Và thực sự đó là những hiểu biết quan trọng khi không quân ngày càng trở nên một lực lợng có vai trò chủ yếu trong các cuộc chiến tranh.. VAI Trò của KHÔNG QUÂN trong một số cuộc chiến t
Trang 1Lời mở đầu
Với chính sách thực hiện quốc phòng toàn dân, chơng trình giảng dạy bộ môn giáo dục quốc phòng trong các trờng đại học đã mang lại những ý nghĩa nhất định Với thời lợng học tập hạn hẹp, tuy cha thể cho sinh viên nhận thức thật đầy đủ ý thức,tác phong nề nếp của một chiến
sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, nhng cũng phần nào giúp cho sinh viên hiểu đợc truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân Việt Nam, tự hào
về những chiến công lẫy lừng của cha anh đi trớc, và hiểu đợc trách nhiệm và nghĩa vụ của một ngời công dân đối với Tổ quốc, đặc biệt là trong tình hình thế giới có nhiều biến động, tiềm tàng nhiều nguy cơ đe doạ an ninh đất nớc
Với hai tuần học quân sự ngắn ngủi, chúng em đã có những hiểu biết cơ bản về lực lợng phòng không và không quân của quân đội nhân dân Việt Nam Và thực sự đó là những hiểu biết quan trọng khi không quân ngày càng trở nên một lực lợng có vai trò chủ yếu trong các cuộc chiến tranh
Những hiểu biết cơ bản đó đã giúp em thực hiện bài tiểu luận :”
Phân tích vai trò của không quân trong chiến tranh và xu hớng phát triển của không quân trong chiến tranh tơng lai.”.
Do kiến thức còn hạn chế, nên bài tiểu luận của em không thể tránh khỏi nhiều sai sót Em rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy giáo
Trang 2Môc lôc
LÞch sö ph¸t triÓn cña ngµnh hµng kh«ng vµ kh«ng qu©n trªn thÕ
giíi 3
Vai trß cña Kh«ng qu©n trong mét sè cuéc chiÕn tranh 6
KH¤NG QU¢N NH¢N D¢N VIÖT NAM 10
1 Sù h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn 10
2 TruyÒn thèng kh«ng qu©n nh©n d©n 10
XU Híng PH¸T triÓn CñA KH¤NG QU¢N 13
1.Xu thÕ chung 13
2 ChiÕn lîc ph¸t triÓn cña kh«ng qu©n Mü 13
3 ChiÕn lîc ph¸t triÓn cña kh«ng qu©n Nga 16
KÕt luËn 19
Trang 3Lịch sử phát triển của ngành hàng không
và không quân trên thế giới
Máy bay là loại phơng tiện bay nặng hơn không khí Có động lực (động cơ) và có khả năng bay trong khí quyển nhờ các lực nâng khí
động học
Có loại máy bay cánh nâng cố định, có loại máy bay cánh nâng quay hay máy bay trên đệm khí hở, máy bay xuồng
ở Việt Nam máy bay cánh nâng cố định xuất hiện và phổ biến sớm hơn, nên trong tiếng Việt thuật ngữ máy bay thờng dùng để chỉ loại máy bay cánh nâng cố định
Sự phát triển của máy bay là đỉnh cao của trí tuệ con ngời Chế tạo máy bay và vận chuyển hàng không đang nằm trong những ngành khoa học về công nghệ chính
Từ thời xa xa, con ngời đã có ớc mơ bay lên khoảng không Bằng
cứ chắc chắn đầu tiên về thiết kế máy bay xuất phát lừ những ghi chép của nhà danh hoạ kiêm toán học hình hoạ Leonardo de vinci Thời gian
1486 á 1490, ông đã mô tả sinh động về các phơng tiện bay bằng sức ngời, với bản hơn 35.000 từ và 500 bản vẽ kèm theo Hầu hết, đó là các
