế hoạch Tổng thể AEC tháng 1/2008 tại hội nghịThượng đỉnh ASEAN lần thứ XIII (Singapore) nhằm hiện thực hóa AEC vào năm2015
Ngày 31/12/2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN chính thức có hiệu lực
Trang 72.1.3 Mục tiêu, đặc trưng của AEC
Bốn mục tiêu, cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC, bao gồm:
- Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông
qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầutư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề;
- Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ
chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển
cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử;
- Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹpkhoảng cách phát triển các nước trong ASEAN;
- Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham
vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới
cung cấp toàn cầu
Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC có những đặc trưng như sau:
- Mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thểđược coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi AECkhông có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; những cam kết ràng buộc lộ trình thực hiện cụ thể
- AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện
thực hóa dần dần 04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là được thực hiệntương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc)
- AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một
Thỏa thuận hay Hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất Tham gia vào các mụctiêu của AEC là hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố… giữa các nướcASEAN có liên quan tới các mục tiêu này Những văn bản này có thể bao gồm nhữngcam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mụctiêu hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN
Trang 82.1.4 Nội dung thực hiện của AEC
Một thị trường đơn nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất
Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị trườngchung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuếquan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) vàquy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoànchỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triểnthị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyểnlao động có tay nghề (di chuyển thể nhân) v.v., song song với việc củng cố mạng lướisản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong cáclĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng nhưphát triển các kỹ năng thích hợp
Các biện pháp thực hiện AEC đã và đang được các nước thành viên ASEANtriển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khuvực Mậu dịch Tự do ASEAN và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN, Hiệp địnhkhung ASEAN về Dịch vụ, Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN và Hiệp địnhĐầu tư Toàn diện ASEAN, Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v …
Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế
ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữutrí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, nănglượng, phát triển thương mại điện tử v.v
Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều, ASEAN đã thông qua và
đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh tế Đồng đều, trong đó đáng chú
ý là các biện pháp hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích sự phát triển của cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa
Để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các thoả thuận liên kếtkinh tế ở khu vực Đông Á, với 6 Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do đã được ký vớicác Đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và NewZealand, và đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu
Trang 9vực hướng đến hình thành một không gian kinh tế mở toàn Đông Á vào năm 2015, vớiGDP chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu và quy mô thị trường chiếm 1/2 dân số thế giới.
2.1.5 Cam kết các thành viên xây dựng AEC
- Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN
Hiệp định ATIGA 2010 có tiền thân là Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lựcchung được thực hiện từ năm 1992 ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của
ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng
trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trongCEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan
Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phải dành chonhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đốitác trong các Thỏa thuận thương mại tự do mà ASEAN là một bên của thỏa thuận
- Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN
Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN được ký năm 1995 và Nghị định thưsửa đổi ký năm 2003 nhằm điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ giữa các nướcASEAN Trên cơ sở AFAS, các nước ASEAN đến nay đã hoàn thành 8 Gói cam kết
về dịch vụ (cam kết cho 80 phân ngành), và đang đàm phán Gói thứ 9 (cam kết cho
104 phân ngành) và sau đó sẽ đàm phán Gói cuối cùng (cam kết cho 124 phân ngành)nhằm hướng tới mục tiêu tự do hóa dịch vụ đến năm 2015.Hiện tại các nước ASEANđang đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN nhằm nâng cấp Hiệp địnhAFAS và tổng hợp các cam kết dịch vụ trong các FTA ASEAN với các đối tác bênngoài ASEAN
- Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN
Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN được ký kết tháng 2/2009 và có hiệu lực
từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN 1987 vàHiệp định Khu vực đầu tư ASEAN 1998 Hiệp định bao gồm 4 nội dung chính: Tự dohóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư
Trang 102.1.6 Cộng đồng kinh tế ASEAN trước những thách thức thị trường châu lục và thế giới
Mặc dù đạt được một số thành tựu đáng kể và Cộng đồng ASEAN đã chínhthức được thành lập, song ASEAN vẫn còn chặng đường dài tới đích hình thành mộtthị trường và khu vực sản xuất thống nhất Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,ASSEAN đang phải đối diện với một số khó khăn, thách thức sau:
Thứ nhất, ASEAN cần phải kiên quyết khắc phục xóa bỏ dần chênh lệch
khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên Chênh lệch phát triển trong ASEANchủ yếu tập trung ở 4 lĩnh vực chủ yếu gồm cơ sở hạ tầng; thu nhập; liên kết và thểchế Chênh lệch về trình độ phát triển làm cho ASEAN khó khăn hơn trong các nỗ lựctập thể, tính khả thi của các chính sách chung duy nhất bị hạn chế Bởi vậy, việc giảmchênh lệch và thu hẹp khoảng cách phát triển tạo điều kiện thuận lợi để liên kết khuvực
Không chỉ chênh lệch về trình độ phát triển, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranhcủa các nước ASEAN cũng có sự khác biệt rất lớn Theo Báo cáo của Diễn đàn Kinh
tế thế giới năm 2014 - 2015, năng lực cạnh tranh toàn cầu của Singapore dẫn đầu khuvực với vị trí thứ 2/144, trong khi Việt Nam xếp vị trí 68; Malaysia (20); Thái Lan(31); Indonesia (34) và Philippines (52)
Thứ hai, Trung Quốc đang thực hiện chiến lược “hướng về phương Nam”.
Chiến lược này của Trung Quốc thúc đẩy xu hướng ly tâm trong khu vực Trong khi,
cơ cấu sản xuất của ASEAN, từ các nền kinh tế phát triển (Singapore, Thái Lan) tớicác nền kinh tế kém phát triển hơn (Việt Nam, Philippines) nhìn chung, đều tương tựnhư cơ cấu sản xuất của Trung Quốc, vì vậy sẽ dễ dẫn đến ly tâm và cạnh tranh trongnội bộ khối
Không những có cơ cấu sản xuất tương tự như cơ cấu sản xuất của Trung Quốc,ASEAN lại không có tiềm năng đủ mạnh để có thể trở thành trung tâm của sự pháttriển tri thức và công nghệ Nếu như ASEAN không đặt mục tiêu trở thành trung tâmsáng tạo và phát triển khoa học công nghệ, tri thức thì ASEAN sẽ vẫn tiếp tục đi sau
Trang 11Thứ ba, ASEAN không có một nền kinh tế đầu tầu và một đồng tiền mạnh để
dẫn dắt khu vực Không có một quốc gia nào trong ASEAN có đủ khả năng và điềukiện để dẫn dắt quá trình phát triển và liên kết Trong khi đó, viễn cảnh một "cộngđồng kinh tế Đông Á" lại tỏ ra hấp dẫn hơn AEC do khu vực này có hai nền kinh tếlớn là Nhật Bản và Trung Quốc