bộ cánh đập mô phỏng động tác bay của chim - điều mà cho tới nay vẫn
cha thực hiện đợc
Năm 1783, khí cầu bơm bằng khí nóng đầu tiên ra đời Mặc dù
không phải là máy bay song nó cũng cho phép con ngời lần đầu tiên bay lên không trung Đột phá căn bản trong thiết kế máy bay diều ra đời vào năm 1799, với mẫu của Cayley Từ đó, lực nâng và lực đẩy đợc tách biệt hoàn toàn Lực đẩy do một cơ cấu động lực riêng Năm 1804 xuất hiện máy bay cánh cố định Thực chất đó là một tàu lợn không ngời lái phóng bằng tay đợc làm bằng gỗ và giấy Tàu lợn này dài một mét, có một cánh nâng cố định, thân và đuôi, với các cánh đuôi thẳng đứng và nằm ngang nh những máy bay ngày nay
Song phải mãi đến năm 1891 mới ra đời tàu lợn có ngời lái đầu tiên trong lịch sử Do Gohlitwtal ngời Đức thiết kế và bay thử đã thành công Rồi sau một loạt thử nghiệm với hầm gió, năm 1902 hai anh em
Wright ngời Mỹ đã chế tạo và cho bay thử thành công một tàu lợn Tới
ngày 17 tháng 12 năm 1903, họ đã thực hiện đợc chuyến bay đầu tiên bằng phơng tiện bay nặng hơn không khí có động lực và có ngời điều khiển Đặc biệt họ đã sáng tạo ra hệ thống điều khiển với các dây cáp, cần lái bàn đạp thay cho cách điều khiển bằng thay đổi t thế và trọng tâm ngời lái nh với làu lợn trớc đây
Những máy bay đầu tiên của anh em Wright thuộc loại máy bay cánh kép cho phép tạo lực nâng lớn ở vận tốc thấp Nhng, do phải dùng một mạng cọc chống và dây chằng để cố định hai cánh, mặt khác do dùng cánh lớn, nên các loại máy bay này chịu lực cản khá lớn và vì vậy
nó bay rất chậm Nhng so với khí cầu máy thì loại máy bay này tỏ ra u việt hơn, vì khí cầu máy quá cồng kềnh, chậm chạp Nhất là dùng khí cầu máy trong trinh sát, liên lạc, ném bom thì lại quá bất lợi Đến năm
1910, máy bay quân sự đã đợc sản xuất và đa lên hạm tàu, khởi đầu cho
sự xuất hiện của một họ tàu chiến nổi hoàn toàn mới - tàu sân bay.
Trang 4Đến cuối chiến tranh thế giới I , máy bay đã đợc thiết kế hợp lý một cách đáng kể, bằng cách giảm lực cản khí động và tăng công suất
động cơ để có độ cao và vận tốc lớn hơn Cuộc chạy đua chế tạo các máy bay có vận tốc lớn bắt đầu từ năm 1927, ví dụ nh chuyến bay xuyên Đại tây dơng một mình của Lindberg
Từ năm 1913 đến 1931, vận tốc cực đại của máy bay đã tăng gấp hơn 5 lần, từ 74 km/h với máy bay cánh đơn (máy bay Deperdussin của Pháp) lên tới 386 Km/h (máy bay Supermarine 5.6.B) Cũng từ thời kỳ này máy bay cánh cố định đã có dáng dấp nh ngày nay Thlân đợc bọc kín, kết cấu chắc chắn, hình thuôn, ít chịu lực cản, cấu tạo cánh đơn dài Thời kì này, máy bay ngoài nhiệm vụ chở quân đội, vũ khí, khí tài còn chở bom và đợc trang bị thêm súng máy Đồng thời hàng loạt kiểu máy bay chiến đấu chuyên dụng ra đời Có loại máy bay ném bom đờng dài, máy bay ném bom bổ nhào, máy bay cờng kích - chi viện trực tiếp cho lực lợng mặt đất, và máy bay tiêm kích- chuyên để chống máy bay
Những trận không chiến đầu tiên đã diễn ra trên bầu trời Tây Ban Nha thời nội chiến 1936 á 1939 Đến chiến tranh thế giới II đã xuất
hiện các tập đoàn không quân tập trung cho các trận đánh lớn Tiếp đó
là giai đoạn máy bay phản lực, bắt đầu từ 8 - 1 939, mở đầu là cuộc bay thử của máy bay phản lực He - 178 do Đức chế tạo Do tác dụng của
động cơ phản lực cộng với những cải tiến hợp lý khác (nh cánh cụp) khiến máy bay ngày càng bay nhanh và có tốc độ tiếp cận vận tốc truyền âm.( Tới tháng 10 - 1947 máy bay thử nghiệm Bell X-l có ngời lái bay nhanh hơn tiếng động Từ những năm 1950, các máy bay chiến
đấu phản lực quân sự đã bay nhanh gấp 2á3 lần tốc độ truyền âm (2 á
3 M) Cuộc chiến tranh Triều Tiên là nơi Mỹ đã sử dụng máy bay chiến
đấu phản lực đầu tiên Máy bay phản lực siêu âm ngày càng đợc nhiều nớc trên thế giới sử dụng với quy mô lớn Trong đó có loại vận tốc cao nhất (trên 3 M) là máy bay trinh sát chiến lợc SR - 71 của Mỹ .Trong chiến tranh ở Việt Nam lần đầu tiên máy bay tác chiến điện tử chuyên dụng kiểu EB - 66 đã đợc Mỹ sử dụng
Thời gian từ sau đại chiến thứ II đến nay đợc gọi là kỷ nguyên vàng của ngành hàng không với sự phát triển tới đỉnh cao của nó Tuy các chuyến bay vũ trụ đã thay thế vị trí chiếm lĩnh không gian độc tôn của nó, song thực tiễn lịch sử đã khẳng định vai trò của máy bay trong
đời sống hàng ngày cũng nh trong quân sự Thời gian gần đây các nhà thiết kế máy bay đã thử nghiệm các dáng vật liệu và hệ thống động lực mới, tạo ra những máy bay cánh quay (máy bay tạo lực nâng bằng cánh quay - máy bay trực thăng) và những phơng tiện có thể bay nh máy bay
đồng thời cho phép cất hạ cánh thẳng đứng, hoặc cho phép chuyển hớng luồng phụt của động cơ (nh máy bay Harrier của Anh)
Trong một tơng lai không xa sẽ xuất hiện những máy bay siêu âm cao, loại máy bay này có khả năng bay với vận tốc gấp 25 lần tốc độ truyền âm (25M) Dựa trên nguyên lý đó rất có thể xuất hiện loại máy bay vũ trụ (Space plane), loại máy bay có thể hoạt động cả trong khí quyển lẫn trên khoảng không vũ trụ
Trang 5VAI Trò của KHÔNG QUÂN trong một số cuộc
chiến tranh
Không quân là một thành phần trong biên chế tổ chức quân đội (của bất kỳ quốc gia nào), là lực lợng giữ vai trò quan trọng, đợc tổ chức tác chiến ở trên không, có hoả lực mạnh, tầm hoạt động xa và là lực l-ợng cơ động nhất của quân đội
Ngay từ chiến tranh thế giới thứ nhất, máy bay đã đợc sử dụng trong chiến đấu, nhng số lợng còn cha nhiều và hiệu quả còn hạn chế Chiến tranh thế giới lần thứ hai chứng kiến sự thăng hoa của công nghệ hàng không Máy bay chiến đấu đã đợc sử dụng rộng rãi ở tất cả các
n-ớc tham chiến Không quân các nn-ớc đã có vai trò nhất định trong một số trận đánh Sau chiến tranh thế giới thứ hai, công nghệ hàng không phát triển vợt bậc, nhiều thế hệ máy bay chiến đấu hiện đại, hiệu quả chiến
đấu cao ra đời Các cuộc chiến tranh sau này đã khẳng định u thế, vai trò quan trọng, không thể thiếu đợc của không quân trong các cuộc chiến tranh Ta có thể điểm qua một số cuộc chiến để thấy rõ sức mạnh của không quân
* Trong chiến tranh thế giới lần thứ II.