Bên cạnh đó, ASEAN lại thiếu một tổ chức để thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựngAEC Bởi Ban Thư ký được xem là đầu máy dẫn dắt quá trình liên kết kinh tế ASEANnhưng đầu máy này không đủ nguồn lực và trí tuệ cần có Điều đáng lo ngại hơn cả làcác nguồn lực của Ban Thư ký ASEAN đã không hề thay đổi trong 15 năm (2000 –2015) cho dù GDP của khu vực đã tăng gấp 4 lần trong cùng kỳ
Thứ tư, ASEAN là một thị trường 'cộng' chứ không hoàn toàn 'hoà nhập' của tất
cả thị trường các nước thành viên Chính sách kinh tế của ASEAN không công khai,phát triển ở nhiều cấp độ, lại chủ yếu hướng ra bên ngoài chứ không phải vào thịtrường nội khối Vì vậy, khó có thể thành lập một liên minh kinh tế thống nhất và bềnchặt trong khối Thực tế, AEC mới chỉ vượt qua được mức Liên minh thuế quan và cómột số yếu tố của thị trường chung; ASEAN cũng chưa có chính sách kinh tế chung vàchưa có các cơ quan liên quốc gia như Liên minh Châu Âu Vì vậy, khái niệm “cộngđồng kinh tế” có thể tạo ra sự nhầm lẫn hay ảo tưởng như một liên minh kinh tế nhưngthực tế không phải Hơn nữa, trình độ phát triển khác nhau giữa nhóm nước phát triểnhơn (Bruney, Singapore, Malaysia, Thái Lan ) với nhóm nước kém phát triển hơn sẽ
là rào cản lớn trong quá trình hội nhập và hạn chế cơ hội thu nhận lợi ích từ hội nhập,dẫn đến mất ổn định nội khối Đây là thách thức không nhỏ đối với việc thành lậpAEC đòi hỏi các nước cần nỗ lực để xây dựng liên minh kinh tế khu vực
Thứ năm, ASEAN hiện đang phải đối diện với sự can thiệp mạnh của 2 cường
quốc lớn thế giới Sự trỗi dậy của Trung Quốc với chiến lược mở rộng sự tham giavào kinh tế và chính trị khu vực và của Mỹ với chiến lược thúc đẩy chính sách tái cânbằng ở châu Á – Thái Bình Dương làm cho ASEAN khó có thể duy trì thái độ “trunglập” khi đối phó với cả 2 quốc gia Thêm vào đó, một số thành viên quốc gia ASEAN(Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia ) đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển
Trang 12Đông Điều này có thể gián tiếp gây ra sự bất đồng trong nội bộ khối, dễ dẫn đến phânhóa trong nội bộ khối, làm cản trở tiến trình liên kết kinh tế ASEAN.
2.2 Thực trạng nền kinh tế và tiến trình tham gia AEC của Việt Nam
2.2.1 Vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và thế giới
2.2.1.1 Tình hình nền kinh tế Việt Nam trong năm 2015
Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm 2011 - 2015
Nguồn: Tổng cục thống kê
Số liệu thống kê được Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, tổng sản phẩmquốc nội năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, cao hơn mục tiêu đề ra6,2% Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%, công nghiệp vàxây dựng tăng 9,64%, dịch vụ tăng 6,33% so với năm 2014
Quy mô nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành đạt 4.192,9 nghìn tỷ đồng, thunhập bình quân đầu người đạt 45,7 triệu đồng (tương đương 2.109 USD), tăng 57 USD
so với năm 2014 Các ngành sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp, thủy sản, du lịch,vận tải, bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng… đều có mức tăng trưởng so với năm
2014 Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2015 tăng chỉ 0,63% so với bình quân năm
2014, trong đó, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2015 tăng 0,6% so với cùng kì năm 2014
Trang 13Nhìn lại kinh tế Việt Nam năm 2015, với mức tăng trưởng này, các chuyên gianhìn nhận, nền kinh tế của Việt Nam đã có nhưng sự phục hồi rõ nét Theo báo cáo cậpnhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới cũng khẳng định,kinh tế Việt Nam đã ứng phó tương đối tốt trước những biến động của môi trường kinh
tế bên ngoài và triển vọng trung hạn được đánh giá là tích cực Thành quả này là minhchứng cho thấy, sự điều hành nền kinh tế vĩ mô của Chính phủ đang đi đúng hướng
Còn theo số liệu mà Bloomberg đưa ra, Việt Nam trong năm 2015 đạt tốc độtăng trưởng GDP 6,27% - cao thứ 6 trong số các nền kinh tế mới nổi trên thế giới, bêncạnh Ấn Độ (7,3%), Tanzania (7,2%), Trung Quốc (6,95%), Uganda (6,85%), vàDominica (6,35%) Chỉ số lạm phát năm vừa qua cũng chỉ ở mức 0,6% - mức thấpnhất kể từ năm 2001 cho tới nay