Trong cuộc tấn công vào Liên Xô của Đức, nhờ sức mạnh áp đảo của không quân với 4000 máy bay, không quân Đức đã giành đợc u thế chiến lợc trên không, tạo thuận lợi cho quân Đức thọc sâu vào lãnh thổ Liên Xô, cách Matxcơva chỉ vài km, thậm chí Hitle đã nghĩ đến chuyện duyệt binh trên quảng trờng Đỏ ở Matxcơva Tuy nhiên, không quân chỉ
có vai trò quan trọng chứ không phải quyết định Đức đã không thực hiện đợc ý đồ của mình vì Hồng quân Liên Xô đã kịp thời tổ chức lại lực lợng, chiến đấu hết sức kiên cờng, dũng cảm vì đất nớc Liên Xô lúc này đang trong tình thế rất nguy nan, ngàn cân treo sợi tóc Nhờ đó, Hồng quân Liên Xô đã đẩy lùi đợc quân Đức
Sau đó, Hồng quân Liên Xô đã phát triển mạnh không quân, với
số lợng máy bay nhiều hơn gấp bội, dần dần giành u thế chiến lợc trên không, và giữ đợc u thế đó đến hết chiến tranh Kết quả đó cũng góp phần tạo nên chiến thắng của Hồng quân Liên Xô, buộc Đức phải đầu hàng không điều kiện trong chiến dịch Berlin ngày 16 - 4 á 8 -5-1945, kết thúc Đại chiến thế giới thứ II Trong chiến dịch này, hồng quân Liên Xô huy động 7500 máy bay, trong khi Đức chỉ có 3310 máy bay
* Trong chiếntranh vùng vịnh năm 1991 (Chiến dịch Bão táp sa
mạc)
Trong chiến dịch này Mỹ và đồng minh đã đặt hy vọng chủ yếu vào các đòn tiến công bằng không quân Mỹ và liên quân đã tập trung một lực lợng lớn, bao gồm 2600 máy bay chiến đấu và trực thăng hiện
đại, trong đó có 1800 máy bay của Mỹ Chiến dịch kéo dài 6 tuần (từ tháng 1 - 1 991 đến 2 - 1991 ) thì 5 tuần đầu Mỹ và liên quân dùng không quân để không kích Irắc
Không quân đã phá huỷ làm tê liệt hệ thống chỉ huy quân đội của Irắc, chế áp và tiêu diệt hệ thống phòng không, chế áp và phá huỷ các
Trang 6sân bay, phá sập các cầu cống, đờng giao thông các trạm ra đa, các trận
địa pháo và gây khó khăn cho lực lợng Irắc vận động trên chiến trờng
Không quân Mỹ và liên quân đã làm chủ hoàn toàn không phận Irắc, khiến máy bay Irắc không thể cất cánh đợc Không quân Mỹ và liên quân dùng các máy bay hiện đại nh máy bay ném bom chiến lợc
B-52, máy bay tàng hình đa năng F - 117A, máy bay tiêm kích bom Tornado, tiêu diệt máy bay Irắc trong 23 hầm ngầm, buộc Irắc phải sơ tán máy bay sang Iran
Trong chiến tranh vùng Vịnh, sau 38 ngày không kích, Mỹ và liên quân đã đa 70.000 lục quân (4.100 xe tăng, thiết giáp) và 7.500 hải quân đánh bộ vào tham chiến Không quân đã chi viện cho lực lợng lục quân và hải quân đánh bộ mở các cuộc tấn công trên bộ Chiến tranh trên bộ đã giành đợc thắng lợi trong 4 ngày là nhờ trớc đó không quân
đã tiến hành oanh kích 5 tuần liền
Các cuộc tấn công của không quân đã làm cho Irắc không thể thực hiện phòng ngự hiệu quả Các đợt oanh kích dồn dập vào các đơn
vị, mục tiêu của Irắc đã tạo một đòn tâm lý choáng váng, trong khi tổn thất của không quân Mỹ là không đáng kể
Chiến tranh vùng vịnh đã khẳng định khả năng của không quân trong việc tiêu diệt sinh lực và các phơng tiện chiến tranh, nhng cha chứng tỏ đợc khả năng làm thay đổi đợc các chính phủ
* Trong cuộc chiến tranh Ban căng (Nam T) (Chién dịch "Sức
mạnh đồng minh ") của Mỹ và NATO không kích Nam T 1999.
Chiến dịch kéo dài 78 ngày đêm, bắt đầu từ 24-3-1999 Đây là
b-ớc phát triển mới so với cuộc chiến tranh ở Irắc 1991 ở chiến dịch này
Mỹ và NATO đã sử dụng một số lợng lớn cha từng có về vũ khí và
ph-ơng tiện kỹ thuật quân sự, trong đó nổi bật là vai trò của không quân Trong chiến tranh Nam T, Mỹ - NATO đã tận dụng trinh sái từ vệ tinh (50 vệ tinh), các máy bay trinh sát U - 2, RC - 135, E - SA, máy bay chỉ huy - kiểm soát báo động sớm trên không AWACS, máy bay tác chiến
điện tử EC - 1 30, thiết bị quan sát chụp ảnh của các máy bay chiến đấu
và phơng tiện bay không ngời lái, các xen - xơ mang trên tên lửa, bom,
đạn tất cả liên kết thành một hệ thống, đảm bảo cho chiến trờng trở
nên “trong suốt” cả đêm lẫn ngày
Trong cuộc chiến tranh này, quan điểm cốt lõi của Mỹ - NATO là
sử dụng không quân mang vũ khí chính xác cao tiến công các mục tiêu quan trọng nhất và sử dụng vũ khí thông thờng để tiến công các mục tiêu khác Khi sử dụng vũ khí chính xác cao, yêu cầu về số lợng máy bay chiến đấu giảm từ 2 đến 5 lần
Để không kích Nam T, Mỹ - NATO đã sử dụng với số lợng lớn máy bay tiêm kích tàng hình F- 117A, máy bay ném bom chiến lợc tàng hình B-2, máy bay ném bom chiến lợc đa năng lầm xa dạng cánh thay
đổi B-1B, máy bay ném bom chiến lợc B-52, các loại máy bay tiêm kích
đa năng: 14, 15, 16, F/A- 18 , máy tiêm cờng kích MIRAGE F-1,máy bay tiêm kích đánh chặn đa năng MIRAGE - 2000, mấy bay tiêm
cờng kích TORNADO và máy bay tiếp dầu đa năng KC-135, máy
bay trực thăng vũ trang AH-64 APACHE, máy bay trực thăng vận tải hạng trung CH-47 CHLNOOK
Trong các chiến dịch đánh đêm vào Nam T, ngay từ ngày đầu 24-3- 1999, 2 máy bay B - 2 đã ném bom từ độ cao lớn với sự hỗ trợ của hệ thống định vị toàn cầu GPS Máy bay B - 2 cắt cánh từ căn cứ không quân (sân bay Mitxuri) trên đất Mỹ, vợt Đại Tây Dơng trong 30h Máy
Trang 7bay B-2 mang đợc 16 tấn bom có điều khiển (BOLTLJDAM) dùng để công kích chính xác các trạm rađa phòng không cố định Độ chính xác của bom từ 3 á 13m, bom có trọng lợng 907 kg Bom JDAM đợc điều khiển nhờ hệ thống định vị toàn cầu GPS trong mọi điều kiện thời tiết,
ngày, đêm .
Điểm nổi bật trong chiến tranh Nam T là các vũ khí, phơng tiện tiến công (máy bay, tên lửa) đã đợc tích hợp trong một hệ thống thống nhất (trinh sát, chỉ thị mục tiêu, hệ định vị toàn cầu .) Điều này cho phép B-2 có thể xuất phát từ Mỹ, các máy bay, tên lửa có thể xuất phát
từ các căn cứ từ ltalia, Anh hoặc ở Địa Trung Hải để theo kế hoạch thống nhất tiến công các mục tiêu theo địa điểm, thời gian dự kiến
Về cách đánh của Mỹ và NATO trong cuộc chiến theo kiểu leo thang đã đợc tính toán rất kỹ Lúc đầu Mỹ và NATO chỉ huy động khoảng 400 máy bay các loại, nhng sau hơn một tháng (đầu tháng 5-1999) đã huy động tới 1000 chiếc máy bay các loại (riêng Mỹ có 650 chiếc), số lợng tên lửa hành trình cũng tăng thêm, các tàu chiến, tàu bảo
đảm cũng đợc điều động ngày càng tăng tới vùng biển Ađrialic Về mục tiêu đánh phá, lúc đầu chỉ tập trung vào các mục tiêu quân sự (các trận
địa phòng không, doanh trại quân đội, các sở chỉ huy, sân bay quân sự
nhà máy quốc phòng ) sau chúng chuyển sang đánh các mục tiêu đần