2.2.1.2 Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là
xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiếnhành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đadạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả cácnước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việt Namluôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và pháttriển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế,chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao vớihơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tớitrên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thươngmại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp địnhchống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với cácnước và các tổ chức quốc tế
Trang 14Bảng 1 : Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Việt
Nam theo châu lục, thị trường/khối thị trường năm 2015
Thị trường
Xuất khẩu Nhập khẩu Xuất nhập khẩu
Trị giá (Tỷ USD)
So với 2014 (%)
Trị giá
(Tỷ USD)
So với 2014
(%)
Trị giá (Tỷ USD)
So với 2014 (%)
Châu Đại Dương 3,33 -22,9 2,45 -4,9 5,79 -16,2
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các
tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới,Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh
và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khuvực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương
Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước điquan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thếgiới vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này
2.2.1.2.1 Việt Nam tích cực tham gia và phát huy vai trò thành viên trong các
tổ chức kinh tế quốc tế
Với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế: WTO, ASEAN,APEC, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực thamgia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức này Cụ thể như sau:
Trong khuôn khổ WTO
- Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh
Trang 15bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương về phápluật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ.
- Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thịtrường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tận dụng tốtcác cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tếtoàn cầu
- Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàm phántrong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam có liên quan đếnViệt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, trợ cấp thủy sản và chươngtrình hỗ trợ thương mại của WTO…
Trong khuôn khổ ASEAN
- Sau hơn 20 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN,1995-2016), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng pháttriển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của ViệtNam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thếgiới
- Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộng đồngASEAN vào năm 2015 đã đóng góp thiết thực cho việc cải thiện môi trường luật pháptrong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài, cũng như làm cơ sở, làm tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tácsong phương và đa phương khác
- Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chủ tịch luân phiên của ASEAN vàonăm 2010, trong năm 2011, Việt Nam đã tích cực tham gia các chương trình hợp tácnhằm thực hiện Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Cho tới nay, Việt Nam là mộttrong số các nước có tỷ lệ thực hiện cao các biện pháp và sáng kiến đề ra trong Kếhoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trong khuôn khổ APEC
- Đối với Việt Nam, Diễn đàn APEC có ý nghĩa hết sức quan trọng APEC là
Trang 16ngoài, 60% giá trị xuất khẩu, 80% giá trị nhập khẩu, và 75% tổng số khách du lịchquốc tế tới Việt Nam Hầu hết các đối tác chiến lược quan trọng và các đối tác kinh tế -thương mại hàng đầu của ta là các nền kinh tế thành viên của APEC.
- Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn APEC năm 1998, ViệtNam đã thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác của APEC như Báo cáo về Chươngtrình Hành động Quốc gia hàng năm, thực hiện Chương trình Hành động tập thể, các
kế hoạch hợp tác về thuận lợi hoá thương mại, đầu tư Ta cũng đảm nhận vị trí Chủtịch và điều hành nhiều Nhóm công tác quan trọng như Nhóm Công tác Y tế nhiệm kỳ
2009 - 2010, Nhóm công tác về Đối phó với tình trạng khẩn cấp, Nhóm công tác vềthương mại điện tử… Việt Nam đã triển khai thành công hơn 60 sáng kiến, đồng bảotrợ hàng trăm sáng kiến trên hầu hết các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế
kỹ thuật, y tế, đối phó với thiên tai, chống khủng bố Việt Nam đã được đánh giá làmột trong những thành viên năng động, đã có nhiều sự đóng góp tích cực cho Diễnđàn APEC
Trong khuôn khổ ASEM
- Là diễn đàn đại diện hơn 60% dân số thế giới và đóng góp hơn 50% tổng sảnphẩm quốc nội toàn cầu, ASEM không chỉ là cầu nối cho quan hệ đối tác mới giữa haichâu lục Á-Âu mà còn hướng tới mục tiêu đem lại những đóng góp thiết thực cho hòabình, hợp tác và phát triển trên thế giới
- Trong hai năm qua (2010-2011), Việt Nam đã tích cực đề xuất và triển khainhiều sáng kiến, hoạt động của ASEM, nổi bật là việc tổ chức thành công nhiều hộithảo quan trọng như "Hội thảo về tăng cường hình ảnh ASEM thông qua các hoạtđộng văn hóa", "Hội thảo ASEM về vượt qua khủng hoảng- định hình sự phát triểnbền vững", "Diễn đàn ASEM về an ninh lương thực", "Diễn đàn ASEM về biến đổikhí hậu", "Diễn đàn ASEM về lưới an toàn xã hội", Diễn đàn Á – Âu về tăng trưởngxanh với chủ đề: “Cùng hành động hướng tới các nền kinh tế xanh tăng”…
2.2.1.2.2 Việt Nam tích cực tham gia vào đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do
Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăng nhanhchóng của các Hiệp định thương mại tự do để thiết lập các Khu vực thương mại tự do.Phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, tiến trình đàm
Trang 17phán và ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiếntrình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực Đến nay, Việt Nam đã tham gia thiết lậpFTA với 15 nước trong khung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm:
- Khu vực thương mại tự do ASEAN được thiết lập bởi Hiệp định ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung từ năm 1996; mở rộng sang lĩnh vực đầu tư bởi Hiệp định khuvực đầu tư ASEAN từ năm 1998 sau đó được thay thế bằng Hiệp định đầu tư toàn diệnASEAN
- Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc được thiết lập bởi Hiệpđịnh khung về hợp tác kinh tế quốc tế ASEAN – Trung Quốc năm 2002 và Hiệp địnhthương mại hàng hoá ASEAN – Trung Quốc năm 2004, thực hiện từ 1/7/2005; riêngViệt Nam còn được điều chỉnh bởi Biên bản ghi nhớ Việt Nam – Trung Quốc (tháng7/2005)
- Khu vực thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc được thiết lập bởi Hiệp địnhhàng hoá ASEAN-Hàn Quốc ký tháng 8 năm 2006, thực hiện từ 1/6/2007 Khu vựcthương mại tự do ASEAN – Nhật Bản được thiết lập bởi Hiệp định đối tác Kinh tếtoàn diện ASEAN – Nhật Bản ký kết năm 2003, thực hiện từ năm 1998, riêng ViệtNam còn được điều chỉnh bởi Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản năm2008; thực hiện từ 1/1/2009
- Khu vực thương mại tự do ASEAN – Australia và New Zealand được thiết lậpbởi Hiệp định thương mại tự do và quan hệ kinh tế thân thiện toàn diện ASEAN –Australia và New Zealand, ký kết từ tháng 2/2009, thực hiện từ 1/1/2010
- Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn độ bước đầu hình thành và thiết lậpbởi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn độ ký năm 2003 vàHiệp định thương mại hàng hoá ASEAN - Ấn độ ký kết năm 2009, thực hiện từ 01/06năm 2010
- Việt Nam đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái BìnhDương Đây là một Hiệp định được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mạitoàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21 Việc tham
Trang 18thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiếnlược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực châu Á-Thái BìnhDương nói riêng.