sự, kinh tế, đầu mối giao thông, cầu cống, các bệnh viện, trờng học .Bom đạn của Mỹ và NATO đã giết hại, làm bị thơng hàng nghìn dân thờng trong đó có nhiều cụ già, phụ nữ và trẻ em Đúng vào ngày quốc tế lao động l-5, tên lửa của Mỹ và NATO đã bắn trúng một xe buýt chở khách đang đi trên một chiếc cầu cách thủ phủ Prextina của Côxôvô 21km, làm ít nhất 60 ngời chết, chủ yếu là dân thờng và ngời nớc ngoài
Từ đánh xa thủ đô tiến tới đánh gần thủ đô, sau đó đánh thẳng vào thủ
đô, tập trung chủ yếu vào các cơ quan lãnh đạo đầu não và phơng tiện thông tin truyền thông của Nam T, sau đó đánh tất cả các mục tiêu trên toàn lãnh thổ Nam T
Về tổ chức thực hành chiến dịch, một cuộc chiến tranh giữa quân
đội nhiều nớc và các quân chủng, binh chủng khác nhau, đã đợc tin học hoá, mạng hoá và nhất thể hoá Cuộc chiến tranh số hoá đã xuất hiện: Ban đầu, tất cả các mục tiêu của Nam T đã đợc các vệ tinh tình báo chụp ảnh, các bức ảnh đó cùng với các thông tin về toạ độ mục tiêu đợc biến thành các con số (số hoá) và lu vào bộ nhớ của các máy tính rồi nạp vào các bộ điều khiển tự đẫn của bom đạn Sau khi đợc phóng ra khỏi máy bay, tàu ngầm bom đạn đợc vệ tinh và hệ định vị toàn cầu (GPS) dẫn tới mục tiêu cần bắn phá Chiến tranh thông tin cũng đã trở thành một trong những loại hình tác chiến hữu hiệu nhất đợc Mỹ và NATO sử đụng Chỉ huy, điều khiển, truyền tin, máy tính, kiểm soát và tình báo đã trở thành yếu tố quan trọng của tác chiến hợp thành Về phía Nam T, ngay ngày tác chiến đầu tiên quân Nam T đã bắn rơi 2 máy bay của NATO, đánh chặn thành công 3 tên lửa hành trình, giành đợc''sự mở
đầu tốt đẹp'' F-117A là máy bay tàng hình tiên tiến nhất của Mỹ, thế nhng nó lại có nhợc điểm mà khi thiết kế cha đợc nghĩ đến đó là F-l 17A không thể phóng tên lửa ở ngoài vòng hoả lực phòng không, buộc phải tiếp cận oanh tạc Nh vậy là có khả năng để bắn rơi chúng Ngoài
ra, nó cũng không phải là không thề phát hiện, khi ,bay, thấp và mở cửa khoang bom nó bị hiện lên màn ra đa, đây cũng là thời điểm dễ bị tấn công nhất, chiếc F- l 17A bị bắn rơi ngày 27-3-1999 chính là trờng hợp sau khi ném bom xong, do thời tiết xấu và lại bay thấp nên đã bị bộ đội phòng không Nam T phản ứng nhanh chóng, chớp thời cơ bắn hạ
Trang 8Tổng kết lại, trong cuộc chiến Nam T, bằng tiến công đờng không, Mỹ - NATO sau hơn một tháng đã phá huỷ hơn 200 mục tiêu, làm Nam T thiệt hại hơn 200 tỷ USD mà chỉ tiêu tốn khoảng 3 tỷ USD
Các phơng tiện mang bom, đạn, tên lửa xuất phát từ xa hàng nghìn, vạn km; phóng (thả) từ cự ly an toàn Trinh sát mục tiêu, tổ chức chỉ huy hiệp đồng, điều khiển hoả lực, tác chiến điện tử, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật đều đợc thực hiện từ xa, không trực tiếp tiếp xúc trên chiến trờng Điều này cho phép giảm thiểu phí tổn, tăng tính kịp thời, tránh tổn thất (nhất là về nhân lực), giảm cảm giác sợ hãi cho quân nhà, giảm tổn thất phụ, tránh vấn đề nhạy cảm về nhân đạo trong phản đối chiến tranh, thay thế sự hiện diện của bộ binh, xe tăng trực tiếp trên chiến trờng, giảm thiểu khả năng sa lầy, gây khó khăn, phức tạp trong phòng chống, giảm khả năng đánh trả của đối phơng
Trong cuộc chiến tranh Nam T, bằng sức mạnh của không quân,
Mỹ - NATO đã tàn phá các cơ sở kinh tế, huỷ hoại tiềm lực quân sự, làm mất khả năng và cả ý chí chiến đấu của Nam T
Qua cuộc chiến tranh Nam T, ta thấy nổi lên những đặc điểm tác chiến mới của nớc có tiềm lực quân sự mạnh đối với nớc yếu hơn đó là:
Không kích và không kích theo kiểu ''phẫu thuật ngoại khoa'' bằng vũ khí công nghệ cao có độ chính xác cao đã trở thành một phơng thức chiến tranh hiện đại Đánh chính xác từ xa, không chiến tuyến, không trực tiếp tiếp xúc, không cân xứng đã trở thành dạng thức cơ bản của nớc có lực lợng quân sự hùng mạng răn đe vũ lực đối với một nớc
có lực lợng quân sự yếu kém hơn
Trang 9KHÔNG QUÂN NHÂN DÂN VIệT NAM
1 Sự hình thành và phát triển
Lực lợng không quân của ta mới chỉ đợc bắt đầu xây dựng từ tháng 10- 1954 khi ta tiếp quản các sân bay của Pháp ở miền Bắc
Ngày 3 - 3 - 1955, Đại tớng Võ Nguyên Giáp - Bộ trởng quốc phòng nớc VNDCCH ký quyết định số 15/QĐA thành lập “Ban nghiên cứu sân bay" mang phiên hiệu C- 47 do Đồng chí Trần Quý Hai làm tr-ởng ban, đến cuối 1958 đổi thành cục không quân
Ngày 1 - 5 - 1959 đội bay vận tải đầu tiên đợc thành lập và sau này trở thành trung đoàn 919 - trung đoàn không quân đầu tiên của quân đội ta
Cùng với việc thành lập trung đoàn 919 một cơ sở sửa chữa máy bay và một lớp đào tạo thợ máy bay cũng ra đời
Ngày 30 - 5 - 1963 thay mặt bộ trởng quốc phòng, trung tớng thứ trởng Hoàng Văn Thái đã ký quyết định số 1 8/QĐ thành lập trung đoàn không quân tiêm kích, mang phiên hiệu trung đoàn không quân 921
Ngày 3 - 2 -1964 tại sân bay Mông Tự (Trung Quốc), "Lễ ra mắt chính thức công khai của trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên của không quân NDVN đợc tiến hành" đánh dấu sự hình thành và phát triển của không quân chiến đấu Việt Nam
Ngày 10 - 3 - 1977 quân chủng không quân đợc thành lập là 1 trong 4 quân chủng quân đội NDVN
Ngày nay quân chủng phòng không và quân chủng không quân hợp nhất lại là: Quan chủng phòng không - không quân Từ một đội bay vận tải ( 1954) đến một trung đoàn không quân tiêm kích ( 1964), ngày nay không quân ta đã trở thành một lực lợng hoàn chỉnh trong quân chủng PK - KQ bao gồm:
- Các s đoàn không quân tiêm kích, tiêm kích bom
- Các trung đoàn máy bay vận tải, trực thăng, trực thăng vũ trang
- Hệ thống sân bay nằm trên các địa bàn quan trọng trên phạm vi cả nớc, đảm bảo cho tất cả các loại máy bay hiện đại hạ cánh, cất cánh
- Hệ thống các nhà máy, kho tàng hiện đại, có thể sửa chữa lớn các loại máy bay và sản xuất phụ tùng thay thế
- Hệ thống các nhà trờng đào tạo phi công, cán bộ tham mu, cán
bộ kỹ thuật có trình độ đại học và sau đại học
2 Truyền thống không quân nhân dân
Từ 1959 á 1964, tuy còn non trẻ, không quân ta đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng:
Bay chuyên cơ, vận chuyển trong nớc và quốc tế Đặc biệt trong những năm 1960 á 1962 đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ bay tiếp tế, thả
dù, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trờng Đông
D-ơng
Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân đế quốc Mỹ, không quân NDVN non trẻ phải đơng đầu với
Trang 10một đối tợng tác chiến dày dạn kinh nghiệm, có số lợng đông, đợc huấn luyện bài bản, có trang bị kỹ thuật hiện đại