2.2.2 Điểm tương đồng và khác biệt giữa kinh tế Việt Nam và kinh tế các nước ASEAN
Điểm tương đồng
- Do vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn ĐộDương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa TrungQuốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải Đông Nam Á thuộc các nướcđang phát triển Có sự đa dạng tôn giáo của các nước ASEAN (bao gồm Hồi giáo, Phậtgiáo, Kyto giáo)
- Cơ cấu GDP của một số nước Đông Nam Á đang có sự chuyển dịch, chuyểnđổi từ nền kinh tế thuần nông lạc hậu sang nền kinh tế có công nghiệp và dịch vụ pháttriển Sở dĩ có sự chuyển dịch như vậy vì đang trong quá trình công nghiệp hoá vàtrong quá trình sản xuất nên năng suất sản xuất tăng lên, đời sống nhân dân được cảithiện nên dịch vụ cũng gia tăng
- Đông Nam Á phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai khoáng: Khai thácthan Indonesia, Việt Nam; khai thác thiếc Malaysia, Thái Lan, Indonesia; khai thácđồng Philippines; khai thác đá quý Thái Lan
- Về dịch vụ đang có sự phát triển dựa trên nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, tàinguyên thiên nhiên, văn hoá đa dạng, Cơ sở hạ tầng đang từng bước được hiện đạihoá, hệ thống ngân hàng, tín dụng được chú trọng phát triển, tuy nhiên mức độ pháttriển không đều
- Về nông nghiệp có những điều kiện thuận lợi để phát triển cây lúa nước nhưkhí hậu ẩm, đất phù sa màu mở, lượng mưa dồi dào, dân cư đông, nguồn lao động dồidào rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước Việt Nam và Thái Lan là hai nước đứng đầuthế giới về xuất khẩu lúa gạo
- Các nước trồng cây công nghiệp nhiều như cao su ở Thái Lan, Indonesia,Malaysia, Việt Nam Cà phê và hồ tiêu ở Việt Nam sau đó là Indonesia, Malaysia và
Trang 19Thái Lan Ngoài ra, Đông Nam Á còn là nơi cung cấp cho thế giới các sản phẩm từnhiều loại cây lấy dầu, lấy sợi, Đất phù sa, đất đỏ màu mỡ, nguồn nước dồi dào, khíhậu nóng ẩm, dân cư đông và nguồn lao động đông
- Về chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ, hải sản có điều kiện để phát triển.Đồng cỏ, sản xuất lương thực phát triển, diện tích mặt nước lớn, lao động dồi dào.Chăn nuôi cơ cấu đa dạng, số lượng lớn nhưng chưa trở thành ngành chính Thuỷ sản
có nhiều lợi thế về sông, biển nên nuôi trồng thuỷ, hải sản là ngành truyền thống vàtăng liên tục Những nước phát triển mạnh là: Indonesia, Philippines, Malaysia, ViệtNam
Điểm khác biệt
- Về thể chế Chính trị
Sự lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa là mộttrong những yếu tố quyết định tính chất và đặc điểm của hình thức chính thể và tổchức bộ máy Nhà nước các nước ASEAN Việt Nam và Lào, từ một nước thuộc địanửa phong kiến, sau khi giành được độc lập đã đi theo con đường phát triển xã hội chủnghĩa Trong số 8 nước đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, có 4 nước theohình thức chính thể quân chủ lập hiến (Brunei, Campuchia, Malaysia, Thái Lan);Singapore có hình thức chính thể cộng hòa đại nghị theo mô hình của nước Anh.Riêng Myanma, theo Hiến pháp năm 1947 là chính thể cộng hòa dân chủ đại nghị,nhưng từ sau các cuộc đảo chính quân sự (năm 1962-1974 và năm 1988), thể chếchính trị của Myanma đến nay vẫn đang là chế độ quân sự Do đặc điểm lịch sử vàđiều kiện kinh tế – xã hội không có sự tương đồng như các nước phương Tây, nênkhông tạo ra nền tảng cho việc thực thi các thể chế dân chủ tư sản, mà chỉ là “bứctranh biếm họa” của mô hình dân chủ tư sản phương Tây - đó là chế độ cộng hòa tổngthống của Philippines, Indonesia
- Về chênh lệch phát triển
ASEAN vẫn chứa đựng những bất ổn mà một trong số đó là thực trạng vềkhoảng cách phát triển giữa các vùng miền, nhất là giữa nhóm nước phát triển hơn,