- Ngày 3 - 4 - 1965 , không quân Mỹ đánh khu vực cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) Chớp thời cơ, nắm chắc âm mu thủ đoạn của địch, tận dụng yếu tố bất ngờ, biên đội 4 MIG - 17 đã xuất kích trận đầu, bắn rơi: 2F - 8U của không quân hải quân Mỹ, “Mở mặt trận trên không thắng lợi” Ngày 3 - 4 trở thành ngày truyền thống của bộ đội không quân
Ngày 4 - 4 mặc dù địch đông hơn ta gấp bội, nhng với ý chí quyết thắng và tinh thần dũng cảm ngoan cờng, 4 máy bay MIG - 17 của ta đã bắn rơi 2 máy bay F - 105 (thần sấm) của không quân Mỹ Đây là mốc lịch sử đánh dấu bớc phát triển của không quân ta
Những trận đầu đánh thắng có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, quân sự “hạ uy thế của không lực Hoa Kỳ " mở đầu truyền thống chiến
thắng vẻ vang của KQ NDVN
Từ tháng 4 - 1965 đến tháng 6 - 1966, không quân ta đã xuất kích chiến đấu 24 trận, bắn rơi 26 máy bay các loại của Mỹ
Năm 1967 - 1968, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc một cách toàn diện, quy mô lớn, liên tục và ác liệt hơn Lúc này không quân ta đã đợc trang bị máy bay tiêm kích MIG-21 hiện đại hơn, lực l-ợng đợc bổ sung dồi dào hơn Do đó ta đã mở rộng phạm vi hoại động,
đánh địch từ xa, trên nhiều hớng, nhng vẫn giữ đợc yếu tố bí mật, bất ngờ, càng ngày càng phát huy đợc tính năng và sở trờng của từng loại máy bay MIG - 21 và MIG - 17 ngày càng hiệp đồng chặt chẽ, chi viện
hỗ trợ cho nhau
- Trận đánh máy bay gây nhiễu điện tử EB - 66 của trung đoàn không quân tiêm kích 921 ngày 19-11 - 1967 tại Lang Chánh - Hồi Xuân (Thanh Hoá) Ta đã dùng biên đội 2 máy bay MIG - 21 trang bị tên lửa K - 13 (mỗi máy bay 2 quả) đã bắn rơi 1 máy bay gây nhiễu EB - 66 của Mỹ, tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa và pháo cao xạ đánh 1 trận thắng lớn, bắn rơi 8 máy bay vừa cờng kích và tiêm kích của địch, bẻ gãy một đợt tấn công quy mô lớn của chúng vào Hà Nội
Trong những năm 1970 và 1971 , MIG - 21 đã đánh thắng một số
trận, bắn rơi các loại máy bay địch nh: Trinh sát không ngời lái, F - 4,
trực thăng CH - 53, và bắn bị thơng máy bay chiến lợc B-52 làm cho
địch hoảng sợ phải ngừng hoại động một thời gian, tạo điều kiện cho vận chuyển tiếp tế vào chiến trờng Miền Nam
- Ngày 19 - 4- 1972 hai máy bay MIG - 17 đánh bị thơng nặng hai tàu khu trục của Mỹ, trên vùng biển Quảng Bình, mở ra triển vọng mới làm tiền đề cho việc xây dựng và chiến đấu của bộ đội không quân tiêm kích bom sau này
- Tháng 4 - 1972, đế quốc Mỹ đánh phá trở lại trên toàn bộ miền bắc Việt Nam với số lợng máy bay nhiều gấp bội và chiến thuật cũng thay đổi Không quân ta vẫn quyết tâm đánh địch Ví dụ trận đánh máy bay tiêm kích của trung đoàn không quân 925 ngày 10 - 5 - 1 972 tại
đỉnh sân bay Yên Bái Ta đã dùng 2 biên đội MIG - 1 9 ( mỗi biên đội 4 máy bay), kết quả ta đã bắn rơi 2 F - 4 của Mỹ
- Thời gian này không quân ta thờng hiệp đồng chiến đấu giữa 2
đến 3 loại máy bay, hiệp đồng cùng loại máy bay, và hiệp đồng giữa không quân tiêm kích với cao xạ, tên lửa Một số trận đánh hiệp đồng
đạt hiệu suất chiến đấu cao nh: Trận đánh ngày 18 - 5 - 1972 hiệp đồng
3 biên đội : MIG - 17 , MIG - 19 và MIG - 21 bắn rơi 3 máy bay F - 4 Ngày 24 - 6 - 1972 hiệp đồng giữa 2 đội bay MIG 21 bắn rơi 3 F - 4